Một trong những hướng đổi mới tích cực nhất đó là chương trìnhdạy và học ngày càng chú trọng hơn tính thực tiễn trong giảng dạy.Nângcao chất lượng các giờ học thực hành,các tiết dạy có t
Trang 1BỘGIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HÀ NỘI
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
“Một số kinh nghiệm thực hiện thành công các thí nghiệm
trong giảng dạy môn hóa học ở trường THCS”
Môn: Hóa học Cấp học: THCS
NĂM HỌC: 2016- 2017
MÃ SKKN (Dùng cho HĐ chấm của Sở)
Trang 2MỤC LỤC
MỤC LỤC
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1
1.1 Cơ sở lý luận 1
1.2 Cơ sở thực tiễn: Thực trạng trường THCS 1
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 3
3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 3
4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3
5 KẾ HOẠCH NGHIÊN CỨU 3
5.1 Nội dung nghiên cứu 3
5.2 Phương pháp nghiên cứu 3
5.3 Thời gian nghiên cứu 3
PHẦN II: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 4
1 Một số vấn đề lí luận để xây dựng tiết dạy thực hành – thí nghiệm 4
1.1 Yêu cầu của mỗi thí nghiệm .4
1.2 Một số chú ý trong các thao tác khi làm thí nghiệm 5
1.3 Vai trò của giáo viên trong các tiết dạy thực hành-thí nghiệm 5
2.Nội dung và cách tiến hành 6
PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 28
Trang 3Một trong những hướng đổi mới tích cực nhất đó là chương trìnhdạy và học ngày càng chú trọng hơn tính thực tiễn trong giảng dạy.Nângcao chất lượng các giờ học thực hành,các tiết dạy có thí nghiệm,đẩy mạnhtính liên hệ thực tế,tích cựa rèn kĩ năng thực hành thí nghiệm,phát triểnnăng lực vận dụng cho học sinh.Điều này đặc biệt có ý nghĩa với bộ mônHoá học.
Đặc trưng bộ môn Hoá học là môn khoa học thực nghiệm, thôngqua các thí nghiệm học sinh quan sát hiện tượng ,nhận xét sự biến đổi củacác chất từ đó rút ra nhận xét để lĩnh hội,cũng như khắc sâu kiến thức Mặt khác nhờ thí nghiệm hóa học mà học sinh được làm quen với cáctính chất, hiểu và giải thích được bản chất của các quá trình diễn ra trong
tự nhiên, trong sản xuất và đời sống
Đối với bộ môn hóa học, thí nghiệm giữ một vai trò đặc biệt quantrọng trong quá trình dạy và học Có thể nói thí nghiệm hóa học là cơ sở đểhọc sinh học tập và rèn luyện kỹ năng thực hành Qua mỗi bài thực hành,học sinh sẽ nắm vững kiến thức một cách hứng thú và vững chắc hơn, từ
đó lôi cuốn các em vào thế giới diệu kì, say mê bộ môn và có niềm tin vàokhoa học hóa học Ngoài ra, thí nghiệm hóa học còn giúp học sinh pháttriển tư duy và hình thành những đức tính tốt như: Trật tự, ngăn nắp, gọngàng
Với bộ môn hoá học, thí nghiệm giúp học sinh làm quen với nhữngtính chất, mối liên hệ, quan hệ có tính quy luật giữa các đối tượng nghiêncứu Nhờ thí nghiệm mà con người thiết lập được những quá trình màtrong thực tế tự nhiên hoàn toàn không có được Ngoài ra, còn giúp họcsinh vận dụng những quá trình nghiên cứu trong nhà trường, trong phòngthí nghiệm và phạm vi rộng rãi trong toàn xã hội
Trang 4Ngoài ra, thí nghiệm còn có tác dụng kiểm tra giả thuyết, giúp họcsinh phát triển tư duy, thế giới quan duy vật biện chứng, giúp hình thànhđức tính tốt của người lao động mới: thận trọng, ngăn nắp, lịch sự, gọngàng…
1.2 Cơ sở thực tiễn: Thực trạng trường THCS
1.2.1.Thuận lợi
- Hiện nay, việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cựcđang được Đảng, Nhà nước và toàn thể nhân dân quan tâm, đầu tư cho giáodục
