1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

MỘT số PHƯƠNG án tổ CHỨC các HOẠT ĐỘNG dạy học ôn tập CHƯƠNG môn TOÁN THCS

27 126 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 357,77 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bởi lẽ trong tiết học này giáoviên phải đưa ra dạng kiến thức tổng quát cả về lý thuyết lẫn bài tập thực hành theođúng trọng tâm của chương và nhất thiết phải giúp HS tự hệ thống hoá kiế

Trang 1

CHUYÊN ĐỀ

"MỘT SỐ PHƯƠNG ÁN TỔ CHỨC CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC ÔN TẬP

CHƯƠNG MÔN TOÁN THCS"

PHẦN I: NỘI DUNG CHUYÊN ĐỀ

A ĐẶT VẤN ĐỀ:

Toán học là môn khoa học cơ bản Nó phát sinh và phát triển do nhu cầu thực tiễncủa con người và các ngành khoa học khác Môn toán trong trường THCS là động lựcthúc đẩy học sinh phát triển năng lực, phẩm chất trí tuệ Vì vậy việc giảng dạy bộ mônnày đòi hỏi phải chính xác với những phương pháp giảng dạy phù hợp, đúng đắn giúphọc sinh hiểu sâu kiến thức một cách có hệ thống lôgíc

* Thực trạng giảng dạy: Trong các năm học vừa qua chúng ta đã thực hiện đổi

mới phương pháp dạy học trong trường THCS Sự đổi mới này thể hiện trên quan điểmgiảm nhẹ lý thuyết có tính hàn lâm, nâng cao kỹ năng giải toán của học sinh Việchướng dẫn học sinh tìm ra phương pháp học toán phù hợp với từng loại bài là một vấn

đề quan trọng Chúng ta đã có nhiều phương pháp dạy học toán rất hiệu quả Tuy nhiêndạy học ôn tập chương không phải lúc nào cũng đạt hiệu quả vì không phải giáo viênnào cũng biết cách giúp học sinh hệ thống các kiến thức để ôn tập Để dạy tốt một tiết

ôn tập chương là một vấn đề quan trọng và khá phức tạp Bởi lẽ trong tiết học này giáoviên phải đưa ra dạng kiến thức tổng quát cả về lý thuyết lẫn bài tập thực hành theođúng trọng tâm của chương và nhất thiết phải giúp HS tự hệ thống hoá kiến thức đó họctheo một trình tự lôgic từ khái quát đến cụ thể và ngược lại Từ hệ thống đó giúp HSvận dụng kiến thức để giải được các dạng bài tập cơ bản, tổng hợp và nâng cao Nhưngthực tế cho thấy khi dạy ôn tập chương nhiều giáo viên mới chỉ dừng lại ở mức độ liệt

kê các kiến thức Như vậy dẫn đến kết quả môn toán qua các kỳ thi thường không cao

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến kết quả không cao, trong đó có nguyên nhân về phíahọc sinh và cả nguyên nhân về phía giáo viên

* Học sinh không thích học tiết ôn tập chương:

- Đối với học sinh khá: Một số học sinh khá đã nắm chắc kiến thức rồi mà không

được giáo viên định hướng cho cách ôn tập sẽ cho rằng đó là những kiến thức học rồi,dẫn đến chủ quan không cần tìm hiểu thêm về mạch kiến thức

- Đối với học sinh trung bình và yếu: Do nhiều học sinh nắm bắt từng đơn vị kiếnthức còn lơ mơ không chắc chắn ở trên lớp, về nhà lại không chịu khó học bài, hoặcchưa có phương pháp học bộ môn dẫn đến kiến thức bị hổng nhiều

- Khả năng tư duy tổng hợp của các em kém mà ở tiết học này bài tập nhiều đòi hỏicác em phải tổng hợp, xâu chuỗi kiến thức đã học và cần sự nhạy bén, linh hoạt trongviệc vận dụng kỹ năng giải các bài tập tổng hợp Điều này khiến một số học sinh khôngthích học

