N kể với bạn trai là H về mâu thuẫn với bạn cùng thuê phòng trọ là D và cho rằng D đã xúc phạm đến N và H. Để giải quyết mâu thuẫn nên khoảng 21 giờ, H đến phòng trọ của D, cố tình ở lại chơi khuya với mục đích là chờ mọi người xung quanh ngủ hết mới hành động. Đến khoảng 1 giờ sáng, H bất ngờ bóp cổ, đập đầu D nhiều lần vào tường đến khi thấy D bất tỉnh thì H mới thôi. H bế D đặt lên giường và đắp chăn kín. Khoảng 3 giờ sáng, bà S là chủ nhà thấy cửa phòng trọ không khóa và nghe thấy có tiếng kêu cứu nên gọi mọi người xung quanh đến và đưa D đi cấp cứu. D bị tổn hại 45% sức khỏe . Sau khi tiến hành điều tra, công an đã bắt giữ H. H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. H bị truy cứu TNHS về tội giết người theo Khoản 1 Điều 93.
Trang 1ĐỀ BÀI
N kể với bạn trai là H về mâu thuẫn với bạn cùng thuê phòng trọ là D và cho rằng D đã xúc phạm đến N và H Để giải quyết mâu thuẫn nên khoảng 21 giờ, H đến phòng trọ của D, cố tình ở lại chơi khuya với mục đích là chờ mọi người xung quanh ngủ hết mới hành động
Đến khoảng 1 giờ sáng, H bất ngờ bóp cổ, đập đầu D nhiều lần vào tường đến khi thấy D bất tỉnh thì H mới thôi H bế D đặt lên giường và đắp chăn kín Khoảng 3 giờ sáng, bà S là chủ nhà thấy cửa phòng trọ không khóa và nghe thấy có tiếng kêu cứu nên gọi mọi người xung quanh đến và đưa D đi cấp cứu D bị tổn hại 45% sức khỏe Sau khi tiến hành điều tra, công an đã bắt giữ H H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội H bị truy cứu TNHS về tội giết người theo Khoản 1 Điều 93
Câu hỏi:
1 Từ các dữ liệu đã cho, hãy xác định hình thức lỗi của H? (2 điểm)
2 N có bị coi là đồng phạm với H không? Tại sao? (1 điểm)
3 Giả định H đang có án tích về tội cướp giật tài sản (Điều 136 BLHS) nay lại phạm tội giết người theo tình huống nêu trên thì H phạm tội có tình tiết tái phạm hay tái phạm nguy hiểm (2 điểm)
4 Giả định H là người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi thì
H có phải chịu TNHS về tội giết người trong tình huống nêu trên không? Nếu
có, H sẽ phải chịu mức hình phạt cao nhất là như thế nào? (2 điểm)
Trang 2BÀI LÀM
1 Từ các dữ liệu đã cho, hãy xác định hình thức lỗi của H?
H phạm lỗi cố ý gián tiếp, vì:
Lỗi về nội dung: một người bi coi là có lỗi khi tực hiện hành vi gây hại cho xã hội nếu đó là kết quả do chủ thể tự lựa chon và quyết đinh trong khi có
đủ điều kiện về khách quan và chủ quan để lựa chon và quyết định một xử sự khác không gây hại cho xã hội
Lỗi về hình thức: là thái độ tâm lý của chủ thể đối với hành vi và hậu quả nguy hiểm cho xã hội Thể hiện dưới hinh thức cố ý và vô ý
Trong tình huống nêu trên, H thực hiện hành vi khi có đầy đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, ý thức và nhận thấy trước hậu quả xảy ra
Như vậy, hình thức lỗi của H là lỗi cố ý.