- Chương trình sách giáo khoa hóa học có nhiều tiết học có thínghiệm; số lượng các bài thực hành tăng lên tạo điều kiện cho học sinh tiếpthu, lĩnh hội kiến thức được chắc chắn Đồng thời còn rèn luyện cho các
em các thao tác, kĩ năng cơ bản trong việc nghiên cứu khoa học: chính xác,
tỉ mỉ, cẩn thận, chịu khó tìm tòi
- Ban lãnh đạo của nhà trường, Phòng giáo dục luôn tạo mọi điềukiện, động viên để giáo viên có thể thực hiện tốt công việc chuẩn bị vàthực hiện các thí nghiệm trong các giờ
1.2.2 Khó khăn
Trong thực tế, tâm lí của đa số giáo viên không muốn làm thínghiệm, thậm chí sợ làm thí nghiệm hoạc cố gắng tiến hành như SGK đãnêu là tốt lắm rồi điều này lại hoàn toàn trái ngược với tâm lí của học sinh.Điều này đã làm ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng dạy học bộ môn Quathực tế bản than có trao đổi với đồng nghiệp thấy rằng Lí do cơ sở vật chấtthiếu thốn thiết bị thí nghiệm cũ, tình trạng chất lượng hóa chất chưa thực
sự đảm bảo do để lâu ngày, một số thí nghiệm khó tiến hành, đặc biệt khicho HS tự tiến hành, đây là một trong những nguyên nhân dẫn tới thựctrạng trên Mặt khác, chương trình hóa học bậc THCS đa số các thí nghiệmđều dễ thực hiện trên tiết dạy Nhưng qua thời gian lâu dài, 1 số hóa chấtchất lượng sẽ giảm đi khi tiến hành rất khó để thành coong Đặc biệt khókhăn khi GV cho HS tự làm thí nghiệm, phần vì sợ hết thời gian, phần vì
sợ HS khó tiến hành, ko an toàn…
Hôn nữa trong các tiết thực hành GV hướng dẫn cho học sinh rất nhiều cảkhâu viết bảng tường trình, cũng như hướng dẫn học sinh cách lắp rápdụng cụ thí nghiệm trong mỗi bài thực hành vì hình vẽ trong sách giáo
Trang 5khoa không có,….Từ đó dẫn đến thời gian để hoàn thành một bài thựchành là không đủ.
- Giáo viên dạy quá nhiều giờ, nhiều môn nên việc chuẩn bị đồ dùng hoáchất cho thí nghiệm thực tế còn nhiều hạn chế
Từ vai trò quan trọng của thí nghiệm hóa học như đã nêu và qua nhữngnăm giảng dạy Tôi nhận thấy cần phải đổi mới phương pháp thí nghiệmthực hành để phù hợp với việc thay đổi nội dung chương trình sách giáokhoa và phương pháp dạy học mới theo hướng tích cực hóa hoạt động củahọc sinh như hiện nay
Tôi mong muốn nâng cao chất lượng bộ môn, sự thành công của thínghiệm nên tôi đã lựa chọn, nghiên cứu và viết sáng kiến kinh
nghiệm: “Một số kinh nghiệm xây dựng tiết dạy thực hành và tiết dạy
có thí nghiệm hóa học thành công ở trường THCS”
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
- Làm thế nào để thực hiện thành công các thí nghiệm trong các tiết dạythực hành – thí nghiệm ở bộ môn hóa học THCS
3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Các biện pháp xây dựng tiết dạy thực hành và tiết dạy có thí nghiệm
4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Học sinh các khối 8,9 trường THCS
5 KẾ HOẠCH NGHIÊN CỨU
5.1 Nội dung nghiên cứu
Nghiên cứu những biện pháp để xây dựng các tiết thực hành,các tiết dạy cóthí nghiệm trong giảng dạy môn hóa ở trường THCS
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Dạy bài 24 “ Tính chất của oxi – Tiết 1” ở 2 lớp 8A1 và 8A2, từ đó
có biện pháp kiểm tra các em của 2 lớp, thống kê kết quả để đánh giá, nhậnxét về việc nắm bắt, lĩnh hội của học sinh theo các phương pháp dạy khácnhau của giáo viên Phương pháp dạy truyền thống – không sử dụng thí
Trang 6nghiệm, và phương pháp dạy học theo hướng tích cực của học sinh – có sửdụng thí nghiệm Lập bảng số liệu đạt được.
