Ngữ văn là một môn học đặc biệt, bởi quan điểm tích hợp được thể hiện ngay từ trong tên gọi của môn học này.Những hiểu biết, kiến thức về văn hóa học, sử học, tư tưởng đạo đức đã được sử
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN THANH HƯỜNG
SỬ DỤNG CÔNG CỤ WEB 2.0
TRONG DẠY HỌC NGỮ VĂN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
THEO QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH SƯ PHẠM NGỮ VĂN
Hà Nội - 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
SỬ DỤNG CÔNG CỤ WEB 2.0 TRONG DẠY HỌC NGỮ VĂN TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
THEO QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH SƯ PHẠM NGỮ VĂN
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC BỘ MÔN NGỮ VĂN
Mã số: 8.14.01.11
Người hướng dẫn khoa học: TS Tôn Quang Cường
Hà Nội – 2017
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực hiện đề tài Luận văn Thạc sĩ, dưới sự chỉ bảo, giúp đỡ tận tình của giáo viên hướng dẫn và các Thầy Cô trường Đại học Giáo dục, cũng như nhà trường tạo điều kiện thuận lợi, tôi đã có một quá trình tìm hiểu và học tập nghiên cứu để hoàn thành đề tài Kết quả thu được không chỉ do nỗ lực của cá nhân tôi mà còn nhờ sự giúp đỡ tận tình của quý thầy cô, gia đình và các bạn
Trước tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến TS.Tôn Quang Cường - Khoa Sư phạm, trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội Thầy là giảng viên nhiệt tình, giàu kinh nghiệm trong hướng dẫn nghiên cứu khoa học Thầy đã hướng dẫn, hỗ trợ, động viên khuyến khích tôi hoàn thành tốt đề tài về phương pháp, lý luận và nội dung trong suốt thời gian thực hiện Luận văn Thạc sĩ
Tôi cũng xin được cảm ơn tất cả các thầy cô cán bộ, giảng viên trường Đại học Giáo dục đã tạo điều kiện thuận lợi để giúp tôi học tập và nghiên cứu
Tôi xin gửi đến gia đình và bạn bè của tôi sự biết ơn sâu sắc vì đã luôn
ở bên tôi, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện Luận văn
Mặc dù gặp rất nhiều khó khăn, thử thách tôi vẫn luôn nỗ lực hết sức mình Tuy vậy trong quá trình thực hiện và trình bày Luận văn không thể tránh khỏi những sai sót và hạn chế, do vậy tôi rất mong nhận được sự góp ý, nhận xét, phản biện của quý thầy cô và các bạn
Kính chúc quý thầy cô và các bạn sức khỏe!
Người thực hiện đề tài
Trang 4Nguyễn Thanh Hường
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CNTT Công nghệ thông tin
CNTT&TT Công nghệ thông tin và truyền thông
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 So sánh công nghệ Web 1.0 và Web 2.0
Bảng 2.1 Bảng mô tả các cấp độ năng lực CNTT của giáo viên
Bảng 2.2 Tần suất sử dụng các Phần mềm dạy học của GV phổ thông Bảng 2.3 Năng lực tin học cần đạt đƣợc ở học sinh THPT
Trang 6DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Kết quả đánh giá mức độ cần thiết của các kỹ năng kỹ thuật
số mà học sinh cần trong tương lai
Trang 7DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Lịch sử 4 cuộc cách mạng công nghiệp
Trang 8DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1 Mô hình các kiểu tích hợp của Forgaty
Sơ đồ 1.2 Cấu trúc dạy học tích hợp
Sơ đồ 1.3 Sự thay đổi của người học và người dạy ở thế kỷ 21
Sơ đồ 1.4 Tác động của Cuộc cách mạng công nghệ 4.0 đến Giáo dục
Sơ đồ 1.5 Mô hình hình thành kiến thức trong môi trường Web 2.0
Sơ đồ 2.1 Dạy học môn Ngữ văn theo quan điểm tích hợp
Sơ đồ 3.1 Mô hình quy trình thực hiện nhiệm vụ học tập truyền thống
Sơ đồ 3.2 Mô hình quy trình thực hiện nhiệm vụ học tập trong dạy
học tích hợp có sự tham gia của công cụ web
Trang 9MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC BẢNG v
DANH MỤC BIỂU ĐỒ vi
DANH MỤC HÌNH vii
DANH MỤC SƠ ĐỒ viii
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Dự kiến những đóng góp mới của đề tài 4
6 Cấu trúc của Luận văn 4
CHƯƠNG 1 5
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC SỬ DỤNG CÔNG CỤ WEB 2.0 5
TRONG DẠY HỌC TÍCH HỢP 5
1.1 Vấn đề dạy học tích hợp 5
1.1.1 Khái niệm Tích hợp 5
1.1.2 Khái niệm Dạy học tích hợp 7
1.1.3 Các quan điểm về dạy học tích hợp 11
1.1.3.1 Quan điểm của Forgaty 12
1.1.3.2 Quan điểm của Xavier Roegiers 12
1.1.3.3 Quan điểm của Susan M.Drake 13
1.1.4 Mối quan hệ giữa dạy học tích hợp với sự hình thành năng lực người học… 15
1.2 Công nghệ dạy học và sử dụng phương tiện công nghệ thông tin trong dạy học 18
1.2.1 Quan niệm về Công nghệ dạy học 18
1.2.2 Vai trò của Công nghệ dạy học 19
Trang 101.2.3 Tác động của sự phát triển công nghệ thông tin tới dạy học 21
1.2.4 Vai trò của việc sử dụng phương tiện công nghệ thông tin trong dạy học tích hợp 26
1.3 Sử dụng công cụ Web 2.0 trong dạy học 28
1.3.1 Khái niệm Web 2.0 28
1.3.2 Tác động của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 tới giáo dục 30
1.3.3 Cơ chế hình thành kiến thức trong môi trường Web 2.0 34
1.3.4 Sự phát triển của các công cụ Web hỗ trợ dạy học 36
1.3.5 Vai trò của công cụ Web 2.0 trong dạy học 37
Tiểu kết chương 1 39
CHƯƠNG 2 41
KHẢO SÁT KHẢ NĂNG SỬ DỤNG CÔNG CỤ WEB 2.0 41
TRONG DẠY HỌC NGỮ VĂN THEO QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP 41
2.1 Phân tích chương trình môn Ngữ văn THPT 41
2.2 Yêu cầu về năng lực CNTT 46
2.2.1 Yêu cầu về năng lực CNTT đối với giáo viên 46
2.2.2 Yêu cầu về năng lực CNTT đối với học sinh 50
2.3 Khả năng sử dụng Web 2.0 trong dạy học Ngữ văn 53
2.3.1 Số hóa tác phẩm văn học 53
2.3.2 Xây dựng môi trường tiếp nhận tác phẩm văn học 54
2.3.3 Sử dụng công cụ chia sẻ xã hội, tương tác trong hoạt động dạy học 55 2.3.3.1 Dạy học trên lớp 55
2.3.3.2 Dạy học phối hợp (Blended Learning) 56
2.3.3.3 Trong hoạt động tự học 56
2.3.3.4 Trong hoạt động kiểm tra đánh giá 56
2.3.4 Phát triển các kỹ năng đặc thù của môn Ngữ văn 57
Tiểu kết chương 2: 57
CHƯƠNG 3 59
THIẾT KẾ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC NGỮ VĂN 59
THEO QUAN ĐIỂM TÍCH HỢP VỚI CÔNG CỤ WEB 2.0 59
Trang 113.1 Quy trình và nguyên tắc tổ chức hoạt động dạy học 59
3.1.1 Quy trình dạy học 59
3.1.2 Nguyên tắc tổ chức hoạt động dạy học tích hợp có sử dụng công cụ Web 2.0 62
3.2 Thiết kế minh họa 64
3.2.1 Kế hoạch bài dạy 64
3.2.2 Huy động các công cụ hỗ trợ phù hợp với kế hoạch dạy học 69
3.2.3 Sản phẩm học tập từ các công cụ Web 2.0 73
3.2.3.1 Tricider.com 73
3.2.3.2 Pinterest.com 74
3.2.3.3 Wevideo.com 75
3.2.3.4 Piktochart.com 75
3.3 Những khó khăn của việc sử dụng cộng cụ Web 2.0 vào hoạt động dạy học ………77
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 79
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ 82
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 83
PHỤ LỤC 86