Trang 2

Tóm lại: Vì tiết ôn tập chương tổng hợp nhiều kiến thức, hơn nữa lại là kiến thức

học rồi, nhiều em thường không tập trung đầu tư nhiều cho tiết học, dẫn đến các emkhông chủ động tư duy để giải quyết vấn đề mà tiết học yêu cầu

* Giáo viên ngại dạy tiết ôn tập chương vì:

- Một là: Một số giáo viên chưa nắm rõ mục tiêu của chương theo yêu cầu, ngại tìmtòi, ngại tổng hợp kiến thức, kỹ năng tổng hợp, xâu chuỗi kiến thức còn yếu, mới chỉdừng lại ở mức độ dạy bài nào biết bài ấy

- Hai là: Chưa có phương pháp phù hợp dạy học tiết ôn tập chương, nhiều khi còndạy theo kiểu liệt kê kiến thức đơn lẻ mà sách giáo khoa đưa ra, bài ôn tập nhiềuchương theo phân phối chương trình chỉ có một tiết mà lượng kiến thức ôn tập thì nhiềunên kiến thức đưa ra hời hợt không sâu

Ví dụ: Ôn tập chương III Tam giác (hình học 7)

Nội dung ôn tập thì nhiều trong khi đó phân phối chương trình chỉ có một tiết nênnếu hệ thống đầy đủ lý thuyết thì không có thời gian làm bài tập và ngược lại nếu rènđược tất cả bài tập thì không hệ thống đầy đủ được lý thuyết

- Ba là: Chưa đầu tư thời gian cho chuyên môn, mà trong tiết học ôn tập đòi hỏi giáoviên phải giúp học sinh hệ thống xâu chuỗi kiến thức toàn chương, phải lựa chọn bàitập củng cố kiến thức phù hợp, phải có bài tập giành cho học sinh khá, giỏi và phải đưa

ra cách giải cho từng loại bài

- Bốn là: Trong sách giáo khoa và sách hướng dẫn cũng chỉ giới thiệu bài ôn tậptheo một cách trình bày cứng nhắc lí thuyết riêng bài tập riêng theo trình tự của các bài

đã dạy Điều này dẫn đến giáo viên thụ động làm theo, soạn theo Biến giờ ôn tập tổngkết chương thành giờ dạy lại kiến thức mà tâm lí học sinh không muốn học lại Do đóhọc sinh không quan tâm đến giờ ôn tập

Nếu giáo viên lựa chọn phương pháp dạy không đúng thì sẽ dẫn đến hai thái cực:

- Biến giờ ôn tập thành giờ dạy lại lý thuyết

- Biến giờ ôn tập thành giờ luyện tập

* Từ đó dẫn đến kết quả:

+ Học sinh không nắm được đầy đủ kiến thức theo hệ thống.

+ Học sinh hiểu vấn đề một cách đơn lẻ, manh mún, không có sự liên hệ kiến thứctrước sau

+ Phương pháp giải toán yếu, tư duy vòng quanh thậm chí đánh tráo hoặc đồng nhấtkhái niệm

Việc GV đôi lúc còn xem nhẹ tiết dạy học ôn tập chương, dẫn đến khi giảng dạychỉ khái quát kiến thức cho HS một cách sơ lược thông qua một số bài tập trong sáchgiáo khoa, chưa giúp HS khắc sâu kiến thức cũng như nắm được mối liên hệ của hệthống kiến thức trong chương

