Các nghiên cứu cũng chỉ ra mối quan hệ giữa các vấn đề sức khỏe tâm thần lo âu, trầm cảm liên quan đến hành vi tình dục nguy cơ, tình trạng lây nhiễm HIV, kỳ thị, phân biệt đối xử của cộ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN HỮU ANH
RỐI LOẠN LO ÂU VÀ TRẦM CẢM
TRONG NHÓMNAM ĐỒNG TÍNH TẠI HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
Hà Nội – 2018
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN HỮU ANH
RỐI LOẠN LO ÂU VÀ TRẦM CẢM
TRONG NHÓM NAM ĐỒNG TÍNH TẠI HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
CHUYÊN NGÀNH: TÂM LÝ HỌC LÂM SÀNG TRẺ EM VÀ VỊ THÀNH NIÊN
Mã số: Thí điểm
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS ĐỖ NGỌC KHANH
Hà Nội – 2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Đỗ Ngọc Khanh - người Thầy đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình hoàn thành luận văn tốt nghiệp Tôi xin gửi lời cảm ơn tới các Thầy, Cô trong chương trình Tâm lý học lâm sàng trẻ em vàvị thành niên đã tận tình giảng dạy, trang bị kiến thức để tôi hoàn thành cuốn luận văn này
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn ban giám hiệu, phòng sau đại học trường Đại học Giáo dục- Đại học Quốc Gia Hà Nội đã tạo mọi điều kiện để tôi có thể hoàn thành quá trình học tập và thực hiện luận văn tốt nghiệp
Xin trân trọng cảm ơn ban lãnh đạo cùng các anh, chị, em và bạn đồng nghiệp tại phòng khám SHP (Sống Hạnh Phúc) thuộc Trung tâm Nghiên cứu
và Đào tạo cán bộ phòng chống HIV/AIDS -Trường Đại học Y Hà Nội đã tạo điều kiện cho tôi triển khai đề tài nghiên cứu để hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới bạn bè, những người thân yêu trong gia đình đã luôn động viên tôi và là chỗ dựa để tôi có được kết quả như ngày hôm nay
Hà Nội, tháng 3 năm 2018
Tác giả
Nguyễn Hữu Anh
Trang 4DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DSMV Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorder (Hướng
dẫn chẩn đoán và thống kê các rối loạn tâm thần)
HIV Human immunodeficiency virus infection (virus gây suy
giảm miễn dịch mắc phải ở người)
IDAHO International DayAgainst Homophobia and Transphobia (Ngày
Quốc tế chống kỳ thị người đồng tính và chuyển giới)
ICD 10 International Classification of Diseases (Phân loại quốc tế
về bệnh tật)
MSM Men who have sex with men (Nam có quan hệ tình dục với nam)
LGBT Lesbian, Gay, Bisexual, Transgender (Đồng tính nữ, đồng
tính nam, lưỡng tính và chuyển giới)
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT ii
DANH MỤC BẢNG v
DANH MỤC BIỂU ĐỒ vi
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1CƠ SỞ LÝ LUẬNVỀ RỐI LOẠN LO ÂU VÀ TRẦM CẢM TRONG NHÓM NĐT 6
1.1Tổng quan tình hình nghiên cứu 6
1.1.1 Các nghiên cứu trên thế giới 7
1.1.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam 10
1.2Một số khái niệm 13
1.2.1Rối loạn lo âu 13
1.2.2Trầm cảm 22
1.2.3Nam đồng tính 28
1.2.4Rối loạn lo âu và trầm cảm trong nhóm nam đồng tính 31
Tiểu kết chương 1 32
CHƯƠNG 2TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33
2.1 Tổ chức nghiên cứu 33
2.1.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu: 33
2.1.2 Đặc điểm khách thể nghiên cứu: 33
2.2 Quy trình nghiên cứu 34
2.3 Các phương pháp nghiên cứu 34
