1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một số giải pháp tạo hứng thú học tập cho học sinh nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn lịch sử lớp 4 tại trường tiểu học tân lập

23 208 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 1,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sinh thời, Bác Hồ đã từng nói: “ Dân ta phải biết sử ta, Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”. 1Môn Lịch sử ở tiểu học nói chung, môn Lịch sử ở lớp 4 nói riêng đềunhằm cung cấp cho họ

Trang 1

MỤC LỤC

2.3.1 Giải pháp 1: Tạo hứng thú cho học sinh bằng cách nêu vấn

đề và nội dung của từng bài học

2.3.4 Giải pháp 4 : Tái tạo lịch sử bằng việc ứng dụng Công nghệ

thông tin trong khai thác lược đồ

8

2.3.5 Giải pháp 5 : Tạo hứng thú cho học sinh bằng cách tổ chức

trò chơi học tập: Trò chơi Rung chuông vàng

12

Trang 2

1 MỞ ĐẦU 1.1 Lí do chọn đề tài:

Dạy học là một nghệ thuật, đòi hỏi người giáo viên phải linh hoạt, sángtạo trong việc sử dụng kết hợp các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học phùhợp với đối tượng Dạy học cũng chính là hoạt động chủ đạo trong mỗi nhàtrường Chất lượng dạy học có đạt hiệu quả hay không trước hết phụ thuộc vàotrình độ, năng lực của mỗi giáo viên Giáo viên là người thực hiện phương phápgiảng dạy, là người tổ chức, điều khiển và đồng thời cũng là người trực tiếphướng dẫn học sinh tìm ra kiến thức mới Đặc biệt khi dạy môn lịch Sử, giáoviên phải có kiến thức sâu rộng, vững chắc, có nghệ thuật sư phạm khéo léo đểkhai thác vốn kiến thức tiềm ẩn trong học sinh Để góp phần từng bước đưa đấtnước ta phát triển về mọi mặt, sánh vai được với các cường quốc trên Thế Giớithì mỗi người dân Việt Nam ngoài việc phải tiếp thu các kiến thức khoa học,công nghệ và văn hoá từ các quốc gia khác, cũng cần phải hiểu rõ về văn hoá,lịch sử và nguồn cội của đất nước Để từ đó nuôi dưỡng lòng tự hào dân tộc,tình yêu với quê hương, đất nước để có một tầm nhìn và hướng đi đúng đắn gópphần cho sự phát triển của nước nhà, cũng như sự tự tin khi giao tiếp với bạn bèquốc tế

Sinh thời, Bác Hồ đã từng nói:

“ Dân ta phải biết sử ta, Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam”. 1Môn Lịch sử ở tiểu học nói chung, môn Lịch sử ở lớp 4 nói riêng đềunhằm cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản về một số sự kiện, hiệntượng, nhân vật lịch sử tiêu biểu theo dòng thời gian của lịch sử Việt Nam từbuổi đầu dựng nước cho tới ngày nay Dạy môn Lịch sử là bước đầu hình thànhcho học sinh các kĩ năng quan sát sự vật, hiện tượng; thu thập, tìm kiếm tư liệulịch sử từ các nguồn thông tin khác nhau, biết đặt câu hỏi trong quá trình họctập, trình bày kết quả bằng lời nói, hình vẽ, sơ đồ, …vận dụng các kiến thức đãhọc vào thực tiễn đời sống Góp phần bồi dưỡng ở học sinh những thái độ vàthói quen: ham học hỏi, tìm hiểu để biết các kiến thức về Lịch sử dân tộc ViệtNam, tôn trọng các di tích văn hóa và tìm hiểu thêm về lịch sử thế giới

Tuy nhiên trong quá trình thực tế giảng dạy, tôi thấy xu hướng học sinhyêu thích và chú trọng nhiều đến các môn như Toán, Tiếng Việt, Tiếng Anh.Còn môn Lịch sử và các môn khoa học xã hội nói chung, hầu như chỉ học để đốiphó

