Hiện nay, hội nhập quốc tế đã và đang diễn ra vô cũng mạnh mẽ và trở thành xu thế không thể đảo ngược ở hầu hết các quốc gia, thế giới mà sự tồn tại của quốc gia này không thể tách rời khỏi các quốc gia khác. Tong quá trình hợp tác này, xuất hiện các mối quan hệ phát sinh từ lĩnh vực dân sự, kinh doanh, thương mại, lao động, hôn nhân và gia đình… giữa công dân, pháp nhân các quốc gia với nhau. Quan hệ hợp đồng là một loại quan hệ đặc biệt thuộc lĩnh vực dân sự. Cho nên khi quan hệ này có xảy ra giữa các cá nhân các nước với nhau thì phải có một hệ thống pháp luật điều chỉnh. Cùng lúc sẽ có nhiều hệ thống pháp luật điều chỉnh thì dẫn đến hiện tượng xung đột pháp luật trong quá trình giải quyết. Vì vậy, để hiểu rõ hơn về vấn đề này và giải quyết được các tình huống xảy ra, em xin chọn đề bài số 7 để làm bài tập học kỳ: “Bình luận những quy định của pháp luật Việt Nam (BLDS 2015) trong việc giải quyết xung đột pháp luật về nội dung hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài.”
Trang 1ĐẶT VẤN ĐỀ
Hiện nay, hội nhập quốc tế đã và đang diễn ra vô cũng mạnh mẽ và trở thành xu thế không thể đảo ngược ở hầu hết các quốc gia, thế giới mà sự tồn tại của quốc gia này không thể tách rời khỏi các quốc gia khác Tong quá trình hợp tác này, xuất hiện các mối quan hệ phát sinh từ lĩnh vực dân sự, kinh doanh, thương mại, lao động, hôn nhân và gia đình… giữa công dân, pháp nhân các quốc gia với nhau Quan hệ hợp đồng là một loại quan hệ đặc biệt thuộc lĩnh vực dân sự Cho nên khi quan hệ này có xảy ra giữa các cá nhân các nước với nhau thì phải có một hệ thống pháp luật điều chỉnh Cùng lúc sẽ có nhiều hệ thống pháp luật điều chỉnh thì dẫn đến hiện tượng xung đột pháp luật trong quá trình giải quyết Vì vậy, để hiểu rõ hơn về vấn đề này và giải quyết được các tình huống xảy ra, em xin chọn đề bài số
7 để làm bài tập học kỳ: “Bình luận những quy định của pháp luật Việt Nam (BLDS 2015) trong việc giải quyết xung đột pháp luật về nội dung hợp đồng dân
sự có yếu tố nước ngoài.”
NỘI DUNG
I LÝ LUẬN CHUNG
1 Khái quát về xung đột pháp luật
Các quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài thuộc đối tượng điều chỉnh của tư pháp quốc tế là một trong những loại quan hệ có yếu tố nước ngoài Chinh yếu tố nước ngoài đã làm cho các quan hệ này liên quan tới ít nhất là hai quốc gia, hai hệ thống pháp luật mà các quốc gia dù lớn dù nhỏ đều độc lập và bình đẳng với nhau theo các nguyên tắc cơ bản mà Luật quốc tế hiện đại đã xác định Điều đó cũng có nghĩa là các hệ thống pháp luật tương ứng của các quốc gia cũng bình đẳng với nhau Nên khi các quan hệ tư pháp quốc tế nảy sinh cũng đồng nghĩa với việc phát sinh hiện tượng cả hai (hay nhiều) hệ thống pháp luật đó cùng
có thể được áp dụng để điều chỉnh quan hệ tương ứng và hầu hết các quốc gia đều
Trang 2chấp nhận việc có thể áp dụng pháp luật nước ngoài để điều chỉnh lĩnh vực này Quyết định sử dụng hệ thống pháp luật nào chính là vấn đề cần giải quyết
Xung đột pháp luật là hiện tượng hai hay nhiều hệ thống pháp luật của các nước khác nhau cùng có thể được áp dụng để điều chỉnh mối quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài (quan hệ tư pháp quốc tế).