Trang 3

Xuất phát từ những nguyên nhân chủ quan và khách quan đó, kết hợp với thực tếgiảng dạy, theo dõi quá trình học tập của học sinh để nâng cao chất lượng dạy học,chúng tôi suy nghĩ tìm tòi định hướng góp phần đổi mới phương pháp dạy học chủ yếutrong tiết ôn tập chương Để giờ học ôn tập chương có hiệu suất cao, học sinh chủ độngnắm vững kiến thức để giải các bài tập thấy được ứng dụng thực tế của toán học trongđời sống của con người, từ đó tạo cho học sinh niềm say mê, gây hứng thú và phát triển

tư duy khi học bộ môn toán thì theo chúng tôi một trong những yếu tố quyết định tới sựtiếp thu kiến thức của học sinh là hướng dẫn học sinh xâu chuỗi kiến thức của chươngthành hệ thống, tìm mối liên quan giữa các dạng bài tập Vì vậy chúng tôi làm chuyên

đề này trao đổi cùng các đồng chí, đồng nghiệp

+ Phạm vi chuyên đề: Nói về cách dạy các loại bài: Khái niệm, định nghĩa, luyện

tập, ôn tập, tổng kết đã có nhiều sách đề cập đến Tuy nhiên nó chỉ cung cấp cho tanhững định hướng mang tính hàn lâm nặng về cơ sở lý luận, phương pháp giảng dạy.Trong đề tài này chúng tôi không tham vọng thuyết trình về những lý thuyết ấy mà chỉgiới thiệu một số kinh nghiệm được rút ra qua thực tế giảng dạy các tiết ôn tập chươngmôn toán trong nhà trường Những kinh nghiệm này hoàn toàn mang tính chủ quan vàphù hợp với điều kiện giảng dạy ở một trường đại trà như trường chúng tôi

B NỘI DUNG:

1 Cơ sở xuất phát:

- Ôn tập tổng kết là xâu chuỗi kiến thức đã học thành hệ thống, để đi đến một thao

tác tư duy, để làm được các bài tập từ A Z( trong đó A là khái niệm đầu, Z là kháiniệm cuối) Trong tiết ôn tập HS không chỉ cần nắm được những kiến thức riêng lẻ mà

là một hệ thống các kiến thức của toàn chương, nên kiến thức vừa rộng, vừa sâu

- Từ những kiến thức được hệ thống đó học sinh vận dụng vào từng loại bài tập cụ thể, biết được mỗi loại bài tập sử dụng kiến thức nào, kĩ năng nào

2 Mục đích yêu cầu của dạy học ôn tập chương:

a) Ôn tập chương nhằm hệ thống hoá kiến thức theo lôgíc kiến thức trước sau (Sắpxếp lại hợp lý hơn theo trình tự hoặc theo từng đối tượng, nhóm đối tượng) Học sinhđược ôn lại cách giải một số dạng toán cơ bản, biết giải một số bài toán tổng hợp Qua

đó hình thành cho học sinh thói quen suy nghĩ cũng như khả năng tư duy về một bàitập dưới nhiều cách giải khác nhau, giúp học sinh có kinh nghiệm giải toán trắcnghiệm hay tự luận được dễ dàng

b) Ôn tập chương để xác định được vai trò của chương trong toàn bộ chương trình

Nó liên hệ với kiến thức trước như thế nào, nó gợi mở ra vấn đề gì hay đặt ra vấn đề gì

để chương sau giải quyết tiếp

Khi học ôn tập chương, học sinh thấy được mối liên hệ giữa các kiến thức trongchương, các kiến thức của các chương, nâng cao hơn là mối liên hệ kiến thức củachương trình giữa các khối lớp, thấy ứng dụng của kiến thức toán học với thực tế

Trang 4

c) Ôn tập chương cung cấp cho học sinh các kiến thức kỹ năng trong quá trình giải bàitập Dùng kiến thức đó để giải quyết các vấn đề đặt ra của chương hoặc giải quyết đượcnhững vấn đề của chương trước còn để ngỏ

3 Các hoạt động thường gặp trong giờ ôn tập chương môn Toán:

Khi dạy bài ôn tập chương thường bao gồm 2 hoạt động dạy học chính:

a Hệ thống lại lí thuyết cơ bản trong chương:

Có hai cách hệ thống kiến thức cơ bản:

+ Nhắc lại toàn bộ lí thuyết và mối liên hệ giữa chúng

+ Chọn ra kiến thức đặc trưng cơ bản nhất có liên hệ thường xuyên với các đơn vịkiến thức còn lại, lấy đó làm cơ sở để hệ thống các kiến thức của chương

Ví dụ: Đối với chương hàm số bậc nhất y = ax + b Hệ số a có vai trò quan trọng nhất

vì nó hoàn toàn tác động đến kiến thức về hàm số như điều kiện tồn tại, tính đồng biếnnghịch biến, vị trí tương đối của hai đường thẳng, hệ số góc

b Lựa chọn bài tập:

- Chọn bài tập phải đạt được mục đích yêu cầu của chương

- Bài tập tổng hợp đảm bảo tính lôgíc, rèn kĩ năng tư duy sáng tạo

- Bài tập phải đạt được yêu cầu nổi bật tính vận dụng của chương trong chương trình

về kiến thức, kỹ năng Giải quyết được câu hỏi: Dạy, học chương này để làm gì?

4 Những yêu cầu cần có để thực hiện các hoạt động dạy học ôn tập:

a) Đối với giáo viên:

- Nắm chắc các kiến thức cơ bản, xác định rõ kiến thức trọng tâm của chương vàlấy đó làm trung tâm, hệ thống hoá được kiến thức của từng phần, từng bài, từ đó lựachọn dạng bài tập áp dụng hợp lí

Ví dụ: Trong bài ôn tập chương 1 đại số lớp 8 Hệ thống kiến thức gồm có: Nhânđơn thức với đa thức, nhân đa thức với đa thức, các hằng đẳng thức đáng nhớ thìkiến thức trọng tâm là nhân đa thức với đa thức (gồm qui tắc phép toán và các tínhchất của phép toán) Ta lấy kiến thức trọng tâm đó giải quyết các vấn đề của chương

- Nắm được tình hình học tập của từng đối tượng HS

- Có kế hoạch chuẩn bị đồ dùng dạy học để phục vụ cho tiết ôn tập

b) Đối với học sinh:

- Chuẩn bị bài tốt theo yêu cầu mà GV đưa ra ở tiết học trước

- Chủ động và tự giác trong việc ôn tập kiến thức cũ

- Có ý thức vận dụng các kiến thức đã học vào giải các bài toán thực tế

- Linh hoạt trong việc cân nhắc, lựa chọn các giải pháp hợp lý khi giải toán

5 Chú ý khi dạy tiết ôn tập chương:

Trang 5

- Tiết ôn tập không phải là tiết nhắc lại kiến thức đã học, GV phải tìm ra được mốiliên hệ giữa kiến thức trong chương và xâu chuỗi các kiến thức đó lại với nhau mộtcách tổng hợp.

- Có thể lập bảng hệ thống các kiến thức mà trong bảng đó có các mối liên quan cảhàng lẫn cột Tận dụng các sơ đồ biểu bảng để hệ thống kiến thức

- Tránh biến bài ôn tập thành bài dạy lại kiến thức

- Nên lựa chọn những bài tập có nội dung tổng hợp liên quan đến nhiều kiến thứccần ôn tập, qua đó khắc sâu, hệ thống và nâng cao các kiến thức cơ bản đã học

6 Một số phương án thường dùng khi dạy tiết ôn tập:

Từ thực tế dạy học chúng tôi thường sử dụng ba phương án cơ bản để tiến hành tổchức một giờ học ôn tập

Phương án 1: Ôn tập hệ thống lý thuyết xong, rồi làm bài tập

Phương án 2: Làm bài tập để củng cố lý thuyết

Phương án 3: Ôn, luyện lần lượt từng đơn vị kiến thức.

