1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Phân tích vai trò của công đoàn trong tổ chức và lãnh đạo đình công theo quy định của pháp luật và giải quyết tình huống

12 146 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 35,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngày nay, trong giai đoạn đất nước bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, vị trí vai trò của Công đoàn Việt Nam ngày càng thể hiện rõ nét trên nhiều lĩnh vực như chính trị xã hội, kinh tế, văn hóa – tư tưởng, xã hội. Đặc biệt với vai trò là tổ chức đại diện, tham gia bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho người lao động, Công đoàn được pháp luật trao cho quyền hạn trong tổ chức và lãnh đạo đình công. Để làm rõ hơn vấn đề này, em xin triển khai đề bài số 01: “ Phân tích vai trò của công đoàn trong tổ chức và lãnh đạo đình công theo quy định của pháp luật và giải quyết tình huống”.

Trang 1

MỞ ĐẦU

Ngày nay, trong giai đoạn đất nước bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, vị trí vai trò của Công đoàn Việt Nam ngày càng thể hiện rõ nét trên nhiều

lĩnh vực như chính trị - xã hội, kinh tế, văn hóa – tư tưởng, xã hội Đặc biệt với vai trò là

tổ chức đại diện, tham gia bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho người lao động, Công đoàn được pháp luật trao cho quyền hạn trong tổ chức và lãnh đạo đình công Để làm rõ hơn

vấn đề này, em xin triển khai đề bài số 01: “ Phân tích vai trò của công đoàn trong tổ chức và lãnh đạo đình công theo quy định của pháp luật và giải quyết tình huống”.

NỘI DUNG

I VAI TRÒ CỦA CÔNG ĐOÀN TRONG TỔ CHỨC VÀ LÃNH ĐẠO ĐÌNH CÔNG THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT

1 Khái quát về tổ chức công đoàn

1.1 Vị trí của công đoàn

Công đoàn là tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp công nhân và người lao động cùng với cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội chăm lo và bảo vệ quyền lợi của cán bộ, công nhân, viên chức và những người lao động khác; tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, giáo dục cán bộ, công nhân viên chức và người lao động xây dựng và bảo vệ tổ quốc (Điều 10 Hiến pháp 2013)

Như vậy, công đoàn Việt Nam là thành viên của hệ thống chính trị; Công đoàn là

tổ chức chính trị - xã hội được hình thành do nhu cầu của đông đảo người lao động Công đoàn là tổ chức đại diện cho người lao động, tham gia bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho

họ và tham gia quản lý kinh tế xã hội

1.2 Cơ cấu tổ chức của Công đoàn Việt Nam

Theo quy định của pháp luật, tổ chức công đoàn Việt Nam gồm 4 cấp cơ bản sau:

- Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam

- Liên đoàn lao động tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi là liên đoàn lao động tỉnh, thành phố) và công đoàn ngành trung ương

- Công đoàn cấp trên cơ sở

Trang 2

- Công đoàn cơ sở và nghiệp đoàn

Trong đó, mỗi cấp công đoàn có nhiệm vụ khác nhau

1.3 Nhiệm vụ, quyền hạn của Công đoàn

* Nhiệm vụ:

- Đại diện cho người lao động tham gia với cơ quan Nhà nước xây dựng và thực hiện các chương trình kinh tế xã hội, các chính sách, các cơ chế quản lý kinh tế, các chủ trương chính sách có liên quan đến quyền lợi và trách nhiệm của người lao động

- Tập hợp, giáo dục và tuyên truyền pháp luật để người lao động hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của mình, của các cơ quan và các tổ chức

- Thực hiện các quyền đã được pháp luật ghi nhận một cách có hiệu quả để bảo vệ

và chăm lo đến lợi ích và đời sống của người lao động

* Quyền hạn của Công đoàn:

- Quyền tham gia với cơ quan nhà nước và đại diện của NSDLĐ thảo luận các vấn

đề về quan hệ lao động như Quyền tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế (Điều 11); Trình dự án luật, pháp lệnh và kiến nghị xây dựng các chính sách pháp luật (Điều 12); Tham dự các phiên họp cuộc họp, kì họp và hội nghị (Điều 13) Đây là quan hệ của hệ thống công đoàn các cấp, là biểu hiện rõ nét của mối quan hệ trong cơ chế ba bên