Trong khái niệm trên, xung đột pháp luật không được hiểu là sự xung khắc hay
sự khác biệt giữa các hệ thống pháp luật, đó là một hiện tượng riêng có, hiện tượng đặc thù của tư pháp quốc tế và sẽ xuất hiện khi có hai hệ thống pháp luật hoặc nhiều hệ thống pháp luật cùng có thể điều chỉnh mối quan hệ tư pháp quốc tế
2 Khái quát về xung đột pháp luật về hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài
2.1 Hợp đồng có yếu tố nước ngoài
Hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài là hợp đồng dân sự có chủ thể nước ngoài tham gia; căn cứ pháp lý làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt hợp đồng xảy
ra ở nước ngoài hoặc theo pháp luật nước ngoài; tài sản liên quan đến hợp đồng nằm ở nước ngoài Chính yếu tố nước ngoài dẫn đến hiện tượng cùng một lúc có thể có nhiều hệ thống pháp luật cùng tham gia điều chỉnh hợp đồng
Có “yếu tố nước ngoài” được hiểu như sau :
- Có ít nhất chủ thể tham gia quan hệ này là nước ngoài Chủ thể nước ngoài có thể là người nước ngoài, tổ chức, pháp nhân nước ngoài, quốc gia nước ngoài;
- Các bên tham gia quan hệ hợp đồng có nơi cư trú ở các nước khác nhau, nếu là
cá nhân Hoặc có trụ sở thương mại ở các nước khác nhau nếu là pháp nhân;
- Sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt quan hệ này xảy ra ở nước ngoài;
- Đối tượng của hợp đồng là tài sản đang tồn tại ở nước ngoài
2.2 Xung đột pháp luật về hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài
Trang 3Xung đột pháp luật về hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài là hiện tượng có hai hay nhiều hệ thống pháp luật của các nước khác nhau cùng có thể được áp dụng để điều chỉnh quan hệ về hợp đồng
Đối với hợp đồng có yếu tố nước ngoài, hiện tượng xung đột pháp luật về nội dung hợp đồng xảy ra khá phổ biến Vì vậy, luật nào sẽ được xác định áp dụng sẽ được đặt ra Về mặt lý luận, sẽ có nhiều hệ thống pháp luật có thể được áp dụng như: Luật nhân thân của các bên giao kết hợp đồng, luật nơi giao kết hợp đồng, luật nơi có tài sản, luật Tòa án,… Việc lựa chọn áp dụng hệ thống pháp luật nào được áp dụng chính là việc giải quyết xung đột pháp luật về nội dung hợp đồng Vấn đề này sẽ được làm rõ tại phần II – giải quyết xung đột pháp luật về hợp đồng dân sự có yếu tố nước ngoài
II GIẢI QUYẾT XUNG ĐỘT PHÁP LUẬT VỀ NỘI DUNG HỢP ĐỒNG DÂN SỰ CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI THEO BLDS 2015
Theo khoản 1 Điều 683 BLDS năm 2015, quy định: “Các bên trong quan hệ hợp đồng được thỏa thuận lựa chọn pháp luật áp dụng đối với hợp đồng, trừ trường hợp quy định tại các khoản 4, 5 và 6 Điều này Trường hợp các bên không có thỏa thuận về pháp luật áp dụng thì pháp luật của nước có mối liên hệ gắn bó nhất với hợp đồng đó được áp dụng.”
Thấy rằng, một số vấn đề của quy định vừa nêu cần được làm rõ Cụ thể:
1 Quyền thỏa thuận lựa chọn luật áp dụng
Các bên có quyền lựa chọn nhiều hệ thống pháp luật điều chỉnh một quan hệ hợp đồng hay không? Thực tiễn cho thấy có những hợp đồng có yếu tố nước ngoài, như: hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, có nội dung rất dài và bao gồm nhiều vấn đề khác nhau Chính vì vậy, đôi khi phát sinh nhu cầu thực tế là các bên cần thỏa thuận chọn nhiều hệ thống pháp luật và một hệ thống pháp luật chỉ áp dụng điều chỉnh một phần của hợp đồng Thậm chí ngay cả khi thỏa thuận chọn luật áp dụng cho toàn bộ hợp đồng vẫn có trường hợp các bên lựa chọn nhiều luật áp dụng cho hợp đồng để phòng ngừa tình huống một hệ thống pháp luật không điều chỉnh