Cụ thể mỗi phương án như sau:

Phương án 1: Ôn tập hệ thống lý thuyết xong, rồi làm bài tập (đây là cách dạy

truyền thống)

Phương án này áp dụng với các chương mà hệ thống lý thuyết mang tính lôgíc pháttriển từ đầu cho đến cuối chương Khi tổ chức luyện tập dựa hoàn toàn trên cơ sở lýthuyết và có phân đoạn để thực hiện

Đối với phương án này khi ôn tập lý thuyết ta thường chủ động hướng dẫn học sinhlập bảng tổng kết hoặc sử dụng sơ đồ tư duy Từ đó phân tích - so sánh - tổng hợp thấy

rõ lôgic của mạch kiến thức đã trình bày trong chương

Cách tổ chức dạy học tiết ôn tập chương có sử dụng bản đồ tư duy theo phương án 1

Hiện nay khi soạn - giảng kiểu bài dạy: “Có sử dụng bản đồ tư duy trong tiết ôntập chương môn Toán THCS” thầy cô giáo cần thực hiện các công việc sau:

+ Nghiên cứu chuẩn kiến thức và kỹ năng do Bộ giáo dục quy định Xây dựngđúng đủ, chính xác kế hoạch bộ môn và mục tiêu của chương

+ Nghiên cứu kỹ trước nội dung từng bài, từng chương từ đó xác định nội dungtrọng tâm của chương và những kiến thức bổ trợ kiến thức trọng tâm từ chuẩn kiếnthức và kỹ năng, sách giáo khoa, sách giáo viên và các tài liệu tham khảo

+ Dựa trên những nội dung đã chuẩn bị thầy cô giáo tiến hành xây dựng bản đồ

tư duy cho từng bài ôn tập

+ Thiết kế các hoạt động dạy học thích hợp khi có sử dụng bản đồ tư duy

Trang 6

Để thực hiện tốt việc soạn - giảng theo các yêu cầu trên chúng ta nên chuẩn bịđầy đủ như sau:

* Chuẩn bị của giáo viên:

-Xây dựng bản đồ tư duy

- Bảng phụ, giấy khổ A0, phấn màu để vẽ bản đồ tư duy và các đồ dùng dạy học có liênquan

- Chia học sinh thành các nhóm (thường chia thành 6 nhóm)

- Yêu cầu và hướng dẫn học sinh chuẩn bị trước nội dung ôn tập gồm ôn tập lý thuyết

và các dạng bài tập có trong tiết ôn tập chương thể hiện qua việc vẽ bản đồ tư duy

* Chuẩn bị của học sinh:

- Tự xây dựng bản đồ tư duy (ở nhà) theo cách hiểu của cá nhân

- Tìm hiểu các dạng bài tập đã giải trong chương và ghi nhớ cách giải

- Bảng nhóm, giấy khổ A4, phấn màu, bút tô để vẽ bản đồ tư duy

- Bầu chọn nhóm trưởng đại diện cho nhóm

Khi giảng dạy kiểu bài: “Có sử dụng bản đồ tư duy trong tiết ôn tập môn Toán THCS” theo phương án này ta có thể thực hiện như sau:

a Ôn tập lý thuyết: (khoảng 12 phút)

- Giáo viên kiểm tra sự chuẩn bị ôn tập ở nhà của học sinh thông qua các hoạt động:+ Kiểm tra khoảng 3 đến 4 học sinh việc chuẩn bị bản đồ tư duy nội kiến thức ôn tậpchương mà giáo viên yêu cầu làm trong tiết trước bằng cách nộp bản đồ tư duy đãchuẩn bị ở nhà cho giáo viên

+ Lựa chọn hai học sinh lên trình bày bản đồ tư duy đã chuẩn bị ở nhà (giáo viênnên chọn học sinh khá hoặc giỏi) để việc vẽ nhanh chóng đỡ tốn thời gian Sau đó, chohọc sinh cả lớp nhận xét, bổ sung, chỉnh sửa để hoàn thiện bản đồ tư duy về kiến thứccủa bài học đó Giáo viên sẽ là người cố vấn, là trọng tài giúp học sinh hoàn chỉnh bản

đồ tư duy

- Giáo viên chuẩn bị sẵn (vẽ ở bảng phụ hoặc ở bìa, hoặc trình chiếu powerpoir, ) bản