5.2.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
- Mục đích: Rút kinh nghiệm qua các thí nghiệm
- Cách tiến hành: Cho học sinh tiến hành theo nhóm
5.2.4 Phương pháp nghiên cứu kết quả học tập.
-Mục đích: So sánh kết quả học tập
- Cách tiến hành: Thống kê, so sánh kết quả giữa các lớp
5.3 Thời gian nghiên cứu.
Năm học:2015-1016, 2016-2017
Trang 7PHẦN II: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1 Một số vấn đề lí luận để xây dựng tiết dạy thực hành – thí nghiệm
1.1 1 Với thí nghiệm biểu diễn.
a Bảo đảm an toàn thí nghiệm.
Đây là yêu cầu trước hết với mọi thí nghiệm, để đảm bảo an toàn thínghiệm trước hết, giáo viên phải xác định ý thức, trách nhiệm cao về sứckhỏe và tính mạng của học sinh Mặt khác cần nắm chắc kĩ thuật, phươngpháp tiến hành thí nghiệm
Khi làm việc với chất độc hại phải có biện pháp bảo hiểm Khôngdùng quá liều lương hoá chất dễ gây cháy, nổ
Với thí nghiệm tạo ra các khí độ cần tiến hành tỏng tủ phòng hoặccuối gió để tránh tạt khí về phía học sinh
b Đảm bảo độ chính xác của thí nghiệm.
Kết quả thí nghiệm tác động trực tiếp đến chất lượng dạy - học vàcủng cố niềm tin của học sinh vào khoa học Muốn vậy, giáo viên phải cókiến thức, đồng thời có kĩ năng thao tác chuẩn xác Phải tiến hành nhiềulần trước khi đến lớp
Nếu thí nghiệm không thành công, giáo viên phải bình tĩnh, kiểm tralại các bước tiến hành, tìm nguyên nhân và giải thích cho học sinh
c Đảm bảo tính trực quan.
Để đảm bảo yêu cầu này, giáo viên cần lực chọn các dụng cụ, sửdụng hoá chất hợp lí Dụng cụ có kích thước đảm bảo cho học sinh quansát rõ Bàn tiến hành thí nghiệm của giáo viên phải có độ cao nhất đinh,các dụng cụ chưa dùng hay đã dùng cần ngăn nắp theo một trật tự nhấtđịnh
Ngoài ra, để nâng cao chất lượng thí nghiệm thì giáo viên cần chú ýnhững nội dung sau đây:
Trang 8+ Trong một bài, giáo viên nên chọn số lượng thí nghiệm vừa phải,chủ yếu phục vụ cho kiến thức trọng tâm trong bài.
+ Với thí nghiệm mà mục đích là qua thí nghiệm đó rút ra được kếtluận chung về kiến thức thì nên dùng hoá chất mà học sinh quen biết Vớithí nghiệm tìm tính chất của chất thì giáo viên nên kiểm tra hoá chất trướckhi sử dụng
+ Trước khi dùng một dụng cụ mà học sinh chưa biết, thì cần giớithiệu tên và cách sử dụng cũng như các thao tác sử dụng với dụng cụ đó
+ Dụng cụ đơn giản, đảm bảo khoa học, sư phạm, mĩ thuật Chọncác phương án thí gnhiệm đơn giản; tiết kiệm hoá chất, dễ thành công, đảmbảo an toàn cho học sinh
+ Nơi tiến hành thí nghiệm phải đủ ánh sáng, bảo đảm là mọi họcsinh quan sát được rõ Có thể sử dụng màu nền cho học sinh quan sát rõđối với các thí nghiệm có sự kết tủa hay có khi bay ra
+ Hướng dẫn học sinh quan sat trước khi làm thí nghiệm; có hệthống câu hỏi để hướng học sinh vào việc quan sát thí nghiệm và nêu hiệntượng quan sát được
1.1 2 Với thí nghiệm của học sinh:
a Thí nghiệm để nghiên cứu bài mới.