Trang 12Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, đặc biệt là sự bùng nổ của cuộc cách mạng vạn vật kết nối qua Internet, Web 2.0 đã và đang được các nhà sư phạm trên thế giới nghiên cứu và sử dụng nhằm cung cấp những công cụ tiện ích hỗ trợ việc dạy học, mở rộng “không gian học tập” Web 2.0 cũng có triển vọng tham gia vào việc tăng cường sự tương tác giữa nội dung dạy học – người học – người dạy, từ đó góp phần gia tăng cơ hội học tập, đặc biệt là cơ hội thực hành liên kết các nội dung kiến thức nhằm giải quyết những vấn đề mang tính thực tiễn, đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của người học [11]
Dạy học tích hợp hiện nay thường bị hiểu lầm là sự cộng dồn các đơn
vị bài học có nội dung liên quan thành một chuỗi nội dung Sự liên kết nội dung thiếu tính định hướng về năng lực cần hình thành này khiến cho việc học tập trở nên nặng nề Bản chất của dạy học tích hợp là một quan điểm tiếp cận dạy học mang tính hệ thống, huy động các hiểu biết, kiến thức để hướng tới hình thành ở người học khả năng giải quyết những vấn đề thực tế trong cuộc sống [15] Vì vậy, để thực hiện thành công việc dạy học theo quan điểm tích hợp, cần tới sự tham gia của hệ thống các công cụ hỗ trợ người học huy động kiến thức và tăng cường cơ hội được thực hành, rèn luyện để phát triển
Trang 13năng lực Các công cụ hỗ trợ học tập đa dạng trên nền tảng Web 2.0 được đánh giá là giải pháp hiệu quả và kinh tế để thúc đẩy ý nghĩa của việc học qua tiếp cận dạy học tích hợp
Ngữ văn là một môn học đặc biệt, bởi quan điểm tích hợp được thể hiện ngay từ trong tên gọi của môn học này.Những hiểu biết, kiến thức về văn hóa học, sử học, tư tưởng đạo đức đã được sử dụng như công cụ hỗ trợ việc giải
mã các tín hiệu nghệ thuật trong quá trình tiếp nhận tác phẩm, đồng thời cũng được sử dụng làm tư liệu phục vụ việc diễn ngôn trong quá trình sử dụng ngôn ngữ Do đó, môn Ngữ văn chứa đựng khả năng và yêu cầu cần được tổ chức dạy học theo quan điểm tích hợp
Với tư cách là lĩnh vực gắn liền với sự phản ánh tư duy và mỹ cảm bằng ngôn ngữ, Ngữ văn là môn học quan trọng để phát triển năng lực và phẩm chất cho học sinh.Tuy nhiên, lâu nay, môn học này thường bị đánh giá
là có cách dạy và học khuôn sáo, thụ động [10] Vì vậy, cần tổ chức hoạt động dạy học với những công cụ hỗ trợ để đưa hoạt động học tập môn Ngữ văn vào trong môi trường văn hóa – xã hội – lịch sử vốn có của ngôn ngữ và văn chương, rèn luyện nâng cao năng lực sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp và sử dụng ngôn ngữ một cách sáng tạo Đó là yêu cầu đặt ra và cơ hội cho việc sử dụng các công cụ Web vào dạy học môn Ngữ văn
Từ những lý do đó, chúng tôi nhận thấy các công cụ xây dựng trên nền tảng công nghệ web 2.0 chứa đựng khả năng được sử dụng vào quá trình dạy học Cần có những nghiên cứu để thiết kế quy trình tổ chức dạy học và kiểm chứng tính khả thi của việc sử dụng các công cụ web 2.0 vào việc dạy học tích hợp môn Ngữ văn trên cơ sở của sự kết nối các đơn vị kiến thức, hướng tới sự hình thành các năng lực ở người học để giải quyết các vấn đề mang tính thực tiễn, tăng cường tính tương tác và chia sẻ cộng đồng trong quá trình học tập
Trang 14Vì vậy, chúng tôi lựa chọn đề tài Luận văn: Sử dụng công cụ Web 2.0
trong dạy học Ngữ văn trung học phổ thông theo quan điểm tích hợp
2 Mục đích nghiên cứu
Đề tài được thực hiện nhằm mục đích thiết kế quy trình tổ chức dạy học tích hợp với công cụ web 2.0 và kiểm chứng tính khả thi của việc sử dụng các công cụ web 2.0 vào dạy học tích hợp môn Ngữ văn ở trường Trung học phổ thông, trên cơ sở của sự kết nối các đơn vị kiến thức, hướng tới sự hình thành các năng lực ở người học để giải quyết các vấn đề mang tính thực tiễn, tăng cường tính tương tác và chia sẻ cộng đồng trong quá trình học tập
3 Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học tích hợp môn Ngữ văn THPT
- Đối tượng nghiên cứu:Quy trình dạy học tích hợp môn Ngữ văn THPT có
sử dụng công cụ Web 2.0
- Phạm vi nghiên cứu:Nội dung các chủ đề tích hợp trong môn Ngữ văn
THPT
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý luận: Phân tích và tổng hợp lý thuyết: khảo
cứu, phân tích các tài liệu liên quan đến các vấn đề lý luận về dạy học tích hợp, phương pháp, hình thức dạy học, đổi mới phương pháp, hình thức dạy học, đặc biệt là việc sử dụng phương tiện kỹ thuật hiện đại và công nghệ dạy học, ứng dụng Công nghệ thông tin trong tổ chức dạy học theo hướng tích cực hóa học sinh; nghiên cứu phân tích đặc điểm nội dung chương trình, mục tiêu cần đạt của chương trình Ngữ văn THPT để làm cơ sở cho việc tái cấu trúc chương trình, xây dựng các nội dung, chủ đề dạy học tích hợp
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Phương pháp điều tra - khảo sát: điều
tra về thực trạng sử dụng CNTT trong dạy học tại các trường phổ thông, năng
Trang 15lực sử dụng CNTT trong dạy học của giáo viên; Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: đánh giá về hiệu quả, tính khả thi của đề xuất; Phương pháp phân tích, tổng kết kinh nghiệm: kinh nghiệm thành công trong việc sử dụng hiệu quả các công cụ Web 2.0 vào hỗ trợ các hoạt động học tập trong lớp học
5 Dự kiến những đóng góp mới của đề tài
- Xây dựng, thiết kế quy trình tổ chức dạy học tích hợp môn Ngữ văn, có sử dụng công cụ web 2.0
- Thiết kế một số nội dung dạy học tích hợp môn Ngữ văn và kế hoạch triển khai dạy học có sử dụng công cụ web 2.0
- Xác định và xây dựng nguyên tắc thực hiện khi sử dụng công cụ web 2.0 trong dạy học tích hợp môn Ngữ văn THPT
6 Cấu trúc của Luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và khuyến nghị, Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn Thạc sĩ có kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận của việc sử dụng công cụ Web 2.0 trong dạy học tích hợp
Chương 2 Khảo sát khả năng sử dụng công cụ Web 2.0 trong dạy học Ngữ văn theo quan điểm tích hợp
Chương 3 Thiết kế dạy học Ngữ Văn THPT theo quan điểm tích hợp có
sử dụng công cụ Web 2.0
Trang 16CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC SỬ DỤNG CÔNG CỤ WEB 2.0
TRONG DẠY HỌC TÍCH HỢP 1.1 Vấn đề dạy học tích hợp
Trong tiếng Pháp, từ điển bách khoa Le petit Larousse illustrée định
nghĩa “Intégrer” có nghĩa là gộp lại, sát nhập vào thành một tổng thể Cụ thể hơn, trong lĩnh vực giáo dục, tích hợp là một cách tiếp cận sư phạm theo đó người học huy động các nguồn lực để giải quyết một tình huống phức tạp (sư phạm tích hợp); (Nguyên văn: En pédagogie, l'intégration est une démarche
Trang 17pédagogique selon laquelle les apprenants mobilisent des ressources pour résoudre une situationproblème complexe (pédagogie de l'intégration)
Trong tiếng Việt, thuật ngữ “tích hợp” được sử dụng để biểu hiện cho khái niệm này.Đây là một thuật ngữ có gốc là âm Hán Việt Các tài liệu viết bằng tiếng Trung Quốc hiện nay, khi đề cập đến vấn đề dạy học tích hợp, thường sử dụng chữ “整合” (dịch âm: chỉnh hợp; gần nghĩa với “kết hợp”, “tổ hợp”, “hợp thành”; dùng trong chữ 整合式學- có nghĩa là phương thức học tập tích hợp) Thuật ngữ này cũng mang nét nghĩa là hợp nhất các yếu tố lại với nhau thành một thể thống nhất
