1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

vận dụng nội dung và ý nghĩa của phương pháp luận của cặp phạm ản chất và hiện tượng để giải quyết một tình huống trong lĩnh vực tự nhiên hoặc xã hộtrù bi hoặc tư duy

13 264 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 1,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phép biện chứng duy vật là một bộ phận lý luận cơ bản hợp thành thế giới quan và phương pháp luận triết học Mác Lênin. Với tư cách là khoa học về mối lien hệ phổ biến và sự phát triển, phép biện chứng khái quát những mối liên hệ phổ biến nhất bao quát các lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy vào các cặp phạm trù cơ bản, đó là các cặp phạm trù: cái chung và cái riêng, tất nhiên và ngẫu nhiên, nội dung và hình thức, bản chất và hình thức, bản chất và hiện tượng, khả năng và hiện thực, nguyên nhân và kết quả. Trong sự vận động của hiện thực, mối liên hệ bản chất và hiện tượng là mối liên hệ được lặp đi lặp lại rất nhiều và rất phổ biến. Do đó có thể nói, mối liên hệ bản chất – hiện tượng là một trong những mối liên hệ đầu tiên được phản ánh vào trong đầu óc của con người.Mối liên hệ giữa bản chất hiện tượng là mối liên hệ vốn có của thế giới vật chất, nó không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người. Với mong muốn hiểu rõ ràng hơn về ý nghĩa và sự giải thích một cách khách quan, khoa học của phép biện chứng duy vật, nhóm A1 lớp 4006 đã chọn đề tài số 5 “vận dụng nội dung và ý nghĩa của phương pháp luận của cặp phạm trù bản chất và hiện tượng để giải quyết một tình huống trong lĩnh vực tự nhiên hoặc xã hội hoặc tư duy” và và tiến hành phân tích, bình luận để hoàn thành bài tiểu luận của mình. Do còn nhiều hạn chế trong quá trình nhận thức, bài làm không tránh khỏi những sai sót, những khuyết điểm cần sửa chữa. Vậy nên nhóm A1 mong nhận được thật nhiều những ý kiến đóng góp từ thầy cô và các bạn.

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Phép biện chứng duy vật là một bộ phận lý luận cơ bản hợp thành thế giới quan và phương pháp luận triết học Mác Lê-nin Với tư cách là khoa học về mối lien hệ phổ biến và sự phát triển, phép biện chứng khái quát những mối liên hệ phổ biến nhất bao quát các lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy vào các cặp phạm trù cơ bản, đó là các cặp phạm trù: cái chung và cái riêng, tất nhiên và ngẫu nhiên, nội dung và hình thức, bản chất và hình thức, bản chất và hiện tượng, khả năng và hiện thực, nguyên nhân và kết quả.

Trong sự vận động của hiện thực, mối liên hệ bản chất và hiện tượng là mối liên hệ được lặp đi lặp lại rất nhiều và rất phổ biến Do đó có thể nói, mối liên hệ bản chất – hiện tượng là một trong những mối liên hệ đầu tiên được phản ánh vào trong đầu óc của con người.Mối liên hệ giữa bản chất- hiện tượng là mối liên hệ vốn có của thế giới vật chất, nó không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người Với mong muốn hiểu rõ ràng hơn về ý nghĩa và sự giải thích một cách khách quan, khoa học của phép biện chứng duy vật, nhóm A1 lớp 4006 đã chọn đề

tài số 5 “vận dụng nội dung và ý nghĩa của phương pháp luận của cặp phạm trù bản chất và hiện tượng để giải quyết một tình huống trong lĩnh vực tự nhiên hoặc xã hội hoặc tư duy” và và tiến hành phân tích, bình luận để hoàn thành bài

tiểu luận của mình Do còn nhiều hạn chế trong quá trình nhận thức, bài làm không tránh khỏi những sai sót, những khuyết điểm cần sửa chữa Vậy nên nhóm A1 mong nhận được thật nhiều những ý kiến đóng góp từ thầy cô và các bạn.