Trong những thí nghiệm này, học sinh được trực tiếp tiến hành thínghiệm nên học sinh rất hứng thú, qua đó vừa kết hợp hoạt động trí óc vàhoạt động chân tay trong quá trình nhận thức của học sinh Vì vậy đã kíchthích sự phát triển về năng lực trí tuệ, hứng thú học tập của học sinh
Có 2 hình thức tổ chức cho học sinh làm thí nghiệm là: Toàn lớp làmcùng một thí nghiệm hoặc có thể phân chia nhóm sau đó mỗi nhóm làmmột thí nghiệm khác nhau
Trong đó nên tích cực sử dụng phương pháp nghiên cứu ( nêu vấnđề) để kích thích hoạt động cả học sinh trong giờ hoá học hơn và tạo điềukiện phát triển kĩ năng làm việc độc lập
Ví dụ: trong bài 24 “ Tính chất của Oxi – Tiết 1”, giáo viên sau khidạy phần tính chất vật lí của oxi bằng cách cho học sinh tiếp xúc trực tiếpvới lọ đựng khí oxi, yêu cầu nêu tính chất vật lí của oxi Sau đó, ở phần 2,giáo viên nêu vấn đề liệu oxi có thể phản ứng với phi kim được không, quathí nghiệm để cho học sinh tự tìm câu trả lời
Trang 9Giáo viên cần dành thời gian cho học sinh hoàn thành bản tường trình, qua
đó đánh giá được kết quả làm việc của từng nhóm học sinh
1.1 3 Đối với thí nghiệm trong các tiết thực hành.
Điều cần thiết tiên quyết là sự chuẩn bị của GV, GV phải chuẩn bị chotiết TNTH trước đó ít nhất một tuần
a.Chuẩn bị phòng thí nghiệm
Mục đích của các thí nghiệm này là: Qua các thí nghiệm mà họcsinh hoàn thiện các kiến thức nhằm minh hoạ, ôn tập, củng cố kiến thức đãhọc và rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo
Ngoài bảng nội qui phòng thực hành, GV cần chuẩn bị thêm bảng lưu ý
an toàn trong khi làm thí nghiệm ví dụ như cẩn thận không làm vây axit,xút vào quần áo,da, một số chất độc như brôm, benzen, sản phẩm khí rấtđộc như clo, lưu huỳnh đioxit…Nếu được có thể chuẩn bị thêm bảng danhmục các dụng cụ, hóa chất cần thiết cho buổi TH (hoặc viết ra giấy khổA4 pho to cho mỗi nhóm 1 bảng) nhằm giúp các nhóm dễ kiểm tra và bảoquản dụng cụ
b.Dụng cụ – Hóa chất
GV đọc trước nội dung bài TH, chuẩn bị cho tất cả các nhóm theo sốlượng HS những dụng cụ hóa chất có sẵn, trang bị thên những dụng cụ,hóa chất tự tìm trong điều kiện cho phép sao cho vẫn đáp ứng yêu cầu nộidung của bài
Điều quan trọng là GV trực tiếp thử tiến hành nhiều lần đến khi thànhcông và thuần thục GV tự đặt mình ở trình độ HS để lường trước nhữngtình huống do kết quả TN gây ra, ví dụ như thử lấy hơi dư luợong chất này,thiếu lượng chất kia ( mặc dù qui định lấy đúng liều lượng hóa chất là 1trong những qui tắc an toàn trên hết trong HH), dự đoán ảnh hưởng củahướng gió đến ngọn lửa đèn cồn, ảnh hưởng của ánh sáng làm lệch lạcmức độ phân biệt màu sắc trong quá trình quan sát hiện tượng của HS…
mà có hướng khắc phục kịp thời
c.Bồn rửa, nước rửa, chổi rửa, khăn lau cho HS
Đây là những dụng cụ không chủ yếu nhưng cũng góp phần giáo dụctính cẩn thận và vệ sinh cho học sinh, làm tăng thêm tính thành công chobuổi thực hành
d.Sự chuẩn bị của học sinh:
Trang 10Thông thường, cuối gời mỗi tiết dạy, giáo viên đều có dặn dò học sinhnhững công việc về nhà Tiết thực hành cũng vậy, đến cuối bài dạy tiếttrước đó, giáo viên cần phải dặn học sinh:
- Đọc kỹ nội dung bài thực hành sắp tới
- Định hình các dụng cụ, thao tác sẽ tiến hành ( cho từng thínghiệm), dự kiến hiện tượng của từng thí nghiệm ( qua PPHH)
- Kẻ sẵn bảng tường tình TN
Nhóm trưởng phân công việc làm từng thành viên trong nhóm ( Ai phụtrách TN1, TN2…, ai lắp ráp dụng cụ, ai lấy hóa chất, ai quan sát, ai ghichép, ai dọn vệ sinh, rửa dụng cụ…) để buổi thực hành không phải lúngtúng và tránh học sinh đùng đẩy trách nhiệm lẫn nhau
1.2.Một số chú ý trong các thao tác khi làm thí nghiệm.