Theo từ điển Tiếng Việt: “Tích hợp là sự kết hợp những hoạt động, chương trình hoặc các thành phần khác nhau thành một khối chức năng Tích hợp có nghĩa là sự thống nhất, sự hòa hợp, sự kết hợp”
Khái niệm tích hợp trong giáo dục (Từ điển GDH/ Bùi Hiển cb-2013) Theo Từ điển Giáo dục học: “Tích hợp là hành động liên kết các đối tượng nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực khác nhau trong cùng một kế hoạch dạy học” [6;383]
Trong đó có các khái niệm liên quan:
Tích hợp các bộ môn: quá trình xích gần và liên kết các ngành khoa học lại với nhau trên cơ sở những nhân tố, những quy luật giống nhau, chung cho các bộ môn, ngược với quá trình phân hóa chúng
Tích hợp chương trình: tiến hành liên kết, hợp nhất nội dung các môn học có nguồn tri thức khoa học và có những quy luật chung, gần gũi nhau
Tích hợp giảng dạy: tiến hành quá trình dạy học theo hướng liên kết, lồng ghép những tri thức khoa học, những quy luật chung, gần gũi nhau nhằm đạt yêu cầu trang bị cho người học có cách nhìn bao quát đối với nhiều lĩnh
Trang 18vực khoa học có chung đối tượng nghiên cứu, đồng thời nắm được các phương pháp xem xét vấn đề một cách logic, biện chứng
Tích hợp học tập: hành động liên kết học tập cùng một lần những kiến thức khác nhau và những kỹ năng khác nhau về cùng một chủ đề giáo dục
Tích hợp kiến thức: hành động liên kết, nối liền các tri thức khoa học khác nhau thành một tập hợp kiến thức thống nhất
Tích hợp kĩ năng: tiến hành liên kết rèn luyện hai hoặc nhiều kĩ năng thuộc cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực gần nhau để nắm vững một thể
Như vậy có thể thấy, nét nghĩa chung của khái niệm “tích hợp” trong các ngôn ngữ, đặc biệt là khi khái niệm “tích hợp” được sử dụng trong lĩnh
vực giáo dục, sư phạm, có nét nghĩa chung, được đồng thuận sử dụng là: một
quá trình hoạt động kết hợp trong đó đầu vào bao gồm nhiều thành tố và đầu ra là một thể thống nhất có tổ chức và hoạt động ổn định
1.1.2 Khái niệm Dạy học tích hợp
Năm 1977, Ken Wilber cho xuất bản cuốn sách The Spectrum of
Consciousness, đánh dấu mốc cho sự mở đầu của Lý thuyết về Tiếp cận tích
hợp (Theory of Integral Approach) Nó được hình dung như là một lý thuyết
về mọi sự vật và cung cấp một đường hướng kết hợp nhiều mô thức rời rạc hiện tại thành một mạng hoạt động phức hợp, tương tác nội tại theo nhiều cách tiếp cận [17] Bằng những diễn giải về thần kinh nhận thức và tâm lý học, tích hợp được chỉ ra là một tiến trình tư duy và nhận thức mang tính chất phát triển tự nhiên của con người trong mọi lĩnh vực hoạt động khi họ muốn hướng đến hiệu quả của chúng Quan điểm tích hợp “cho phép con người nhận ra những điều then chốt và các mối liên hệ hữu cơ giữa các thành tố trong hệ thống và trong tiến trình hoạt động thuộc một lĩnh vực nào đó” [21].Đặc biệt, quan điểm này dẫn người ta đến việc phát triển nhiều loại hình họat động, tạo môi trường áp dụng những điều mình đã được lĩnh hội vào
Trang 19thực tiễn, nhờ vậy tác động và thay đổi thực tiễn Do vậy, tích hợp là vấn đề của nhận thức và tư duy của con người, là triết lý/nguyên lý chi phối, định hướng và quyết định thực tiễn hoạt động của con người Lý thuyết về tiếp cận tích hợp đã được nhiều nhà thực hành lý thuyết áp dụng trong hơn 35 lĩnh vực chuyên môn và học thuật khác nhau, trong đó có giáo dục, và hẹp hơn là lĩnh vực dạy học Đến nay, lý thuyết tích hợp được ứng dụng vào lĩnh vực giáo dục và trở thành một quan điểm (một trào lưu tư tưởng) lý luận dạy học phổ biến trên thế giới
Trong công bố tổng tập công trình Các quá trình tích hợp trong khoa
học Giáo dục và thực tiễn giáo dục – dạy học chủ nghĩa cộng sản‖ năm 1983,
nhóm tác giả nhận định tuyển tập của họ “là những ý tưởng đầu tiên phản ánh bản chất các quá trình tích hợp trong giáo dục như là tính quy luật của khoa học” [8] Với tuyển tập công trình này, khái niệm tích hợp lần đầu tiên được các nhà giáo dục xem như một yếu tố xã hội và khoa học, tham gia vào hệ thống phạm trù của giáo dục học cũng như các khoa học khác Theo đó, khái niệm tích hợp không xuất hiện từ tính phức tạp của kinh nghiệm giáo dục đơn thuần mà đã được chuẩn bị bằng sự chuyển dịch, thay đổi các mô hình giáo dục trong nhiều thập kỷ trước đó: tính liên môn – như là một nguyên tắc lý luận dạy học vào thập niên 70 đã hình thành nền tảng cho sự ra đời của khái niệm tích hợp
Xavier Roegier dùng thuật ngữ: "La pedagogie de l‟integration" và được dịch là "khoa sư phạm tích hợp" (KSPTH), (người dịch: Đào Trọng Quang, Nguyễn Ngọc Nhị) [9] Theo từ điển "Le petit Larousse illustrée" (2002) giải nghĩa: La pédagogie = 1) Théorie, science de l‟education des enfants; 2) Méthode d'enseignement, có nghĩa là: 1) Lý thuyết, khoa học giáo dục trẻ em; 2) Phương pháp dạy học Từ đó có thể thấy, lý thuyết tích hợp trong khoa học về sư phạm, tùy theo ngữ cảnh sử dụng cụ thể, có thể hiểu như một lý thuyết hay một tư tưởng giáo dục, cũng có thể hiểu như một phương
Trang 20pháp dạy học Với ý nghĩa là một lí thuyết chỉ đạo hoạt động dạy học nên xuất hiện và xuất hiện phổ biến thuật ngữ "dạy học tích hợp".Khái niệm Tích hợp được sử dụng trong lĩnh vực giáo dục – khoa học sư phạm, hình thành nên một quan điểm tiếp cận sư phạm, quan tâm tới hai khía cạnh chính là
“Integrated Curriculum” (chủ yếu tập trung nghiên cứu cách thức xây dựng
chương trình dạy học mang tính tích hợp, dựa trên quan điểm giáo dục nhằm
phát triển năng lực người học) và “Integrated Learning” (quan tâm đến cách
thức tổ chức hoạt động dạy học hướng tới mục tiêu tích hợp, đảm bảo việc người học vận dụng các đối tượng riêng biệt theo truyền thống lại cùng nhau
để giải thích một hiện tượng, giải quyết một vấn đề, tạo ra một sản phẩm, hay đưa ra một câu hỏi mới có tính liên ngành có và thực tế hơn)
Trong cuốn Khoa Sư phạm tích hợp hay làm thế nào để phát triển các năng lực ở nhà trường, Xavier Roegiers chỉ ra: "lí thuyết sư phạm tích hợp là một quan niệm về quá trình học tập trong đó toàn thể các quá trình học tập góp phần hình thành ở học sinh những năng lực rõ ràng, có dự tính trước những điều cần thiết cho học sinh, nhằm phục vụ cho các quá trình học tập tương lai, hoặc nhằm hòa nhập học sinh vào cuộc sống lao động - Lí thuyết sư phạm tích hợp tìm cách làm cho quá trình học tập có ý nghĩa" [9]
Danilkzh A.Ya (2000) cho rằng: "Tích hợp giáo dục là quá trình học sinh dưới sự chỉ đạo của giáo viên thực hiện việc chuyển đổi liên tiếp các thông tin từ ngôn ngữ của một môn học sang ngôn ngữ môn học khác mà nhờ quá trình đó học sinh nắm vững kiến thức, hình thành khái niệm, phát triển các phẩm chất cá nhân"
Theo trang từ điển mã nguồn mở về Công nghệ dạy học EdTech Wiki,
dạy học tích hợp (integrated learning) là một khái niệm dùng để chỉ những
thiết kế sư phạm mà trong đó có kết hợp nhiều hoạt động dạy – học và các thành tố công nghệ [26]; Cụ thể:
Trang 21- Tích hợp các chiến lược dạy học khác nhau, bao gồm dạy học cho từng cá nhân, dạy học theo nhóm và dạy học cho toàn lớp;