Điều 9 BLHS 1999 sửa đổi 2009: Cố ý phạm tội chia làm 2 loại
Lỗi cố ý trực tiếp là lỗi của người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho
xã hội, nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra
+ Về lý trí: Người phạm tội nhận thức rõ tính chất nguy hiểm cho xã hội từ hành vi của mình và thấy trước hậu quả tất yếu của hành vi đó
+ Về ý chí: Người phạm tội mong muốn hậu quả sảy ra
Lỗi cố ý gián tiếp là lỗi của người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho
xã hội, nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó tuy không mong muốn nhưng có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra
Trang 3+ Về lý trí: Người phạm tội nhận thức rõ tính chất nguy hiểm cho xã hội từ hành vi của mình, thấy trước hành vi đó có thể gây ra hậu quả nguy hiểm cho
xã hội
+ Về ý chí: Người phạm tội không mong muốn cho hậu quả nguy hiểm cho xã hội xảy ra nhưng có thái độ bỏ mặc
Áp dụng tình huống: Đối với trường hợp của H trong tình huống này:
+ Về lý trí: Vì sau khi nghe N (là người yêu của H) kể về mâu thuẫn giữa
N và D nên H đến phòng trọ của D, ở lại chơi khuya nhằm mục đích chờ mọi người ngủ hết rồi hành động cho dễ dàng H dùng tay bóp cổ và đập đầu D nhiều lần liên tiếp vào tường chứng tỏ H nhận thức được rõ tính chất nguy hiểm của hành vi của mình và thấy trước hậu quả của hành vi đó sẽ làm nguy hiểm đến sức khỏe, tính mạng của D
+ Về ý chí: sau khi dùng tay bóp cổ và đập đầu D nhiều lần vào tường, thấy D bất tỉnh H mới thôi Mặt khác, ngay sau khi dừng lại, H đã bế D đặt nằm lên giường và đắp kín chăn lại Hành động bế D và đắp kín chăn chứng
tỏ H có ý để mặc cho D, nhận thấy D có thể nguy hiểm đến tính mạng tuy không mong muốn D sẽ chết nhưng cố ý để D nằm lại trong tình trạng bất tỉnh mà bỏ đi thì có thể sẽ có người đến cứu D hoặc D sẽ chết Với H thì D thế nào cũng được
Từ những phân tích trên, ta kết luận, hình thức lỗi của H khi phạm tội là
lỗi: Cố ý gián tiếp.
2 N có bị coi là đồng phạm với H không? Tại sao?
N và H có thể là đồng phạm hoặc không là đồng phạm, vì:
Theo Điều 20 BLHS: Đồng phạm
Trang 4Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm.
Người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức đều là những người đồng phạm.
Một người bị coi là đồng phạm khi thỏa mãn những dấu hiệu sau:
Những dấu hiệu về mặt khách quan gồm:
Tội phạm phải có từ hai người trở lên và những người này có đủ điều kiện của chủ thể của tội phạm Đó là có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự
Những người này phải cùng thực hiện tội phạm cố ý Có nghĩa là người đồng phạm phải tham gia vào việc thực hiện tội phạm, tổ chức việc thực hiện tội phạm, giúp sức, xúi giục người tham gia vào vụ đông phạm đềucó hành vi nguy hiểm cho xã hội hành vi của mỗi người có sự liên kết thống nhất với nhau, là điều kiện hỗ trợ cho hoạt động chung
Những dấu hiệu về mặt chủ quan gồm:
+ Dấu hiệu lỗi:
Về lí trí: Mỗi người đều nhận thức hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội và đều biết người khác cũng có hành vi nguy hiểm cho xã hội cùng với mình Bên cạnh đó, mỗi người đồng phạm còn thấy trước được hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình cũng như hậu quả chung của tội phạm
mà họ tham gia thực hiện
Về ý chí: Những người đồng phạm cùng mong muốn có hoạt động chung
và cùng mong muốn hoặc cùng có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra
Trang 5+ Dấu hiệu mục đích: đồng phạm cùng mục đích trong trường hợp đồng phạm những tội có mục đích là dấu hiệu bắt buộc, có thể là cùng hoặc biết và tiếp nhận mục đích của nhau
Áp dụng tình huống:
Trường hợp 1: N và H không được coi là đồng phạm
Về mặt khách quan : mặc dù N và H thỏa mãn số người được quy định để