Bên cạnh các điều kiện về độ chính xác thí nghiệm, điều kiện antoàn thí nghiệm thì việc thực hiện các thao tác thí nghiệm cũng đóng gópmột phần không nhỏ trong việc thực hiện thành công một thí nghiệm.Những thao tác đó rất nhỏ nhặt, rất đơn giản nhưng nếu mà người giáoviên không để ý rất có thể mắc vào lỗi thao tác trong thí nghiệm Hoá học.Sau đây tôi xin giới thiệu một số thao tác cơ bản khi tiến hành thí nghiệmthường hay gặp
( Có hình minh hoạ)
(1) Khi châm đèn cồn không được châm từ ngọn lửa của đèn nàysang đèn khác Khi tắt đèn không thổi mà phải dùng nắp của đèn đậy lại
và lấy tối đa 1/3 lượng cồn vào đèn
(2) Cách châm đèn dầu hoả cải tiến
(3) Cách đun chất lỏng trong ống nghiệm: Không trực tiếp cầm tayđun Khi đun cần nung nóng đều ống nghiệm sau đó tập trung hơ nóngphần có hoá chất
(4) Cách đun chất lỏng trong cốc thuỷ tinh (không trực tiếp đứngquá gần cốc thuỷ tinh, không trực tiếp ngửi hoá chất)
Trang 11(5) Cách đun chất rắn trong ống nghiệm: Hơ nóng đều ốngnghiệm,sau đó đun tập trung tại phần chứa chất rắn.Lưu ý đốt ống nghiệm
ở 1/3 ngọn lửả tính từ trên xuống
(6) Cách pha loãng trong dung dịch axit sunfuric H2SO4: Khôngtrực tiếp đổ hoá chất từ lọ đựng hoá chất mà phải dùng công tơ hút lấy hoáchất Không đổ nước vào dung dịch axit sunfuric
(7) Cách lấy hoá chất rắn: dùng muỗng thuỷ tinh lấy, không trựctiếp dùng tay lấy hoá chất,lấy tối đa 1/3 lượng hóa chất trong ống nghiệm
(8) Cách trộn chất lỏng trong ống nghiệm: Chú ý lắc ống nghiệmngang chứ không được lắc ống nghiệm theo chiều từ trên xuống dưới
(9) Cách rót chất lỏng vào ống nghiệm.:dùng ống đong lấy, khôngtrực tiếp dùng tay lấy hoá chất,lấy tối đa 1/3 lượng chất lỏng trong ốngnghiệm
(10) Cách ngửi hoá chất: Không đưa mũi quá gần hoá chất màmiệng lọ hóa chất đặt cách xa mũi và dùng tay phẩy nhẹ về phía mũi
(11) Cách nghiền nhỏ hoá chất: Không dùng trầy nghiền hoá chấtbằng cách giã mạnh từ trên xuống mà phải xoay trầy theo chiều vòng tròn (trầy, cối xứ và hoá chất luôn phải tiếp xúc với nhau)
(12) Cách lọc dung dịch: Dung dịch được lọc khi rót vào phễu lọccần rót theo đũa thuỷ tinh, không nên rót trực tiếp vào phễu lọc
1.3 Vai trò của giáo viên trong các tiết dạy thực hành-thí nghiệm
Một trong những điều kiện giúp thực hiện thành công các tiết TNTH là
HS chuẩn bị trước về mục đích của TN, HS cần làm gì và làm như thế nào,giải thích các hiện tượng xảy ra trong TN, rút ra những kết luận đúng đắn.Dưới sự hướng dẫn của GV, HS cần ôn lại những nội dung cần thiết trongsách giáo khoa hoặc đọc trước các tài liệu hướng dẫn TN
GV cần xác định nội dung và phương pháp thực hiện giờ thực hành saocho phù hợp với đặc điểm, nội dung, thời gian cho phép và cơ sở vật chấtthiết bị, hóa chất có liên quan Các TN được lựa chọn bổ sung học thay thếcác TN chính phải đơn giản, giá thành rẻ nhưng vẫn đảm bảo các yêu cầukhoa học sư phạm Thông thường, giờ TNTH được thực hiện theo trình tựsau đây:
-Đầu giờ, GV kiểm tra việc chuẩn bị của HS, giải thích ngắn gọn quátrình tiến hành TN, cách quan sát ghi chép để viết tường trình sau TN, GVcần lưu ý hướng dẫn HS những kĩ thuật cơ bản trong phòng thí nghiệm hóahọc, đặc biệt quan tâm đến việc đảm bảo an toàn trong phòng thí nghiệm
Trang 12-Khi HS tiến hành TN, GV theo dõi việc làm của các nhóm HS, uốnnắn những sai sót khi cần thiết nhưng tránh không làm thay HS, Nói chung, trong giờ TH tất cả HS phải được làm việc, nhưng do khả năng trang bịdụng cụ, hóa chất còn hạn chế nên nội dung giờ TH thường được thực hiệntheo nhóm, trong trường hợp này cũng cần hướng dẫn HS phân công việclàm rõ ràng, hợp lí giưã các HS trong một nhóm.