Xin chân thành cảm ơn!

Trang 2

CHƯƠNG I: PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT VỀ CẶP PHẠM TRÙ BẢN CHẤT VÀ HIỆN TƯỢNG

Phạm trù là những khái niệm rộng nhất, phản ánh những mặt, những thuộc tính, những mối liên hệ chung, cơ bản nhất của các sự vật hiện tượng thuộc một lĩnh vực nhất định Phạm trù bản chất- hiện tượng là một trong sáu cặp phạm trù cơ bản nhất của phép biện chứng duy vật, dùng để chỉ mối quan hệ biện chứng giữa hai phạm trù bản chất và hiện tượng

1 Khái niệm:

Bản chất là tổng hợp tất cả những mặt, những mối liên hệ tất nhiên, tương đối ổn định bên trong sự vật, quy định sự vận động và phát triển của sự vật Hiện tượng là biểu hiện ra bên ngoài của bản chất.

2 Mối quan hệ biện chứng giữa bản chất và hiện tượng:

Quan điểm duy tâm không giải quyết đúng đắn mối quan hệ biện chứng giữa bản chất và hiện tượng Vì họ không thừa nhận hoặc không hiểu đúng

sự tồn tại khách quan của bản chất và hiện tượng

VD: Những người duy tâm chủ quan cho rằng bản chất không tồn tại thật sự, bản chất chỉ là tên gọi trống rỗng do con người bịa ra, còn hiện tượng dù có tồn tại nhưng đó chỉ là sự tổng hợp những cảm giác con người Số khác theo chủ nghĩa duy tâm khách quan tuy thừa nhận sự tồn tại thực sự nhưng đó không phải của bản than sự vật mà theo họ đó chỉ là những thực thể tinh thần (Platon nói thế giới là những thực thể tinh thần tồn tại vĩnh viễn và bất biến là bản chất cảm nhận được chỉ là hình bóng của những thực thể tinh thần mà thôi…) Những quan điểm này không được khoa học và thực tiễn thừa nhận

Trái với quan điểm trên, chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng, cả bản chất và hiện tượng đều tồn tại khách quan là cái vốn có của sự vật không

do ai sáng tạo ra, bởi vì sự vật nào cũng được đan xen, chằng chịt Trong đó những mối liên hệ tất nhiên, tương đối ổn định Những mối liên hệ tất nhiên

đó phải được tạo do cảm giác chủ quan của con người quyết định Chủ nghĩa duy vật biện chứng không chỉ thừa nhận sự tồn tại khách quan của bản chất

Trang 3

và hiện tượng, mà còn cho rằng, giữa chúng có mối quan hệ chặt chẽ thống nhất với nhau, vừa mâu thuẫn vừa đối lập

+ Sự thống nhất giữa bản chất và hiện tượng:

Sự thống nhất này trước hết nằm ở chỗ bản chất luôn luôn được hiện

ra qua hiện tượng, còn hiện tượng nào cúng là sự biểu hiện của bản chất ở mức độ nhất định Không có bản chất nào tồn tại có thuần túy ngoài hiện tượng cũng như không có hiện tượng nào hoàn toàn không biểu hiện bản chất Chính nhờ sự thống nhất này mà người ta có thể có thể tìm ra cái bản chất Khi bản chất bị tiêu diệt thì sớn muộn hiện tượng sinh ra cũng biến mất theo Bản chất mới ra đời thì các hiện tượng mới phù hợp với nó dần xuất hiện Chính vì có sự thống nhất đó mà con người mới có thể thông qua những hiện tượng để nhận thức bản chất, phát hiện ra những quy luật phát triển sự vật

+ Sự mâu thuẫn giữa bản chất và hiện tượng:

Đó là sự mâu thuẫn giữa cái bên trong với bên ngoài Bản chất phản ánh cái chung sâu xa, bên trong sự vật Hiện tượng phản ánh cái riêng, bên ngoài sự vật Tất cả hiện tượng biểu hiện bản chất theo nhiều cách khác nhau: có hiện tượng biểu hiện một phần bản chất, thậm chí là tương đối đầy

