A là con ông B cư trú tại Phường C Quận HB Thành phố H đã trộm cắp 45.000.000 đồng của bà K là hàng xóm. Khi thực hiện hành vi phạm tội, A đủ 16 tuổi và trong quá trình giải quyết vụ án này thì A chưa đủ 18 tuổi. Khi phát hiện mất tiền, bà K đã đến công an Phường C để trình báo. Ông B phát hiện A trộm tiền của bà K đã khuyên A tự thú và A đã ra tự thú tại công an Phường C (A phạm tội lần đầu, thái độ khai báo thành khẩn, có nơi cư trú rõ ràng, chưa có tiền sự). Câu hỏi 1. Công an phường C phải làm gì khi A ra tự thú? 2. Nếu bà K đề nghị cơ quan điều tra không xử lý về hình sự với A vì A đã trả lại đầy đủ số tiền đã trộm cắp thì cơ quan điều tra giải quyết thế nào? 3. Cơ quan điều tra nào có thẩm quyền điều tra vụ án? Cơ quan này cần tiến hành các hoạt động tố tụng gì để có lời khai của A và bà K? 4. Sau khi A bị khởi tố về hình sự. Cơ quan điều tra đã ra lệnh tạm giam A. Việc tạm giam đối với A đúng hay sai? 5. Trong giai đoạn điều tra, ông B đã lựa chọn người bào chữa cho A nhưng A cũng yêu cầu được tự lựa chọn người bào chữa. Cơ quan điều tra phải giải quyết thế nào đối với yêu cầu của A? Tại sao? 6. Trong giai đoạn truy tố, Viện kiểm sát đã ra quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung với lý do “vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng” vì phát hiện ông b không có mặt khi hỏi cung A. Quyết định của Viện kiểm sát đúng hay sai? 7. Trong phần thủ tục bắt đầu phiên tòa sơ thẩm, ong b đề nghị thay đổi thẩm phán chủ tọa phiên tòa vì Thẩm phán là người thân thích của Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa. Hội đồng xét xử phải giải quyết như thế nào? 8. Giả sử ông M được chỉ định làm người bào chữa cho A. Tại phiên tòa sơ thẩm nếu A từ chối ông M thì Hội đồng xét xử phải giải quyết thế nào? 9. Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt A 9 tháng tù. Trong diện chủ thể có quyền kháng cáo chỉ có A kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Hội đồng xét xử xét thấy bản án sơ thẩm là quá nhẹ thì giải quyết thế nào?
Trang 1MỤC LỤC
ĐỀ BÀI 1
BÀI LÀM 2
I ĐẶT VẤN ĐỀ 2
II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ 3
1 Câu 1 3
2 Câu 2 3
3 Câu 3 4
4 Câu 4 7
5 Câu 5 8
6 Câu 6 9
7 Câu 7 10
8 Câu 8 12
9 câu 9 13
III KẾT LUẬN 14
DANH MỤC VIẾT TẮT 15
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 16
Trang 2ĐỀ BÀI
A là con ông B cư trú tại Phường C - Quận HB - Thành phố H đã trộm cắp 45.000.000 đồng của bà K là hàng xóm Khi thực hiện hành vi phạm tội, A
đủ 16 tuổi và trong quá trình giải quyết vụ án này thì A chưa đủ 18 tuổi Khi phát hiện mất tiền, bà K đã đến công an Phường C để trình báo Ông B phát hiện A trộm tiền của bà K đã khuyên A tự thú và A đã ra tự thú tại công an Phường C (A phạm tội lần đầu, thái độ khai báo thành khẩn, có nơi cư trú rõ ràng, chưa có tiền sự).
Câu hỏi
1 Công an phường C phải làm gì khi A ra tự thú?
2 Nếu bà K đề nghị cơ quan điều tra không xử lý về hình sự với A vì A đã trả lại đầy đủ số tiền đã trộm cắp thì cơ quan điều tra giải quyết thế nào?
3 Cơ quan điều tra nào có thẩm quyền điều tra vụ án? Cơ quan này cần tiến hành các hoạt động tố tụng gì để có lời khai của A và bà K?
4 Sau khi A bị khởi tố về hình sự Cơ quan điều tra đã ra lệnh tạm giam A Việc tạm giam đối với A đúng hay sai?
5 Trong giai đoạn điều tra, ông B đã lựa chọn người bào chữa cho A nhưng A cũng yêu cầu được tự lựa chọn người bào chữa Cơ quan điều tra phải giải quyết thế nào đối với yêu cầu của A? Tại sao?
6 Trong giai đoạn truy tố, Viện kiểm sát đã ra quyết định trả hồ sơ điều tra
bổ sung với lý do “vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng” vì phát hiện ông b
Trang 37 Trong phần thủ tục bắt đầu phiên tòa sơ thẩm, ong b đề nghị thay đổi thẩm phán chủ tọa phiên tòa vì Thẩm phán là người thân thích của Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa Hội đồng xét xử phải giải quyết như thế nào?
8 Giả sử ông M được chỉ định làm người bào chữa cho A Tại phiên tòa sơ thẩm nếu A từ chối ông M thì Hội đồng xét xử phải giải quyết thế nào?
9 Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt A 9 tháng tù Trong diện chủ thể có quyền kháng cáo chỉ có A kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt Hội đồng xét xử xét thấy bản án sơ thẩm là quá nhẹ thì giải quyết thế nào?
BÀI LÀM
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong điều kiện phát triển của nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam, với mục tiêu công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước là một trong những yếu tố hàng đầu cho sự phát triển kinh tế của Quốc gia Phương châm phát triển nền kinh tế nhiều thành phần đã làm cho các quan hệ pháp luật về kinh tế, dân
sự, hình sự ngày càng đa dạng, phong phú Kinh tế phát triển, đời sống nhân dân được cải thiện Bên cạnh sự phát triển đó, thì nền kinh tế thị trường đã làm nẩy sinh những mặt trái, đó là sự tha hoá, biến chất về đạo đức và nhân phẩm của một số bộ phận con người, làm phát sinh tệ nạn xã hội, dẫn đến tình hình chính trị, an ninh và trật tự xã hội đi theo khuynh hướng xấu Tội phạm ngày một gia tăng, tính chất mức độ hành vi phạm tội ngày càng nguy hiểm, tinh vi hơn, trong đó thì loại tội phạm xâm hại đến quyền sở hữu chiếm tỉ lệ lớn trong các loại tội phạm là tội trộm cắp tài sản xảy ra rất phức tạp dưới nhiều hình thức, nó xâm phạm trực tiếp đến những quan hệ xã hội được pháp luật bảo hộ, đó là quyền sở hữu của con người, sở hữu của Nhà nước Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, chúng em xin giải quyết tình huống nêu trên để làm rõ những vấn đề liên quan đến tội trộm cắp tài sản và quá trình tố tụng hình sự tội danh này
Trang 4II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1 Câu 1
Theo Khoản 1 Điều 152 BLTTHS 2015 quy định như sau:
“1 Khi người phạm tội đến tự thú, đầu thú, cơ quan, tổ chức tiếp nhận phải
lập biên bản ghi rõ họ tên, tuổi, nghề nghiệp, chỗ ở và lời khai của người tự thú, đầu thú Cơ quan, tổ chức tiếp nhận người phạm tội tự thú, đầu thú có trách nhiệm thông báo ngay cho Cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát.”
Như vậy, khi A ra tự thú thì công an Phường C phải tiếp nhận và lập biên bản ghi rõ họ tên, tuổi, nghề nghiệp, chỗ ở và lời khai của A đồng thời phải có trách nhiệm thông báo ngay cho CQĐT hoặc VKS
Biên bản phải ghi rõ họ tên, địa chỉ của người tự thú, hành vi mà họ đã phạm tội, những tài liệu, vật chứng, dụng cụ gây án, tài sản và tất cả các tình tiết khác có liên quan… Trong tình huống trên, A đã có hành vi trộm cắp 45.000.000 đồng của bà
K, sau khi được ông B khuyên, A đã ra tự thú với thái độ thành khẩn, có nơi cư trú
rõ ràng, A phạm tội lần đầu, chưa có tiền sự
Sau khi tiếp nhận và lập biên bản đối với A công an Phường C phải có trách nhiệm thông báo ngay cho CQĐT hoặc VKS có thẩm quyền, cụ thể là CQĐT cấp Quận hoặc VKSND Quận bởi theo căn cứ của pháp luật thì chỉ có CQĐT hoặc VKS mới có thẩm quyền để giải quyết những vấn đề liên quan đến việc tự thú
Sở dĩ pháp luật quy định như vậy là nhằm khắc phục hiện tượng thông tin về tội phạm không tập trung, dẫn đến bỏ lọt tội phạm giải quyết chậm trễ các vụ án đồng thời tăng cường trách nhiệm đấu tranh phòng chống tội phạm của các cơ quan, tổ chức trong xã hội chúng ta
2 Câu 2
Theo Khoản 1, Điều 173 BLHS 2015 sửa đổi bổ sung 2017 quy định về tội trộm cắp tài sản như sau:
“1 Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng
đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các
Trang 5trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều
168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích
mà còn vi phạm;
c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại.”
Trong tình huống trên A đã trộm cắp 45.000.000 đồng của bà K hàng xóm, sau đó A đã đến công an phường C đầu thú Theo đó, hành vi của A đã cấu thành tội trộm cắp tài sản, theo khỏan 1 Điều 173 BLHS thì A có thể bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm
Căn cứ Khoản 8, Điều 157 BLTTHS 2015 quy định căn cứ không khởi tố vụ
án hình sự như sau:
“…8 Tội phạm quy định tại khoản 1 Điều 134, 135, 136, 138, 141, 143,
155, 156, 226 của BLHS mà bị hại hoặc người đại diện của bị hại không yêu cầu khởi tố.”
Như vậy, A vẫn phải bị truy tố trách nhiệm hình sự về tội trộm cắp tài sản theo Khoản 1 Điều 173 BLHS mặc dù bà C có đề nghị CQĐT không xử lý về hình
sự với A
3 Câu 3
*Xác định CQĐT có thẩm quyền điều tra vụ án.
Cơ sở pháp lý: Khoản 1 và Điểm a, Khoản 5, Điều 163 BLTTHS; Khoản 1 Điều 269, BLTTHS 2015
Trang 6Tình huống đã đưa ra là A cư trú tại Phường C, Quận HB Thành phố H đã trộm cắp 45.000.000 đồng của bà K là hàng xóm Xét thấy, ở tình huống này, người phạm tội không thực hiện tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp, tội phạm về tham nhũng, chức vụ để thuộc thẩm quyền điều tra của CQĐT, VKSND tối cao; và tình huống này cũng không thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự nên đương nhiên không thuộc thẩm quyền điều tra của CQĐT trong Quân đội nhân dân Do đó, áp dụng khoản 1, Điều 65 thẩm quyền điều tra sẽ thuộc về CQĐT của Công an nhân dân
Ngoài ra, nơi thực hiện tội phạm trong tình huống là phường C, quận HB nên
vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của TAND quận HB (theo khoản 1, Điều 269) Nói cách khác, áp dụng Điểm a, Khoản 5, Điều 163, thì thẩm quyền điều tra vụ án trên
sẽ thuộc về CQĐT của CAND quận HB
*Các hoạt động tố tụng cần tiến hành để lấy lời khai của A và bà K.
Đối với việc lấy lời khai của bà K:
Cơ sở pháp lý: Điều 185, 186, 187, 188 BLTTHS 2015
Theo tình huống, bà K đã bị mất 45.000.000 đồng hay bà K chính là cá nhân trực tiếp bị thiệt hại về tài sản Nói cách khác, tư cách tố tụng của bà sẽ được xác định là bị hại đúng theo quy định tại Khoản 1 Điều 62, BLTTHS 2015 về bị hại:
“Bị hại là cá nhân trực tiếp bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản hoặc là cơ
quan, tổ chức bị thiệt hại về tài sản, uy tín do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra”
Việc lấy lời khai của bị hại được quy định cụ thể tại Điều 188, BLTTHS
2015 như sau:
‘Việc triệu tập, lấy lời khai của bị hại, đương sự được thực hiện theo quy định tại các điều 185, 186 và 187 của Bộ luật này.
Việc lấy lời khai của bị hại, đương sự có thể ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh.”
Trang 7Như vậy để lấy lời khai của bị hại, CQĐT thực hiện các bước tương tự như hoạt động lấy lời khai của người làm chứng, cụ thể phải trải qua các thủ tục dưới đây:
Thứ nhất, triệu tập người bị hại (Điều 185, BLTTHS 2015)
- Để triệu tập bà K, trước hết Điều tra viên phải gửi giấy triệu tập Giấy triệu tập phải ghi rõ họ tên, chỗ ở hoặc nơi làm việc, học tập của người bị hại, giờ, ngày, tháng, năm và địa điểm có mặt; mục đích và nội dung làm việc, thời gian làm việc; gặp ai và trách nhiệm về việc vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không
do trở ngại khách quan (Khoản 1, 2 Điều 185)
- Việc giao giấy triệu tập với bà K được thực hiện theo quy định tại điểm a, khoản 3, Điều 185 Theo đó, giấy triệu tập được giao trực tiếp cho bà K hoặc thông qua chính quyền xã, phường, thị trấn nơi bà K cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người làm chứng làm việc, học tập Trong mọi trường hợp, việc giao giấy triệu tập phải được ký nhận Chính quyền xã, phường, thị trấn nơi bị hại cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi bị hại làm việc, học tập có trách nhiệm tạo điều kiện cho người làm chứng thực hiện nghĩa vụ
Thứ hai, lấy lời khai bị hại (Điều 186, BLTTHS)
- Việc lấy lời khai bị hại (bà K) được tiến hành tại nơi tiến hành điều tra, nơi
cư trú, nơi làm việc hoặc nơi học tập của bà K
- Trước khi lấy lời khai, Điều tra viên, Cán bộ điều tra phải giải thích cho bị hại biết quyền và nghĩa vụ của họ theo quy định Việc này phải ghi vào biên bản
- Trước khi hỏi về nội dung vụ án, Điều tra viên phải hỏi về mối quan hệ giữa bà K với bị can (là A), người làm chứng và những tình tiết khác về nhân thân của bị hại Điều tra viên yêu cầu người làm chứng trình bày hoặc tự viết một cách trung thực và tự nguyện những gì họ biết về vụ án, sau đó mới đặt câu hỏi
Kết quả của hoạt động lấy lời khai là biên bản lấy lời khai Việc lấy lời khai của bị hại có thể ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh
Đối với việc lấy lời khai của A:
Trang 8Cơ sở pháp lý: Điều 421, BLTTHS 2015
Việc CQĐT tiến hành lấy lời khai của A (người thực hiện hành vi phạm tội) khi thực hiện hoạt động điều tra chính là việc CQĐT tiến hành hỏi cung bị can A
Vì A chưa đủ 18 tuổi nên việc lấy lời khai này được thực hiện theo quy định tại Điều 421, BLTTHS 2015 về Lấy lời khai người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị hại, người làm chứng; hỏi cung bị can; đối chất Cụ thể để lấy được lời khai của A, CQĐT cần thực hiện các hoạt động sau:
- Khi lấy lời khai người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị hại, người làm chứng, hỏi cung bị can là người dưới 18 tuổi, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải thông báo trước thời gian, địa điểm lấy lời khai, hỏi cung cho người bào chữa, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ
- Việc lấy lời khai của A phải có mặt người bào chữa hoặc người đại diện của A
- Người bào chữa, người đại diện có thể hỏi nếu được Điều tra viên, Kiểm sát viên đồng ý Sau mỗi lần lấy lời khai, hỏi cung của người có thẩm quyền kết thúc thì người bào chữa, người đại diện có thể hỏi A
- Thời gian lấy lời khai của A không quá hai lần trong 01 ngày và mỗi lần không quá 02 giờ, trừ trường hợp:
a) Phạm tội có tổ chức;
b) Để truy bắt người phạm tội khác đang bỏ trốn;
c) Ngăn chặn người khác phạm tội;
d) Để truy tìm công cụ, phương tiện phạm tội hoặc vật chứng khác của vụ án;
đ) Vụ án có nhiều tình tiết phức tạp
4 Câu 4
Sau khi A bị khởi tố về hình sự CQĐT đã ra lệnh tạm giam A Việc tạm giam đối với A là sai.
Trang 9Theo như đề bài, A trộm cắp số tiền là 45.000.000 đồng của bà K, A sẽ bị truy tố theo khoản 1 điều 173 BLHS 2015 sửa đổi bổ sung 2017 với khung hình phạt từ 06 tháng đến 3 năm Như vậy mức cao nhất cao nhất của khung hình phạt đối với A là 03 năm tù, thuộc loại tội ít nghiêm trọng (căn cứ khỏan 1 điều 9 BLHS 2015) và A có thể có mức phạt tù trên 02 năm tù
Theo Khoản 2 Điều 119, về Tạm giam thì biện pháp tạm giam chỉ có thể áp dụng với A nếu A thuộc một trong các trường hợp như đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác nhưng vi phạm; Không có nơi cư trú rõ ràng hoặc không xác định được lai lịch của bị can; bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã hoặc có dấu hiệu
bỏ trốn; tiếp tục phạm tội hoặc có dấu hiệu tiếp tục phạm tội; Có hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án; đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thích của những người này Nhưng khi A bị bắt, A đã thành khẩn khai báo, có nơi cư trú rõ và không có ý định bỏ trốn, càng không có dấu hiệu tiếp tục thực hiện tội phạm, cũng không có ý định trả thù hay tẩu tán tài sản
Như vậy việc CQĐT ra lệnh tạm giam với A là Sai
5 Câu 5
Khi ông B đã lựa chọn người bào chữa cho A nhưng A yêu cầu được lựa chọn người bào chữa thì Điều tra viên phải cùng người bào chữa mà ông B đã lựa chọn trực tiếp đến gặp A để xác nhận việc từ chối
Căn cứ Khoản 2 Điều 7 BLTTHS 2015: “Trường hợp người bị bắt, người bị tạm
giữ, người bị tạm giam trong giai đoạn điều tra có đề nghị từ chối người bào chữa
do người thân thích của họ nhờ thì Điều tra viên phải cùng người bào chữa đó trực tiếp gặp người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị tạm giam để xác nhận việc từ chối.”
Sở dĩ có việc như vậy vì với vai trò là Người bào chữa, những người có kiến thức pháp luật và kinh nghiệm hoạt động tố tụng, họ có thể mặt thân chủ mình tham gia
Trang 10tố tụng trong một vụ án hình sự để biện hộ, bảo vệ cho thân chủ của mình để chống lại sự buộc tội, truy tố hoặc một sự tố cáo, giúp làm giảm trách nhiệm hình sự cho thân chủ của họ đồng thời cũng có thể giúp cơ quan có chức năng làm sáng tỏ các tình tiết vụ án, họ có quyền tranh tụng với các chủ thể khác trong quá trình xử lý vụ
án hình sự Hơn nữa còn bảo đảm tốt hơn quyền bào chữa của bị can, bị cáo, các đương sự khác, mà còn giúp các cơ quan tiến hành tố tụng phát hiện, sửa chữa những thiếu sót, làm rõ sự thật khách quan, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật Đặc biệt đối với người chưa thanh niên, vai trò của người bào chữa là có ý nghĩa rất quan trọng, sự tham gia của người bào chữa càng sớm thì quyền lợi của các em càng được bảo đảm hơn, tuy nhiên cũng do nhận thức chưa hoàn thiện nên vấn đề nhờ ai và nhờ người nào bào chữa cho mình là điều dễ mắc sai lầm chính vì vậy, khi người chưa thành niên không chấp nhận, từ chối người bào chữa do đại diện hợp pháp của mình cử thì cần xác nhận việc đó
6 Câu 6
Trong giai đoạn truy tố VKS đã ra quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung với lí do vi phạm nghiêm trong thủ tục tố tụng vì phát hiện ông B không có mặt khi hỏi cung A Quyết định của VKS là Đúng, giải thích:
Căn cứ Khoản 1 Điều 245 BLTTHS 2015 về Trả hồ sơ vụ án để điều tra bổ
sung: “Viện kiểm sát ra quyết định trả hồ sơ vụ án, yêu cầu Cơ quan điều tra điều
tra bổ sung khi thuộc một trong các trường hợp:
a) Còn thiếu chứng cứ để chứng minh một trong những vấn đề quy định tại Điều 85 của Bộ luật này mà Viện kiểm sát không thể tự mình bổ sung được;
b) Có căn cứ khởi tố bị can về một hay nhiều tội phạm khác;
c) Có người đồng phạm hoặc người phạm tội khác liên quan đến vụ án nhưng chưa được khởi tố bị can;
d) Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng."
Khoản 1 Điều 6 Thông tư liên tịch số 02/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP quy định về việc phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong thực