- Quyền tham gia kiểm tra, giám sát việc thi hành các quy định của pháp luật lao động: đây là một trong những nhóm quyền thể hiện chức năng tham gia vào hoạt động quản lý của tổ chức Công đoàn như tham gia thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ quan tổ chức, doanh nghiệp

- Quyền đại diện cho tập thể lao động đối thoại, thương lượng tập thể và kí kết thỏa ước lao động tập thể với NSDLĐ Đối thoại xã hội, thương lượng tập thể là cơ sở cho việc ký kết thỏa ước lao động tập thể_hình thức pháp lý của quan hệ lao động tập thể

- Quyền tham gia xây dựng nội quy (quy chế) lao động, xử lý kỉ luật lao động Trách nhiệm vật chất và chấm dứt hợp đồng lao động

- Quyền đại diện và tham gia trong việc giải quyết xung đột, tranh chấp lao động

và các cuộc đình công

2 Khái quát về đình công

2.1 Khái niệm đình công

Trang 3

Theo Khoản 1 Điều 209: “Đình công là sự ngừng việc tạm thời, tự nguyện và có

tổ chức của tập thể lao động nhằm đạt được yêu cầu trong quá trình giải quyết tranh chấp”.

Như vậy, đình công có một số đặc điểm như sau:

- Đình công là sự ngưng việc tạm thời của tập thể lao động Ngừng việc nói ở đây

là sự đơn phương ngừng hẳn công việc đang làm bình thường theo hợp đồng lao động, thoả ước lao động tập thể và nội quy lao động, phân biệt với lãn công (là hiện tượng làm việc cầm chừng, không hết năng suất máy móc, nghỉ việc lẻ tẻ và có thể bị kỉ luật lao động)

- Đình công là hình thức đấu tranh có tổ chức Tính tổ chức trong đình công thể

hiện ở chỗ: việc quyết định đình công, thủ tục chuẩn bị đình công, tiến hành đình công, giải quyết đình công đều do đại diện của tập thể lao động và công đoàn tiến hành Ngoài

tổ chức công đoàn, không ai có quyền đứng ra tổ chức đình công

- Việc đình công chỉ tiến hành trong phạm vi doanh nghiệp hoặc bộ phận của doanh nghiệp Giới hạn phạm vi đình công trong một doanh nghiệp hoặc một bộ phận cơ

cấu của doanh nghiệp xuất phát từ phạm vi và nội dung của tranh chấp lao động tập thể Nếu trong vụ tranh chấp mà một bên là tập thể lao động của cả doanh nghiệp thì có thể tất cả người lao động trong doanh nghiệp ngừng việc để đình công.Nếu là tranh chấp giữa tập thể lao động thuộc bộ phận của doanh nghiệp thì đình công chỉ được tiến hành trong phạm vi bộ phận đó

2.2 Những điểm cần lưu ý về đình công

- Đối tượng được đình công: Đình công là quyền của người lao động được pháp

luật quốc tế cũng như pháp luật Việt Nam thừa nhận Theo đó đối tượng được đình công

là người lao động nhưng việc thực hiện quyền này phải thông qua hành vi của tập thể

người lao động Theo quy định tại Khoản 3 Điều 3 BLLĐ 2012 “Tập thể lao động là tập hợp có tổ chức của người lao động cùng làm việc cho một người sử dụng lao động hoặc trong một bộ phận thuộc cơ cấu tổ chức của người sử dụng lao động.”

Qua đó, có thể thấy rằng chỉ những người lao động cùng làm việc cho một người

sử dụng lao động mới được quyền đình công

- Doanh nghiệp không được tiến hành đình công: Không phải tại doanh nghiệp

nào thì tập thể người lao động đều có quyền tiến hành đình công Theo Khoản 1 Điều

Trang 4

220 “Không được đình công ở đơn vị sử dụng lao động hoạt động thiết yếu cho nền kinh

tế quốc dân mà việc đình công có thể đe dọa đến an ninh, quốc phòng, sức khỏe, trật tự công cộng theo danh mục do Chính phủ quy định” Và danh mục các đơn vị sử dụng lao

động không được đình công được liệt kê tại Phụ lục đính kèm Nghị định 41/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Điều 220 BLLĐ về danh mục đơn vị sử dụng lao động không được đình công và giải quyết yêu cầu của tập thể lao động ở đơn vị sử dụng lao động không được đình công

- Về loại tranh chấp lao động: thì theo Khoản 2 Điều 200 “Việc đình công chỉ được tiến hành đối với các tranh chấp lao động tập thể về lợi ích ”