đủ, tuy nhiên, rất nhiều lần hiện tượng không phản ánh đúng bản chất , sai lệch bởi bản chất được bộc lộ từ một vài hiện tượng thì con người chỉ cần dung giác quan để nhận xét sự vật cứ không phải phát triển khoa học kỹ thuật làm gì Sự mâu thuẫn này là mâu thuẫn tương đối ổn định và thường xuyên biến đổi Bản chất của sự vật tồn tại trong suốt quá trình phát triển của

nó và bản chất chỉ mất đi khi sự vật mất đi, trong khi đó, sự vật luôn biến đổi với nhiều hiện tượng khác nhau tùy theo từng điều kiện bên ngoài

+ Hiện tượng phong phú hơn bản chất còn bản chất thì sâu sắc hơn hiện tượng Hiện tượng phong phú hơn hẳn vì ngoài bản chung mà chúng có thì mỗi hiện tượng lại có những nhân tố cá biệt mà chỉ riêng nó có vì bản chất là cái tương đối ổn định ở trong còn hiện tượng biểu hiện ra bên

ngoài.Ngược lại, bản chất sâu sắc hơn vì nó là những mối liên hệ tất nhiên bên trong,là những quy định quyết định sự tồn tại và phát triển của sự vật, nó

Trang 4

được lặp lại trong những hiện tượng khác nhau, biểu hiện quy luật phát triển chung của sự vật đó

3 Ý nhĩa phương pháp luận:

Bản chất không tồn tại thuần túy mà biểu hiện qua hiện tượng, vì vậy muốn nhận thức được bản chất của sự vật phải xuất phát từ thực tế Tuy nhiên, bản chất không được thể hiện chỉ bằng một hiện tượng nên ta phải phân tích, nhận thức nhiều hiện tượng rồi mới đưa ra đánh giá về sự vật Nhận thức bản chất của sự vật là một quá trình đi từ hiện tượng đến bản chất, từ bản chất ít sâu sắc đến sâu sắc hơn

Bản chất là cái tự nhiên, hiện tượng thì không ổn định, không quyết định dự phát triển của sự vật Do vậy nhận thức không dừng lại ở hiện tượng mà là ở bản chất sự vật Còn trong thực tiễn, phải dựa vào bản chất để xác định phương thức hoạt động cải tạo sự vật không được dựa và hiện tượng

CHƯƠNG II: VẬN DỤNG NỘI DUNG VÀ Ý NGHĨA PHƯƠNG

PHÁP LUẬN CỦA CẶP PHẠM TRÙ BẢN CHẤT VÀ HIỆN TƯỢNG VÀO VIỆC GIẢI QUYẾT VẤN NẠN BẠO LỰC HỌC ĐƯỜNG

1 Đặt vấn đề:

Bạo lực học đường được nghiên cứu từ những năm 70 thế kỷ trước với các công trình nghiên cứu của nhà tâm lý học Na Uy Vấn đề bạo lực nói chung

và bạo lực học đường nói riêng được ông đề cập như là một trong những nghiên cứu chuyên sâu…

Bạo lực và học đường học đường ở Việt Nam đã xuất hiện từ rất lâu Nó trở thành một trong những nguyên nhân gây ra sự đau khổ cho các nạn nhân Bạo lực học đường có thể xảy ra ở tất cả các bậc học, tù mầm non (vụ “chiếc thùng phi xanh”), học sinh tiểu học, học sinh THCS, THPT và cả sinh viên đại học Tuy nhiên, trong một thời gian dài chúng ta đã xem nhẹ vấn đề này, thậm chí, một số cá nhân còn xem đó là một phần tự nhiên của quá trình phát triển tâm sinh lý của con người Mặt khác, bạo lực học đường chỉ được nghiên cứu lồng ghép trong các chương trình nghiên cứu về bạo lực đối với trẻ em nói chung Đây cũng chính là nguyên nhân làm cho nghiên cứu về

