Nguồn của Luật quốc tế có ý nghĩa đặc biệt quan trọng về pháp lý và thực tiễn vì nó liên quan chặt chẽ đến việc xác định mối quan hệ giữa các chủ thể của luật quốc tế. Trong hệ thống pháp luật hiện đại, nguồn cơ bản bao gồm điều ứơc quóc tế và tập quán quốc tế ngoài ra không thể phủ nhận được tầm quan trọng của nguồn bổ trợ. Có nhận định cho rằng: “Chứng minh rằng dù không trực tiếp chứa đựng các quy phạm pháp luật quốc tế nhưng các phương tiện bổ trợ nguồn của Luật quốc tế có ý nghĩa tiền đề để hình thành điều ước quốc tế và tập quán quốc tế” em xin phép đi sâu tìm hiểu đề tài này.
Trang 1MỞ ĐẦU
Nguồn của Luật quốc tế có ý nghĩa đặc biệt quan trọng về pháp lý và thực tiễn vì nó liên quan chặt chẽ đến việc xác định mối quan hệ giữa các chủ thể của luật quốc tế Trong hệ thống pháp luật hiện đại, nguồn cơ bản bao gồm điều ứơc quóc tế và tập quán quốc tế ngoài ra không thể phủ nhận được tầm quan trọng của nguồn bổ trợ
Có nhận định cho rằng: “Chứng minh rằng dù không trực tiếp chứa đựng
các quy phạm pháp luật quốc tế nhưng các phương tiện bổ trợ nguồn của Luật quốc tế có ý nghĩa tiền đề để hình thành điều ước quốc tế và tập quán quốc tế”
em xin phép đi sâu tìm hiểu đề tài này
NỘI DUNG
I Khái quát chung
1 Nguồn của Luật quốc tế
Xét dưới góc độ lý luận, nguồn luật quốc tế là tổng hợp tất cả các căn cứ mà các chủ thể luật quốc tế dựa vào đó để làm cơ sở cho việc xây dựng các nguyên tắc, các quy phạm của luật quốc tế hoặc dựa vào đó để giai quyết pháp luật quốc
tế cũng như để áp dụng vào việc giải quyết các vụ việc xảy ra trên thực tế
Định nghĩa dưới khía cạnh pháp lý thì nguồn của luật quốc tế là những hình thức chứa đựng các nguyên tắc, các quy phạm pháp luật quốc tế do các quốc gia
và các chủ thể khác của luật quốc tế thỏa thuận xây dựng nên
Căn cứ vào cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn nguồn của luật quốc tế chia thành
2 nguồn chính là: Nguồn cơ bản và nguồn bổ trợ
2 Nguồn cơ bản của Luật quốc tế
Căn cứ vào khoản 1 Điều 38 Quy chế tòa án ICJ (Tòa án công lý quốc tế liên hợp quốc) quy định nguồn luật quốc tế bao gồm Điều ước quốc tế và Tập quán quốc tế
a Điều ước quốc tế
Điều ước quốc tế được định nghĩa là thỏa thuận quốc tế được kí kết bằng văn bản giữa các quốc gia và các chủ thể khác nhau của luật quốc tế và được luật quốc tế điều chình, không phụ thuộc vào các thoải thuận đó được ghi nhận trong
Trang 2một văn kiện duy nhất hay trong hai hoặc nhiều văn kiện có liên quan đến nhau, cũng như không phụ thuộc vào tên gọi cụ thể của văn kiện đó
b Tập quán quốc tế
Tập quán quốc tế là hình thức pháp lý chứa đựng quy tắc xử sự đực hình thành trng thực tiễn quan hệ quốc tế và được các chủ thể của luật quốc tế thừa nhận giá trị pháp lý ràng buộc với mình
3 Nguồn bổ trợ
Nguổn bổ trợ là loại nguồn giúp làm sáng tỏ nguồn cơ bản, là cơ sở hình thành nguồn cơ bản, là nguồn bổ trợ chứng minh cho sự tồn tại của nguồn cơ bản Nguồn bổ trợ bao gồm những hình thức sau:
a Các nguyên tắc pháp luật chung
Có nhiều cách giải thích khác nhau về loại nguyên tắc này là loại nguyên tắc
mà áp dụng cho cả luật quốc tế và luật quốc gia
b Phán quyết của cơ quan tài phán quốc tế
Trong thực tiễn, kết quả xét xử của Tòa án công lý quốc tế được thể hiện thông qua các bản án, ngoài chức năng giải quyết tranh chấp mà tòa có thẩm quyền còn có ý nghĩa tư vấn quan trọng trong lĩnh vục thực thi luật quốc tế Chức năng này thể hiện sự đóng góp của những phán quyết quan trọng trong việc làm sáng tỏ nội dung của một quy phạm luật quốc tế hiện hành, tạo tiền đề pháp lý hình thành quy phạm mới của luật quốc tế và có tác động tích cực đến quan niệm, cách ứng xử của chủ thể quan hệ pháp luật quốc tế đồng thời có tác dụng bổ sung nhất định những khiếm khuyết của luật quốc tế
c Nghị quyết của tỏ chức quốc tế liên chính phủ
Các văn kiện của tổ chức quốc tế liên chính phủ bao gồm các nghị quyết có hiệu lực bắt buộ và nghị quốc không bắt buộc đối với các thành viên Rất nhiều nghị quyết của tổ chức quốc tế là kết quả của thỏa thuận giữa các thành viên Nghị quyết của tổ chức quốc tế có tính khuyến nghị, có ý nghĩa đối với việc giải thích và áp dụng các quy phạm pháp luật quốc tế hoặc tạo tiền đề cho việc
kí kết và thực hiện điều ước quốc tế Nhưng nghị quyết có giá trị bắt buộc sẽ là nguồn luật được viện dẫn đến để giải quyết các quan hệ phát sinh giữa các quốc gia thành viên của tổ chức đó
d Hành vi pháp lý đơn phương của quốc gia
Trang 3Hành vi pháp lý đơn phương của một quốc gia thể hiện ý chí của mọt chủ thể luật quốc tế Đó là hành vi mang tính chất quốc tế về cả hình thức và nội dung
do cơ quan nhà nức có thẩm quyền thực hiện và tạo ra kết quả nhất định trong quan hệ quốc tế Hành vi pháp lý đơn phương bao gồm dạng sau:
Hành vi công nhận, là hành vi thể hiện một cách mặc thị hoặc minh thị ý định xác nhận một tình hình hoặc yêu cầu nào đó là phù hợp với pháp luật
Hành vi cam kết là hahf vi tạo ra các nghĩa vụ mới bằng cách thức đơn phương chấp nhận ràng buộc với một nghĩa vụ pháp lý quốc tế vì quyền lợi của chủ thể khác
Hành vi phản đối là cách thức để các quốc gia thể hiện ý chí không cong nhận một hoàn cảnh, một yêu cầu hoặc một thái độ xủ sự của chủ thể khác Hành vi từ bỏ là hành vi thể hiện ý chí độc lập của chủ thể tự nguyện từ bỏ các quyền hạn nhất định, kết quả làm chấm dứt các quyền của chủ thể luật quốc
tế đối với một đối tượng hay lĩnh vực nào đó
e Học thuyết về luật quốc tế
Đây là các quan điểm của các học giả nổi tiếng về các vấn đề pháp lý quốc tế, hình thành thông qua nhiều hoạt động khác nhau Những hoạt động như phân tích, trình bày, đưa ra quan điểm hay các luận cứ…có ảnh hưởng tích cực đến quá trinh phát triển của luật quốc tế và về quá trình nhận thức của con người về khoa học luật quốc tế dù không trực tiếp tạo ra các quy định của luật quốc tế
II Giải quyết vấn đề
Chứng minh rằng: “Dù không trực tiếp chứa đựng các quy phạm pháp luật
quốc tế nhưng các phương tiện bổ trợ nguồn của luật quốc tế có ý nghĩa là tiền đề hình thành điều ước quốc tế và tập quán quốc tế”.
1 Mối quan hệ giữa nguồn bổ trợ và nguồn cơ bản
Nguồn cơ bản được hình thành từ sự thỏa thuận của các chủ thể luật quốc tế
Nó chưa đựng các quy pạm pháp lý quốc tế và có giá trị ràng buộc đối với các chủ thể luật quốc tế
Nguồn bổ trợ, có chưá đựng quy phạm pháp luật quốc tế nhưng đa pần không chứa đựng các quy phạm Nó không được hình thành từ sự thỏa thuận, trong nhiều trường hợp nó không có giá trị ràng buộc
Giữa nguồn cơ bản và nguồn bổ trợ có mối quan hệ qua lại, hỗ trợ nhau Điều này thể hiện ở chỗ:
Trang 4Nguồn hỗ trợ đóng vai trò là nguồn hỗ trợ cho nguồn cơ bản, thông qua các phương tiện này người ta xây dựng các quy phạm luật quốc tế nhanh chóng hơn Nguồn hỗ trợ có vai trò trong việc giải thích, hướng dẫn áp dụng pháp luật quốc tế trong từng trường hợp cụ thể Góp phần làm sáng tỏ pháp luật quốc tế, tạo tiền đề quan trọng để các chủ thể luật quốc tế có cơ hội tiếp cận và giải thích luật quốc tế theo nghĩa chung thống nhất
Là nguồn bổ trợ chứng minh sự tổn tại nguồn cơ bản
Nguồn hỗ trợ áp dụng khi không có nguồn cơ bản
Như vây, mặc dù không trực tiếp chứa đựng các quy phạm pháp luật quốc tế nhưng nguồn bổ trợ có quan hệ mật thiết, có vai trò và ý nghĩa quan trọng trong việc thực hiện, làm sáng tỏ nguồn cơ bản và là tiền đề hình thành nguồn cơ bản
2 Các phương tiện bổ trợ nguồn của luật quốc tế có ý nghĩa là tiền đề hình thành điều ước quốc tế và tập quán quốc tế
Các phương tiện bổ trợ nguồn của luật quốc tế tuy không trực tiếp chứa đựng các quy phạm pháp luật quốc tế, nhưng nó lại là tiền đề để hình thành điều ước quốc tế và tập quán quốc tế Đặc điểm này được thể hiện rất rõ thông qua một số khía cạnh như:
a Phán quyết của Tòa án công lý quốc tế Liên hợp quốc
Các phán quyết của Tòa án công lý quốc tế không chỉ góp phần làm sáng tỏ nội dung của một quy phạm pháp luật quốc té hiện hành mà nó còn là tạo tiền đề pháp lý hình thành các tập quán quốc tế và hình thành nên các quy phạm pháp lý quốc tế
Điển hình như phán quyết của Tòa án công lý quốc tế trong vụ ngư trường Anh- Nauy:
Nửa đầu thế kỷ 20, tranh chấp giữa Anh và Nauy về Quyền đánh cá trong khu vực biển ngoài khơi Nauy, phía Bắc của vòng cực Bắc ngày càng trở nên trầm trọng Các tàu đánh cá của anh kéo rất đông đến khu vực này và được trang
bị ngày càng tốt hơn Nauy cho rằng họ có quyền bảo tồn nghề cá cho người dân của họ trong các khu vực này, trong khi vương quốc Anh lại cho rằng các khu vực này là biển cả mọi quốc gia đều có quyền đánh bắt cá, không có bất kỳ một quyền bảo tồn riêng biệt nghề cá cho ngư dân của bất kỳ nước nào Trong khoảng thời gian giữa hai cuộc chiến tranh thế giới, các vụ đụng độ tăng mạnh, dân từ các vụ bắt giữ và trân nhau Bỏ qua sự phản đối của anh, chính phủ Nauy
đã quyết định hoạch định khu vực biển đó bằng Nghị định 20/7/1935 Ngày
Trang 520/9/1948, Anh đơn phương thỉnh kiện Tòa án công lý quốc tế xem xét đường hoạch định khu vực đánh cá của Nauy ở phía Bắc kinh tuyến 66 ° 28’ 48” được quy định trong nghị định ngày12/7/1935 có phù hợp với luật quốc tế hay không Sau khi xem xét quan điểm của 2 bên đưa ra tòa đã có những lập luận như sau:
Tòa chỉ ra rằng từ thực tiễn các quốc gia sẽ có ba phương pháp đa số đã được
áp dụng để vạch đường cơ sở Phương pháp thứ nhất là vạch song song, tức là ngấn nước triều thấp nhất dọc theo bờ biển Tòa đã bác bỏ phương pháp này vì hai lý do: phương pháp này đơn giản về mặt lý thuyết nhưng không thể áp dụng tại đây do địa hình hết sức phức tạp, tạo thành các ngoại lệ không thể bỏ qua, và Anh cũng không định nghị áp dụng phương pháp này Phương pháp thứ hai là phương pháp các cung tròn được bên nguyên đơn đề nghị tòa không xem xét việc áp dụng phương pháp này vì nó không phải là phương pháp pháp lý bắt buộc Phương pháp thứ ba mà Nauy nêu ra được nhiều quốc gia chấp nhận và nhiều quốc gia không có ý kiến phản đối Phương pháp này lựa chọn các điểm thích hợp trên đường ngấn nước triều thấp nhất và nối chúng lại bằng các đoạn thẳng, vì vậy phương pháp này được gọi là phương pháp đừơng có sở thẳng Tòa cho rằng Nauy có thể vạch các đường cơ sở thẳng như Các đường này không được vạch tách xa xu thế chung của bờ biển Chúng có thể được vạch qua các vịnh, các điểm cuốn công của bờ biển, các khu vực biển giữa các đảo, đá, đá ngầm để từ đó xác định bề rộng lãnh hải một cách đơn giản hơn., Các đường cơ
sở như vậy không tạo thành một ngoại lệ đối với nguyên tắc: ở các vùng biển khúc khuỷu, lồi lõm, có nhiều cấu tao đá ven bờ có thể sử dụng các đường cơ sở thẳng
Tòa cho rằng việc hoạch định năm 1935 của Nauy không vi phạm luật quốc
tế Tuy nhiên xuất phát từ bản chất pháp lý của lãnh hải một số yêu cầu về đường cơ sở được Tòa đưa ra những tiêu chí hướng dẫn: vì lãnh hải phụ thuộc khăng khít lãnh thổ, đường cơ sở thẳng không được lệch quá xa so với xu thế chung của bờ biển; các vùng nước phải gắn bó một cách hữu cơ với đất liền; cần phải tính đến một số quyền lợi kinh tế đặc thù của khu vực mà thực tiễn và tầm quan trọng của chúng đã được một quá trình sử dụng lâu dài chứng minh
Với những lập luận trên Tòa đã đưa ra phán quyết như sau:
“ Bằng 8 phiếu thuận và 4 phiếu chống,
Rằng các đường cơ sở do Nghị định này quy định khi áp dụng phương pháp trên không trái với luật quốc tế”
Trang 6Phán quyết trên của Tòa án công lý quốc tế đã trở thành tiền đề để hình thành quy phạm pháp luật về cách xác định đường cơ sở bằng phương pháp đường cơ
sở thẳng cho các quốc gia ven biển ghi nhận trong công ước Geneva năm 1958
và sau này là Công ước Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 Cụ thể Điều 7 Công ước Liên hợp quốc về Luật biển quy định
“ĐIỀU 7 Đường cơ sở thẳng
1 Ở nơi nào bờ biển bị khoét sâu và lồi lõm hoặc nếu có một chuỗi đảo nằm sát ngay và chạy dọc theo bờ biển, phương pháp đường cơ sở thẳng nối liền các điểm thích hợp có thể được sử dụng để kẻ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải.
2 Ở nơi nào bờ biển cực kỳ không ổn định do có một châu thổ và những đặc điểm tự nhiên khác, các điểm thích hợp có thể được lựa chọn dọc theo ngấn nước triều thấp nhất có chuyển dịch vào phía trong bờ, các đường cơ sở đã được vạch ra vẫn có hiệu lực cho tới khi các quốc gia ven biển sửa đổi đúng theo Công ước.
3 Tuyến các đường cơ sở không được đi chệch quá xa hướng chung của bờ biển, và các vùng biển ở bên trong các đường cơ sở này phải gắn với đắt liền đủ đến mức đạt được chế độ nội thủy.
4 Các đường cơ sở thẳng không được kéo đến hoặc xuất phát từ các bãi cạn lúc nổi lúc chìm, trừ trường hợp ở đó có những đèn biển hoặc các thiết bị tương tự thường xuyên nhô trên mặt nước hoặc việc vạch các đường cơ sở thẳng đó đã được sự thừa nhận chung của quốc tế.
5 Trong những trường hợp mà phương pháp kẻ đường cơ sở thẳng được áp dụng theo khoản 1, khi ấn định một số đoạn đường cơ sở có thể tính đến những lợi ích kinh tế riêng biệt của khu vực đó mà thực tế và tầm quan trọng của nó đã được một quá trình sử dụng lâu dài chứng minh rõ ràng.”
6 Phương pháp đường cơ sở thẳng do một quốc gia áp dụng không được làm cho lãnh hải của một quốc gia khác bị tách khỏi biển cả hoặc một vùng đặc quyền kinh tế
Đó chính là sự kế thừa và hoàn thiện các phán quyết của Tòa án Công lý quốc tế
b Nghị quyết của tổ chức quốc tế liên chính phủ
Nghị quyết của tổ chức liên chính phủ cũng chính là một trong số những tiền
đề để hình thành nên các tập quán quốc tế và điều ước quốc tế Nghị quyết của
Trang 7tổ chức quốc tế liên chính phủ có thể được các quốc gia thừa nhận rộng rãi như một tập quán quốc tế, hoặc trên cơ sở nghị quyết của tổ chức qucs tế, các thành viên thả thuận ký kết điều ước quố tế góp phần hình thành quy phạm pháp luật quóc tế mới Hiện nay, số lượng các tập quán quốc tế và điều ước squocs tế được hình thành bằng con đường này ngày càng gia tăng làm cho quá trình xây dựng quy phạm pháp luật quốc tế được rút ngắn lại
Ví dụ: Tuyên ngôn về quyền con người được thông qua trên cơ sở Nghị quyết 217A (III) của Đại hội đồng Liên hợp quốc ngày 10/12/1948 Đây chỉ là văn bản có tính khuyến nghị của Liên hợp quốc nhưng có ý nghĩa chính trị pháp
lý quan trọng Tuyên ngôn đã xác định một cách toàn diện các quyền tự do cơ bản của con người cần được tôn trọng Chính vì vậy, Tuyên ngôn đã có uy tín rộng rãi và được viện dẫn trong quan hệ quốc tế Trên cơ sở Tuyên ngôn về quyền con người, 2 điều ước quốc tế đã được các quốc gia thành viên Liên hợp quốc ký kết đó là Công ước về các quyền dân sự, chính trị và Công ước về các quyền kinh tế, xã hội năm 1966
c Học thuyết của các luật gia nổi tiếng là tiền đề hình thành điều ước quốc tế và tập quán quốc tế
Một trong những người đặt nền móng đầu tiên cho nguyên tắc “tự do biển cả”- một nguyên tắc cơ bản của Luật biển quốc tế là Huygo Grotius Ông là một luật gia nổi tiếng người Hà Lan Huygo Grotius là người đầu tiên đưa ra thuyết
tự do biển cả Học thuyết này được ông xây dựng, củng cố, và thể hiện một cách
cụ thể trong tác phẩm “Tự do biển cả” xuất bản năm 1609 Trong tác phẩm của mình Huygo Grotius đã đưa ra một quan điểm: Tàu thuyền của tất cả các quốc gia đều đực tự do đi lại trên biển Học thuyết này bắt nguồn từ bản chất tự nhiên của biển cả, đó là tính động, tính lỏng, tính thống nhất, tính không can thiệp của tài nguyên và Luật tự nhiên
Học thuyết này của ông đã vấp phải một luồng ý kiến phản đối rất gay gắt từ phía những người theo thuyết “Chủ quyền quốc gia” Tuy nhiên bằng những điểm tiến bộ của mình thuyết “Tự do biển cả” đã được đông đảo các chủ thể của Luật quốc tế thừa nhận và thực hiện như một tập quán quốc tế Theo thời gian, quan điểm này đã được hoàn thiện bổ sung và phát triển thành một nguyên tắc quan trọng của Luật Biển quốc tế- nguyên tắc tự do biển cả Nguyên tắc này đã được ghi nhận trong rất nhiều điều ước quốc tế như Công ước Giơnevơ năm
1958 và Công ước Luật biển năm 1982
KẾT LUẬN
Trang 8Từ những phân tích trên ta cũng thấy được phần nào tầm quan trọng của nguồn bổ trợ trong việc xây dựng pháp luật cũng như đối với việc hoàn thiện nguồn cơ bản
Trên đây là những phân tích đánh giá của em về khẳng định trên Do kiến thức có hạn nên bài làm còn nhiều thiếu xót mong thầy cô góp ý bổ sung để bài làm có thể hoàn thiện hơn Em xin chân thành cảm ơn!
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 91 Giáo trình Luật quốc tế - Trường Đại học luật Hà Nội
2 Giáo trình Luật quốc tế - Nguyễn Thị Kim Ngân, Chu Mạnh Hùng
3 Tòa án công lý quốc tế - PGS TS Nguyễn Hồng Thao
4. https://luatquocte.wordpress.com/2011/10/06/ph%E1%BA%A7n-5-ngu
%E1%BB%93n-c%E1%BB%A7a-lu%E1%BA%ADt-qu%E1%BB%91c-t%E1%BA%BF/