- Tích hợp các hoạt động dạy trực tiếp với các hoạt động học và thực hành
- Sử dụng đa dạng các kỹ thuật công nghệ khác nhau
- Tích hợp giữa kiến thức mang tính lý thuyết, lý luận với các kiến thức mang tính thực tế (có thể gắn liền với vị trí của người học trong công việc)
Quan niệm mà EdTech Wiki đề ra cho thấy trọng tâm của Dạy học tích hợp không phải là sự liên kết nội dung mà là sự liên kết về cách thức tổ chức, huy động đa dạng nguồn lực để hướng tới sự kết hợp hài hòa giữa kiến thức lý thuyết và yếu tố thực hành thực tiễn, với sự tham gia của công nghệ
Đại học Lehigh xác định khi xây dựng chương trình đào tạo của mình:
“Dạy học tích hợp có nghĩa là kết hợp những gì bạn học trong lớp học, cho dù
đó là lý thuyết hay kỹ thuật, với các giải pháp của các vấn đề thế giới thực cho những yêu cầu thực tiễn” [27]
Khi người học được đặt vào việc dạy và học theo chương trình dạy học tích hợp, “những kinh nghiệm học tập theo kế hoạch không chỉ cung cấp cho người học một cái nhìn thống nhất về kiến thức thông thường (bằng cách học các mô hình, hệ thống và cấu trúc của văn hoá) mà còn thúc đẩy và phát triển năng lực của người học để nhận ra các mối quan hệ mới và do đó để tạo ra các
mô hình, hệ thống và cấu trúc mới” [15]
Trong lĩnh vực khoa học giáo dục ở Việt Nam, theo tác giả Dương Tiến
Sỹ, “tích hợp là sự kết hợp một cách hữu cơ, có hệ thống các kiến thức/khái niệm thuộc các môn học khác nhau thành một nội dung thống nhất, dựa trên
cơ sở các mối liên hệ về lí luận và thực tiễn được đề cập trong các môn học đó” [7] Bên cạnh đó, tác giả Nguyễn Phúc Chỉnh chỉ rõ: “Tích hợp kiến thức
là sự liên kết, kết hợp, lồng ghép tri thức của các khoa học khác nhau thành một tập hợp kiến thức thống nhất Còn tích hợp dạy học là quá trình dạy học
Trang 22trong đó có sự lồng ghép, những tri thức khoa học, những quy luật chung gần gũi với nhau, qua đó người học không chỉ lĩnh hội được tri thức khoa học của môn học chính mà cả tri thức của khoa học được tích hợp, từ đó hình thành cho người học cái nhìn khái quát hơn đối với các khoa học có cùng đối tượng nghiên cứu, đồng thời có được phương pháp xem xét vấn đề một cách logic, biện chứng” [2]
Gần đây, trong bản được công bố vào tháng 7/2017, Chương trình tổng thể của Chương trình giáo dục phổ thông ghi rõ: Dạy học tích hợp: là định hướng dạy học giúp học sinh phát triển khả năng huy động tổng hợp kiến thức, kỹ năng, thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau để giải quyết có hiệu quả các vấn đề trong học tập và trong cuộc sống, được thực hiện ngay trong quátrình lĩnh hội tri thức và rèn luyện kỹ năng [1]
Tuy có những khác biệt về quan niệm hay về cách sử dụng thuật ngữ,
song tựu chung, có thể thấy rằng: Tích hợp (trong dạy học) không có nghĩa là
thay thế nội dung dạy học đã có, mà là sự kết hợp các đơn vị kiến thức riêng lẻ; trải qua hoạt động rèn luyện, luyện tập; nhằm giải quyết những vấn đề mang ý nghĩa thực tiễn Bên cạnh đó, việc tham gia của yếu tố công nghệ vào
quá trình học tập mang tính tích hợp là điều tất yếu và đã được tính đến ngay khi khái niệm về dạy học tích hợp được hình thành và trở nên phổ biến
1.1.3 Các quan điểm về dạy học tích hợp
Tích hợp là một trong những quan điểm giáo dục đã phát triển trở thành
xu thế trong việc xác định nội dung dạy học, cũng như xây dựng chương trình môn học trong nhà trường được sử dụng ở nhiều nước trên thế giới Quan điểm tích hợp này được xây dựng trên cơ sở những nỗ lực trong việc tích cực hóa hoạt động học tập và quá trình dạy học Trước khi được các nhà khoa học – giáo dục học tuyên bố dưới dạng các mệnh đề, việc tích hợp trong dạy học
đã được sử dụng trong thực tế, với các mức độ khác nhau trên cơ sở của sự lồng ghép, liên hệ, mở rộng các kiến thức trong từng bài học Về mặt lý luận, hiện nay tồn tại nhiều quan điểm về dạy học tích hợp, trong đó có thể kể tới 3
Trang 23hướng quan điểm chính trong nghiên cứu về tích hợp trong dạy học và chương trình tích hợp:
1.1.3.1 Quan điểm của Forgaty
Trong công bố trên Education Leadership vào tháng 10 năm 1991, Robin Forgaty đã đưa ra quan điểm của mình về chương trình tích hợp.Theo
đó, các kiểu chương trình tích hợp có thể chia thành 3 dạng với 10 cách tích hợp
Sơ đồ 1.1: Mô hình các kiểu tích hợp của Forgaty
Với việc phân chia các kiểu loại tích hợp thành 3 dạng thức chính với
10 mức độ kết hợp khác nhau, từ đơn lập tới đa chiều, Forgaty đã chỉ ra 3 diện mạo của tích hợp trong xây dựng chương trình:
- Tích hợp được thực hiện trong nội bộ từng môn học
- Tích hợp được thực hiện bằng cách xây dựng các chủ đề dạy học đa lĩnh vực
- Tích hợp dẫn đến việc hình thành các môn học mới
1.1.3.2 Quan điểm của Xavier Roegiers
Xavier Roegiers quan niệm rằng: “Lý thuyết Sư phạm tích hợp là một quan niệm về quá trình học tập trong đó toàn thể các quá trình học tập góp phần hình thành ở học sinh những năng lực rõ ràng, có dự tính trước những điều cần thiết cho học sinh, nhằm phục vụ cho các quá trình học tập tương lai, hoặc nhằm hòa nhập học sinh vào cuộc sống lao động – Lý thuyết sư phạm tích hợp tìm cách làm cho quá trình học tập có ý nghĩa” [9]
Trang 24Theo Xavier Roegier, tích hợp môn học có thể có những mức độ khác nhau từ đơn giản đển phức tạp, từ thấp đến cao, nhưng có thể được quy về 4 loại chính như sau:
- Tích hợp trong nội bộ môn học, duy trì ranh giới của các môn học riêng
- Tích hợp đa môn: một đề tài có thể được phân tích, nghiên cứu, khám phá dưới góc nhìn của nhiều môn học khác nhau
- Tích hợp liên môn: phối hợp, vận dụng sự đóng góp của nhiều môn học để nghiên cứu và giải quyết một vấn đề chung
- Tích hợp xuyên môn: phát triển cho người học những kỹ năng xuyên môn, hay những kỹ năng có thể áp dụng ở mọi nơi
Nhiều tài liệu về dạy học tích hợp ở Việt Nam hiện đang sử dụng thuật ngữ về cách phân chia các mức độ tích hợp theo quan điểm này
1.1.3.3 Quan điểm của Susan M.Drake
Năm 1993, Susan M.Drake công bố những luận điểm của mình về xây dựng chương trình tích hợp dựa trên chuẩn Theo đó, các môn học được xây dựng theo mức độ tăng dần:
- Tích hợp trong nội bộ một môn học
- Kết hợp lồng ghép: Lồng ghép thêm nội dung vào chương trình hiện hành
- Tích hợp đa môn: xác định các chủ đề, vấn đề chung giữa các môn học nhưng các môn học vẫn nghiên cứu độc lập theo góc độ riêng biệt
- Tích hợp liên môn: Các môn học được liên hợp với nhau; Các chủ đề, vấn
đề, chuẩn liên môn, những khái niệm lớn và những ý tưởng lớn được sử dụng
để kết nối các môn học
- Tích hợp xuyên môn: tiếp cận các vấn đề của cuộc sống thực phù hợp với người học mà không xuất phát từ môn học bằng những khái niệm chung Hoạt
Trang 25động dạy học được thực hiện với ngữ cảnh là cuộc sống thực, dựa vào vấn đề, học sinh là người đưa ra các vấn đề, học sinh là nhà nghiên cứu