Học sinh không nhớ được các sự kiện, các mốc thời gian, thậm chí cònnhầm lẫn các nhân vật với sự kiện một cách trầm trọng Điều đó thể hiện rõ nhấtkhi học sinh được tham gia các cuộc giao lưu hiểu biết trong các cuộc thi do cácnhà trường tổ chức Tôi cho rằng, chỉ có cách duy nhất là giáo viên phải luôn tạo

Trang 3

được sự hứng thú cho học sinh trong mỗi giờ Lịch sử Trăn trở trước thực trạng

đó, tôi đã học hỏi và rút ra một số kinh nghiệm về phương pháp tạo hứng thúcho học sinh trong môn học Lịch sử, làm cho môn học không trở nên nặng nề,khô khan, nhàm chán, từ đó nâng cao dần chất lượng bộ môn Đó cũng chính là

những nội dung tôi sẽ trình bày trong sáng kiến: “Một số giải pháp tạo hứng thú học tập cho học sinh nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn Lịch sử lớp

4 tại trường Tiểu học Tân Lập” Với sáng kiến này tôi mong muốn chất lượng

dạy và học môn Lịch sử tại trường Tiểu học Tân Lập đạt kết quả cao hơn

+ Bước đầu rèn luyện và hình thành cho học sinh các kĩ năng quan sát sựvật, hiện tượng; nhận biết đúng các sự vật, sự kiện, hiện tượng lịch sử

+ Biết nêu thắc mắc, đặt câu hỏi trong quá trình học tập và biết trình bàykết quả học tập Góp phần bồi dưỡng và phát triển ở học sinh tính ham học hỏi,tìm tòi; yêu thiên nhiên, con người, quê hương, đất nước

1.3 Đối tượng nghiên cứu:

Một số biện pháp tạo hứng thú khi học môn Lịch sử cho học sinh lớp 4A

- Trường Tiểu học Tân Lập – Bá Thước - Thanh Hóa

1.4 Phương pháp nghiên cứu:

1.4.1 Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lí thuyết:

Nghiên cứu tài liệu dạy học môn Lịch sử trong chương trình Sách giáokhoa, sách giáo viên, tài liệu tham khảo môn Lịch sử lớp 4 Nghiên cứu giáotrình tâm lý học để hiểu về tâm lý lứa tuổi học sinh tiểu học

1.4.2 Phương pháp quan sát: Quan sát thái độ, mức độ, kết quả học tập

của học sinh

1.4.3 Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin

Hỏi và thăm dò ý kiến của các giáo viên, học sinh để biết được thực trạngcủa học sinh khi học phân môn Lịch sử Tìm hiểu thực trạng việc dạy và họcphân môn Lịch sử khối lớp 4 Trường Tiểu học Tân Lập

1.4.4 Phương pháp thống kê, xử lí số liệu

1.4.5 Phương pháp thực nghiệm: Lựa chọn lớp học để áp dụng thử

nghiệm

1.4.6 Phương pháp phân tích: So sánh chất lượng học tập của học sinh

khi chưa áp dụng SKKN với khi đã áp dụng SKKN

2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm:

Chương trình tiểu học được chia làm 2 giai đoạn: Giai đoạn I từ lớp 1 đến lớp 3, giai đoạn II từ lớp 4 đến lớp 5 Ở các lớp 1, 2, 3 các em chỉ học môn Tự nhiên – xã hội, lên lớp 4 các em mới được làm quen với các môn:

Trang 4

Khoa học, Lịch sử và Địa lí Lịch sử là môn học rất quan trọng không chỉ cung cấp cho chúng ta biết tường tận quá trình phát triển của con người, đất nước và nhân loại từ khi hình thành cho tới nay với biết bao biến động lớn lao, mà còn giúp chúng ta đúc rút ra được những bài học kinh nghiệm quý báu trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước [2]