Trang 5

bạo lực học đường còn thiếu sự hệ thống, chuyên sâu trên bình diện khái niệm và cả thực tiễn…

2 Mối quan hệ giữa cặp phạm trù bản chất hiện tượng của vấn nạn bạo lực học đường

a, Những hiện tượng của vấn nạn bạo lực học đường

Hiện nay, vấn nạn bạo lực học đường được diên ra thông qua hai hình

thức, đó là: bạo lực tinh thần – xúc phạm, xỉ nhục, lăng mạ làm ảnh hưởng đến tinh thần và danh dự con người; bạo lực thể xác - đánh đập, tra tấn,

hành hạ, làm tổn hại sức khỏe, xâm hại đến cơ thể con người

Mặc dù, bạo lực học đường không phải là vấn nạn mới, nhưng với tính chất nguy hại và nghiêm trọng như hiện nay, bạo lực học đường trở thành vấn nạn nhức nhối không chỉ của nền giáo dục Việt Nam mà còn là của xã hội

Nếu trước kia bạo lực học đường thường xuất hiện với nam sinh thì ngày nay tính chất phức tạp trong việc nghiên cứu đối tượng của nạn bạo lực học đường đã mở rộng quy mô rất nhiều Không chỉ nam sinh mà ngay cả nữ sinh cũng có Tính chất bạo lực không chỉ dừng lại ở phía các em học sinh với nhau mà giờ còn xuất hiện những hiện tượng học sinh hành hung thầy,

cô giáo và ngược lại cũng có Đó là việc học sinh hành hung thầy, cô giáo và cũng có cả thầy cô giáo dùng lời lẽ xúc phạm học trò, dùng vũ lực để giáo dục học sinh,…

Theo ông Phùng Khắc Nguyên – nguyên Vụ trưởng Vụ công tác học sinh – sinh viên, Bộ GD&ĐT cho biết: thống kê từ 38 Sở GD&ĐT gửi về

Bộ từ năm 2003 đến năm 2009 có hơn 8000 vụ học sinh tham gia đánh nhua

và bị xử kỉ luật, theo báo cáo của Bộ GD&ĐT, năm học 2009-2010 trên toàn quốc xảy ra 1598 vụ học sinh đánh nhau trong và ngoài trường, các nhà trường đã xử lí khiển trách 881 học sinh, cảnh cáo 1558 học sinh, buộc thôi học có thời hạn là 735 học sinh Theo số lượng trường học và học sinh hiện sinh hiện nay thì cứ 5260 thì có 1 học sinh đánh nhau và cứ 9 trường thì lại xảy ra 1 vụ đánh nhau Cứ 10000 học sinh thì có 1 người bị kỉ luật

Trang 6

khiển trách, cứ PGS.TS Hoàng Bá Thịnh, chủ nhiệm bộ môn giới và địa

hình, Đại học khoa học và xã hội và nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội cùng cộng sự đã tiến hành nghiên cứu về hành vi bạo lực của nữ sinh trung học, khảo sát 200 phiếu tại trương THPT tại Đống Đa – Hà Nội, kết quả cho

thấy 96.7% số học sinh được hỏi cho rằng trường các em có hiện tượng nữ sinh đánh nhau, kết quả khảo sát cũng cho biết, có đến 64% các em thừa nhận đã từng có có hành vi đánh bạn khác, trong các em đã từng đánh nhau thì số nữ sinh 1 lần đánh nhau là 12.7%; 20.7% từ 2-3 lần;4-5 lần là 10.7% và 19.3% đánh nhau từ 5 lần trở lên Phần lớn các em nữ sinh đã có hành vi đánh nhau cho rằng bạo lực giữa nữ sinh là chuyện “bình thường” (57.3%) và “chấp nhận được” (36.9%) Không chỉ dừng lại ở đó, mức độ đánh nhau cũng được biểu hiện nguy hiểm bằng hình thức lây lan qua

nhóm, trong đó có 41-59.5% là đánh một mình, 47.7-52% đánh tập thể.