Trang 4hết các vấn đề của hợp đồng BLDS năm 2015 không có quy định về vấn đề này, nhưng một số văn bản pháp luật chuyên ngành lại quy định hợp đồng có thể được chi phối bởi hai hay nhiều hệ thống pháp luật khác nhau Ví dụ, khoản 1 Điều 17 Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, năm 2006
có quy định : “Hợp đồng cung ứng lao động phải phù hợp với pháp luật Việt Nam, pháp luật của nước tiếp nhận lao động…” Như vậy, Hợp đồng cung ứng lao động đồng thời chịu sự điều chỉnh của pháp luật Việt Nam và pháp luật của nước tiếp nhận lao động
Tham khảo Công ước Rome 1980 về luật áp dụng cho nghĩa vụ hợp đồng và Quy tắc Rome I, tại Điều 3 của cả hai văn bản đều quy định: “Bằng thỏa thuận của mình, các bên có thể chọn luật áp dụng cho toàn bộ hoặc chỉ một phần của hợp đồng” Thực tiễn các nước cũng như Việt Nam cho thấy hiện tượng này thường xuyên xảy ra Quan điểm này được các chuyên gia châu Âu về tư pháp quốc tế chấp nhận và đã được ghi nhận tại văn bản pháp luật của nhiều quốc gia Vì vậy,
cơ quan nhà nước có thẩm quyền nghiên cứu ban hành văn bản thống nhất áp dụng nội dung vấn đề đã nêu, theo hướng các bên được chọn luật áp dụng cho một phần hoặc toàn bộ hợp đồng và quyền được lựa chọn nhiều hệ thống pháp luật khác nhau áp dụng cho một quan hệ hợp đồng có yếu tố nước ngoài
2 Áp dụng pháp luật có mối quan hệ gắn bó nhất với hợp đồng
Trường hợp các bên không có thỏa thuận về pháp luật áp dụng thì pháp luật của nước có mối quan hệ gắn bó nhất với hợp đồng sẽ được áp dụng
Pháp luật nào là pháp luật có “mối quan hệ gắn bó nhất” với hợp đồng đã được
Bộ luật dân sự 2015 quy định tại khoản 2 điều 683
Khoản 1, điều 769 BLDS 2005 quy định: “Quyền và nghĩa vụ của các bên theo hợp đồng được xác định theo pháp luật của nước nơi thực hiện hợp đồng” Để lựa chọn được pháp luật áp dụng theo quy phạm xung đột trên, điểm mấu chốt là phải xác định được nơi thực hiện hợp đồng Nếu trong hợp đồng các bên quy định rõ nơi thực hiện hợp đồng thì sẽ không có khó khăn gì đặc biệt Tuy nhiên, không
Trang 5hiếm trường hợp các bên không quy định về nơi thực hiện hợp đồng Khi đó khoản
1, điều 769 BLDS 2005 nhanh chóng tỏ ra bất cập Để khắc phục vấn đề này, BLDS 2015 đã không sử dụng tiêu chí “nơi thực hiện hợp đồng”, mà thay vào đó
là tiêu chí “mối liên hệ gắn bó nhất với hợp đồng” để xác định pháp luật áp dụng cho hợp đồng Thật vậy, khoản 1 điều 683 BLDS 2015 quy định: “Trường hợp các bên không có thỏa thuận về pháp luật áp dụng thì pháp luật của nước có mối liên
hệ gắn bó nhất với hợp đồng đó được áp dụng” Đây là một quy định được coi là tiến bộ hơn so với quy định của BLDS 2005, nhưng nó cũng đặt ra một số vấn đề
về áp dụng trong thực tiễn
Chẳng hạn, trong hợp đồng giữa một doanh nghiệp Việt Nam và một doanh nghiệp Đan Mạch, các bên có thỏa thuận: Trong trường hợp nếu hợp đồng không chỉ rõ thì luật thực chất của Pháp sẽ điều chỉnh Thực tế cho thấy, cũng không ít trường hợp, các bên lựa chọn một hệ thống pháp luật không có liên quan gì đến hợp đồng Về vấn đề này, theo quy định tại Điều 683 BLDS năm 2015, trường hợp các bên không có thỏa thuận về pháp luật áp dụng thì pháp luật của nước có mối liên hệ gắn bó nhất với hợp đồng đó được áp dụng Tham khảo pháp luật các nước cho thấy, có nhiều cách giải quyết khác nhau Pháp luật Mỹ yêu cầu luật được lựa chọn phải có mối quan hệ thực chất với hợp đồng, trong khi Điều 2 Công ước Rome và Điều 2 Quy tắc Rome I không đòi hỏi một mối liên hệ thực chất hay liên