bị coi là đồng phạm và có đủ điều kiện về năng lực trách nhiệm hình sự cũng như đạt độ tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự Tuy nhiên, H và N không cùng thực hiện hành vi giết D Và N không tham gia vào bốn hành vi (trực tiếp thực hiện tội phạm, tổ chức thực hiện tội phạm, xúi giục thực hiện tội phạm, giúp sức thực hiện tội phạm)
Về mặt chủ quan : N không có ý định hay có hành vi cố ý giết D N không biết được H lại có ý định giết D chỉ sau vài lời nói tố cáo D nói xúc phạm N
và H N nói chỉ đơn giản là kể lại cho bạn trai mình biết hành động của D
Trường hợp 2: N và H được coi là đồng phạm
Về mặt chủ quan: Ta xét thấy có thể N kể với H chuyện D nói xấu mình và
cả hai đều cho rằng D đáng ghét và có ý không tốt với mình nên cả hai nảy sinh ra ý định đánh D cho bõ tức Ta thấy TH này khác vơi TH không phải đồng phạm ở chỗ N biết hành vi của H là nguy hiểm cho xã hôi và đều có chung mục đích là cho D một bài học nhớ đời, cứ đánh D cho bo tức cong D
có chết không thì do số của D
Về mặt khách quan: N và H đều đủ điều kiện chủ thế của tội phạm và theo từng điều kiện thì N có thể là:
Người tổ chức: N quá tức tối vì D là bạn cùng phòng mà lại nói xấu mình
Trang 6Người xúi giục: N kể cho H về D như bình thường, sau đó vì thù hằn gì D nên cố ý nịnh nọt, kích động H lợi dụng việc này để trả thù riêng…
Người giúp sức: biết H sẽ đập đầu D sẽ gây ra tiếng động nên tối đó N tìm
đủ lý do để mọi người về muộn hơn tạo điều kiện cho H xử lý D như: mời mọi người đi hát hay ăn đêm…
Vì vậy N và H có phải là đồng phạm hay không phải xem xét kỹ các tình tiết cụ thể đã xảy ra
3 Giả định H đang có án tích về tội cướp giật tài sản (Điều 136 BLHS) nay lại phạm tội giết người theo tình huống nêu trên thì H phạm tội có tình tiết tái phạm hay tái phạm nguy hiểm.
H phạm tội có tình tiết tái phạm hay tái phạm nguy hiểm, tùy vào việc H đang có án tích về tội cướp giật tài sản mà mức cao nhất của khung hình phạt theo từng khoản của Điều 136 BLHS
Điều 49 BLHS 1999 sửa đổi bổ sung 2009 quy định:
1 Tái phạm là trường hợp đã bị kết án, chưa được xoá án tích mà lại phạm tội do cố ý hoặc phạm tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng
do vô ý.
2 Những trường hợp sau đây được coi là tái phạm nguy hiểm:
a) Đã bị kết án về tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xoá án tích mà lại phạm tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý;
b) Đã tái phạm, chưa được xoá án tích mà lại phạm tội do cố ý
Áp dụng tình huống:
Trang 7H bị truy cứu TNHS vì tội giết người có tính chất côn đồ theo khoản 1 Điều 93 BLHS vì hành vi giết người là D với lý do nhỏ nhặt là xích mích với bạn gái N của H Mức cao nhất của khung hình phạt với tội danh của H là tử hình như vậy thì tội phạm mà H thực hiện là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng
Trường hợp 1: Tái phạm nguy hiểm
Theo khoản 2, 3, 4 Điều 136 ta thấy mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội cướp giật tài sản lần lượt là mười năm, mười lăm năm và chung thân; đây là tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý Kết hợp với điểm a, khoản 2 Điều 49, H chưa được xóa án tích mà lại phạm tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý thì đây là tái phạm nguy hiểm
Trường hợp 2: Tái phạm
Khi H đã bị kết án vì tội ít nghiêm trọng và nghiêm trọng do cướp giật tài sản và chưa được xóa án tích, đồng thời H lại phạm tội đặc biệt nghiêm trọng
do cố ý nên trong TH này H có hành vi tái phạm
4 Giả định H là người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi thì H có phải chịu TNHS về tội giết người trong tình huống nêu trên không? Nếu có, H sẽ phải chịu mức hình phạt cao nhất là như thế nào?
H phải chịu TNHS về tội giết người và mức chịu hình phạt cao nhất áp dụng theo điều 74 BLHS
Điều 12 BLHS quy định tuổi chịu trách nhiệm hình sự:
1 Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm.