Nếu trước kia học sinh đánh nhau thường dùng vũ lực của bản thân thì nay không chỉ dừng lại ở đó, học sinh thường sử dụng những dụng cụ có tính chất nguy hiểm cao.Với nữ sinh thường đánh hội đồng như tát, đá, đấm, giật tóc, lột quần áo rồi tung lên mạng để làm nhục bạn trong phạm vi xã hội rộng lớn, như vậy không chỉ làm đau đớn vè thể xác mà còn ảnh hưởng hết sức nghiêm trọng đến tinh thần, thậm chí có thể làm bạn rơi vào những rối loạn tâm thần dẫn tới tử vong Với học sinh nam, không đơn thuần chỉ là gậy gộc mà còn là gạch, dao lam, mã tấu,… những phương tiện này tùy vào mức

độ mà có thể gây thương tích, thậm chí gây tàn phế và cướp đi mạng sống của học sinh

Trang 7

Ngoài ra, còn có rất nhiều vụ việc nổi sóng gây bão dư luận như:

Thầy giáo dùng gậy tre vụt vào mặt học sinh tại Thừa Thiên-Huế 17/4/2015

Nữ sinh vụt nhau bằng gậy sắt tại Đà Nẵng ngày 12/11/2015

Trang 8

b, Bản chất của vấn nạn bạo lực học đường

Hành vi bạo lực học đường là hành động mang tính bạo hành diễn ra trên những khách thể trong môi trường dẫn đến tổn thương về tinh thần, tâm lý và cả thể xác Nhìn một cách khái quát, hành vi bạo lực học đường là sử dụng vũ lực hay quyền lực một cách có ý thức để đe dọa hay thực sự uy hiếp một cá nhân hay một nhóm học sinh làm gây ra hay có nguy cơ gây ra thương tật, chết, tổn thương tâm lý, kìm hãm sự phát triển hay tước đoạt quyền của cá nhân hay nhóm học sinh đó Nói cách khác, hành vi này diễn ra trong quan hệ giữa các đối tượng trong học đường hoặc có liên quan đến học đường Hành vi này về cơ bản có đầy đủ những dấu hiệu của hành vi bạo lực và gây ra những hậu quả cả về thể chất và tinh thần từ hai phía trong mối quan hệ bạo lực học đường, đặc biệt là người bị hại

- Ảnh hưởng bản thân người bị bạo lực

Đối với bản thân, những vụ bạo lực học đường thường gây ra những hậu quả

về mặt thể xác Đó là những vết bầm tím, trầy xước, tổn thương vùng ngoài da, gãy

Trang 9

xương, thậm chí không ít vụ đã cướp đi tính mạng của người bị hại Về mặt tinh thần, những đứa trẻ bị bạo lực thường cảm thấy bị tổn thương, lo lắng, chán nản,cô đơn, mệt mỏi, ngoài ra còn rất dễ bị trầm cảm, sợ hãi, ám ảnh tự cô lập mình với thế giới bên ngoài gâu khó khăn cho cuộc sống thường ngày và ngay cả các em trưởng thành Không ít trường hợp có phản ứng tiêu cực như tự tử hoặc nổi loạn để trả thù

Đối với những đứa trẻ có hành vi bạo lực, quá trình học tập và trưởng thành của chúng bị ảnh hưởng nghiêm trọng Nhiều nghiên cứu chỉ ra những người có hành vi bạo lực sau này thường sa đọa vào những thói hư tật xấu, tệ nạn xã hội

- Ảnh hưởng đến gia đình

Với những gia đình có con em gây ra bạo lực học đường sẽ dẫn đến mâu thuẫn gia đình trong việc nuôi dạy và quản lí con cái Không chỉ vậy, cuộc sống gia đình cũng bị ảnh hưởng, xáo trộn do phản ứng của dư luận và mọi người xung quanh Chưa kể nếu những vụ bạo lực học đường gây ra hậu quả nghiêm trọng về mặt thể xác, gia đình chứ không ai khác là những người phải chịu trách nhiệm đầu tiên (chi phí giải quyết hậu quả, lời qua tiếng lại với xã hội,…)