hệ khác với luật được lựa chọn Quan điểm này cũng được một số nhà nghiên cứu pháp luật Việt Nam thừa nhận vì mấy lý do sau:
i) Đảm bảo tôn trọng tối đa quyền tự thỏa thuận của các bên, đây là một trong những nguyên tắc cơ bản của hợp đồng;
ii) Việc cho thỏa thuận lựa chọn pháp luật của nước thứ ba như một giải pháp trung gian sẽ giúp cho các bên thực hiện hợp đồng dễ dàng hơn trong trường hợp bên Việt Nam không muốn áp dụng luật của bên nước ngoài và bên nước ngoài không muốn áp dụng luật Việt Nam;
Trang 6iii) Phù hợp với nguyên tắc các bên được quyền thỏa thuận lựa chọn nhiều hệ thống pháp luật áp dụng cho một quan hệ hợp đồng như đã phân tích ở trên;
iv) Phù hợp với thông lệ quốc tế khi các bên còn được phép thỏa thuận lựa chọn tập quán thương mại quốc tế hay những nguyên tắc của hợp đồng thương mại quốc
tế đã được thừa nhận rộng rãi
Thực tiễn hoạt động thương mại quốc tế cũng cho thấy, các bên thường có xu hướng lựa chọn một hệ thống pháp luật không có mối liên hệ thực chất với hợp đồng hoặc lựa chọn tập quán thương mại quốc tế để điều chỉnh quan hệ hợp đồng
Vì vậy, theo em, cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần hướng dẫn quy định trên thật rõ ràng hơn, theo hướng chấp nhận các bên được quyền lựa chọn một hệ thống pháp luật không có mối liên hệ thực chất với hợp đồng để điều chỉnh hợp đồng Vấn đề nữa là trước yêu cầu về sự rõ ràng và dễ áp dụng của luật, Việt Nam đã chọn cách liệt kê mối liên hệ gắn bó nhất trong một số hợp đồng cụ thể Cách làm này giống với phương pháp được châu Âu áp dụng khi xây dựng Nghị định Rome năm 2008 về luật áp dụng cho nghĩa vụ hợp đồng Tuy nhiên, nếu như khoản 1, điều 4 của Nghị định này liệt kê 8 loại hợp đồng cụ thể, sau đó có một loạt các quy định chuyên biệt cho các loại hợp đồng chuyên biệt khác, thì khoản 2, điều 683 BLDS 2015 của Việt Nam lại chỉ liệt kê 5 trường hợp, theo đó, pháp luật của nước
có mối quan hệ gắn bó nhất là:
“a) Pháp luật của nước nơi người bán cư trú nếu là cá nhân hoặc nơi thành lập nếu là pháp nhân đối với hợp đồng mua bán hàng hóa
b) Pháp luật của nước nơi người cung cấp dịch vụ cư trú nếu là cá nhân hoặc nơi thành lập nếu là pháp nhân đối với hợp đồng dịch vụ
c) Pháp luật của nước nơi người nhận quyền cư trú nếu là cá nhân hoặc nơi thành lập nếu là pháp nhân đối với hợp đồng chuyển giao quyền sử dụng hoặc chuyển nhượng quyền sở hữu trí tuệ
Trang 7d) Pháp luật của nước nơi người lao động thường xuyên thực hiện công việc đối với hợp đồng lao động Nếu người lao động thường xuyên thực hiện công việc tại nhiều nước khác nhau hoặc không xác định được nơi người lao động thường xuyên thực hiện công việc thì pháp luật của nước có mối liên hệ gắn bó nhất với hợp đồng lao động là pháp luật của nước nơi người sử dụng lao động cư trú đối với cá nhân hoặc thành lập đối với pháp nhân
đ) Pháp luật của nước nơi người tiêu dùng cư trú đối với hợp đồng tiêu dùng” Tuy nhiên, trong trường hợp chứng minh được pháp luật của nước khác với pháp luật được nêu tại khoản 2 ở trên có mối liên hệ gắn bó hơn với hợp đồng thì pháp luật áp dụng là pháp luật của nước đó (khoản 3, điều 683, BLDS 2015)
Cách quy định liệt kê như trên có ưu điểm là rõ ràng, dễ áp dụng cho các hợp đồng chuyên biệt, nhưng có nhược điểm là không đầy đủ và khó áp dụng cho các hợp đồng phức tạp có bản chất hỗn hợp Chúng ta hãy cùng xét ví dụ sau: Hợp đồng nhượng quyền thương mại được ký giữa bên nhượng quyền là một công ty đăng ký thành lập tại Pháp và bên nhận quyền là một công ty đăng ký thành lập tại Việt Nam Hợp đồng này vừa có nội dung về mua bán hàng hóa và cung ứng dịch