Đình công chỉ áp dụng đối với các tranh chấp lao động tập thể về lợi ích Sở dĩ có quy định như vậy bởi đối với các tranh chấp lao động tập thể về quyền, có sự xuất hiện

sự vi phạm quy định pháp luật, do đó pháp luật đã quy định các cách thức giải quyết tranh chấp, mẫu thuẫn, có các biện pháp xử lí, chế tài nhất định và quyền của người lao động sẽ được bảo đảm, được khôi phục Nhưng đối với tranh chấp lao động tập thể về lợi ích, người lao động đưa ra các yêu sách mà mình quan tâm, những yêu sách này là mong muốn nguyện vọng của họ, cảm thấy quyền lợi của mình chưa được đầy đủ, và đình công

sẽ là “vũ khí cuối cùng” mà người lao động sử dụng để đạt được những yêu sách đó

- Thời điểm tiến hành đình công: Khoản 2 Điều 209 và Khoản 3 Điều 206 BLLĐ thì:“Sau thời hạn 05 ngày, kể từ ngày Hội đồng trọng tài lao động lập biên bản hòa giải thành mà một trong các bên không thực hiện thỏa thuận đã đạt được thì tập thể lao động

có quyền tiến hành các thủ tục để đình công” Quy định này tránh trường hợp lạm dụng

quyền này tiến hành các cuộc đình công không hợp pháp, không có kết quả, dẫn đến tốn thời gian, chi phí trong quá trình giải quyết Dù đình công là cách người lao động sử dụng để bảo vệ quyền lợi của mình nhưng nó có ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế đất nước, đến an ninh quốc phòng của một quốc gia

Như vậy, mặc dù đình công là quyền cơ bản của người lao động, là cách thức người lao động bảo vệ quyền lợi của mình, tuy nhiên pháp luật có hạn chế nhất định

2.3 Trình tự tiến hành đình công

Bước 1: Lấy ý kiến tập thể lao động

Nội dung lấy ý kiến để đình công bao gồm:

Trang 5

- Phương án của Ban chấp hành công đoàn về nội dung quy định tại các điểm b, c

và d khoản 2 Điều 213 của Bộ luật lao động

- Ý kiến của người lao động đồng ý hay không đồng ý đình công

Bước 2: Ra quyết định đình công

Quyết định đình công phải có các nội dung sau đây: Kết quả lấy ý kiến đình công; Thời điểm bắt đầu đình công, địa điểm đình công; Phạm vi tiến hành đình công; Yêu cầu của tập thể lao động; Họ tên của người đại diện cho Ban chấp hành công đoàn và địa chỉ liên hệ để giải quyết

Bước 3: Tiến hành đình công

Đến thời điểm bắt đầu đình công, nếu người sử dụng lao động không chấp nhận giải quyết yêu cầu của tập thể lao động thì Ban chấp hành công đoàn tổ chức và lãnh đạo đình công Bộ luật lao động chưa có quy định cụ thể nào về hình thức tiến hành đình công mà chỉ quy định những hành vi bị cấm trước, trong và sau khi đình công, chúng ta

có thể hiểu rằng ngoài những hành vi này thì người lao động có thể tiến hành mọi hành vi

mà luật không cấm

3 Vai trò của công đoàn trong việc tổ chức và lãnh đạo đình công

Trước những đặc thù của một cuộc đình công, với vai trò là tổ chức xã hội của những người lao động, đại diện, bảo vệ các quyền, lợi ích của người lao động và bảo vệ chính công đoàn, trật tự pháp luật trong lao động, pháp luật lao động quốc tế và của các nước đều ghi nhận vai trò của tổ chức công đoàn trong việc tổ chức, lãnh đạo đình công Tính tổ chức của đình công phụ thuộc một mặt vào phương cách hành động mang tính tập thể và mặt khác, phụ thuộc vào việc tổ chức, lãnh đạo của công đoàn đối với cuộc đình công đó

3.1 Thẩm quyền tổ chức và lãnh đạo đình công

Để bảo đảm tính tổ chức chặt chẽ và hiệu quả của cuộc đình công, đồng thời xác định trách nhiệm của tổ chức công đoàn trong lĩnh vực này, Bộ luật Lao động quy định công đoàn là chủ thể được quyền tổ chức và lãnh đạo đình công trong doanh nghiệp Trong trường hợp doanh nghiệp chưa có (hoặc không có) tổ chức công đoàn thì công đoàn cấp trên sẽ đứng ra tổ chức và lãnh đạo cuộc đình công Cụ thể, Điều 210

BLLĐ quy định:

Trang 6

“1 Ở nơi có tổ chức công đoàn cơ sở thì đình công phải do Ban chấp hành công đoàn cơ sở tổ chức và lãnh đạo.

2 Ở nơi chưa có tổ chức công đoàn cơ sở thì đình công do tổ chức công đoàn cấp trên tổ chức và lãnh đạo theo đề nghị của người lao động.”

Có thể thấy điều kiện tiên quyết để công đoàn cấp trên thực hiện vai trò đó

là nguyện vọng của người lao động Chỉ khi nào có sự đề nghị của người lao động thì công đoàn cấp trên mới được quyền thực hiện việc tổ chức, lãnh đạo cuộc đình công của họ

3.2 Trách nhiệm của Tổ chức công đoàn

Theo Quy định tại Điều 212, 213, 214 BLLĐ 2012 và Điều 12 Nghị định 43/2013/ NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Điều 10 của Luật công đoàn về quyền, trách nhiệm của Công đoàn trong việc đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động thì Quyền, trách nhiệm của công đoàn trong việc tổ chức và lãnh đạo đình công như sau: Công đoàn cơ sở tại doanh nghiệp, cơ quan tổ chức sử dụng lao động làm việc theo hợp đồng lao động có quyền, trách nhiệm:

- Lấy ý kiến của tập thể lao động để đình công theo quy định của pháp luật về lao động Thời gian, hình thức lấy ý kiến để đình công do Ban chấp hành công đoàn quyết

định và phải thông báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 01 ngày

- Ra quyết định đình công và thông báo thời điểm bắt đầu đình công Ban chấp

hành Công đoàn gửi quyết định đình công cho người sử dụng lao động, đồng thời gửi 01 bản cho cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp tỉnh, 01 bản cho công đoàn cấp tỉnh trong thời gian ít nhất là 05 ngày làm việc trước ngày bắt đầu đình công Đến thời điểm bắt đầu đình công, nếu người sử dụng lao động không chấp nhận giải quyết yêu cầu của tập thể lao động thì Ban chấp hành công đoàn tổ chức và lãnh đạo đình công

- Rút quyết định đình công nếu chưa đình công

- Tiến hành đình công theo quy định của pháp luật về lao động;

- Thực hiện quy định về không được đình công, hoãn, ngừng đình công theo quy định của pháp luật về lao động;

- Yêu cầu Tòa án tuyên bố cuộc đình công là hợp pháp theo quy định của pháp luật.

Trang 7

Như vậy, chỉ tổ chức Công đoàn được pháp luật trao cho quyền lãnh đạo đình công nhằm tạo ra tính thống nhất của BLLĐ với luật Công đoàn Đồng thời trách nhiệm này được đảm bảo, duy trì trong suốt quá trình đình công, từ bắt đầu khởi xướng lấy ý kiến đến khi cuộc đình công chấm dứt Có thể thấy vai trò của tổ chức Công đoàn trong quá trình đình công là rất quan trọng, thực hiện được đầy đủ các quyền hạn chức năng của mình

3.3 Một số hạn chế và hướng khắc phục

* Hạn chế:

Công đoàn là tổ chức duy nhất được thực hiện chức năng đại diện và bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp của NLĐ xuyên suốt các chế định của Luật lao động, thể hiện rõ ở quyền tổ chức và lãnh đạo đình công Tuy nhiên, chức năng nhiệm vụ này của Công đoàn vẫn bộc lộ nhiều điểm hạn chế như:

- Về mặt thực tiễn: Việc pháp luật trao cho Công đoàn quyền hạn trong việc đình công đã đặt ra những thách thức rất lớn đối với hệ thống Công đoàn tại Việt Nam khi mà

số lượng Công đoàn tại đơn vị sử dụng lao động hiện này còn quá ít và chưa đủ khả năng độc lập cả trong tổ chức và hoạt động Từ đó nảy sinh ra vấn đề, trên thực tế, các cuộc đình công xảy ra ở nước ta trong những năm qua hầu như không do công đoàn khởi xướng, lãnh đạo Có những cuộc đình công xảy ra, công đoàn đứng ngoài cuộc hoặc không hay biết gì

- Hạn chế của quy định pháp luật:

+ Thiếu cơ chế bảo đảm cho các quy định về quyền lãnh đạo đình công, chưa quy định về thẩm quyền của công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở trong việc hỗ trợ, phối hợp với công đoàn cơ sở để tham gia giải quyết đình công khi tổ chức công đoàn cơ sở hoạt động yếu kém hoặc khi có sự ủy quyền của tổ chức công đoàn cơ sở

+ Chưa có quy định trách nhiệm của tổ chức công đoàn cơ sở trong trường hợp không có tổ chức lấy ý kiến tập thể lao động khi ra quyết định đình công gửi NSDLĐ

+ Pháp luật còn nhiều quy định mang tính chung chung, khó áp dụng, tạo ra nhiều

sự không thống nhất trong cách hiểu và áp dụng trong thực tế

* Hướng khắc phục:

- Đối với quy định pháp luật: cần quy định cụ thể hơn về chức năng nhiệm vụ của công đoàn; có các thiết chế bảo đảm việc thực hiện quyền lãnh đạo của công đoàn với

Trang 8

các cuộc đình công; ràng buộc thêm trách nhiệm của tổ chức công đoàn, việc kiểm soát

về số lượng, nguyên nhân dẫn đến tranh chấp, hạn chế trường hợp có đình công nhưng không phải tổ chức lãnh đạo hoặc không biết

- Đối với công tác tổ chức Công đoàn: Cần rà soát lại đội ngũ các bộ công đoàn, tích cực đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ các bộ; đầu tư kinh phí thỏa đáng cho việc đào tạo bồi dưỡng các bộ công đoàn; xây dựng hệ thống công đoàn hoàn chỉnh hơn tại các cấp, các doanh nghiệp,

II GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG

1 Nội dung tình huống

Anh Trần B làm việc cho công ty X thuộc khu công nghiệp Nam Thăng Long, Hà Nội từ ngày 02/5/2015 với hợp đồng lao động thời hạn 2 năm Theo hợp đồng lao động, công việc của anh B làm là công nhân kiểm tra kỹ thuật với mức tiền lương là 7000000 đông/tháng Hết hạn hợp đồng lao động, mặc dù 2 bên không ký hợp đồng mới nhưng anh B vẫn tiếp tục làm công việc cũ Đến tháng 2/2018 do công ty X sáp nhập với công

ty M, nên có 15 lao động không bố trí được công việc bị mất việc làm, trong đó có anh

B Ngày 5/5/2018, công ty thông báo chấm dứt hợp đồng lao động với anh B kể từ ngày 30/5/2018

Cho rằng công ty X đã đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật đối với mình nên ngày 10/6/2018 anh B đã làm đơn yêu cầu cấp có thẩm quyền giải quyết

2 Giải quyết tình huống

Câu 1 Loại HĐLĐ được ký giữa anh B và công ty X trước khi chấm dứt là loại HĐLĐ nào? Tại sao?

Trả lời: Hợp đồng lao động của anh B với công ty trước khi chấm dứt là hợp đồng không xác định thời hạn Vì:

Anh Trần B vào làm việc cho công ty X thuộc khu công nghiệp Nam Thăng Long,

Hà Nội từ ngày 02/5/2015 với hợp đồng lao động thời hạn 2 năm (24 tháng)

Đối chiếu với Khoản 1 Điều 22 BLLĐ 2012 về các loại hợp đồng thì hợp đồng

anh B với công ty giao kết lúc này là hợp đồng xác định thời hạn Theo đó “Hợp đồng lao động xác định thời hạn là hợp đồng mà trong đó hai bên xác định thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng trong khoảng thời gian từ đủ 12 tháng đến 36 tháng”(Điểm b).

Trang 9

Nhưng hết thời hạn trên, về nghĩa vụ hai bên phải tiến hành ký kết hợp đồng lao động mới trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày hợp đồng hết hạn Tuy nhiên, công ty với anh B không tiến hành ký hợp đồng lao động mới, mà anh B vẫn tiếp tục làm việc Do

đó, hợp đồng lao động của anh B với công ty lúc này trở thành hợp đồng lao động không

xác định thời hạn theo Khoản 2 Điều 22 BLLĐ: “ nếu không ký kết hợp đồng lao động mới thì hợp đồng đã giao kết theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều này trở thành hợp đồng lao động không xác định thời hạn ”.