Đối với gia đình có con em là nạn nhân, họ thường phải hứng chịu những nỗi đau về mặt tinh thần là không thể nào đong đếm được Không chỉ vậy, nó còn khiến cá bậc phụ huynh luôn sống trong tình trạng lo lắng về sự an toàn hay tương lai của con mình

- Ảnh hưởng đến xã hội

Tất nhiên danh tiếng của nhà trường và thành tích thi đua của lớp sẽ bị ảnh hưởng nặng nề Nhà trường luôn được ví như ngôi nhà thứ hai của học sinh, nhưng bạo lực học đường đã gây ra những ảnh hưởng xấu đến quá trình học tập chung vì các em không còn cảm thấy an toàn trong chính “ngôi nhà” của mình Nhiều học sinh tỏ ra sợ hãi khi đến trường, ngần ngại và vắng học thường xuyên…

Bạo lực học đường thể hiện sự thay đổi suy đổi về mặt đạo đức và sự sai lệch

về hành vi đáng bạo động của một bộ phận hiện nay trong xã hội Những vụ bạo lực học đường đã làm mất trật tự xã hội, ảnh hưởng đến thế hệ tương lai cũng như

sự phát triển của quốc gia

Trang 10

Mối quan hệ biện chứng giữa bản chất và hiện tượng trong vấn nạn bạo lực học đường

Bạo lực về vật chất này thực ra có liên quan đến bạo lực về thể chất hay về tâm lý-tình cảm Thế nhưng, xét ở một góc độ nhất định, những biểu hiện của hành vi bạo lực này thường hướng đến sự bắt ép có liên quan đến vật chất hay những phương tiện vật chất có liên quan Trong môi trường học đường, bạo lực vật chất này được xem là một đặc thù có liên quan rất chặt chẽ đến hành vi bắt nạt học đường hay bạo lực học đường diễn ra vì đôi lúc nó diễn ra hết sức “tự nhiên” Nhưng ngày nay, hành vi này cũng có những biểu hiện diễn ra có chủ đích, cụ thể, có tính toán hay thậm chí “tổ chức” nhóm Đó là một thực tế cần được xem xét mang tính khách quan và hệ thống

- Bạo lực về thể chất

Bạo lực thể chất là một hiện tượng rất nghiêm trọng, nó không chỉ ảnh hưởng đến người bị bạo lực mà còn ảnh hưởng đến người bị chứng kiến cảnh bạo lực Bạo lực về thể chất xảy ra khi một người bị người khác sử dụng công khai những hành động cơ bắp để áp đặt sức mạnh của họ lên người kia Bạo lực thể chất bao gồm các hành vi như đá, đấm, đánh…Trong thực tế, hành vi này có thể xảy ra ngay trong trường học hoặc giữa đường,…diễn ra ở nhiều dạng khác nhau, mức độ khác nhua tùy vào độ tuổi, văn hóa cũng như môi trường học đường

- Bạo lực về tâm lý, tình cảm

Bạo lực về tâm lý, tình cảm đối với học sinh trong môi trường được xác định gồm: lời nói, cử chỉ mang tính xúc phạm, dọa nạt, mắng mỏ, gây áp lực, bộc làm những việc mà người đó không muốn và các quan niệm gây ra hậu quả xấu

về mặt tâm lý tình cảm Đây là những hành vi gây sức ép đè nặng lên tâm lý và tinh thần của người bị hại

Bạo lực tâm lý tình cảm trong môi trường học đường được thể hiện dưới một số hình thức: dọa dẫm, đe dọa, sỉ nhục gây ức chế lo sợ cho người khác, Sự trêu

Ngày đăng: 15/10/2019, 23:25

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w