Có thể nhận thấy, các nhà khoa học đưa ra các quan điểm khác nhau về việc xác định cấu trúc, phân tầng các cách thức liên kết nội dung các đơn vị kiến thức trong các môn học hiện có trong nhà trường Mặc dù chưa thống nhất được về cách phân loại cũng như số lượng và cách đặt tên các kiểu loại tích hợp, tuy nhiên điểm chung của các quan điểm này là xác định việc tích hợp có thể được thực hiện trong nội bộ từng môn học đến mức độ cao nhất là phá bỏ ranh giới các môn học hiện có
Bên cạnh đó, tồn tại của sự vật, hiện tượng vốn đã là một thực thể nguyên vẹn, sự “phân chia” chỉ là cách thức để con người cố gắng mở rộng phạm vi hiểu biết của mình về thế giới tự nhiên và đời sống con người, nhưng
từ các khía cạnh khác nhau Sự “phân chia” chỉ là hình thức, không phải là bản chất của sự tồn tại Vì vậy, khi khái niệm tích hợp tham gia vào lĩnh vực giáo dục, thì sự phân chia các môn học, suy cho cùng chỉ là cách thức để người học có thể cố gắng tìm hiểu cuộc sống từ nhiều khía cạnh, chứ không phải do những vấn đề thực tế trong cuộc sống được tồn tại thành các lĩnh vực
học thuật riêng biệt “Mọi tranh luận của chúng ta về mức độ và cách thức
tích hợp chỉ nên coi là cách diễn tả ý muốn sửa chữa các hậu quả của việc
“phân chia” không thể tránh được” [2]
Trong phạm vi nghiên cứu của mình, luận văn này không tập trung vào phân tích cấu trúc, các mức độ và tầng bậc, phân loại kiểu tích hợp trong dạy học và xây dựng chương trình, mà quan tâm đến cách xác định mục tiêu và vận hành một nội dung dạy học tích hợp Luận văn này tập trung phát triển trên cơ sở lựa chọn sử dụng thuật ngữ “Dạy học tích hợp” (Integrated Learning) được hiểu như là một quan điểm chỉ đạo quá trình tổ chức dạy học,
từ khâu xác định mục tiêu, xây dựng nội dung, đến cụ thể hóa cách thức triển
Trang 26khai hoạt động dạy học đó Chính mục tiêu hình thành và phát triển các năng lực giải quyết các vấn đề trong thực tế là yếu tố then chốt của dạy học tích hợp, quy định sự lựa chọn nội dung và cách thức tổ chức hoạt động dạy học
1.1.4 Mối quan hệ giữa dạy học tích hợp với sự hình thành năng lực người
học
Tích hợp là một tiến trình tư duy và nhận thức mang tính chất phát triển
tự nhiên của con người trong mọi lĩnh vực hoạt động Theo I Peaget các cấu trúc nhận thức phát triển dần dần Sự phát triển của chúng nằm trong một quá trình tiếp nhận:
- Quá trình tiếp nhận: là sự tiếp thu các thông tin từ môi trường xung quanh và xử lí các thông tin mới đó từ các cấu trúc nhận thức đã được lĩnh hội
từ trước
- Quá trình thích nghi: Là sự thích ứng và biến đổi các cấu trúc nhận thức đối với môi trường nhằm làm cho các cấu trúc này tiến triển Sự thích nghi luôn là kết quả của một hoạt động điều chỉnh sự mất thăng bằng nhận thức do quá trình tiếp nhận gây nên
Điều này cho thấy việc dạy và học cần được tổ chức trên cơ sở là sự tổng hợp, đối chiếu, vận dụng để hình thành kiến thức mới từ những kiến thức riêng lẻ, phân mảnh.“Tích hợp là cách tư duy trong đó các mối liên kết được tìm kiếm, do vậy, tích hợp làm cho việc học chân chính xảy ra” [19]
Nhiều nghiên cứu ứng dụng tâm lý học nhận thức vào giáo dục đã chỉ ra: mối liên hệ giữa các khái niệm đã học được thiết lập nhằm bảo đảm cho mỗi học sinh có thể huy động một cách hiệu quả những kiến thức và năng lực của mình để giải quyết tình huống, và có thể đối mặt với một khó khăn bất ngờ, một tình huống chưa từng gặp Nhờ đó, học sinh có điều kiện phát triển những kỹ năng xuyên môn, những kỹ năng được áp dụng cho nhiều môn học, nhiều lĩnh vực
Trang 27Khi xem xét việc dạy và học trên góc độ thần kinh học nhận thức, Caine và Caine (1991) đã tuyên bố rằng: “Trên thực tế, não bộ có thể chống lại việc học những sự kiện phân mảnh được trình bày một cách riêng biệt Học tập được cho là xảy ra nhanh hơn và triệt để hơn khi nó được trình bày trong các ngữ cảnh có ý nghĩa, với một thành phần kinh nghiệm” [13] Mặt khác, sự hiểu biết liên ngành như là khả năng tích hợp kiến thức và phương thức tư duy trong hai hoặc nhiều ngành hoặc các lĩnh vực chuyên môn riêng biệt để tạo ra tiến bộ về nhận thức chung mới - như giải thích hiện tượng, giải quyết vấn đề hoặc tạo ra một sản phẩm Điều này cho thấy việc tổ chức học tập theo quan điểm tích hợp, tạo môi trường để người học liên kết huy động các kiến thức, kinh nghiệm vào giải quyết các nhiệm vụ học tập là phù hợp với quy luật tư duy của não bộ, là cơ sở cho việc tăng cường hiệu quả của quá trình dạy học Đồng thời, sự huy động tổng hợp các kiến thức và kinh nghiệm được xây dựng trong cấu trúc tích hợp cũng nhằm hướng tới hình thành các năng lực của người học ở đầu ra của quá trình dạy học
Sự thâm nhập có tính chất tìm tòi khám phá của học sinh vào quá trình kiến tạo kiến thức, học tập có ý nghĩa (meaningful learning), học sâu sắc và ứng dụng (deep learning) được xem là chủ yếu đối với việc dạy và học hiệu quả.Và cách tiếp cận tìm tòi-khám phá này khuyến khích học sinh thông qua quá trình tìm kiếm tích cực, sẽ kết hợp hơn là mở rộng các kiến thức rời rạc [18]
Hiện nay tồn tại nhiều quan niệm khác nhau về năng lực người học Tuy nhiên, tựu chung lại, khái niệm năng lực (competence) được hiểu và sử dụng với các nét nghĩa sau:
- Tính định hướng về kết quả cuối cùng mà người học cần phải làm được
sau khi kết thúc một chương trình đào tạo
- Tổ hợp các kĩ năng và hành vi, giá trị, niềm tin…để thực thi các nhiệm
vụ trong từng bối cảnh, mức độ cụ thể
Trang 28- Tổ hợp các chỉ số về kiến thức, kĩ năng, thái độ, phẩm chất được hình thành theo những chuẩn được công bố trước và khả năng của cá nhân vận dụng chúng trong thực tế
- Sự “sẵn sàng” thực hiện hành động đáp ứng các yêu cầu chung, yêu cầu
cụ thể trong từng bối cảnh theo chuẩn
Khi đi tìm cách định nghĩa cho khái niệm dạy học tích hợp, nhiều nhà khoa học cũng chú ý đến mục tiêu người học có thể huy động kiến thức đa lĩnh vực vào giải quyết các vấn đề mang tính chất đa ngành, đặc biệt là các vấn đề trong cuộc sống của người học Mục tiêu này được nhận định là có nhiều nét gần gũi, tương đồng với cách tiếp cận của cách thức tổ chức dạy học dựa trên giải quyết vấn đề
PISA 2012 hướng đến việc giải quyết vấn đề mang tính chất tương tác:
“Giải quyết vấn đề là năng lực của một cá nhân tham gia vào quá trình nhận thức để hiểu và giải quyết các tình huống có vấn đề Nó bao gồm sự sẵn sàng tham gia vào các tình huống tương tự để đạt được tiềm năng của mình như một công dân có tính xây dựng và biết suy nghĩ”
Như vậy, có thể thấy: Năng lực giải quyết vấn đề là khả năng cá nhân
sử dụng hiệu quả các quá trình nhận thức, hành động và thái độ để giải quyết những tình huống không có sẵn cách thức và trình tự giải quyết
Sơ đồ 1.2: Cấu trúc dạy học tích hợp
Năng lựcgiải quyết các vấn đề trong thực tế
Thực hành – Rèn luyện
Môn học 1
Môn học 2
Môn học n
Trang 29Những điểm tương đồng giữa mục tiêu của dạy học tích hợp và đặc trưng của năng lực giải quyết vấn đề cho thấy: Phát triển năng lực người học nói chung và đặc biệt là năng lực giải quyết vấn đề nói riêng là cái đích lý tưởng cần hướng tới của cách tiếp cận tổ chức dạy học theo quản điểm tích hợp Dạy học tích hợp nhấn mạnh dạy cho người học cách tìm tòi sáng tạo và cách vận dụng kiến thức, phối hợp các kỹ năng để giải quyết các tình huống tích hợp, có ý nghĩa nhằm mục đích hình thành, phát triển năng lực
1.2 Công nghệ dạy học và sử dụng phương tiện công nghệ thông tin
trong dạy học
1.2.1 Quan niệm về Công nghệ dạy học
Sự phát triển của khoa học kỹ thuật thế giới ở thế kỷ XX đã tạo bước đi tiền đề cho sự bùng nổ khoa học công nghệ - thông tin trong thế kỷ XXI.“Công nghệ” – từ một thuật ngữ mang tính chuyên biệt của lĩnh vực công nghiệp, sản xuất của cải vật chất – trở thành một khái niệm mang tính toàn cầu và phổ quát.Những thành tựu rực rỡ của công nghệ trên nhiều lĩnh vực đã xây dựng nên diện mạo mới cho mọi mặt của cuộc sống.Giáo dục cũng không nằm ngoài xu thế phát triển đó.Những phương tiện kỹ thuật hiện đại được nghiên cứu và ứng dụng trong lĩnh vực giáo dục, dần hình thành nên Công nghệ dạy học
Khái niệm Công nghệ dạy học (Technology of teaching -Trong tiếng Anh, thuật ngữ Công nghệ dạy học còn được thể hiện bằng các khái niệm Educational Technology, Teaching – learning Techonology, Teaching with Technology; Trong tiếng Việt, cũng xảy ra sự không thống nhất giữa những khái niệm Công nghệ dạy học, Công nghệ giáo dục, Công nghệ sư phạm, Công nghệ đào tạo) lần đầu được sử dụng trong bản báo cáo của UNESCO năm 1970 và được xác định như một động lực thúc đẩy cho việc hiện đại hoá quá trình giáo dục trong thời đại mới Trong bản cáo cáo đó, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hiệp quốc chỉ ra nhiệm vụ của công nghệ dạy
Trang 30học là: "xác lập các nguyên tắc hợp lý của việc dạy học và những điều kiện thuận lợi nhất để tiến hành đào tạo cũng như xác lập các phương pháp, phương tiện có hiệu quả nhất để đạt mục đích đào tạo đề ra, đồng thời tiết kiệm được sức lực của người dạy và người học" (UNESCO, 1970)
Hiệp hội Công nghệ và Truyền thông trong giáo dục (AECT: Association for Educational Communications and Technology) định nghĩa Công nghệ dạy học là: “một qui trình phức tạp, tích hợp con người, ý tưởng, cách thức, phương tiện và tổ chức để phân tích các vấn đề, đề xuất thực hiện, đánh giá, điều hành cách giải quyết các vấn đề liên quan đến mọi phương diện dạy học”
Nếu chỉ nhìn nhận từ khía cạnh vỏ ngữ nghĩa, thuật ngữ Công nghệ dạy học dễ dàng bị nhầm lẫn với ý nghĩa đơn giản chỉ là việc sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học.Tuy nhiên, Công nghệ dạy học thực chất là việc biến quá trình dạy học trở thành một công nghệ, chứ không chỉ tồn tại ở dạng kinh nghiệm cá nhân như ta vẫn thường thấy “Quá trình dạy học hoàn toàn có thể được xem xét và tổ chức như một quá trình công nghệ, bao gồm các qui trình triển khai logic Công nghệ dạy học chính là việc "công nghệ hoá" quá trình dạy học kèm theo "phương tiện hoá" mọi khâu của quá trình này nhằm tạo ra những điều kiện thuận lợi nhất để dạy học nhằm đảm bảo đạt mục tiêu đã đề
ra một cách hiệu quả, kinh tế, tối ưu ("kết quả công nghệ", sản phẩm công nghệ) ” [4]
1.2.2 Vai trò của Công nghệ dạy học
- Công nghệ dạy học là một quá trình “công nghệ hóa” dạy học
Nếu nhìn nhận dạy học như một công nghệ thì bản chất công nghệ của
nó được thể hiện ở những điểm sau:
- Sự tính toán thiết kế, lên kế hoạch tổ chức quá trình dạy học (tính toán đầu vào): xác định đối tượng người học (trình độ, đặc điểm tâm sinh lý, giới tính, lứa tuổi ); xác định nội dung dạy học; xác định điều kiện, phương tiện
Trang 31kỹ thuật dạy học; xác định các yếu tố môi trường; xác định cách kiểm tra đánh giá
- Việc xác lập mục tiêu dạy học (tính toán đầu ra);
- Việc tuân thủ trật tự, thứ bậc các thao tác, hành vi (không nhất thiết phải theo một chương trình lập sẵn), điều chỉnh hoạt động hợp lý: xác định qui trình, các bước dạy học; lựa chọn phương pháp, kỹ thuật dạy học phù hợp
- Tính hiệu quả của quá trình, các yếu tố nguồn lực;
- Khả năng đảm bảo đạt mục tiêu tương tự trong những lần khác lặp lại quá trình
- Công nghệ dạy học là một sản phẩm (kết quả) được “đóng gói” để chuyển
giao
Quá trình "công nghệ hoá" việc dạy học được thể hiện rất rõ trong những nỗ lực xác lập và triển khai hiệu quả các mô hình dạy học, phương pháp, kỹ thuật dạy học cụ thể nhằm đáp ứng các mục tiêu dạy học.Hay nói cách khác, công nghệ hóa việc dạy học là sự xây dựng, hình thành những mô hình dạy học hiệu quả gắn liền với những cách thức thực hiện hữu hiệu những
mô hình đó
Các tác giả của Tập bài giảng Sử dụng phương tiện kỹ thuật và công
nghệ trong dạy học đại học (Sđd) đã chỉ ra một số hệ hình và mô hình dạy
học hiện nay:
- Hệ hình Top-Down (Trên xuống): Người dạy thông báo, cung cấp thông tin một chiều, trực tiếp, mối quan hệ giữa người dạy và người học là quan hệ trên-xuống, quyền uy
- Hệ hình Social (Xã hội): Lớp học được coi là một "xã hội" thu nhỏ, người dạy là người định hướng, hỗ trợ, tổ chức, điều khiển, xuất hiện mối quan hệ ngang, qua lại giữa người dạy và người học
Trang 32- Hệ hình Bottom-Up (Dưới lên): Quá trình dạy học được thực hiện xuất phát
từ nhu cầu, nguyện vọng của người học, người học làm trung tâm
- Mô hình dạy học trực tiếp (chỉ dẫn trực tiếp, dạy học bằng các hoạt động tương tác trực tiếp: cùng nhau, cùng lúc, cùng nhiệm vụ );
- Mô hình dạy học gián tiếp (dạy học qua nghiên cứu, bằng tình huống, tự học, tự nghiên cứu, học qua trải nghiệm )
- Công nghệ dạy học là việc tích hợp các yếu tố, sản phẩm công nghệ vào quá trình dạy học
Nhìn nhận trên khía cạnh này, Công nghệ dạy học là việc sử dụng, tích hợp các phương tiện, sản phẩm công nghệ vào trong các quá trình dạy học, các hình thức tổ chức dạy học, trong và ngoài lớp học Đặc biệt là việc ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy học
Tóm lại, dù xem xét khái niệm công nghệ dưới góc độ nào đi chăng nữa cũng có thể nhận thấy cấu trúc của công nghệ là một chuỗi các liên kết logic với nhau, có các thành tố quan hệ mật thiết, quy định lẫn nhau
1.2.3 Tác động của sự phát triển công nghệ thông tin tới dạy học
Bản chất “kết nối” từ trước đến nay vẫn là một đặc tính hiện hữu trong các học thuyết sư phạm, tạo tiền đề cho các phát kiến quan điểm về lí luận dạy học và phương pháp, kĩ thuật triển khai quá trình dạy học Tuy nhiên, trong bối cảnh xã hội hiện nay, với các mô hình dạy học mới được xây dựng dựa trên nền tảng công nghệ thông tin, bản chất “kết nối” được bổ sung thêm hàng loạt các đặc điểm đặc trưng mới Với cách hiểu như vậy, hoạt động dạy học không chỉ còn được quan niệm như một quá trình truyền thụ kiến thức, kinh nghiệm xã hội như trước đây.Thông qua môi trường mạng được kết nối bởi hệ thống các máy tính và phương tiện hỗ trợ cá nhân, quá trình “kết nối” giữa các chủ thể và các đối tượng thành tố của quá trình dạy học sẽ được đảm bảo để thực hiện các mục tiêu dạy học Như vậy, việc xuất hiện môi trường
Trang 33mạng và hệ thống máy tính với các ứng dụng hạ tầng công nghệ thông tin (CNTT) trong thực tiễn hiện nay không chỉ thuần túy giữ vai trò “công cụ CNTT” mà còn tạo ra một khuynh hướng mới trong dạy học: dạy học trực tuyến, dạy học điện tử, dạy học kết nối đa phương tiện v.v
Gắn với sự phát triển của công nghệ thông tin và các thành tựu của khoa học giáo dục, quá trình công nghệ “xâm nhập” vào giáo dục, hình thành khái niệm e-learning và các thuật ngữ liên quan, được khái quát thành 5 thời kỳ:
- Trước năm 1983: Kỷ nguyên người dạy là trung tâm của quá trình truyền thụ kiến thức Thời kỳ này sự xuất hiện của máy tính trong nhà trường chưa nhiều.Người dạy giữ vai trò trung tâm là phương pháp triển khai dạy học phổ biến tại các trường học Sự trao đổi giữa người học – những người học khác – người dạy hầu hết chỉ giới hạn trong phạm vi không gian và thời gian của lớp học
- Giai đoạn 1984-1993: Kỷ nguyên đa phương tiện Sự xuất hiện của hệ điều hành Windows 3.1, máy tính Macintosh, phần mềm trình chiếu Powerpoint, cùng các công cụ đa phương tiện khác đã đem tới một kỷ nguyên của công nghệ đa phương tiện Những công cụ này cho phép tạo ra các bài giảng tích hợp hình ảnh, âm thanh dựa trên công nghệ CBT (Computer Based Training) và được phân phối đến người học qua đĩa CD-ROM hoặc đĩa mềm Mặc dù đã có nhiều nỗ lực trong đa dạng hóa nguồn học liệu, tuy nhiên, sự hướng dẫn, định hướng của giáo viên để người học tự thao tác còn hạn chế,
mà chủ yếu chỉ là cung cấp nguồn tư liệu phong phú hơn
- Giai đoạn 1994-1999: làn sóng e-learning đầu tiên Đây là giai đoạn
mà công nghệ web sơ khai trào đời World wide web (được cho là xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1991) đã cho ra đời các chương trình email, web, trình duyệt, Media player, kỹ thuật truyền Audio/video tốc độ thấp và đã bắt đầu trở nên phổ biến Đào tạo bằng công nghệ Web với hình ảnh chuyển động ở
Trang 34tốc độ thấp, đào tạo từ xa qua email, CBT qua Intranet với các văn bản và hình ảnh đơn giản đã được triển khai E-learning trong giai đoạn này có thể được gọi một cách thông dụng là “dạy học từ xa”
- Giai đoạn 2000-2005: Cuộc cách mạng e-learning trong giáo dục đào tạo Với sự phát triển của các công nghệ như Java và các ứng dụng mạng IP, công nghệ truy cập mạng và tốc độ băng thông Internet được cải thiện, phần mềm mã nguồn mở và miễn phí đã tạo nên một cuộc cách mạng trong giáo dục Thông qua website, giáo viên có thể tổ chức dạy học trực tuyến, kết hợp truyền tải các thông điệp bằng hình ảnh, âm thanh, các công cụ trình diễn Thông tin được chuyển tải đến mọi người học, nâng cao chất lượng của dịch
vụ đào tạo Sự phát triển của công nghệ trong giai đoạn này đã đem tới cho giáo dục cơ hội tổ chức dạy học đa dạng hơn và giảm chi phí di chuyển của người dạy – người học do khoảng cách địa lý Việc “dạy học từ xa” được nâng lên một tầm cao mới, chất lượng cao, hiệu quả hơn và giá thành giảm, cho phép đa dạng hóa các môi trường học tập
- Giai đoạn hiện nay: Sự phát triển của Blended Learning Khi công nghệ Web chuyển sang thế hệ thứ 2 (Web 2.0) và sự phổ biến của công nghệ điện toán đám mây, sự chiếm lĩnh công nghệ không còn là của riêng các kỹ thuật viên Các ứng dụng của Web được đơn giản hóa và cung cấp tiện ích để mọi người đều có thể tiếp cận Không giống với các giai đoạn trước, công nghệ không chỉ giữ vai trò “minh họa” cho việc dạy học trên lớp hay tạo địa hạt riêng của dạy học trực tuyến, hiện nay, công nghệ đã góp phần xóa nhòa ranh giới của dạy học trực tiếp và dạy học trực tuyến, tạo nên mô hình kết hợp của Dạy học hỗn hợp (Blended Learning) Đó là sự kết hợp của Học trực tiếp tại lớp (Classrooom Learning) với Học tập trực tuyến (Online Learning) và Học tập di động (Moblie Learning)
Nhà tâm lý học về phương tiện truyền thông, chuyên gia trong lĩnh vực e-learning, Bernard Luskin cho rằng bên cạnh nghĩa truyền thống là electronic
Trang 35– điện tử, thì chữ “e” trong thuật ngữ “e-learning” cần được hiểu là exciting, energentic, enthusiastic, emotional, extended, excellent, educational, nghĩa là học tập một cách thú vị, năng động, nhiệt tình, cảm xúc, mở rộng, tuyệt vời và
có giáo dục [29] Cách diễn giải này cũng là một khẳng định cho thấy hiệu quả của việc sử dụng công nghệ thông tin vào thay đổi diện mạo và phương thức thực hiện của quá trình dạy học được nhìn nhận từ góc độ tâm lý học phương tiện truyền thông
Cũng chính những đặc điểm thuộc về bản chất của Công nghệ dạy học vừa trình bày như trên đã dẫn tới những thay đổi về căn bản của quá trình dạy học khi sử dụng các phương tiện kỹ thuật hiện đại vào dạy học, tiêu biểu như sau:
- Mối quan hệ giữa người dạy và người học: Công nghệ dạy học có sự trợ
giúp đắc lực của máy tính và mạng Internet đã làm thay đổi căn bản vai trò, vị trí của người dạy và người học Vị thế người “truyền giáo tri thức”, “độc tôn, quyền uy về tri thức” của người dạy không còn nữa.Người dạy không còn là tâm điểm của các mối quan hệ hướng tâm trong lớp học nữa Thay vào đó, công nghệ dạy học sẽ hỗ trợ cho người dạy tối ưu hoá việc dạy học bằng việc thúc đẩy tính chủ động, tích cực, sáng tạo của người học Cụ thể:
- Tăng cường tính phân hoá, cá thể hoá (dạy học cá thể hoá thông qua hoạt động học tập tương tác, cộng tác, chú ý đến những yêu cầu, nguyện vọng, năng lực, tốc độ học của cá nhân );
- Tăng cường khả năng tự học, tự nghiên cứu cho người học (khám phá, tìm tòi, xây dựng kiến thức mới, đặt ra các vấn đề, tình huống và cách giải quyết các vấn đề đặt ra );
- Tăng cường cơ hội đánh giá và tự đánh giá cho người học (phản hồi thường xuyên);
Trang 36- Tăng cường khả năng điều hành quản lí các hoạt động học tập của người học
- Hình thức tổ chức dạy học: Trước đây, quá trình dạy và học được thực hiện
với hình thức chủ yếu là giáp mặt (Face-to-Face) đảm bảo cho quá trình dạy học được thực hiện cùng lúc, cùng nơi, cùng nhau giữa người dạy và người học (cùng đối tượng) Việc ứng dụng các phương tiện kỹ thuật hiện đại và sự trợ giúp của mạng toàn cầu Internet đã cho phép quá trình dạy học thực hiện theo nguyên tắc không cùng lúc, không cùng tại một thời điểm và điều quan trọng hơn là khả năng tương tác đa chiều giữa người học-người dạy-người học được tăng cuờng mạnh mẽ Trong hình thức tổ chức dạy học mới này (thường được các nhà giáo dục hiện nay gọi là dạy học kết nối – connective learning) người học có thể học mọi nơi, mọi lúc, học bất kỳ cái gì, học với bất
kỳ ai và tương tác trực tiếp với nội dung dạy học, thông tin tri thức môn học
Công nghệ dạy học còn tạo ra một môi trường học tập thuận lợi, tăng cường cơ hội, năng suất học tập cho người học (dạy học bằng chính các hoạt động học tập của người học, xây dựng môi trường xã hội học tập, trao đổi cộng đồng, nhóm học tập ) Các lớp học ảo, trường học “không tường”, xuyên quốc gia, không biên giới, người học - người dạy không quốc tịch đã khiến cho hình thức tổ chức dạy học thay đổi căn bản về chất, làm cho quá trình dạy học trở về đúng với bản chất tự nhiên của nó: học để biết (gia tăng giá trị cho bản thân), học để làm (hành động và tồn tại), học để chung sống (và tồn tại) và học để khẳng định (và tự khẳng định) – theo tuyên ngôn của UNESCO (1998)
Trang 37Sơ đồ 1.3 Sự thay đổi của người học và người dạy ở thế kỷ 21
Sự thay đổi của Người học ở thế kỉ 21
Người tiếp nhận thông tin,
tri thức thụ động
Người chủ động tìm kiếm, chia
sẻ thông tin, chủ thể tích cực của quá trình dạy học
Người tái tạo lại thông tin Người tạo ra (tham gia, cùng
kiến tạo) tri thức mới
Thực hiện hoạt động học
tập đơn lẻ, rời rạc
Thực hiện hoạt động học tập
hợp tác
Sự thay đổi của Người dạy ở thế kỉ 21
Người truyền thụ, chuyển
giao thông tin, tri thức
Người hỗ trợ tìm kiếm, chia sẻ thông tin cùng với người học, chủ thể tích cực của quá trình dạy học
Người nắm giữ, kiểm soát
thông tin, hoạt động
Người cùng tạo ra (tham gia, cùng kiến tạo) tri thức mới
(Nguồn: ICT Transforming Education, UNESCO, 2010)
1.2.4 Vai trò của việc sử dụng phương tiện công nghệ thông tin trong dạy
học tích hợp
Sự phát triển của các thiết bị, phương tiện công nghệ thông tin và truyền thông đã đem tới cho việc dạy học những cơ hội để thay đổi theo hướng tạo các điều kiện thuận lợi cho việc tích cực hóa hoạt động của người
Trang 38học Đặc biệt, các phương tiện công nghệ thông tin và truyền thông cũng đóng vai trò là một nguồn lực mạnh mẽ được huy động tham gia vào tổ chức các hoạt động dạy học theo quan điểm tích hợp:
- Cung cấp nguồn thông tin đa dạng cho việc lựa chọn nội dung học tập
Công nghệ kỹ thuật số đã đem tới khả năng lưu trữ số hóa lượng lớn các văn bản, tài liệu, thông tin Chức năng này của công nghệ số hóa có thể được sử dụng để xây dựng kho dữ liệu điện tử phục vụ dạy học Đối với dạy học tích hợp, việc cung cấp cho người học những công cụ để tìm kiếm tư liệu, tập hợp, huy động kiến thức cho giải quyết các vấn đề học tập là việc làm có ý nghĩa lớn Các liên kết và siêu liên kết cho phép tập hợp các nội dung phục vụ dạy – học đa dạng hơn nhanh hơn nhiều lần so với sách giấy truyền thống Điều này cũng đồng nghĩa rằng người dạy và người học có được sự lựa chọn nội dung học học tích hợp linh hoạt và phong phú hơn với các phương tiện dạy học
truyền thống
- Cung cấp đa dạng cách thức tổ chức thực hiện nhiệm vụ học tập để
hình thành năng lực Dạy học tích hợp không chỉ dừng lại ở việc tập hợp
lượng lớn tri thức từ các lĩnh vực khoa học, các phương diện khoa học khác nhau, mà quan trong hơn là sự tổ chức cách học sinh liên kết, sử dụng các đơn
vị tri thức ấy để hình thành năng lực thông qua thực hiện các nhiệm vụ học tập Do đó, việc dùng các phương tiện dạy học ra sao để tăng cơ hội cho người học thực hành, rèn luyện trở thành một yếu tố quan trọng quyết định thành công của dạy học tích hợp Trước yêu cầu đó, các phương tiện công nghệ thông tin bộc lộ khả năng cung cấp đa dạng công cụ học tập cho người
học, với nhiều định dạng, nhằm tối đa hóa các năng lực được hình thành
- Tăng cường khả năng hỗ trợ, định hướng người học thực hiện các
nhiệm vụ học tập để hình thành năng lực cần đạt Quá trình người học huy
động các đơn vị kiến thức, rèn luyện để hình thành năng lực luôn cần được sự theo sát, hỗ trợ, định hướng của giáo viên Sự tham gia của các phương tiện công nghệ, đặc biệt là các ứng dụng trên nền tảng Internet cho phép sự hỗ trợ,
Trang 39định hướng này được diễn ra liên tục, đồng thời với quá trình học tập Các phương tiện công nghệ thông tin và truyền thông với tính lan truyền, tính tức thời đã đem tới khả năng hỗ trợ người học vượt qua cản trở của thời gian và không gian địa lý Bên cạnh đó, với tư cách là những “công cụ thông minh”, các phương tiện công nghệ sẽ giúp người học tạo các liên kết, mô hình hóa,
trực quan hóa, hệ thống hóa… hệ thống kiến thức, kỹ năng
1.3 Sử dụng công cụ Web 2.0 trong dạy học
1.3.1 Khái niệm Web 2.0
Web 2.0 là cách gọi cho thế hệ thứ hai của công nghệ Web Thế hệ Web này được xây dựng tập trung vào hai yếu tố cốt lõi là khả năng hợp tác làm giàu thông tin và chia sẻ mang tính xã hội.Web 2.0 đã tạo nên một cuộc cách mạng trong thế giới truyền thông số So với thế hệ trước đó, Web 2.0 có những thay đổi quan trọng không chỉ ở nền tảng công nghệ mà còn trong cả cách thức sử dụng, là cơ sở hình thành nên môi trường cộng đồng, cho phép mọi người cùng tham gia đóng góp cho xã hội “ảo” chứ không chỉ dừng lại ở duyệt và xem
Thế hệ Web đầu tiên (tạm gọi là Web 1.0) chủ yếu bao gồm các website “đóng” của các hãng thông tấn hay công ty, được xây dựng để nhằm mục đích tiếp cận độc giả và khách hàng hiệu quả hơn.Nó tập trung vào việc phát tin hơn là phương tiện chia sẻ thông tin.Sự xuất hiện của các kỹ thuật và thuật toán mới được đưa vào blog (hay weblog), wiki… đã khiến cho web được tăng cường tính cộng đồng và cộng tác hơn
Khái niệm Web 2.0 đầu tiên được Dale Dougherty – Phó chủ tịch của O‟Reilly Media đưa ra tại hội thảo Web 2.0 lần thứ nhất được tổ chức vào tháng 10 năm 2004 Dougherty không đưa ra định nghĩa mà chỉ dùng các ví
dụ so sánh phân biệt Web thế hệ trước và Web 2.0 như: DoubleClick là Web 1.0, Google AdSense là Web 2.0; Ofoto là Web 1.0, Flickr là Web 2.0; Britanica Online là Web 1.0, Wikipedia là Web 2.0…
Trang 40Cũng trong hội thảo đó, Tim O‟Reaily – chủ tịch kiêm giám đốc điều hành O‟Reaily Media đã nêu ra 7 đặc tính của Web 2.0
1 Web có vai trò nền tảng, có thể chạy mọi ứng dụng
2 Tập hợp trí tuệ cộng đồng
3 Dữ liệu có vai trò then chốt
4 Phần mềm được cung cấp ở dạng dịch vụ web và được cập nhật không ngừng
5 Phát triển ứng dụng dễ dàng và nhanh chóng
6 Phần mềm có thể chạy trên nhiều thiết bị
7 Giao diện ứng dụng phong phú
Web 2.0 tồn tại như một nền tảng đa chức năng (platform) cho phép chạy mọi ứng dụng và trên đa dạng các thiết bị, kể cả các thiết bị cầm tay, thiết bị di động Nó cũng có khả năng cập nhật và chia sẻ thông tin liên tục, không giới hạn Nội dung của Web 2.0 được xây dựng trên cơ sở sự tham gia đóng góp của cộng đồng người dùng Sự phát triển của Web 2.0 cũng được thể hiện qua cấp số nhân của lượng dữ liệu (big data) và thông tin được chia
sẻ
Các công cụ chia sẻ xã hội chạy trên nền Web 2.0 được phân loại theo một số nhóm chính như sau: Mạng xã hội; chia sẻ, cùng làm giàu dữ liệu; đánh dấu, lưu trữ chung mang tính cộng đồng (xã hội); công cụ giao tiếp cộng đồng; công cụ hợp tác đẳng thời; truyền thông (phát thanh, phát hình) cộng đồng; blog cộng đồng…
Bảng 1.1: So sánh công nghệ Web 1.0 và Web 2.0
Công nghệ nhấn mạnh vào đặc tính
Web
Công nghệ hướng đến chia sẻ xã hội
Công nghệ đọc – xem Công nghệ đọc – đóng góp dữ liệu
thông tin
Không có khả năng tương tác Lấy tương tác xã hội làm tiêu điểm
Nội dung có sẵn Người dùng đóng góp xây dựng nội