2 Công ty cần căn cứ vào cơ sở pháp lý nào và tiến hành những thủ tục gì để chấm dứt HĐLĐ hợp pháp với anh B?

Với dữ liệu đề bài đưa ra, tháng 2/2018 do công ty X sáp nhập với công ty M, nên

có 15 lao động không bố trí được công việc bị mất việc làm, trong đó có anh B Do vậy,

để công ty X chấm dứt hợp đồng hợp pháp với anh B sẽ dựa vào căn cứ tại Khoản 10 Điều 36 BLLĐ 2012 là người sử dụng lao động cho người lao động thôi việc do sáp nhập, hợp nhất, chia tách doanh nghiệp Công ty X sẽ cho anh B thôi việc với lý do công

ty tiến hành sáp nhập với công ty M

Về thủ tục, theo quy định tại Điều 45 BLLĐ 2012, người sử dụng lao động khi sáp nhập doanh nghiệp sẽ có nghĩa vụ:

“1 Trong trường hợp sáp nhập, hợp nhất, chia, tách doanh nghiệp, hợp tác xã thì người sử dụng lao động kế tiếp phải chịu trách nhiệm tiếp tục sử dụng số lao động hiện

có và tiến hành việc sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.

Trong trường hợp không sử dụng hết số lao động hiện có, thì người sử dụng lao động kế tiếp có trách nhiệm xây dựng và thực hiện phương án sử dụng lao động theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật này ”

Công ty X sáp nhập với công ty M và 15 lao động không có việc làm, do đó:

- Thứ nhất, công ty phải tiến hành lập phương án sử dụng lao động, nội dung của phương án bao gồm: Danh sách và số lượng người lao động tiếp tục được sử dụng, người lao động đưa đi đào tạo lại để tiếp tục sử dụng; Danh sách và số lượng người lao động nghỉ hưu; Danh sách và số lượng người lao động được chuyển sang làm việc không trọn thời gian; người lao động phải chấm dứt hợp đồng lao động; Biện pháp và nguồn tài chính bảo đảm thực hiện phương án

Trang 10

- Thứ hai, trong quá trình xây dựng phương án sử dụng lao động phải có sự tham gia của tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở (Công đoàn cơ sở)

3 Cơ quan, tổ chức nào có thẩm quyền giải quyết đơn yêu cầu của anh B?

Anh B cho rằng công ty X đã đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật đối với mình nên ngày 10/6/2018 anh B đã làm đơn yêu cầu cấp có thẩm quyền giải quyết

Để xác định cơ quan có thẩm quyền giải quyết đơn yêu cầu của anh B trước tiên cần xác định đây loại tranh chấp nào? Trường hợp này xác định được đây là tranh chấp lao động cá nhân Tranh chấp giữa người lao động với người sử dụng lao động Bởi tranh chấp lao động cá nhân là tranh chấp giữa cá nhân người lao động và người sử dụng lao động về quyền, nghĩa vụ và lợi ích phát sinh giữa các bên trong quan hệ lao động

Trong tình huống có sự mâu thuẫn giữa anh B và công ty X Anh B cho rằng công

ty X chấm dứt hợp đồng lao động như vậy là trái pháp luật nên có đơn yêu cầu cơ quan

có thẩm quyền xem xét Chủ thể ở đây là anh B_ người lao động với công ty X_người sử dụng lao động Nội dung tranh chấp quyết định chấm dứt hợp đồng lao động của công ty X

Như vậy, về Thẩm quyền giải quyết tranh chấp, theo quy định tại Điều 200 Bộ Luật lao động 2012 về cơ quan, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân gồm: Hoà giải viên lao động hoặc Toà án nhân dân Tòa án nhân dân ở đây thường được xác định là nơi đóng trụ sở của công ty, doanh nghiệp, nơi thương trú hoặc đóng trụ

sở của bị đơn

4 Giải quyết quyền lợi của anh B ?

Theo quy định tại Điều 47 BLLĐ 2012:

“ 2 Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, người sử dụng lao động và người lao động có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản

có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên Trường hợp đặc biệt, thời hạn thanh toán có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày.

3 Người sử dụng lao động có trách nhiệm hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại

sổ bảo hiểm xã hội và những giấy tờ khác mà người sử dụng lao động đã giữ lại của người lao động.”

Như vậy, quyền lợi của B được hưởng như sau:

Ngày đăng: 16/10/2019, 00:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w