-Cuối giờ thực hành, mỗi HS phải hoàn chỉnh bảng tường trình TN Nộidung bảng tường trình bao gồm các nội dung sau đây:
+Tên thí nghiệm
+Mô tả cách tiến hành TN
+Mô tả hiện tượng đã quan sát được – Nhận xét
+Giải thích và kết luận – Viết PTHH có liên quan
Sau cùng, GV hướng dẫn HS rửa sạch các dụng cụ TN, sắp xếp ngăn nắpcác hóa chất và dụng cụ vào nơi qui định, quét dọn phòng thực hành
2.Nội dung và cách tiến hành
2.1 Cách tiền hành các thí nghiệm trong các nghiên cứu bài mới
Qua mấy năm giảng dạy Hóa 8,9, bản thân đã đúc kết được 1 số bài họcnhỏ giúp có hiệu quả hơn trong điều kiện thực tế của trường Sau đây tôixin chi tiết 1 vài thí nghiệm đáng quan tâm:
- Việc giảng dạy cụ thể bài “ Tính chất của oxi – Tiết 1” là một trongnhững dạng bài điển hình, thể hiện vai trò của thí nghiệm trong việc truyềnthụ kiến thức cho học sinh bằng phương pháp trực quan
Trong bài sử dụng hoá chất, thí nghiệm để nêu vấn đề cho học sinh.Qua thí nghiệm của giáo viên mà học sinh tự nhìn nhận và giải quyết vấn
đề và lĩnh hội kiến thức Bài này có nội dung kiến thức quan trọng, songlượng kiến thức đó lại chủ yếu được chốt lại sau các hoạt động quan sát oxi
và giải thích thí nghiệm biểu diễn của giáo viên để rút ra được tính chất vật
lí và một phần tính chất hoá học của oxi
Nếu giảng dạy theo phương pháp mà không sử dụng các thí nghiệmthì hiệu quả giảng dạy không cao, giáo viên đưa ra một loạt câu hỏi như:
+ Hãy nêu tính chất vật lí của oxi
+ Oxi có phản ứng với phi kim không?