đồ tư duy chính xác, hợp lý cho học sinh quan sát và yêu cầu học sinh nhìn vào bản đồ

tư duy nêu các chủ đề kiến thức và các dạng bài tập

Lưu ý: Bản đồ tư duy là một sơ đồ mở học sinh có thể vẽ theo ý thích về hình dạng,màu sắc miễn sao đầy đủ các kiến thức và các dạng bài tập không nên yêu cầu tất cảcác nhóm học sinh có chung một kiểu bản đồ tư duy, thầy cô giáo chỉ nên chỉnh sửacho học sinh về mặt nội dung kiến thức

- Kiểm tra việc ôn tập kiến thức lý thuyết của học sinh qua các chủ đề kiến thức trongbản đồ tư duy

Trang 7

- Nhận xét sự chuẩn bị bài ở nhà của học sinh và ghi điểm

b Luyện giải bài tập (Khoảng 30 phút)

* Hướng dẫn học sinh giải bài tập tự luận: (Khoảng 20 phút)

Giáo viên thường phải:

+ Lựa chọn bài trong SGK, SBT, hoặc ở sách tham khảo sao cho bài tập đó phải làbài tập tổng hợp các dạng toán của chương

+ Mỗi dạng bài tập phải nêu rõ phương pháp giải và kiến thức cần sử dụng thuộckiến thức nào của chương thể hiện trên bản đồ tư duy

+ Hướng dẫn học sinh phân tích kỹ nội dung đề toán xác định bài tập đó cho gì?Cần tìm gì? Và phải tự trả lời được bài toán đó thuộc dạng bài tập nào, cần kiến thứcnào để giải và giải bằng phương pháp nào?

+ Hướng dẫn học sinh biết quy bài tập chưa biết cách giải hay còn gọi là bài tập “lạ”

về bài tập quen mà học sinh đã biết cách giải

+ Cần phải cho học sinh phát hiện hoặc hướng dẫn học sinh đưa ra các phương ángiải quyết bài toán khác nhau (khai thác các cách giải khác của bài tập nếu có)

+ Yêu cầu học sinh trình bày được lời giải của một số dạng bài tập điển hình mộtcách hoàn chỉnh (Nếu học sinh quá yếu, giáo viên hướng dẫn trình bày lời giải hoànchỉnh)

+ Từ bài toán đó cho biết khai thác mở rộng bài tập, đưa bài tập nâng cao

* Hướng dẫn học sinh giải bài tập trắc nghiệm khách quan: (Khảng 10 phút)

Giáo viên cần chuẩn bị:

+ Phiếu học tập có bài tập trắc nghiệm khách quan củng cố kiến thức yêu cầu họcsinh trao đổi nhóm trong 5 phút

+ Treo bảng phụ hoặc trình chiếu Powerpoir nội dung các câu trắc nghiệm

c Dặn dò học sinh chuẩn bị cho tiết học tiếp theo: (Khoảng 2 phút)

+ Yêu cầu học sinh về nhà thực hiện tiếp các bài tập còn lại trong chương theo bản

đồ tư duy

+ Yêu cầu học sinh làm các bài tập trong SGK, SBT, hoặc bài tập cho làm thêm.Đối với phương án này giáo viên thường áp dụng cho bài dạy ôn tâp chương có nộidung của chương tập trung một chủ đề với lượng kiến thức tương đối ít

Ví dụ minh họa: Khi dạy bài “ Ôn tập chương II: Tam giác (tiết 44 - Hình học 7)

- Giáo viên chuẩn bị

+ Bảng phụ 1: Vẽ sẵn bản đồ tư duy với chủ đề “Tam giác”

- Học sinh chuẩn bị

+ Vẽ bản đồ tư duy hệ thống các kiến thức trong chương với chủ đề: “Tam giác” theo

hiểu biết và các dạng bài tập có trong chương

Trang 8

+ Làm các bài tập trong phần ôn tập chương II SGK.

Tiến trình giảng dạy

a Ôn tập lý thuyết: ( Khoảng 12 phút)

+ Yêu HS thảo luận nhóm 5 phút vẽ bản đồ tư duy theo chủ đề: “Tam giác”

+ Gọi đại diện vài nhóm lên thuyết trình bản đồ tư duy Đại diện nhóm khác nhận xét + Giáo viên nhận xét và treo bản đồ tư duy đã chuẩn bị cho học sinh tham khảo

Trang 9

Bản đồ tư duy

b Luyện giải bài tập (Khoảng 30 phút)

Vận dụng các chủ đề kiến thức giải các dạng bài tập

+ Bài tập tự luận (Khoảng 20 phút )

+ Bài tập trắc nghiệm khách quan (Khoảng 10 phút)

c Dặn dò học sinh chuẩn bị cho tiết học tiếp theo (Khoảng 3 phút)

Trang 10

* Khi dạy ôn tập chương theo phương án 1 còn có thể tiến hành như sau:

 Chuẩn bị:

- Học sinh: Về nhà trả lời các câu hỏi ở sách giáo khoa và làm bài tập theo hướng

dẫn của giáo viên

- Giáo viên: Soạn câu hỏi nhưng với mức độ cao hơn học sinh, chuẩn bị phần bài tập

sắp xếp theo những dạng cơ bản để hướng dẫn học sinh làm bài tập

 Lên lớp:

- Giáo viên vừa hỏi vừa hệ thống các câu hỏi cùng các câu trả lời của học sinh để kháiquát kiến thức của chương theo một hệ thống, giúp học sinh nắm được nội dung kiếnthức cơ bản của chương

- Bài tập: Giáo viên hướng dẫn học sinh làm bài tập ở từng dạng, từ đó dẫn đến cáchlàm tổng quát của mỗi dạng bài tập

- Cuối tiết giáo viên rút ra kết luận chung: Ở chương này học sinh cần nắm đượcnhững kiến thức gì các kiến thức đó có sợi chỉ kết nối nào? Cần nắm được phươngpháp giải những dạng bài tập nào?

VÍ DỤ: TIẾT 24: ÔN TẬP CHƯƠNG I ( HÌNH HỌC 8)

Cơ sở để chọn dạy chương này theo phương án 1 là:

- Có sự phát triển liên tục do định nghĩa các hình từ tứ giác hình thang hìnhbình hành đến hình vuông là sau cùng Kiến thức trước thêm điều kiện thì được kiếnthức sau Dẫn đến các tính chất phát triển tương tự

- Bài tập cũng theo hướng như vậy

- Tiết này tiến hành như sau:

- Sơ đồ nhận biết các loại tứ giác (không kèm theo các chữ viết cạnh

mũi tên) – Trên máy chiếu

- Thước kẻ, compa, êke, phấn màu

2 Học sinh

- Ôn tập lý thuyết theo các câu hỏi ôn tập ở SGK và làm các bài tập

Trang 11

- Thước kẻ, compa, êke.

C TIẾN TRÌNH DẠY – HỌC

I Lý thuyết:

GV: Để hình thành được “Sơ đồ thể hiện mối liên hệ giữa các loại tứ giác” chúng ta cóthể làm như sau:

? Nêu tên các loại tứ giác đã học?

HS: Các loại tứ giác đã học là: Tứ giác, hình thang, hình thang cân, hình thang vuông,hình bình hành, hình chữ nhật, hình thoi, hình vuông

GV: Bấm máy để hiện ra tên các loại tứ giác

GV: Từ đó, giáo viên có thể hình thành sơ đồ bằng cách hỏi vấn đáp:

Hình thang

Tứ giác

Hình bình hành

Hình thoi

Hình

vuông

Hình chữ nhật

Trang 12

M D

C A

E

GV: Tương tự như vậy chúng ta sẽ có được sơ đồ hoàn chỉnh Cũng trên sơ đồ này tahoàn toàn kiểm tra được lượng kiến thức (Định nghĩa, tính chất, dấu hiệu nhận biết cácloại tứ giác) đã giao cho các em về nhà ôn tập

VD:

? Nêu tính chất hình bình hành?