vụ vừa có quy định về chuyển giao quyền sử dụng quyền sở hữu công nghiệp Hợp đồng không có điều khoản lựa chọn pháp luật áp dụng Tranh chấp xảy ra liên quan đến việc thực hiện nghĩa vụ trợ giúp kỹ thuật và được giải quyết trước tòa án Việt Nam Do các bên không lựa chọn pháp luật áp dụng cho hợp đồng nên tòa án Việt Nam sẽ áp dụng điều 683 BLDS 2015 Do hợp đồng này có đối tượng là mua bán hàng hóa và cung ứng dịch vụ nên pháp luật áp dụng sẽ là pháp luật của nước người bán và cung ứng dịch vụ đăng ký thành lập, tức là pháp luật Pháp Nhưng hợp đồng này cũng có đối tượng là chuyển giao quyền sử dụng nhãn hiệu, bí quyết kinh doanh từ bên nhượng quyền sang bên nhận quyền nên điểm c, khoản 2 điều
683 được áp dụng và kết quả là pháp luật Việt Nam được áp dụng Vấn đề còn phức tạp hơn nếu bên nhượng quyền chỉ định người người cung ứng dịch vụ cho bên nhận quyền là một pháp nhân đăng ký thành lập tại Mỹ Lúc này sẽ có ba hệ thống luật được áp dụng: pháp luật của Pháp - pháp luật của nước người bán đăng
Trang 8ký thành lập; pháp luật của Mỹ - pháp luật của nước người cung cấp dịch vụ đăng
ký thành lập; và pháp luật Việt Nam - pháp luật của nước người nhận quyền thành lập Phải áp dụng pháp luật của nước nào trong ba hệ thống pháp luật kể trên? Quy định giải quyết xung đột luật của Việt Nam vô tình đã tạo ra thêm xung đột Chúng
ta cần lưu ý là Nghị định Rome năm 2008 nêu rõ luật áp dụng đối với hợp đồng nhượng quyền là luật của nước bên nhận quyền thường trú (điều 4-1-e), chứ không nêu chung chung như pháp luật Việt Nam
Ngoài ra, điểm đ, khoản 2, điều 683 vừa nêu còn có nhược điểm là chỉ quy định duy nhất một dấu hiệu để xác định nơi có mối liên hệ gắn bó nhất, đó là nơi cư trú Nếu không xác định được nơi người tiêu dùng cư trú thì pháp luật của nước nào sẽ được áp dụng?
Trước sự chưa rõ ràng của quy phạm phân tích ở trên, các bên trong hợp đồng nên thực hiện quyền lựa chọn pháp luật áp dụng cho hợp đồng của mình, đặc biệt khi hợp đồng phức tạp có bản chất hỗn hợp
III QUAN ĐIỂM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT XUNG ĐỘT PHÁP LUẬT VỀ NỘI DUNG HỢP ĐỒNG
Đối với vấn đề thỏa thuận lựa chọn luật áp dụng đối với hợp đồng có yếu tố nước ngoài, pháp luật Việt Nam cần phải sửa đổi bổ sung theo hướng sau:
Thỏa thuận lựa chọn luật áp dụng cho một phần Hợp đồng
Pháp luật Việt Nam hiện hành không có quy định về việc các bên có được lựa chọn luật áp dụng cho một phần hợp đồng hay không Đối với hợp đồng có yếu tố nước ngoài thường là những vấn đề phức tạp và các bên không lường trước được cho nên bộ luật dân sự 2015 nên quy định theo hướng cho phép các bên lựa chọn luật áp dụng cho một phần hợp đồng và được lựa chọn hơn nhiều hệ thống pháp luật
Thỏa thuận lựa chọn một hệ thống pháp luật không có mối quan hệ gắn bó với hợp đồng đã tụ để áp dụng
Trang 9Pháp luật Việt Nam chưa có quy định đối với việc các chủ thể trong hợp đồng
có yếu tố nước ngoài lựa chọn một hệ thống pháp luật không có mối liên hệ gắn bó với hợp đồng Thực tiễn hoạt động thương mại quốc tế cũng cho thấy, các bên thường có xu hướng lựa chọn một hệ thống pháp luật không có mối liên hệ gắn bó với hợp đồng hoặc lựa chọn tập quán thương mại quốc tế để điều chỉnh các quan
hệ hợp đồng Vì vậy, bộ luật dân sự 2015 cần bổ sung quy định theo hướng chấp nhận các bên được quyền lựa chọn một hệ thống pháp luật không có mối liên hệ gắn bó với hợp đồng để điều chỉnh hợp đồng vì các lý do:
Thứ nhất, nguyên tắc hợp đồng theo pháp luật Việt Nam nói chung và hầu hết
các quốc gia trên thế giới là nguyên tắc tự do thỏa thuận của các bên Vì vậy, cần phải đảm bảo sự tôn trọng tối đa quyền tự thỏa thuận của các bên
Thứ hai, việc cho thỏa thuận lựa chọn pháp luật của nước thứ ba như một giải
pháp trung hòa sẽ giúp cho các bên thực hiện hợp đồng dễ dàng hơn trong trường hợp Việt Nam không muốn áp dụng luật của bên nước ngoài và bên nước ngoài không muốn áp dụng luật Việt Nam
Thứ ba, phù hợp với nguyên tắc các bên được quyền thỏa thuận lựa chọn nhiều
hệ thống pháp luật áp dụng cho một quan hệ hợp đồng như đã phân tích ở trên
Thứ tư, việc tự do thỏa thuận này phù hợp với thông lệ Quốc tế khi các bên còn
được phép thỏa thuận lựa chọn tập quán thương mại quốc tế hay những nguyên tắc của hợp đồng thương mại quốc tế đã được thừa nhận rộng rãi
Hoàn thiện pháp luật về giải quyết xung đột pháp luật về nội dung hợp đồng để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của các chủ thể nước ngoài khi tham gia giao kết hợp đồng với chủ thể Việt Nam
Các chủ thể tham gia vào quan hệ hợp đồng có yếu tố nước ngoài là các chủ thể Việt Nam và các chủ thể nước ngoài Do đó, việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể trong và ngoài nước là việc làm cần thiết trong bối cảnh Việt Nam ngày càng hội nhập về cả chiều rộng lẫn chiều sâu vào nền kinh tế thế giới và khu vực Vì vậy, Việt Nam cần phải xây dựng những quy định pháp luật trong đó có
Trang 10các quy định giải quyết xung đột pháp luật về nội dung hợp đồng để điều chỉnh các quan hệ pháp luật về hợp đồng có yếu tố nước ngoài Việc xây dựng các quy định pháp luật này không chỉ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể Việt Nam mà còn bảo vệ các chủ thể nước ngoài tránh được rủi ro về mặt pháp lý khi tiến hành hoạt động kinh doanh tại Việt Nam
Việc hoàn thiện pháp luật liên quan đến việc giải quyết xung đột pháp luật về nội dung hợp đồng phải đảm bảo tính linh hoạt, mềm dẻo và đặc biệt là nhà nước không được can thiệp vào quyền tự định đoạt của các chủ thể, ngoại trừ trường hợp trái với chuẩn mực đạo đức hoặc ảnh hưởng đến trật tự công cộng Trên thực tế hệ thống pháp luật Việt Nam còn có sự chồng chéo bởi lẽ hệ thống pháp luật Việt Nam khá phức tạp với nhiều loại luật, quy định và các văn bản dưới luật Ngay cả người Việt Nam cũng khó có khả năng tiếp cận với các văn bản này nhất là tình trạng “công văn hướng dẫn luật” và hiểu được các văn bản này Vì vậy, các chủ thể nước ngoài còn gặp khó khăn hơn rất nhiều
KẾT LUẬN
Với việc Việt Nam đang ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới thì càng có nhiều chủ thể đến từ các quốc gia khác nhau đến Việt Nam để tiến hành hoạt động kinh doanh Khi tiến hành giao kết hợp đồng của các chủ thể các quốc gia với hệ thống pháp luật khác nhau dẫn đến hiện tượng xung đột pháp luật Bởi
vì, hợp đồng có yếu tố nước ngoài chịu sự điều chỉnh của pháp luật quốc gia của các chủ thể và các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết và gia nhập, ngoài ra còn chịu sự điều chỉnh của các tập quán quốc tế Thực trạng việc giải quyết xung đột pháp luật về hợp đồng có yếu tố nước ngoài của Việt Nam trong thời gian qua
đã bộc lộ rất nhiều thiếu sót, hạn chế và kém khả thi, vì vậy sự cấp thiết là phải nhanh chóng hoàn thiện các quy định về giải quyết xung đột pháp luật về hợp đồng
để phù hợp với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam