1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Chứng minh sự kết hợp hài hòa giữa yếu tố Trung Hoa và Đại Việt trong Pháp luật phong kiên Việt Nam

8 1,6K 27

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 341,47 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẶT VẤN ĐỀ Dân tộc Việt Nam có nề văn hóa riêng, có hoàn cảnh vị trí, thần dân cụ thể có những điểm khác biệt so với Trung Quốc, những đặc điểm đó đòi hỏi phải có thể chế nhà nước và Pháp luật phù hợp. Pháp luật Việt Nam chịu ảnh hưởng nhiều từ pháp luật Trung Hoa. Tuy nhiên ảnh hưởng không đồng nghĩa là sao chép toàn bộ, Việt Nam có sự kết hợp một cách hài hòa để đưa ra những bộ Luật phù hợp điều chỉnh các quan hệ xã hội. Để tìm hiểu sự kết hợp này như thế nào, em xin chọn: Đề bài số 12: “ Chứng minh sự kết hợp hài hòa giữa yếu tố Trung Hoa và Đại Việt trong Pháp luật phong kiên Việt Nam”, làm nội dung bài tập học kì của mình. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN 1. Thế nào là kết hợp hài hòa Hài là gì? Hòa là gì? có sự kết hợp cân đối giữa các yếu tố, các thành phần, gây được ấn tượng, với đối tượng được tác động. sự kết hợp là sự lựa chọn, bắt nhau giữa các đối tượng, sự vật với nhau tạo nên một chỉnh thể mới. 2. Pháp luật Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự được nhà nước ban hành ra để điều chỉnh các quan hệ xã hội nhằm thực hiện mục tiêu, chức năng của nhà nước.

Trang 1

MỤC LỤC

Trang

ĐẶT VẤN ĐỀ 2

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 2

I MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN 2

1 Thế nào là kết hợp hài hòa 2

2 Pháp luật 2

II SỰ KẾT HỢP HÀI HÒA GIỮA YẾU TỐ TRUNG HOA VÀ ĐẠI VIỆT TRONG PHÁP LUẬT PHONG KIẾN VIỆT NAM 2

1 Nguyên nhân của sự kết hợp 2

2.Biểu hiện của sự kết hợp: 3

KẾT THÚC VẤN ĐỀ 6

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 7

PHỤ LỤC 8

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Dân tộc Việt Nam có nề văn hóa riêng, có hoàn cảnh vị trí, thần dân cụ thể có những điểm khác biệt so với Trung Quốc, những đặc điểm đó đòi hỏi phải có thể chế nhà nước và Pháp luật phù hợp Pháp luật Việt Nam chịu ảnh hưởng nhiều từ pháp luật Trung Hoa Tuy nhiên ảnh hưởng không đồng nghĩa là sao chép toàn bộ, Việt Nam có sự kết hợp một cách hài hòa để đưa ra những bộ Luật phù hợp điều

chỉnh các quan hệ xã hội Để tìm hiểu sự kết hợp này như thế nào, em xin chọn: Đề

bài số 12: “ Chứng minh sự kết hợp hài hòa giữa yếu tố Trung Hoa và Đại Việt trong Pháp luật phong kiên Việt Nam”, làm nội dung bài tập học kì của mình.

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

I MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN

1 Thế nào là kết hợp hài hòa

Hài là gì? Hòa là gì? có sự kết hợp cân đối giữa các yếu tố, các thành phần, gây được ấn tượng, với đối tượng được tác động sự kết hợp là sự lựa chọn, bắt nhau giữa các đối tượng, sự vật với nhau tạo nên một chỉnh thể mới.

2 Pháp luật

Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự được nhà nước ban hành ra để điều chỉnh các quan hệ xã hội nhằm thực hiện mục tiêu, chức năng của nhà nước.

II SỰ KẾT HỢP HÀI HÒA GIỮA YẾU TỐ TRUNG HOA VÀ ĐẠI

VIỆT TRONG PHÁP LUẬT PHONG KIẾN VIỆT NAM

1 Nguyên nhân của sự kết hợp

Trong quán trình hình thành và phát triển của mình, Trung Quốc là một đất nước rộng lớn, họ bang trướng xâm lược và đó được coi là chức năng của đất nước

họ, và dĩ diên, một đất nước nhỏ bé như Việt Nam ta, nằm ở phía Nam của Trung Hoa, họ cũng muốn đô hộ, xâm lược nước ta, và chúng đã tiến hành điều đó

Mô hình này đã du nhập và áp đặt ở nước ta hơn 10 thế kỉ Băc thuộc, sau khi Người Việt giành được độc lập giai cấp phong kiến Việt Nam đã tìm thấy mô hình

tổ chức sẵn có ở Trung Quốc và học tập kĩ thuật lập pháp của đát nước này Hơn 10 Thế kỉ cũng đặt cơ sở nền tảng nhất định cho việc xây dựng luật.

Xuất phát từ quy luật lịch sử dựng nước đi đôi với giữ nước, luôn phải đề cao giặc ngoại xâm và nhu cầu trị thủy, thủy lợi, pháp luật đặt ra để mọi người tôn theo trật tự đó, để quản lí hành chính nhà nước một cách tốt nhất Như chún ta đã biết + Thể chế nhà nước Trung Quốc phát triển bậc cao nhất ở khu vực, thế giới + Nhu cầu xây dựng quốc gia mạnh ở Phương Nam nhăm chống tái Bắc thuộc.

Trang 3

Tuy nhiên, xuất phát từ điều kiện lịch sử, địa lí, văn hóa, kinh tế đăc thù, Nhà nước phong kiến VN không thể tiếp thu nguyên vẹn pháp luật của Trung Quốc mà phải có sự lựa chọn những yếu tố phù hợp với mục tiêu cai trị, tình hình kinh tế, xã hội, ruyền thống lịch sử, văn hóa của người Việt, tạo nên yếu tố đặc thù trong pháp luật Đại Việt.

2.Biểu hiện của sự kết hợp:

2.1 Hệ thống ngũ hình trong Quốc triều Hình luật (QTHL) đã tiếp thu chọn lọc và sáng tạo ngũ hình trong pháp luật phong kiến Trung Hoa.

Xuy:

Hình phạt này được nêu rất rõ trong QTHL là có 5 bậc từ 10 đến 50 roi Phạm nhân sẽ bị đánh bằng roi mây nhỏ vào mông.Trong QTHL hình phạt này không hề có sự thay đổi so với pháp luật phong kiến Trung Hoa và được coi là một hình phạt nhẹ với các cấp độ cũng là 5 bậc từ 10 roi đến 50 roi

Nhằm mục đích làm cho người phạm tội cảm thấy đau đớn, xấu hổ

và không có ý định phạm tội lần nữa, hình phạt này vừa có thể ápdụng độc lập(điều 570, 572…QTHL) vừa có thể là hình phạt áp dụng bổ sung cùng với hình phạt tiền và biếm (điều 295,374…QTHL).

Trượng:Trong pháp luật Phong kiến Trung Hoa quy định

trượng có 5cấp độ song hình phạt này còn được áp dụng với cả nữ giới chỉ trừ trường hợp phạm ngoài tội thập ác, thông gian, trộm cắp thì mới được đổi trượng thành xuy

Còn trong QTHL quy định trượng có 5 cấp độ từ 60 đến 100 roi Ở

bộ luật này, hình phạt trượng chỉ áp dụng đối với nam giới còn nữ giới thì được được đổi thành Xu.

Đồ:

−Trong pháp luật phong kiến Trung Hoa đồ được chia làm 5 bậc đồ là 1 năm với 60 trượng, 1,5 năm là 70 trượng, 2 năm là 80 trượng, 2,5 năm là 90 trượngvà 3 năm là 100 trượng Khi bị tội này người phạm tội bị quản thúc ở Trấn họ ở và bị bắt phải làm những việc nặng nhọc từ 1 đến 3 năm và trong suốt thời hạn này họ bị xiềng chân Ngoài ra pháp luật phong kiến Trung Hoa còn

có quy định nhận đồlà đối với một số tội sẽ được đổi từ 3 bậc lưu sang 4 năm đồ, tạp phạm bị treo cổ,chém được đổi sang 5 đồ.

− Trong QTHL đồ được quy định có 3 bậc và được phân biệt giữa nam giớivà nữ giới:

+ Bậc thứ nhất là dịch đinh và dịch phu Trong trường hợp áp dụng hình phạtnày thì nam giới phải chịu 80 trượng còn nữ giới thì phải chịu 50 xuy.

+ Bậc thứ hai là tượng phương fbinh và su thất tuỳ với hình phạt dành chonam và nữ, cùng với hình phạt này thì nam giới còn bị đánh 80 trượng bị thích vàocổ 2 chữ còn nữ giới thì bị đánh 50 xuy và cũng phải thích vào cổ 2 chữ.

Trang 4

+ Bậc 3 là chủng điền binh dành cho nam giới và chung thất tỳ dành cho nữgiới, các hình phạt bổ sung là nam giới bị đánh 80 trượng thích vào cổ

4 chữ vàđeo xiềng, trong khi đó thì nữ giới bị phạt 50 xuy và thích vào cổ 4 chữ.

Lưu:

Trong pháp luật phong kiến Trung hoa cũng chia thành 3 bậc chia theo sốlý tức là có 2000 lý, 2500 lý và 3000 lý tuỳ vào từng tội.Dưới triều đại nhà Lê thì lưu gồm có 3 bậc được áp dụng cùng với suy, trượng,thích chữ hoặc đeo xiềng tuỳ vào từng bậc cụ thể: Châu gần, châu ngoài và châuxa.

Tử :

Đây là mức hình phạt cao nhất trong Ngũ hình và có các hình thức tửhình

là giảo và trảm, chém bêu đầu và lăng trì Các hình thức này đều khiến chomọi người phạm tội đau đớn về thể xác.

Hình phạt Quốc Triều Hình luật Đường luật

Xuy

5 bậc từ 10-50 Cây roi dài: 10-50

Trượng

Không áp dụng đôi với phụ nữ:

xuất phát từ truyển thống âm tính_nhẹ hơn;60-100 trượng

Dùng gậy đánh: 60-100

Đồ

Căn cứ vào mức độ nặng nhọc của công việc, phân ra công việc đàn ông, đàn bà

Lao động khổ sai nặng nhọc

Lưu

3 bậc: nhẹ, nặng và nặng nhất tương ứng với Cao bằng, nghệ

an, quảng bình Lí do: do Việt nam k có lãnh thổ rộng lớn như Trung Quốc, mặt khác, đây được coi là những khu vực biên giới, luuw đến đây cũng là để bảo vệ lãnh thổ…

Đi đày: 1000, 1500 2000 dặm.

Tử

Có thêm lăng trì: Ngũ mã phanh thay, dùng con dao nhọn xẻo từng miếng thịt…

Trảm và giảm( treo cổ)

II.2 Pháp luật Đại Việt thể hiện tính nhân đạo cao

Mặc dù mang bản chất giai cấp phong kiến nhưng bộ luật Hồng Đức lại chứa đựng nhiều yếu tố tiến bộ với những quy phạm bảo vệ quyền lợi của người dân, của tầng lớp dưới, của nô tì, người cô quả, tật … Nhiều quy định của bộ luật tập chung bảo

vệ người dân chống lại sự ức hiếp, sách nhiễu của cường hào, quan lại.

Đặc biệt bộ luật Hồng Đức còn có một số quy định bảo vệ quyền lợi của phụ nữ, trẻ em, người dân tộc thiểu số, điều đó phản ánh truyền thống nhân đạo,

Trang 5

truyền thống tôn trọng phụ nữ, tư tưởng “lấy dân làm gốc”, lấy làng xã làm nền tảng của quốc gia…

Tính dân tộc thể hiện đậm nét trong việc kế thừa và phát huy những thành tựu pháp luật của các triều đại trước, kết hợp với những ưu điểm của pháp luật phong kiến Trung Hoa để xây dựng lên một bộ luật phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện cụ thể của Việt Nam.

Ngày nay, trẻ em, phụ nữ, người tàn tật, người già yếu… được xếp vào nhóm “đối tượng dễ bị tổn thương” cần có sự quan tâm, giúp đỡ của cộng đồng thì hơn 500 năm trước, trong bộ luật Hồng Đức đã có những quy định về trách nhiệm của xã hội, nhất là của quan chức đối với nhóm người này Đây chính là một trong những điểm tiến bộ, nhân đạo của pháp luật thời Hậu Lê

Ví dụ: Đối với phụ nữ, quyền lợi của đối tượng này được đề cập chủ yếu trong hai chương “Hộ hôn” và “Điền sản” với những quy định thể hiện sự coi trọng cá nhân

và vai trò của người phụ nữ cũng như bảo vệ quyền lợi của họ trong việc hương hỏa, tế lễ, thừa kế và sở hữu tài sản.

Người vợ, theo phong tục và quy định phải lệ thuộc vào chồng nhưng trong

bộ luật Hồng Đức địa vị của người vợ có những độc lập nhất định như họ có quyền

có tài sản riêng, có quyền xin ly hôn trong một số trường hợp, ví dụ tại điều 308 quy định

Trong trường hợp cưỡng ép phụ nữ kết hôn cũng bị tội, điều 320 quy định như sau: “Mãn tang chồng nhưng người vợ thủ tiết, nếu ngoài ông bà, cha mẹ, kẻ nào khác gả ép người phụ nữ đó thì bị biếm ba tư và buộc phải ly dị Trả người đàn

bà về chồng cũ…” hoặc “những nhà quyền thế mà ức hiếp để cưới con gái lương dân thì xử phạt, biếm hay đồ” (điều 338).

Khi xảy ra tình trạng ly hôn, luật xác định tài sản của vợ chồng được hình thành từ 3 nguồn: Tài sản của chồng thừa kế từ gia đình nhà chồng; tài sản của người vợ thừa kế từ gia đình nhà vợ và tài sản do hai vợ chồng tạo dựng trong quá trình hôn nhân (tài sản chung) Khi gia đình tồn tại, tất cả tài sản được coi là của chung; khi ly hôn, tài sản của ai, người đó được nhận riêng và chia đôi tài sản chung của hai người.

Bộ luật Hồng Đức xử rất nặng đối với những trường hợp xâm phạm thân thể, tiết hạnh của người phụ nữ, kẻ nào “hiếp dâm thì xử lưu hay chết Phải nộp tiền

tạ tội hơn một bậc đối với tiền tạ tội gian dâm thường Nếu gây thương tích cho người đàn bà thì xử nặng hơn một bậc đánh người bị thương.

Nếu làm chết người đàn bà bị chết” (điều 403); “gian dâm với con gái nhỏ

12 tuổi trở xuống, dù nó thuận tình thì vẫn xử như tội hiếp dâm” (điều 404).

Nếu “chồng đánh vợ Đánh vợ bé bị thương, sứt gãy trở lên thì nhẹ tội hơn đánh vợ 2 bậc…” (điều 482).

Trong trường hợp người phụ nữ có việc liên quan đến kiện tụng hoặc bị tội thì họ vẫn được bảo vệ ở mức độ nhất định, nếu “quan coi ngục, lại ngục, ngục tốt gian dâm với đàn bà, con gái có chuyện thưa kiện thì tội nặng hơn một bậc so với

Trang 6

tội gian dâm thông thường Nếu có thuận tình thì giảm 3 bậc tội cho các gian phụ

ấy1.

II.3 Lần đầu tiên, Pháp luật Việt Nam có pháp luật Tố tụng

Xét về nội dung, “Quốc triều hình luật” là một bộ “tổng luật” Nếu xét theo khoa học pháp lý hiện đại, bộ luật này sẽ bao gồm các quy phạm pháp luật ở nhiều ngành luật khác nhau: luật hôn nhân – gia đình, luật dân sự, luật hành chính, luật hình sự, luật tố tụng, … Tìm hiểu bộ luật, chúng ta thấy phạm vi điều chỉnh và sự can thiệp của nó rất rộng, bao quát lên toàn bộ các mặt đời sống xã hội, từ những quan hệ trong gia đình đến những quan hệ trong làng xã, từ quan hệ vua tôi đến quan hệ vợ chồng cha con, mẹ con, từ các lĩnh vực kinh tế đến các lĩnh vực quản lí hành chính, ngoại giao, quân sự trong nước, … Về cơ bản, các điều khoản được quy định ở đây rất cụ thể, chi tiết, tinh vi, thậm chí đôi chỗ còn rơi vào sự vụn vặt, liệt kê Bộ luật xây dựng trên cơ sở có một sự nghiên cứu rất sâu sắc của các nhà làm luật, về các vấn đề mà nó hướng tới điều chỉnh

Ví dụ, trong lĩnh vực hôn nhân gia đình, các nhà làm luật nghiên cứu và đưa ra rất nhiều trường hợp khác nhau để đưa ra các xử lý Bộ luật quan tâm nhiều đến vấn đề kết hôn, li hôn, các điều kiện, và thủ tục hình thức, hậu của pháp lý, … Trong vấn đề kết hôn, bộ luật còn chỉ ra rõ các trường hợp cấm kết hôn như đang

có tang cha, mẹ, chồng, khi ông bà cha mẹ đang bị giam tù, … Hoặc trong vấn đề

về quyền thừa kế tài sản, chế độ tài sản gia đình, chế độ tài sản giữa vợ và chồng… luật quy định rất rõ, từng trường hợp được đưa ra rất cụ thể và minh bạch, rõ ràng Như vậy, tính bao quát và tỉ mỉ của “Quốc triều hình luật” thể hiện rất rõ Nó thể hiện một khả năng làm luật rất đặc sắc và chu toàn của các nhà Lê vào thế kỷ XV.

Sự bao quát tỉ mỉ đó vưà tạo ra cho bộ luật một sự chặt chẽ, vừa tạo cho nó một tầm vóc tương đối toàn diện bởi “toàn bộ kỉ cương phép nước của quốc gia Đại Việt đều được đúc kết lại trong 722 điều.

KẾT THÚC VẤN ĐỀ

Qua bài phân tích trên đây, phần nào giúp chúng ta hiểu được sự kết hợp giữa yếu tố Trung Hoa trong Pháp luật phong kiến Đại Việt Bài làm còn nhiều sự thiếu sót, mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy ( cô) Em xin chân thành cảm ơn.

Trang 7

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Giáo trình Lịch sử nhà nước và pháp luật Việt Nam, Nxb.Công An nhân dân, trường Đại học Luật Hà Nội, 2012.

2 Giáo trình Lịch sử nhà nước và pháp luật thế giới, Nxb.Công An nhân dân, trường Đại học Luật Hà Nội.

%A3c-%C4%91i%E1%BB%83m-b%E1%BB%99-m%C3%A1y-nh%C3%A0-n

cập 13/5/2018.

4 Giáo trình Lí luận chung về Nhà nước và Pháp luật, trường Đại học Luật Hà Nội

5 Bài viết Đánh giá mô hình nhà nước dưới triều vua Lê Thánh Tông trên trang

Trang 8

PHỤ LỤC

Một só hình ảnh liên quan

Ngày đăng: 16/10/2019, 00:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w