? Nêu định nghĩa đường trung bình của tam giác, của hình thang

? Trong các loại tứ giác đã học, tứ giác nào có tâm đối xứng, có trục đối xứng

GV: Sau khi ôn tập xong phần lý thuyết, giáo viên cần chốt lại được:

GV: Dựa vào sơ đồ yêu cầu học sinh nhắc lại định nghĩa, tính chất và đi đến cách nhậnbiết một cách đầy đủ các kiến thức

Sau khi hoàn thành sơ đồ với các yêu cầu trên giáo viên cần chốt lại được

1 Chỉ cần nhìn vào sơ đồ trên các em phải thấy được sự phát triển và mối liên hệ giữa các loại tứ giác, và khi đó để chứng minh một tứ giác là hình gì chúng ta dễ dàng tìm được con đường nhanh nhất, ngắn nhấn, dễ hiểu nhất để làm:

VD: Chứng minh tứ giác là hình chữ nhật: Ta có thể thông qua hình bình hành hoặchình thang, hình thang cân tuỳ theo giả thiết đã cho

2 Từ đó các em làm được bài tập tìm điều kiện để tứ giác trở thành hình chữ nhật

II Bài tập:

Bài tập 1( Bài 89 – SGK - Tr 111)

Cho tam giác ABC vuông tại A, đường trung tuyến AM Gọi D là trung điểm của

AB, E đối xứng với M qua D

a Chứng minh rằng điểm E đối xứng với điểm M qua AB

b Các tứ giác AEMC, AEBM là hình gì? Vì sao?

c Tam giác vuông ABC có điều kiện gì thì AEBM là hình vuông?

a Chứng minh rằng điểm E đối xứng với điểm M qua AB.

Giáo viên hướng dẫn HS chứng minh thông qua sơ đồ

Qua phần này giáo viên rèn cho HS kỹ năng chứng minh bài toán đối xứng

KL

GT

Tam giác ABC vuông tại A, AM là

đường trung tuyến, D là trung điểm

Trang 13

E đối xứng M qua AB ?

AB là trung trực của ME

AC // EM

AB ME tại DD là trung điểm của ME

DM là đường trung bình của

tam giác ABC

b Các tứ giác AEMC, AEBM là hình gì? Vì sao?

Ý1: Giáo viên: Cho HS dự đoán tứ giác AEMC là hình gì dựa vào hình vẽ và giả thiết.HS: Dự đoán là hình bình hành

Khi đó dựa vào sơ đồ trên học sinh chứng minh được tứ giác AEMC là hình bình hành(theo dấu hiệu hai cạnh đối song song và bằng nhau)

Ý2:

? Tứ giác AEBM là hình gì? Tại sao?

HS chứng minh được tứ giác AEBM là hình thoi Học sinh có thể làm theo hai cách: Cách 1: Tứ giác AEBM là hình bình hành có hai đường chéo vuông góc là hìnhthoi

Cách 2: Tứ giác AEBM có các cạnh bằng nhau là hình thoi)

Như vậy câu b đã rèn cho học sinh kỹ năng chứng minh tứ giác là hình gì trên cơ sở sơ

đồ hoàn thành ở phần lý thuyết

c Tam giác vuông ABC có điều kiện gì thì AEBM là hình vuông?

Cũng trên sơ đồ ở phần lý thuyết giáo viên hướng cho HS để tứ giác (Hình thoi) AEBM là hình vuông thì phải có thêm điều kiện gì?

HS: Hình thoi AEBM có thêm một góc vuông hoặc hình thoi có hai đường chéo bằngnhau Từ hai dấu hiệu này hình thành cho học sinh hai cách giải

Ngày đăng: 16/10/2019, 05:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w