Nhưng đặc trưng của môn lịch sử là các sự kiện, các nhân vật đều diễn ratrong quá khứ nên nhận thức lịch sử có những nét đặc thù so với nhận thứcchung của loài người Nhận thức lịch sử là nhận thức những gì đã qua và khônglặp lại cho nên giai đoạn nhận thức cảm tính không thể tri giác trực tiếp mà phảithông qua sự kiện lịch sử để tạo biểu tượng lịch sử từ đó hình thành khái niệm,rút ra quy luật và bài học lịch sử rồi vận dụng vào thực tiễn Muốn tái hiện bứctranh quá khứ một cách sinh động thì vai trò người giáo viên hết sức quan trọng.Người giáo viên phải biết biến những nội dung trong sách giáo khoa thành mộtcâu chuyện lịch sử, thành một vở kịch hay có thể là một trận chiến Giáo viêncần phải lựa chọn các phương pháp phù hợp với nội dung từng bài học để giúphọc sinh hiểu sâu sắc bài học, kích thích sự ham học, khơi dậy nội lực của mình. Nội dung chương trình Lịch sử lớp 4 gồm 8 giai đoạn:

1 Buổi đầu dựng nước và giữ nước (Khoảng 700 năm TCN đến năm179) Gồm 2 bài

2 Hơn một nghìn năm đấu tranh giành lại độc lập (Từ năm 179 TCN đếnnăm 938) Gồm 4 bài, trong đó có 1 bài ôn tập

3 Buổi đầu độc lập (Từ năm 938 đến năm 1009) Gồm 2 bài

4 Nước Đại Việt thời Lý (Từ năm 1009 đến năm 1226) Gồm 3 bài

5 Nước Đại Việt thời Trần (Từ năm 1226 đến năm 1400) Gồm 4 bài

6 Nước Đại Việt buổi đầu thời Hậu Lê (Thế kỉ XV) Gồm 5 bài, trong đó

có 1 bài ôn tập

7 Nước Đại Việt thế kỉ XVI – XVII Gồm 6 bài

8 Buổi đầu thời Nguyễn (Từ năm 1802 đến năm 1858) Gồm 3 bài,trong đó có 1 bài tổng kết

2 2.Thực trạng dạy và học môn Lịch sử lớp 4 tại trường Tiểu học Tân Lập”.

2.2.1 Về phía giáo viên:

- Một số giáo viên đã sử dụng trò chơi học tập trong tiết dạy Lịch sử

* Nhược điểm:

- Một số giáo viên chưa chú trọng đến dạy học môn Lịch sử mà chỉ chútrọng đến các môn: Toán, Tiếng Việt, nên chưa dành thời gian cho việc nghiêncứu và giảng dạy trên lớp

- Chỉ dừng lại việc truyền tải đủ nội dung trong SGK, chưa chủ động sưutầm về những sự kiện, nhân vật lịch sử có liên quan đến tiết dạy

Trang 5

- Một số giáo viên còn lúng túng khi hướng dẫn cho các em thực hành trênbản đồ, lược đồ và tranh ảnh, hình ảnh.

- Chưa sử dụng đúng lúc, đúng chỗ các phương tiện và đồ dùng dạy học

- Chưa kể chuyện lịch sử hay tường thuật diễn biến một trận đánh…màchỉ đọc và cung cấp kiến thức lịch sử nên dẫn đến học sinh chưa yêu thích vàhứng thú với môn học

- Việc vận dụng các trò chơi vào tiết dạy Lịch sử còn ít

2 2 2 Về phía học sinh:

- Môn Lịch sử là môn học hoàn toàn mới mẻ đối với các em, các em phảinắm được các kiến thức cơ bản về một số sự kiện, hiện tượng, nhân vật lịch sửtiêu biểu theo dòng thời gian của lịch sử Chính vì thế việc tiếp thu kiến thức vềmôn học này là hết sức cần thiết Qua giảng dạy tôi thấy nhiều em chưa nhậnthức đúng vai trò của môn Lịch sử Học sinh chưa ý thức được nhiệm vụ củamình, chưa chịu khó, tích cực tư duy suy nghĩ tìm tòi cho mình những phươngpháp học đúng để biến tri thức của thầy thành của mình

- Khả năng nắm bắt kiến thức, kĩ năng quan sát, trí tưởng tượng khái quáthóa còn yếu, khả năng ghi nhớ của các em còn chậm mà các nhân vật, mốc lịch

sử, sự kiện lịch sử lại nhiều nên các em chỉ có thể ghi nhớ một cách máy móc(dễ nhớ nhưng lại mau quên) Kĩ năng đọc, kể, tường thuật của các em chậm, do

đó ảnh hưởng đến thời gian và tiến trình chung của môn học Tinh thần hợp táchọc chưa cao, nhiều em chưa tự tin, học thụ động

Năm học 2017-2018, tôi chủ nhiệm lớp 4A với 31 học sinh

Trong học kì 1, tôi tổ chức cho học sinh làm bài tập trắc nghiệm môn Lịch

sử thăm dò sự hứng thú học tập môn Lịch sử của học sinh theo mẫu phiếu sau:

PHIẾU ĐIỀU TRA

Em hãy cho biết ý kiến của mình qua các câu hỏi sau:

Câu 1: Trong các môn học ở tiểu học, em thích môn học nào nhất?

Trả lời:

Câu 2: Thái độ của em đối với môn Lịch sử:

(Đánh dấu x vào ô trống hoặc ghi ý kiến khác của em)

 Rất hứng thú

 Bình thường

 Không hứng thú

Ý kiến khác: Câu 3: Những hoạt động nào trong giờ học Lịch sử hấp dẫn em :

(Học sinh đánh số thứ tự theo hoạt động mình yêu thích)

 Trả lời câu hỏi SGK

 Thảo luận nhóm với bạn

 Xem phim tư liệu

 Nghe giáo viên giới thiệu lược đồ

 Thầy cô giới thiệu tranh, ảnh

 Tham gia các trò chơi học tập

 Thầy cô giảng bài theo nội dung SGKCâu 4: Cảm xúc của em khi học môn Lịch sử:

Trang 6

(Đánh dấu x vào ô trống hoặc ghi ý kiến khác của em)

 Giờ học lôi cuốn, hấp dẫn em

 Em được học tập tích cực, hiểu bài sâu sắc

 Giờ học tẻ nhạtSau khi kết thúc học kì 1 kết quả thu được như sau:

Bảng 1: Bảng thống kê kết quả điều tra học sinh yêu thích môn học Lịch

sử qua phiếu thăm dò:

Năm học

Tổng

số học sinh

Mức độ hứng thú trong học tập Rất hứng thú Bình thường Không hứng thú

Qua đánh giá thường xuyên, kết quả thăm dò, kết quả kiểm tra cuối học kì

1 năm học 2017-2018, tôi nhận thấy chất lượng giáo dục chưa cao Một số emtuy kết quả hoàn thành tốt nhưng thực sự các em chưa hứng thú với môn học.Các em thấy môn học khó vì nhiều sự kiện, nhiều nhân vật và các mốc thời gian.Trước thực trạng đó, là một giáo viên có tâm huyết, tôi băn khoăn trăn trở làmthế nào để môn Lịch sử thực sự thu hút, tạo hứng thú cho học sinh và nâng caochất lượng giáo dục môn học

2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề :

Căn cứ vào tình hình thực tế của nhà trường, địa phương; căn cứ vàonhiệm vụ và chủ đề của năm học 2017- 2018 và đặc biệt là thực trạng về côngtác sinh hoạt tổ chuyên môn của Trường tiểu học Tân Lập, tôi đã thực hiện một

số giải pháp cho học sinh lớp 4A trong năm học 2017 - 2018, nhằm nâng caochất lượng giáo dục trong học tập Tôi đã nghiên cứu các tài liệu, học hỏi đồngnghiệp, tham khảo trên mạng In-tơ-nét và tìm ra một số giải pháp khi dạy họcphân môn Lịch sử cho học sinh lớp 4 - Trường Tiểu học Tân Lập như sau:

2.3.1 Giải pháp 1: Tạo hứng thú cho học sinh bằng cách nêu vấn đề

và nội dung của từng bài học:

Ngay từ tiết học đầu tiên, tôi nêu vấn đề bằng những câu hỏi, bằng tìnhhuống hay bằng những câu chuyện, câu thơ để thu hút, lôi cuốn học sinh vào

Trang 7

bài Bởi bài nào giáo viên cũng chỉ giới thiệu: “ Hôm nay chúng ta học bài: ….”thì rất khô khan, nhàm chán Vậy làm thế nào để học sinh hứng thú với mônhọc, tôi xin minh họa một số cách giới thiệu bài như sau:

Ví dụ : Khi dạy bài 4 “Khởi nghĩa Hai Bà Trưng (năm 40)”

Phần giới thiệu bài, giáo viên đọc cho học sinh nghe 1 số câu thơ:

“Giận thay Tô Định bạo tàn.

Nay ta dấy nghĩa diệt loài sói lang!

Một xin rửa sạch nước thù.

Hai xin đem lại nghiệp xưa họ Hùng.

Ba kẻo oan ức lòng chồng.

Bốn xin vẹn vẹn sở công lệnh này. 2

Các em ạ! Sau khi học bài 3 “Nước ta dưới ách đô hộ của các triều đại phong kiến phương Bắc”, các em đã hiểu nổi thống trị và ách áp bức bóc lột

tàn bạo của các triều đại phong kiến phương Bắc đối với người Việt Chính quyền đô hộ của thời Hán trở về sau đã thẳng tay đàn áp dã man nhân dân ta Không khuất phục trước ách thống trị tàn bạo, thâm độc của chúng, nhân dân

ta đã liên tiếp vùng lên đấu tranh giành độc lập dân tộc Và nhân vật lịch sử nào đã quyết tâm đứng lên khởi nghĩa, đền nợ nước, trả thù nhà thì bài học hôm nay các con sẽ có câu trả lời

Khi dạy bài 8: “Cuộc kháng chiến chống quân Tống xâm lược lần thứ nhất (năm 981)”.

Phần giới thiệu bài tôi giới thiệu như sau: “Các em đã biết, năm 968, sau khi dẹp loạn 12 sứ quân, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi Hoàng đế, gọi là Đinh Tiên Hoàng, đặt tên nước là Đại Cồ Việt, đặt niên hiệu là Thái Bình, đóng đô ở Hoa

Lư Để tìm hiểu thêm về tình hình đất nước và diễn biến cuộc kháng chiến như thế nào, cô mời các con tìm hiểu qua nội dung bài học hôm nay”.[2]

Khi dạy bài 17 “Nhà Hậu Lê và việc tổ chức quản lí đất nước”.

GV có thể nêu vấn đề: “ Năm 1428, sau khi kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống quân Minh, Lê Lợi lên ngôi vua, định đô ở Thăng Long Đến thời

Lê Thánh Tông nhà nước ngày càng vững mạnh và đạt đến sự cường thịnh của quốc gia Đại Việt Vì sao nhà Hậu Lê lại cường thịnh như vậy? Muốn trả lời câu hỏi đó, cô mời các con hãy tìm hiểu xem việc tổ chức quản lí đất nước của nhà Hậu Lê như thế nào qua bài học hôm nay”.[2]

Cũng là một cách đặt vấn đề, nhưng giáo viên biết dẫn dắt vào bài bằngnhững câu chuyện thì học sinh sẽ thấy hấp dẫn và lôi cuốn, từ đó sẽ có hứng thúkhi tìm hiểu nội dung bài Đồng thời giáo viên cũng giúp học sinh nhớ lại kiếnthức đã học và hệ thống kiến thức theo trình tự thời gian

2.3.2 Giải pháp 2 :Tái tạo lịch sử bằng các hình ảnh, tranh minh họa: Đối với các bài dạy có nội dung về địa danh lịch sử như bài “Nước Âu Lạc”, bài “Chùa thời Lý”, bài “Chiến thắng Chi Lăng”, bài “Trường học thời Hậu Lê”, bài “Kinh thành Thăng Long” tôi sử dụng phương pháp miêu tả

kết hợp tranh ảnh Muốn mô tả được các địa danh như thành Cổ Loa, ải ChiLăng, kinh thành Huế, kiến trúc thời cùa Lý thì tôi phải mô tả được những đặcđiểm nổi bật của công trình kiến trúc, quá trình xây dựng, qui mô, cấu trúc, kiểudáng, nét điêu khắc, chạm trổ

Trang 8

Ví dụ: Khi dạy bài 2 “Nước Âu Lạc”, tôi cho học sinh quan sát tranh và

giới thiệu: “Thành Cổ Loa nằm ở vị trí trung tâm của nước Âu Lạc, là đầu mối giao thông đường thủy lớn Từ đây có thể theo sông Hồng, sông Đáy xuôi về vùng đồng bằng, lại có thể lên vùng rừng núi đông bắc qua sông Cầu, sông Thương Thành Cổ Loa gồm ba vòng thành khép kín, dài hơn 16 km Cả ba vòng thành đều có hào rộng, phía trong nối liền vời sông Hoàng, tạo thành một

vị trí rất hiểm trở

Bên trong thành là lối đi lại quanh co, khúc khuỷu, quân lính có thể ẩn nấp phòng khi địch vào thành, đồng thời tạo điều kiện để quân ta mai phục, dùng tên bắn lại địch ”.[2]

Khi dạy bài 10 “Chùa thời Lý”, tôi cho học sinh quan sát một số tranh và

giới thiệu, mô tả cho học sinh thêm một số thông tin như: “ Chùa Một Cột còn gọi là chùa Diên Hựu là công trình kiến trúc nổi tiếng thời nhà Lý, gồm ngôi chùa và tòa đài xây giữa hồ Chùa rộng mỗi bề 3 mét, mái cong, dựng trên một cột đá hình trụ, giống như một đóa sen giữa hồ Chùa được xây dựng vào năm

1049 do vua Lý Thái Tông chiêm bao thấy Phật Quan Âm ngồi trên tòa sen, vua cũng được dắt lên tòa Khi tỉnh giấc vua đem việc đó hỏi các quan Sư Thiền Tuệ khuyên vua làm chùa như bông sen nở trên mặt nước để cầu phúc ) [2]

Khi dạy bài 16 “Chiến thắng Chi Lăng”, có thể miêu tả ải Chi Lăng kết

hợp ảnh tư liệu như sau:

“ Về vị trí của ải Chi Lăng, lược đồ cho chúng ta thấy Ải Chi Lăng là một vùng núi đá hiểm trở nhất trên đường từ Pha Lũy sang Đông Quan, cách Pha Lũy khoảng 60 km, cách Đông Quan trên 100 km Ải Chi Lăng ngày nay thuộc

xã Chi Lăng (huyện Chi Lăng – tỉnh Lạng Sơn) Ải Chi Lăng là một thung lũng nhỏ, hình bầu dục, hai đầu Nam – Bắc thu hẹp, gần như khép kín Chiều dài ải Chi Lăng khoảng 4km, chỗ rộng nhất hơn 1km Phía tây Dãy núi Chi Lăng dốc đứng và dãy núi đất trùng điệp là những bức thành cao chắn 2 ngả Đông – Tây cùng với các ngọn núi đá bên trong khiến cho ải thêm hiểm trở” [2]

2.3.3 Giải pháp 3 : Tái tạo lịch sử bằng các đoạn phim tư liệu, phim hoạt hình:

Để tăng thêm sự tò mò và hứng thú của học sinh, khi giảng dạy về nhânvật lịch sử, giáo viên có thể cho học sinh xem những thước phim tư liệu haynhững bộ phim hoạt hình nói về nhân vật đó Giáo viên có thể chỉnh sửa ảnh,làm ảnh động, cắt các phai âm thanh, video để chèn giáo án trình chiếu phục vụcho các tiết dạy thêm sinh động gây hứng thú cho học sinh

Ví dụ: Khi dạy bài 2 “Nước Âu Lạc”, sau khi học sinh tìm hiểu bài, GV

trình chiếu cho học sinh xem một đoạn trong bộ phim hoạt hình Giấc mơ LoaThành (được tải từ trang https://www.youtube.com/watch?v=qhqKgWZfkVA)

để học sinh hình dung rõ hơn về thế mạnh của vua An Dương Vương cũng như

lí do vì sao nước Âu lạc lại rơi vào tay quân Triệu Đà

Khi dạy bài 4 “Khởi nghĩa Hai Bà Trưng (năm 40)”, sau khi tổ chức cho

học sinh tìm hiểu hoạt động 1 về nguyên nhân của cuộc khởi nghĩa, GV trìnhchiếu cho học sinh xem một đoạn trong bộ phim hoạt hình Khởi nghĩa Hai BàTrưng (được tải từ trang https://www.youtube.com/watch?v=x-dsTia24N0) đểhọc sinh nhận thức rõ hơn về lòng quyết tâm của hai vị anh hùng nữ tướng này

Trang 9

Khi dạy bài 7 “Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân”, sau khi học sinh

trình bày kết quả thảo luận câu 2 để biết được thời còn nhỏ Đinh Bộ Lĩnhthường chơi với trẻ chăn trâu, ông hay bắt bọn trẻ khoanh tay làm kiệu để ngồicho chúng rước và lấy bông lau làm cờ bày trận đánh nhau

Để giúp các em hiểu rõ hơn về Đinh Bộ Lĩnh cũng như thời niên thiếucủa ông, GV trình chiếu cho học sinh xem trích đoạn trong bộ phim Cậu bé cờlau (được tải từ trang https://www.youtube.com/watch?v=39vru2JIXgA) Đồng

thời, giáo viên cung cấp thêm tư liệu cho học sinh: “ Đinh Bộ Lĩnh quê ở Đại Hữu, huyện Gia Viễn (Ninh Bình) thuộc dòng dõi một dòng họ lớn Bố là Đinh Công Trứ, Thứ sử châu Đại Hoàng, gắn bó với chính quyền độc lập tự chủ từ thời Dương Đình Nghệ và thời Ngô Quyền.”

2.3.4 Giải pháp 4 : Tái tạo lịch sử bằng việc ứng dụng Công nghệ thông tin trong khai thác lược đồ:

- Đối với phân môn Lịch sử, nếu tôi chỉ yêu cầu học sinh tìm hiểu nộidung SGK rồi trả lời câu hỏi thì giờ học sẽ khô khan và nhàm chán

- Lúc này, giáo viên phải đóng vai trò như một hướng dẫn viên, bằng nghệthuật khai thác kênh chữ, kênh hình thì giáo viên phải biết sử dụng các tư liệu,

áp dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy để giúp học sinh dễ chiếm lĩnh vàtiếp cận kiến thức.Vì vậy giáo viên cần phải biết sử dụng lược đồ kết hợp với lờimiêu tả tường thuật Loại bài này chiếm khá nhiều trong chương trình Lịch sửlớp 4, gồm có các bài:

- Khởi nghĩa Hai Bà Trưng

- Chiến thắng Bạch Đằng do Ngô Quyền lãnh đạo

- Cuộc kháng chiến chống quân Tống xâm lược lần thứ nhất

- Cuộc kháng chiến chống quân Tống xâm lược lần thứ hai

- Chiến thắng Chi Lăng

- Trịnh- Nguyễn phân tranh

- Quang Trung đại phá quân Thanh

Để việc áp dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy đạt hiệu quả cao,trước hết cần chuẩn bị tốt các thiết bị hỗ trợ giảng dạy như: Máy chiếu có độ nétcao, phông màn tốt đủ độ lớn để học sinh quan sát bài giảng được tốt Thiết bịđiều khiển trình chiếu từ xa và di động để giáo viên tự do hơn trong giao tiếp vớihọc sinh trong quá trình giảng bài

Ví dụ: Khi dạy bài 4 “Khởi nghĩa Hai Bà Trưng (năm 40)”.

+ Nguyên nhân dẫn đến cuộc khởi nghĩa.

- Bước 1: Quan sát lược đồ.

+ Yêu cầu học sinh trình bày diễn biến cuộc khởi nghĩa trên lược đồ.

- Bước 2: Sử dụng tư liệu lịch sử kết hợp với lược đồ tường thuật lại như sau: “ Do căm thù quân xâm lược nhà Hán, Hai Bà Trưng đã phất cờ khởi nghĩa rửa nhục cho nước, trả thù cho chồng Khi nghe tiếng trống họp binh của Hai Bà nổi lên, dân Mê Linh đổ về tụ nghĩa …Trong vòng chưa đầy một tháng, cuộc khởi nghĩa đã hoàn toàn thắng lợi Đất nước sạch bóng quân thù Hai Bà Trưng được suy tôn làm vua, đóng đô ở Mê Linh.”.[2]

Trang 10

Lược đồ Khởi nghĩa Hai Bà Trưng (năm 40)

Khi dạy bài 5 “Chiến thắng Bạch Đằng do Ngô Quyền lãnh đạo”,

GV tái hiện bằng cách dùng lược đồ kết hợp với dùng lời: “Thực hiện kế hoạch của Ngô Quyền, vào những ngày mưa dầm gió bấc cuối năm 938, quân dân ta đã lặn lội trong mưa rét, ngày đêm chuyển gỗ, dựng cọc Hàng nghìn cây

gỗ lim, sến đầu vạt nhọn, bịt sắt được cắm thành những bãi lớn hai bên bờ cửa sông Công việc gấp rút chỉ trong hơn một tháng đã hoàn thành, Ngô Quyền dự kiến trận đánh sẽ diễn ra ở bên trong bãi cọc Ông bố trí lực lượng theo kế hoạch, chờ khi nước triều xuống, phản công đánh đội binh thuyền địch Chiến thuyền của địch kéo ồ ạt từ biển vào sông Bạch Đằng cũng là lúc nước triều lên Thực hiện đúng kế hoạch đã định, một đội thuyền nhẹ của ta do Nguyễn Tất Tố chỉ huy, làm nhiệm vụ nhử thuyền địch vào trận địa.”.[2]

Khi dạy bài 8 “Cuộc kháng chiến chống quân Tống xâm lược lần thứ nhất”, sau khi hướng dẫn học sinh dựa vào các kí hiệu của lược đồ và nội dung

SGK để trình bày diễn biến cuộc kháng chiến chống quân Tống xâm lược lầnthứ nhất năm 938

Trang 11

Giáo viên kết hợp vừa chỉ lược đồ, vừa tường thuật như sau: “Tháng 4 năm 981, quân Tống theo hai đường thủy, bộ ồ ạt tiến vào xâm lược nước ta Quân thủy tiến vào nước ta theo đường sông Bạch Đằng Quân bộ tiến vào theo đường Lạng Sơn Lê Hoàn trực tiếp chỉ huy binh thuyền chống giặc ở cửa sông Bạch Đằng Ông cho quân đóng cọc ở sông Bạch Đằng để ngặn chặn chiến thuyền của giặc Khi quân thủy của nhà Tống kéo đến sông Bạch Đằng, Lê Hoàn cho quân đổ ra chặn đánh Thuyền chiến của ta áp sát vào các thuyền của giặc, quân ta ào sang thuyền giặc Một số thuyền quân Tống mắc vào cọc, tiến lui đều không được, một phần bị vỡ, đắm, Tướng giặc bị thương, vội trút bỏ mũ

áo, trà trộn vào đám tàn quân chạy trốn”.Cuộc xâm lược của quân Tống hoàn toàn thất bại”.

Khi dạy bài 25 “Quang Trung đại phá quân Thanh”, sau khi phân tích

nguyên nhân khiến Quang Trung kéo quân ra Bắc, GV sử dụng lược đồ để giớithiệu về diễn biến cuộc đại phá quân Thanh của vua Quang Trung GV cho HStìm hiểu về lược đồ, giới thiệu năm đạo quân Tây Sơn tiến ra Bắc, GV chuyển

sang tường thuật chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa:

Ngày đăng: 16/10/2019, 08:13

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w