2 Người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt
Trang 8Các quy định này thể hiện thái độ đối của Nhà nước đối với người chưa thành niên phạm tội đồng thời thể hiện yêu cầu của cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm Người chưa thành niên là người chưa phát triển đầy đủ về thể chất cũng như về tâm- sinh lí, trình độ nhận thức và kinh nghiệm sống của họ còn bị hạn chế, thiếu những điều kiên và bản lĩnh tự lập Khả năng tự kiềm chế chưa cao Do vậy mà họ dễ bị kích động, lôi kéo dũ dỗ vào việc thực hiện tội phạm nhưng cũng dễ uốn nắn, cải tạo, giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội
Xuất phát từ những đặc điểm tâm lí và yêu cầu của việc phòng ngừa tội phạm do người chưa thành niên phạm tội, Bộ luật hình sự đã đưa ra những nguyên tắc đặc thù về xử lí người chưa thành niên phạm tội
Điều 69 BLHS: Nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội
1 Việc xử lý người chưa thành niên phạm tội chủ yếu nhằm giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành công dân có ích cho xã hội…
2 …
3 Việc truy cứu trách nhiệm hình sự người chưa thành niên phạm tội và
áp dụng hình phạt đối với họ được thực hiện chỉ trong trường hợp cần thiết…
4 Khi xét xử, nếu thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội, thì Toà án áp dụng một trong các biện pháp
tư pháp được quy định tại Điều 70 của Bộ luật này
5 Không xử phạt tù chung thân hoặc tử hình đối với người chưa thành niên phạm tội Khi xử phạt tù có thời hạn, Toà án cho người chưa thành niên phạm tội được hưởng mức án nhẹ hơn mức án áp dụng đối với người đã thành niên phạm tội tương ứng Không áp dụng hình phạt tiền đối với người
Trang 9chưa thành niên phạm tội ở độ tuổi từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với người chưa thành niên phạm tội…
Điều 71 BLHS: Các hình phạt được áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội gồm: cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn
Điều 74 BLHS: Tù có thời hạn
1 Đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá mười tám năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá ba phần tư mức phạt tù là điều luật quy định;
2 Đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá mười hai năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá một phần hai mức phạt tù mà điều luật quy định
Áp dụng tình huống:
Hành vi của H bị truy cứu vì tội giết người theo Khoản 1 Điều 93 Bộ luật hình sự và khung hình phạt cao nhất đối với hành vi này là bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình Do vậy thuộc vào loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng
Do đó, theo điều 12 BLHS H từ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự vì tội cố ý giết người theo Khoản 1 Điều 93 (tội đặc biệt nghiêm trọng)
Trang 10cho xã hội thì hành vi cố ý của H có mức độ nguy hại cho xã hội đặc biệt nghiêm trọng do đã xâm phạm đến tính mạng con người (được luật HS bảo vệ đầu tiên) nên các hình phạt cảnh cáo và phạt tiền…đều không được áp dụng Riêng đối với phạt tiền thì chỉ được áp dụng đối với người từ đủ 16 đến dưới
18 tuổi nếu có thu nhập hoặc tài sản riêng theo Điều 72 BLHS Vì vậy trường hợp của H áp dụng tù có thời hạn theo Điều 74 BLHS
Mức hình phạt cao nhất theo Điều 74 BLHS:
Do trường hợp của H chưa rõ độ tuổi phạm tội là bao nhiêu tuổi nên có 2 trường hợp:
Trường hợp 1: H từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi: Theo như quy định tại khoản 1 điều 74 bộ luật hình sự thì mức hình phạt cao nhất đối với hành vi cố
ý giết người của H là 18 năm tù
Trường hợp 2: H từ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi: Mức hình phạt cao nhất đối với hành vi giết người của H là không quá 12 năm tù
Tuy nhiên trong quá trình xét xử, ngoài yếu tố độ tuổi Toàn án cũng có thể xem xét các yếu tố giảm nhẹ hình phạt khác cho người phạm tội (có thể dưới mức thấp nhất của khung hình phạt) Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điều 46 bộ luật hình sự hoặc các tình tiết khác Tòa xem là hợp lý
Trong quá trình làm bài tuy đã rất cố gắng nhưng vẫn không thể tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được sự góp ý của thầy cô để bài của chúng
em được hoàn chỉnh hơn!
Em xin trân thành cảm ơn !