1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Sáng kiến kinh nghiệm ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy môn tiếng việt lớp 2

33 202 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 20,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đưa công nghệ thông tin ứng dụng vào giảng dạy, học tập làm thay đổimạnh mẽ nội dung, phương pháp dạy và học.. Thực hiện tinh thần chỉ đạo trên của Bộ giáo dục và Sở giáo dục, nhậnthức đ

Trang 1

A PHẦN MỞ ĐẦU

I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Ngày nay công nghệ thông tin càng phát triển thì việc ứng dụng côngnghệ thông tin được đưa vào tất cả các lĩnh vực Cùng với sự đi lên của xã hội,ngành giáo dục cũng đã nhanh chóng ứng dụng công nghệ thông tin vào dạyhọc Đưa công nghệ thông tin ứng dụng vào giảng dạy, học tập làm thay đổimạnh mẽ nội dung, phương pháp dạy và học Hiện nay Bộ giáo dục và Đào tạoyêu cầu đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục đào tạo ở tất cảcác cấp học, bậc học, ngành học Xem công nghệ thông tin như là một công cụ

hỗ trợ đắc lực nhất cho đổi mới phương pháp dạy học ở các môn học

Thực hiện tinh thần chỉ đạo trên của Bộ giáo dục và Sở giáo dục, nhậnthức được rằng việc ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ cho việc đổi mớiphương pháp dạy học là một trong những hướng tích cực nhất, hiệu quả nhấttrong việc đổi mới phương pháp dạy học, tôi đã tích cực học tập và đưa côngnghệ thông tin vào giảng dạy trong năm học 2017 - 2018

Nhận thức được vai trò của việc ứng dụng công nghệ thông tin tronggiảng dạy, tôi đã đưa ứng dụng công nghệ thông tin vào nhiều môn học Đặcbiệt là môn Tiếng Việt, tôi đã thiết kế được nhiều giáo án điện tử để đưa vàogiảng dạy Qua quá trình soạn giáo án và giảng dạy, tôi đã đúc kết được một số

kinh nghiệm Vì vậy tôi chọn sáng kiến kinh nghiệm: “Ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy môn Tiếng Việt Lớp 2.”

II MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

1 Mục đích:

* Giáo viên:

- Nâng cao chất lượng giảng dạy môn Tiếng Việt

- Tìm ra biện pháp khắc phục các tồn tại, khó khăn trong quá trình giảngdạy, điều chỉnh phương pháp dạy học cho phù hợp với đối tượng học sinh

- Tự học nâng cao trình độ tin học, nâng cao kĩ năng sử dụng CNTT

* Học sinh:

- Hình thành kĩ năng học cho học sinh, phát triển tư duy sáng tạo

Trang 2

- Rèn các phẩm chất cần thiết trong học tập cho học sinh.

- Yêu con người, thiên nhiên, quê hương, đất nước qua các bài học

2 Nhiệm vụ:

- Bước 1: Tìm hiểu về ứng dụng công nghệ thông tin vào môn Tiếng Việt lớp 2

- Bước 2: Tìm hiểu thực trạng khi đưa các bài giảng điện tử vào giảng dạy.

- Bước 3: Tìm hiểu cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về việc ứng dụng CNTT trong

dạy học

- Bước 4: Tìm một số giải pháp đổi mới phương pháp dạy học khi đưa ứngdụng công nghệ thông tin vào giảng dạy môn Tiếng Việt Lớp 2 góp phần nângcao hiệu quả dạy học

- Bước 5: Xác định tính thực thi và hiệu quả của việc dạy học môn Tiếng Việt.

- Bước 6: Đề xuất các biện pháp trong dạy Tiếng Việt cho học sinh lớp 2.

III PHẠM VI NGHIÊN CỨU:

- Thực nghiệm trong chương trình môn Tiếng Việt Lớp 2

- Sử dụng bài giảng điện tử trong môn Tiếng Việt Lớp 2

- Đối tượng nghiên cứu là học sinh lớp 2

IV THỜI GIAN THỰC HIỆN ĐỀ TÀI:

Thời gian nghiên cứu đề tài là năm học 2017 - 2018

( Từ tháng 9 năm 2017 đến tháng 5 năm 2018)

- Tháng 9: Khảo sát tình hình thực tế tại lớp

- Từ tháng 10 năm 2017 đến tháng 5 năm 2018: thực hiện các nội dung của đề tài

- Tháng 5 năm 2018 hoàn thiện đề tài

V PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

- Phương pháp điều tra - khảo sát: Kiểm tra khảo sát, tìm hiểu thực trạngdạy và học Tiếng Việt lớp 2

- Phương pháp thống kê: Thống kê các số liệu, các thông tin để so sánh

- Phương pháp phân tích tổng hợp: Đối chứng, phân tích các kết quả bằng

Trang 3

B NỘI DUNG

CHƯƠNG I

CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA CÁC BIỆN PHÁP ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ

THÔNG TIN VÀO GIẢNG DẠY MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 2

I CƠ SỞ LÝ LUẬN

Nhận thức của học sinh lớp 2 hiệu quả nhất là con đường trực quan sinhđộng Bởi vậy các phương tiện trực quan rất cần thiết trong quá trình giảng dạy.Đặc biệt là phương tiện trực quan sinh động, rõ nét sẽ thu hút được sự chú ý củahọc sinh Trong những tiết học có đồ dùng trực quan đẹp, học sinh sẽ chú ý đếnbài giảng hơn và kết quả là học sinh tiếp thu bài tốt hơn, nhớ lâu hơn

Đối với môn Tiếng Việt, tranh ảnh đồ dùng dạy học Tiếng Việt còn rấthạn chế hoặc có thì lại bé, học sinh sẽ không quan sát rõ và sự tập trung cốtlõi của bài học còn hạn chế Thế nhưng, những tranh ảnh, đồ dùng của mônTiếng Việt được tôi áp dụng soạn giảng bằng giáo án điện tử, khi đưa lên mànhình trình chiếu với sự nhấn mạnh bằng cách hiệu ứng tranh thay đổi, chữ đổimàu hay gạch chân… thì mức độ tập trung của học sinh sẽ cao hơn đồng thờinắm bắt được cốt lõi của nội dung bài học hơn

Trong phương pháp dạy học hiện nay luôn coi trọng việc lấy học sinh làmtrung tâm, người thầy chỉ đóng vai trò là người giúp các em đi đúng hướng, giúpcác em tiếp thu kiến thức một cách chủ động, sáng tạo Chính vì vậy mà việcđưa ứng dụng công nghệ thông tin, cải tiến phần mềm và tích hợp phần mềm

để soạn giáo án điện tử vào giảng dạy “môn Tiếng Việt nói riêng và các mônhọc khác nói chung là cần thiết”

1 Sơ lược những điểm mới cơ bản nhất trong kết quả nghiên cứu

Ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học là một phương pháp khá tíchcực, đặc biệt là đối với môn Tiếng Việt Qua các bài giảng đã truyền thụ đến họcsinh, tôi nhận thấy ở các em niềm say mê và hứng thú học tập Hình ảnh trựcquan sinh động, cụ thể giúp học sinh nhớ bài lâu hơn, giờ dạy của giáo viên nhẹ

Trang 4

nhàng mà hiệu quả hơn Bên cạnh đó tiếp xúc với phương tiện công nghệ thôngtin sẽ giúp giáo viên nâng cao thêm tầm hiểu biết của mình và tự hoàn thiện đểhòa nhập cùng với sự phát triển của xã hội.

2 Khẳng định tính sáng tạo về khoa học và thực tiễn của vấn đề:

Có thể nói ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học là một phươngpháp thể hiện cao tính sáng tạo về khoa học Trước kia khi giảng dạy bằngphương pháp truyền thống, người giáo viên phải chuẩn bị rất nhiều đồ dùngtrực quan rồi lỉnh kỉnh mang đến lớp, có đồ dùng chỉ dùng được một lần rồi

bỏ đi Vào tiết dạy vừa giảng bài, giáo viên vừa phải ghi nhớ và sắp đặt đồdùng để treo lên bảng, thời gian tháo gắn đồ dùng cũng chiếm một phầnkhông nhỏ trong tiết học, chưa nói đến những tranh cần thiết phải sử dụngnhưng nó quá nhỏ, màu sắc không rõ ràng, phần nào đã làm giảm sự tập trung

ở các em Còn với việc ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học thì kháchẳn Nó như mở ra một cái nhìn mới cho các em học sinh, được tiếp xúc vớiphương tiện hiện đại tầm nhìn của các em được mở rộng hơn, bài giảngkhông còn trở nên khó hiểu với các em nữa vì những hình ảnh minh họa cholời nói của giáo viên giờ đây sinh động, hiện thực, phong phú Giáo viên cónhiều thời gian truyền thụ kiến thức cho học sinh, học sinh hiểu bài sâu hơn, vậndụng kiến thức đã học vào thực hành tốt hơn

II CƠ SỞ THỰC TIỄN:

Có rất nhiều tài liệu, tư liệu phục vụ cho việc soạn giảng như: tải hìnhảnh, thông tin, bài giảng tham khảo…từ mạng Internet

Được sự quan tâm giúp đỡ của Ban giám hiệu, giáo viên thường xuyênđược bồi dưỡng, trau dồi chuyên môn qua công tác dự giờ, kiểm tra, chuyên đề,tạo mọi điều kiện hỗ trợ giúp giáo viên giảng dạy tốt… Nhà trường luôn khuyến

Trang 5

khích giáo viên giảng dạy bằng phương tiện công nghệ thông tin để giúp họcsinh hứng thú học tập trước phương pháp mới.

Sau khi giảng dạy trên lớp, bài giảng của giáo viên được lưu giữ vào khobài giảng của nhà trường, tạo điều kiện cho giáo viên có thể tham khảo, sửa đổihoặc bổ sung giáo án sau phần rút kinh nghiệm để hoàn thiện hơn, giảng dạy ở nhiều năm tiếp theo

+ Khó khăn:

Nhiều giáo viên trình độ tin học, kỹ năng sử dụng máy tính và cácphương tiện hỗ trợ còn hạn chế Giáo viên Tiểu học được trang bị kiến thức dạyrất nhiều môn học nên điều kiện nghiên cứu chuyên sâu về một môn học nào đócòn hạn chế

Sách giáo khoa mới dừng lại ở mức độ cung cấp thông tin Phương phápdạy học truyền thống đã chiếm lĩnh một thời gian dài Nó đi sâu vào tiềm thức

và thói quen dạy học của người giáo viên Vì vậy để đưa công nghệ thông tinvào giảng dạy là cả một quá trình đòi hỏi người giáo viên phải kiên trì, say mê,tâm huyết với nghề, luôn tìm tòi học hỏi, sáng tạo trong quá trình dạy học

Thực tế, khi làm một bài giảng điện tử phải bỏ rất nhiều thời gian côngsức tìm tài liệu, nghiên cứu phương pháp sao cho có một bài giảng hay thu húthọc sinh học tập nên phần lớn giáo viên còn ngại

Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho dạy học, đặc biệt là phục vụ choviệc dạy tin học và ứng dụng CNTT của nhà trường còn nhiều hạn chế Điều nàychưa thật sự phát huy hết khả năng của việc đưa công nghệ thông tin vào giảngdạy

b Học sinh:

Về phía học sinh, có những thuận lợi và khó khăn nhất định.Các em họcsinh Lớp 2 còn chưa có ý thức nhiều trong việc học tập Vì thế đa số các em cònchưa có phương pháp học tập, thích chơi đùa, thích nghe kể chuyện, vừa họcvừa chơi

* Thuận lợi:

- Đối với học sinh tiểu học, khi được tiếp nhận công nghệ thông tin trongtiết học các em thấy thích thú, hưng phấn học tập vì tranh ảnh to, màu sắc đẹp,

Trang 6

mẫu chữ rõ ràng Học sinh tiếp nhận kiến thức một cách chủ động, nhớ bài lâuhơn.

* Khó khăn:

Do học sinh mới được tiếp cận với giáo án điện tử nên các em có phần lạlẫm Vì thế một số em tò mò, tập trung nhiều vào tranh ảnh, màu sắc mà sao nhãvệc tiếp thu bài

2 Kết quả khảo sát

Qua kiểm tra khảo sát chất lượng đầu năm môn Tiếng Việt, số lượng họcsinh học tốt môn Tiếng Việt còn ít Đặc biệt kĩ năng đọc, viết còn có nhiều hạnchế thể hiện qua bảng tổng hợp sau:

Tổng số Điểm 9-10 Điểm 7-8 Điểm 5-6 Điểm dưới 5

Trang 7

CHƯƠNG II

NHỮNG BIỆN PHÁP ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

VÀO GIẢNG DẠY MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 2

I NHỮNG YÊU CẦU CẦN THIẾT KHI THIẾT KẾ BÀI GIẢNG ĐIỆN TỬ

Giáo án điện tử đến nay đã được nhiều giáo viên đón nhận một cách tíchcực, bởi nó tạo ra một không khí học tập sôi nổi, thu hút sự chú ý của học sinh,học sinh thực sự làm chủ trong tiết học Khi dạy bằng giáo án điện tử giáo viên

đỡ vất vả hơn nhiều Thay bằng các thao tác gắn đồ dùng lên bảng, giáo viên chỉcần click chuột là có Thực ra, muốn click chuột để tiết dạy thực sự hiệu quả thìngười dạy cũng phải chịu bỏ công tìm hiểu, làm quen với cách giảng bài mớinày Cụ thể, người thầy cần phải:

- Có một số kiến thức về sử dụng máy tính

- Biết cách truy cập Internet

- Có khả năng sử dụng một phần mềm chỉnh sửa ảnh, cắt các file âm thanh

- Biết cách sử dụng projector

Thứ hai, từ những giáo án được soạn sẵn trên giấy và được trình bày lạitrên bảng đen làm thế nào để chúng trở thành các giáo án điện tử được trình bàytrên màn chiếu? Hình ảnh minh họa đưa vào bài giảng, thao tác cơ bản nhất đòihỏi người thầy phải nắm được là cách thiết lập các hiệu ứng để làm cho bàigiảng sinh động, mang lại không khí học tập, giảng dạy mới mẻ Các hiệu ứngnày là gì? Đó chính là các hoạt ảnh của các đối tượng (văn bản, hình ảnh )được thiết lập có thứ tự Dòng chữ xuất hiện trước, sau; hiệu ứng xuất hiện từdưới lên, khi từ trên xuống dưới; thời gian xuất hiện nhanh hay chậm cho phùhợp với tâm lí nhận thức của học sinh Chẳng hạn trong giờ học khi tổ chức tròchơi, giáo viên cho học sinh đoán kết quả trước, sau đó mới hiển thị kết quả trênmàn hình nhằm tăng khả năng tư duy của học sinh Ngoài ra, đặc điểm này giúpgiáo viên tiết kiệm được thời gian viết nội dung lên bảng, nội dung hiển thị làmcho thời gian giảng bài nhiều hơn, các em học sinh hiểu bài sâu hơn

Ngoài ra, giáo viên còn cần phải tuân thủ một số nguyên tắc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học:

- Lựa chọn phần mềm dạy học cho phù hợp với mục đích, yêu cầu bài dạy

- Đảm bảo tính an toàn về: điện, thính giác, thị giác…

Trang 8

- Đảm bảo tính vừa sức: Phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi học sinh, sửdụng phương tiện đúng lúc, đúng chỗ.

- Đảm bảo tính hiệu quả: Nâng cao chất lượng giờ dạy

- Đảm bảo tính thẩm mĩ cao: Tránh lạm dụng hình ảnh, ánh sáng, màu sắclòe loẹt trong các nội dung trình chiếu

- Chỉ đưa những kiến thức trọng tâm của bài vào Slide

Đối với môn Tiếng Việt, mỗi bài học hay mỗi tranh ảnh đẹp được đưa lênmàn hình lớn sẽ giúp học sinh chú ý hơn, những từ ngữ trọng tâm trong bài ta cóthể đổi màu hoặc gạch chân sẽ giúp học sinh hiểu bài hơn, từ đó giảng bài mộtcách dễ dàng, giúp học sinh dễ hiểu và làm bài tốt hơn

- Những kiến thức cần nhấn mạnh thì nên chọn hiệu ứng đổi màu hoặcgạch chân chứ không nên chọn hiệu ứng quá sinh động làm cho học sinh chỉ chú

ý xem, không chú ý đến kiến thức của bài

- Chọn phông chữ, màu chữ, phông nền, màu nền cho phù hợp Khôngnên chọn màu sắc tối, nhợt nhạt sẽ không gây được sự chú ý của học sinh, cũngkhông nên chọn màu sắc quá lòe loẹt hoặc quá nhiều màu sắc trong một Slidenhìn sẽ rối mắt

- Hiệu ứng chuyển trang cũng nên chọn cho phù hợp, không nên chọnhiệu ứng quá nhanh hay quá chậm hoặc quá sống động ảnh hưởng đến sự tậptrung vào bài học của học sinh

II NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH

Ngay từ đầu tôi đã hệ thống toàn bộ nội dung các tiết học môn Tiếng Việt

ở lớp 2 Phân loại các dạng bài dạy trong chương trình theo từng phân môn, tìmhiểu mục đích mà học sinh cần đạt được trong mỗi tiết đó và tìm ra biện phápdạy học phù hợp

- Phân môn Kể chuyện

- Phân môn Luyện từ và câu

- Phân môn Tập làm văn

Trang 9

2 Thời lượng

Thời lượng dành cho môn Tiếng Việt khá nhiều Mỗi tuần học có: 2 tiếttập đọc, 2 tiết chính tả, 1 tiết luyện từ và câu, 1 tiết tập viết, 1 tiết kể chuyện và 1tiết tập làm văn

CHƯƠNG III: NHỮNG BIỆN PHÁP THỰC HIỆN

I Những biện pháp chung ( 5 biện pháp)

1 Biện pháp 1: Đổi mới phương pháp dạy học môn Tiếng Việt

2 Biện pháp 2: Chú trọng việc dạy học theo hướng tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh trong giờ học.

3 Biện pháp 3: Nâng cao chất lượng bài soạn và bài dạy của giáo viên

4 Biện pháp 4: Tăng cường việc tổ chức trò chơi học tập trong giờ học

Tiếng Việt

5 Biện pháp 5: Tổ chức các cuộc thi qua môn Tiếng Việt

II BIỆN PHÁP TỪNG PHẦN

1 Biện pháp 1: Đổi mới phương pháp dạy học môn Tiếng Việt

Đổi mới phương pháp dạy học là quá trình chuyển từ giáo dục truyền thụmột chiều, học tập thụ động Chủ yếu là ghi nhớ kiến thức để đối phó với thi cửsang học tập tích cực, chủ động, sáng tạo, chú trọng đến hình thành năng lực tựhọc cho HS dưới sự giúp đỡ, hướng dẫn, tổ chức của giáo viên

Đổi mới các hình thức dạy học, làm cho việc học tập của HS trở nên líthú, gắn với thực tiễn cuộc sống; kết hợp dạy cá nhân với dạy theo nhóm nhỏ,tăng cường sự tương tác, giúp đỡ lẫn nhau

Để thực hiện tốt việc đổi mới phương pháp dạy học, người giáo viên cầnnắm chắc nội dung chương trình đổi mới sách giáo khoa Tiếng Việt năm 2000của Bộ Giáo dục và Đào tạo, phân dạng các bài học theo nội dung để có phươngpháp dạy học phù hợp với từng loại bài cụ thể

1.1 Phân môn Tập đọc

- Phân môn tập đọc học sinh được luyện đọc cả bài văn hay bài thơ theocâu, theo đoạn và cả bài, mang tính chất tổng hợp hơn về cả kiến thức và kĩ năng

Trang 10

đọc Vỡ vậy rất khú khăn trong việc tổ chức luyện đọc theo cõu, theo đoạn Đặcbiệt là những bài tập đọc cú nội dung dài.

- Khi trỡnh chiếu một bài tập đọc giỳp cỏc em tập trung chỳ ý hơn Cỏc emđược quan sỏt bài đọc, được nghe hướng dẫn cỏch đọc, cỏch chia cõu, chia đoạn

để chủ động đọc

* Cụ thể: Tuần 8, khi dạy bài tập đọc: Bàn tay dịu dàng

Bà của An mới mất nờn An xin nghỉ học mấy ngày liền Sau đỏm tang bà, An trở lại lớp, lũng nặng trĩu nỗi buồn Thế là chẳng bao giờ An cũn được nghe bà kể chuyện cổ tớch, chẳng bao giờ An cũn được bà õu yếm vuốt ve…

Nhớ bà, An ngồi lặng lẽ Thầy giỏo bước vào lớp Thầy bắt đầu kiểm tra bài làm ở nhà của học sinh.

Khi thầy đến gần, An thỡ thào buồn bó:

- Thưa thầy, hụm nay em chưa làm bài tập.

Thầy nhẹ nhàng xoa đầu An Bàn tay thầy dịu dàng, đầy trỡu mến, thương yờu An núi tiếp:

- Nhưng sỏng mai em sẽ làm ạ!

- Tốt lắm! Thầy biết em nhất định sẽ làm! - Thầy khẽ núi với An.

Bàn tay dịu dàng

- Kết quả: Đối với giỏo viờn, việc tổ chức luyện đọc và rốn cỏc kĩ năng đọc

dễ dàng hơn Đối với học sinh, cỏc em chỳ ý học và biết cỏch đọc tốt hơn Tiếthọc diễn ra nhẹ nhàng và thực sự hiệu quả

1.2 Phõn mụn chớnh tả

- Khi dạy phõn mụn này học sinh gặp khú khăn trong việc trỡnh bày bài.Mỗi bài chớnh tả là một bài văn hay bài thơ Mỗi thể thơ cú cỏch trỡnh bày riờng.trong đoạn văn cú những cõu đối thoại khú trỡnh bày đỳng Việc viết mẫu trờnbảng lớp đụi khi do vội vàng, giỏo viờn viết chưa được đẹp hoặc là rất mất thờigian cho sự chuẩn bị Nếu giỏo viờn chỉ phõn tớch bằng lời thỡ nhiều em vẫnchưa hiểu được dẫn tới trỡnh bày khụng đỳng, hiệu quả bài viết chưa cao

- Khi trỡnh chiếu một bài mẫu sẽ giỳp cỏc em dễ dàng định hỡnh cỏch trỡnhbày Vỡ vậy khi sử dụng giỏo ỏn điện tử tụi cho cỏc em quan sỏt cỏch trỡnh bày

cả b ài

Luyện đọc đoạn

Trang 11

bài mẫu, phân tích cách trình bày bài Từ đó học tập được cách trình bài và cốgắng viết đẹp như bài mẫu.

* Cụ thể: Ở tuần 14: Chép bài: Câu chuyện bó đũa

- Đúng Như thế là các con đều thấy rằng chia lẻ ra thì yếu, hợp lại thì mạnh Vậy các con phải biết thương yêu, đùm bọc lẫn nhau Có đoàn kết thì mới có sức mạnh.

Câu chuyện bó đũa

Người cha liền bảo:

Theo Ngụ ngôn Việt Nam

- Kết quả: Học sinh nắm rõ cách trình bày bài viết, viết nhanh, viết đúng,viết đẹp, đạt được mục tiêu của tiết học

1.3 Phân môn Kể chuyện

Mỗi tuần có 1 tiết dành cho phân môn Kể chuyện Sau bài tập đọc, có

một câu chuyện được gắn với câu chuyện mà học sinh được đọc trong bài tậpđọc Ở lớp 2 , kĩ năng kể của học sinh còn nhiều hạn chế Tiết kể chuyện họcsinh chỉ biết nghe mà Ýt em biết kể lại c©u chuyện Vì vậy mà sử dụng giáo ánđiện tử tôi sẽ đưa được rất nhiều tranh ảnh của nội dung câu chuyện Các em rấthứng thú nghe kể và nắm được nội dung câu chuyện Có nhiều em chỉ sau 1, 2lần kể và qua tranh minh họa là có thể kể lại được truyện

Ví dụ: Tuần 25: Câu chuyện: Sơn Tinh, Thuỷ Tinh

Trang 12

Lần 1: Tôi đưa toàn bộ các bức tranh lên máy để học sinh quan sát rồi đưa

ra những câu hỏi gây hứng thú và sự tò mò của học sinh, lôi cuốn học sinh vàovới câu chuyện mình sẽ kể

Chẳng hạn:

- Bức tranh 1 minh hoạ điều gì?

- Đây là nội dung thứ mấy của câu chuyện?

- Bức tranh 2 vẽ cảnh gì?

- Đây là nội dung thứ mấy của câu chuyện?

- Hãy nêu nội dung của bức tranh 3?

- Đây là nội dung thứ mấy của câu chuyện?

Các con hãy chú ý quan sát lên bảng và lắng nghe câu chuyện này nhé.! Lần 2: Tôi đưa từng tranh một để học sinh có điều kiện quan sát kĩ hơn,nghe kể lại để có thể nhẩm theo nội dung từng tranh của câu chuyện và nhớ nộidung của từng tranh rất tốt

Thực tế trong lớp tôi, ở phần kể chuyện này từ khi sử dụng bằng giáo ánđiện tử các em rất hứng thú học và đa phần các em đều có thể kể lại vắn tắt đượcnội dung của câu chuyện

1.4 Phân môn Tập viết:

- Đối với phương pháp truyền thống, khi dạy phân môn này giáo viênphân tích và viết mẫu trên bảng lớp đôi khi do vội vàng, giáo viên viết chưađược đẹp hoặc là rất mất thời gian cho sự chuẩn bị Khi hướng dẫn học sinh có

Trang 13

một số em ở góc phía giáo viên đứng bị che khuất tầm nhìn rất khó quan sát vìthế hiệu quả tiết dạy chưa cao.

- Khi sử dụng giáo án điện tử tôi thiết kế phần chữ viết trên máy tính Khitrình chiếu học sinh quan sát rất rõ từ điểm đặt bút, điểm dừng bút đến quy trìnhviết Tôi cũng có thể đưa thêm các bài viết đẹp của học sinh lớp trước để họcsinh học tập, phấn đấu

* Cụ thể: Tuần 26: Tập viết: Chữ hoa X

Chọn ý đúng nhất:

*Con chữXcao mấy ô li ?

b) 7 ô li c) 8 ô li a) 5 ô li

Tập viết: T« ch÷ hoa X

- Học sinh nắm rõ quy trình viết, học sinh viết đẹp và đúng mẫu hơn Cómục tiêu phấn đấu nên hiệu quả tiết dạy rất cao

1.5 Phân môn Luyện từ và câu:

Trọng tâm dạy luyện từ và câu ở lớp 2 là giúp các em có một vốn từ ngữphong phú Việc đưa tranh ảnh và khai thác tranh ảnh để giúp các em dễ dànghiểu rõ hơn nghĩa của các từ, giúp các em mở rộng thêm vốn từ một cách tựnhiên, sinh động hơn

Vốn sống của các em còn ít, nhiều sự vật tưởng chừng như rất đơn giảnnhưng các em chưa biết dùng các từ để gọi tên các sự vật đó hoặc chưa hiểu hếtnghĩa của các từ đó

Ví dụ: Tuần 16: Khi dạy bài Từ chỉ tính chất Câu kiểu Ai thế nào? Từngữ về vật nuôi

Trang 14

Sau khi cho học sinh quan sát về vật nuôi, học sinh sẽ biết phân biệt vàgọi tên chính xác tên các con vật trong tranh: gà, vịt, ngan, ngỗng, thỏ, trâu, đàn

bò, …

Bài tËp 3 Viết tên các con vật trong tranh

Bằng hệ thống tranh ảnh đẹp do GV sưu tầm mất nhiều thời gian nhưngđược lưu trữ trên máy gọn nhẹ và mang lại hiệu quả cao Khi mở rộng vốn từcho HS không phải chỉ nêu được các sự vật, tên gọi các sự vật, tên gọi của từ màcòn phải khai thác để hiểu hết nghĩa của từ và những bản chất thuộc tính của sựvật đó Bằng một số câu hỏi gợi mở tạo ra hứng thú tò mò, thích khám phá thêmcác sự vật khác Bằng cách quan sát trực tiếp: Đây cũng là một cách để HSđược tiếp cận kiến thức một cách nhanh chóng, ghi nhớ lâu và chính xác

1.6 Phân môn Tập làm văn:

Với phân môn Tập làm văn ở lớp 2, viết những đoạn văn ngắn kể vềngười thân, cây cối, con vật,… Thực tế trong quá trình dạy học, tôi nhận thấyrằng nhiều em còn lúng túng khi sử dụng từ và đặt câu Kĩ năng nói, viết và diễnđạt câu còn yếu Các em thường viết văn theo cách dập khuôn, máy móc, chắpvvá, khô khan Học sinh thường tiếp thu bài một cách gượng ép, thụ động vàkhông hứng thú khi học phân môn này

Nếu không có các biện pháp tổ chức phù hợp để gây hứng thú cho họcsinh thì các em sẽ tiếp thu kiến thức một cách cứng nhắc, nhiều lần sẽ gây nhàmchán, mất tập trung

Trang 15

Muốn bài viết của các em đạt yêu cầu, thầy cô phải là người khơi dậytrong các em những vốn sống mà trẻ đã tích luỹ được từ thực tế và mở ra chocác em những góc nhìn mà các em chưa từng thấy

Ví dụ: Trước khi viết đoạn văn ngắn kể về cây bóng mát, tôi cho học sinh

tham quan qua màn ảnh nhỏ một số hình ảnh về một số loài cây bóng mát Sau khi được quan sát các loại cây, HS biết cách dùng từ chính xác hơn

để mô tả, diễn đạt câu đầy đủ, rõ ràng để trả lời các câu hỏi gợi ý

- Trong tranh (ảnh) là cây gì? Cây đó trồng ở nơi nào?

- Cây có gì đẹp? Các bộ phận của cây như thế nào? Cách chăm sóc cây ra sao?

Trang 16

Cùng với lời nhận xét khen, động viên các em, kết quả học sinh thực sựthích thú khi học tiết học này Đồng thời qua đó, giáo viên có thể phát hiện ranhững học sinh học tốt và có kế hoạch bồi dưỡng học sinh giỏi, phát triển mũinhọn.

Ngoài ra giáo viên cần quan tâm chú ý việc chấm, chữa, nhận xét bài văn

để chữa lỗi dùng từ, đặt câu cho HS Đối với học sinh lớp 2 vốn từ của các emcòn rất hạn chế, việc tìm và sử dụng từ còn lúng túng và dùng từ đặt câu chưachính xác Một số em viết và nói còn tuỳ tiện, dùng từ sai, diễn đạt lủng củng,câu cộc lốc khô khan, không biết sử dụng các câu có hình ảnh gợi tả, gợicảm, , giáo viên dễ dàng hơn khi sửa chữa kịp thời cho học sinh

Sau nhiều tuần rèn cho học sinh các kĩ năng trên, bài viết của đa số các em

đã tiến bộ rất nhiều Rèn được kĩ năng này, các em sẽ tự tin viết văn khi tránh được lối diễn đạt lủng củng, rườm rà, lặp ý Có như vậy bài văn của các em sẽmạch lạc, trong sáng, mang tính chân thực

2 Biện pháp 2: Chú trọng việc dạy học theo hướng tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh trong giờ học

Để hoạt động dạy và học theo hướng tích cực hoá hoạt động học tập củahọc sinh người giáo viên cần:

a Định hướng mục tiêu, xác định nhiệm vụ học tập.

Đầu giờ học, hoặc đầu mỗi phần của bài học, bằng nhiều phương phápkhác nhau, giáo viên nêu vấn đề (câu hỏi) hướng dẫn học sinh vào vấn đề cầngiải quyết Muốn định hướng mục tiêu, xác định nhiệm vụ học tập được tốt,phần nêu vấn đề của giáo viên phải đạt được các yêu cầu sau:

- Lời dẫn phải xúc tích, giàu tính khái quát và giàu hình ảnh

- Phải đề cập đến cốt lõi của bài học

- Tạo ấn tượng, trí tò mò của học sinh

b Sử dụng trực quan hợp lí

Đồ dùng dạy học góp phần phát triển khả năng quan sát, trí tưởng tượng,

tư duy và ngôn ngữ cho học sinh Trực quan có tác dụng minh hoạ cho bài giảng

và nó làm cho bài giảng thêm sinh động, hấp dẫn, góp phần tạo biểu tượng, cụthể hoá SGK cho học sinh dễ tiếp thu kiến thức Trực quan là các yếu tố có khảnăng tác động đến tất cả các giác quan của học sinh trong giờ học Trực quan

Ngày đăng: 16/10/2019, 06:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w