+
Trang 13Như vậy học sinh chỉ biết thụ động tìm câu trả lời trong sách giáo
mà trả lời Nhưng nếu sử dụng thí nghiệm, cho học sinh tiếp xúc trực tiếpvới oxi thì hiệu quả sẽ cao hơn nhiều:
Ví dụ: Cho học sinh quan sát lọ đựng khí oxi và hỏi :
- Hãy quan sát lọ đựng khí oxi và cho biết những tính chất của oxivề: Trạng thái, màu, mùi
( Nếu học sinh trả lời đó không phải là oxi, thì giáo viên cũng có thểdùng thí nghiệm: Đưa tàn đóm đỏ vào lọ đựng khí oxi để chứng minh đó là
lọ đựng khí oxi mà không phải là một chất khác)
Chính vì lí do đó mà tôi đã chọn giảng dạy Bài 24: “ Tính chất củaoxi – Tiết 1” để kiểm chứng về vai trò, tác dụng của thí nghiệm tronggiảng dạy Hoá học
-Bài 6: “ Thực hành tính chất hóa học của Oxít và Axít” Đối với
TN1 – ‘Phản ứng của canxi oxit với nước’, do canxi oxit có trong bộ hóa
chất để lâu ngày nên không còn tính chất đặc trưng nữa, khi đó giáo viêncần mua CaO ở dạng rắn khối cục có bán nhiều ở thị trường và tiến hành
TN trong chén sứ, học sinh dễ cảm nhận lượng nhiệt do phản ứng tỏa ra;
Đối với TN2 “ Phản ứng của diphotpho pentaoxit với nước”, do sản phẩm
sinh ra làP2O5 là chất độc, khó ngửi nên giáo viên cho học sinh đốt photphotrong lọ thủy tinh 250 ml chứa sẵn 1 ít nước, đậy kín bằng nút cao su cómuôi sắt xuyên qua, tránh để sản phẩm thoát ra ngoài, không nên mở nắp
lọ rồi cho nước vào
-Bài 14 “ Thực hành – Tính chất hóa học của bazơ và muối” đây là
bài học sinh khó hình dung nhất, dễ mắc phải sai lầm do điều kiện để phảnứng xảy ra (các chất tham gia phản ứng phải tan vào nhau, sản phẩm phải
có chất không tan ( kết tủa) hoặc chất khí (bay hơi)) Do vậy việc củng cố,khắc sâu kiến thức bằng những TN trong bài, giáo viên cần tổ chức đan
xen thêm những TN tương tự và đối chứng Ví dụ, trong TN1 “ Natri hiđrôxit tác dụng với muối”, ngoài thí nghiệm NaOH + FeCl3, giáo viên bổsung thêm TN NaOH + CuSO4 và NaOH + K2CO3; trong TN2, giáo viên
sử dụng Fe( OH)3 và Cu( OH)2 thu được ở TN1 đỡ mất thời gian điều chếCu(OH)2; TN4: “ Bari clorua tác dụng với muối”, giáo viên chọn 3 TN
sau:BaCl2+Na2SO4, BaCl2 + Na2CO3, BaCl2 + KNO3; đến TN5 “Bari clorua tác dụng với axit” GV cho HS tiến hành các TN sau: BaCl2 + H2SO4,BaCl2 + HNO3, BaCl2 + HCl Đến cuối giờ, đề nghị học sinh khẳng định lạiđiều kiện xảy ra phản ứng trao đổi, học sinh sẽ nắm chắc hơn và nhớ lâuhơn
Trang 14-Bài 43: “ Thực hành – Tính chất của Hiđrô cácbon” Đối với TN1 và
TN2, có sử dụng đất đèn để tạo ra khí Axêtilen, do vậy giáo viên nênhướng dẫn học sinh tiến hành đồng thời liên tiếp 3 thí nghiệm: thu khíAxêtilen bằng cách đẩy nước, rồi dẫn dòng khí axetilen vào dung dịchBrôm (Chú ý dung dịch Brôm cần pha thật loãng thì kết quả xảy ra nhanhchóng) và cuối cùng đốt cháy axêtilen Muốn thành công tuyệt đối, giáoviên hướng dẫn học sinh thật cụ thể, học sinh phân công việc kèm hợp lí.Giáo viên ước lượng đất đèn vừa đủ cho cả 3 TN, tốt nhất nên sử dụng bộdụng cụ điều chế chất khí từ chất rắn và chất lỏng, không nên sử dụng ốngnghiệm có nhánh như SGK Hướng dẫn tiến hành xong, để tránh sản phẩmthừa gây mùi khó chịu nên cho các nhóm mang toàn bộ dụng cụ ra khỏiphòng thực hành, rồi tiếp tục tiết học
-Bài 44 “ Thực hành – tính chất của rượu và axít” Khi tiến hành thí
nghiệm điều chế este từ rượu etylic và axit axetic ta nên cho thêm vào hỗnhợp 1 ít cát để tạo tâm sôi tránh trường hợp hỗn hợp tràn sang ống nghiệmhứng sản phẩm Và nhắc học sinh kéo nhẹ đèn cồn ra khi ước chừng hỗnhợp quá sôi, rồi tiếp tục đun, nhằm đảm bảo an toàn khi đun dung dịchchứa axit sunfuric đặc Sau khi thu được hỗn hợp este nổi trên dung dịchmuối ăn, ta dùng que nhỏ dài gắn bông thấm nước 1 đầu để lấy sản phẩm
ra khỏi dung dịch, dễ nhận biết mùi và đảm bảo tính sư phạm, khoa học
*Kết quả:
Đa số học sinh thao tác, lắp ráp dụng cụ dễ dàng, sử dụng hóa chấtthuần thục, tuân thủ các nguyên tắc an toàn trong phòng thí nghiệm Cácthí nghiệm thực hành đều đạt kết quả tốt, học sinh tự tin hơn khi tiếp xúcvới dụng cụ, hóa chất, giáo viên an tâm hơn khi thực hiện tiết dạy
2.2.Sử dụng những thí nghiệm đơn giản,hiệu quả thay thế cho những thí nghiệm khó,ít có khả năng thành công
a.Yêu cầu về sư phạmkhi tiến hành các thí nghiệm thay thế:
+Các thí nghiệm phải đơn giản thể hiện rõ hiện tượng hóa học cần quansát,học sinh tiến hành dễ thành công
+ Dụng cụ hóa chats thay thế phải dễ tìm kiếm,rẻ thường được tận dụngcác sản phẩm thừa trong cuộc sống
+ Kết quả đảm bảo không sai lệch về kiến thức khoa học
+ Đảm bảo an toàn cho học sinh
Trang 15Thí nghiệm cải tiến thứ 1: khi dạy bài : không khí – sự cháy ( bài 28, hóa
8 ) phần thí nghiệm xác định thành phần của không khí
1 số khó khăn gặp phải như khi giáo viên muốn tiến hành thí ngiệm theonhóm học sinh , khi đốt phot pho đỏ nếu khói P2O5 bay ra dễ gây ônhiễm , học sinh có thể bị ho , sặc Khói P2O5 có màu trắng dễ gây mờống thủy tinh dẫn đến học sinh khó quan sát mức nước dâng lên đúng vạch bên cạnh đó nếu giáo viên tiến hành thí nghiệm theo nhóm trong nhiềulớp , qua nhiều năm sẽ gây tốn kém photpho Với những khó khăn trêntrong những năm qua tôi đã có 1 sáng kiến, nhằm cải tiến thí nghiệm đểđme lại hiệu quả thiết thực Cụ thể :
a Dụng cụ thí nghiệm
- Cốc thủy tinh có chia vạch 6 phần bằng nhau
-Chậu thủy tinh cỡ bé
-Muôi sắt có gắn nút cao su
b Hóa chất:
- Mẫu nến nhỏ
-Dung dịch nước vôi trong ( tay cho nước )có nhỏ vài giọtphenolphthalein để dung dịch có màu hồng nhạt giúp học sinh dễquan sát hơn
c Tiến hành : Chia học sinh thành các nhóm nhỏ ( 4 em 1 nhóm ).Giáo viên hướng dẫn để học sinh tự làm thí nghiệm :
- Hướng dẫn học sinh thực hiện
Trang 16- Trong ống thủy tinh còn lại
mấy phần bằng nhau ?
Hướng dẫn học sinh thực hiện
thí nghiệm
Giáo viên hướng dẫn học sinh
quan sát hiện tượng trong ống
-Mức nước trong ống thủy tinh
thay đổi như thế nào ?(Khi nhiệt
độ trong ống thủy tinh bằng nhiệt
-Khí còn lại trong ống thủy tinh
+ Trong ống thủy tinh chỉ còn 5phần bằng nhau
- Học sinh tiến hành thí nghiệm
- Gắn mẫu nến nhỏ vào môi sắt( có thể tận dụng các mẫu nếnthừa và các sợi chỉ , sợi dù làmbấc )
- Châm lửa cho nến đỏ , đưa ốngthủy tinh và đậy kín miệng bằngnút cao su
- Học sinh quan sát hiện tượngxảy ra trong ống thủy tinh
-Hs : ngọn nến cháy yếu rồi tắthẳn
-Mực nước trong ống thủy tinhdâng lên đến vạch số 2 thì dừnglại
-Mực nước dâng lên để chiếmchỗ phần thể tích khí oxi mất đi
do nến đốt cháy
-Oxi chiếm 1/5 về thể tích khôngkhí