2.3.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận 34
2.3.2 Phương pháp điều tra bảng hỏi có sử dụng thang đo 35
2.3.3 Phương pháp chọn mẫu 37
2.3.4 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 38
2.4 Đạo đức nghiên cứu 38
Trang 6CHƯƠNG 3KẾT QUẢ NGHIÊN CỨUVỀ RỐI LOẠN LO ÂU VÀ
TRẦM CẢM TRONG NHÓM NĐT 40
3.1 Đặc điểm chung của đối tượng tham gia nghiên cứu 40
3.1.1 Đặc điểm nhân khẩu xã hội học nhóm nghiên cứu 40
3.1.2 Đặc điểm tình dục nhóm NĐT 42
3.1.3 Sử dụng chất gây nghiện 45
3.1.4 Kỳ thị 46
3.1.5 STIs và tiếp cận dịch vụ y tế 48
3.2 Thực trạng lo âu, trầm cảm trên nhóm NĐT 49
3.2.1 Tỷ lệ lo âu 49
3.2.2 Tỷ lệ trầm cảm 51
3.3 Một số yếu tố liên quan đến lo âu, trầm cảm trên nhóm NĐT 54
3.3.1 Phân tích một số yếu tố nguy cơ liên quan đến lo âu trên nhóm NĐT 54 3.3.2 Phân tích một số yếu tố nguy cơ liên quan đến trầm cảm trên nhóm NĐT 56 Tiểu kết chương 3 60
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO 64
PHỤ LỤC 69
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 3 1 Đặc điểm nhân khẩu xã hội học về đối tượng nghiên cứu 40
Bảng 3 2 Đặc điểm tình dục của nhóm NĐT 43
Bảng 3 3 Trải nghiệm về kỳ thị trong nhóm NĐT 46
Bảng 3 4 Sức khỏe tình dục và tiếp cận dịch vụ y tế trong 6 tháng qua 48
Bảng 3 5 Biểu hiện lo âu theo thang đo GAD7 49
Bảng 3 6 Biểu hiện trầm cảm theo thang đo PHQ9 51
Bảng 3 7 Một số yếu tố nguy cơ liên quan đến lo âu trên nhóm NĐT 54
Bảng 3 8 Một số yếu tố nguy cơ liên quan đến trầm cảm trên nhóm NĐT 56
Trang 8DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3 1 Đặc điểm giới tính bản thân 42
Biểu đồ 3 2 Tình hình sử dụng chất gây nghiện trong nhóm NĐT 45
Biểu đồ 3 3 Phân loại mức độ lo âu 50
Biểu đồ 3 4 Phân loại các mức độ trầm cảm 53
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Lo âu và trầm cảm là những vấn đề rối loạn tâm thần phổ biến trong quần thể nói chung Trên thế giới ước tính có khoảng trên 200 triệu người có các triệu chứng trầm cảm điển hình tương đương với 5% dân số toàn cầu trong khi đó ở Việt Nam tỷ lệ này là 2,8% [3] Điều tra dịch tễ học 10 bệnh tâm thần thường gặp cho thấy rối loạn lo âu chiếm tỷ lệ 2,7% số người có rối loạn tâm thần [44] Tỷ lệ trầm cảm ở trẻ vị thành niên khoảng 8,3% trong đó trầm cảm nặng chiếm khoảng 20% [49]
Các tổ chức quốc tế ước tính có khoảng 3% đến 5% nam giới trong độ tuổi 15-49 thường xuyên quan hệ tình dục đồng giới và 15% đã từng có trải nghiệm quan hệ tình dục đồng giới ít nhất một lần trong đời [23] Trong xã hội thì nam đồng tính (NĐT) gặp nhiều các vấn đề liên quan đến kỳ thị và phân biệt đối xử từ trong cộng đồng về xu hướng tình dục của nhóm Nhiều quốc gia cũng chưa có luật liên quan đến quần thể này như vấn đề hôn nhân đồng tính cũng như thiếu các dịch vụ y tế phù hợp với nhóm này Vì vậy đây
là một quần thể ẩn, khó tiếp cận trong các hoạt động nghiên cứu và can thiệp
về sức khỏe [42][7]
Các nghiên cứu trên thế giới cho thấy nhóm NĐT phải đối diện với nguy
cơ cao về các rối loạn tâm thần trong đó có lo âu, trầm cảm [42][40] Các nghiên cứu cũng chỉ ra mối quan hệ giữa các vấn đề sức khỏe tâm thần (lo âu, trầm cảm) liên quan đến hành vi tình dục nguy cơ, tình trạng lây nhiễm HIV,
kỳ thị, phân biệt đối xử của cộng đồng, khó khăn trong việc tiếp cận dịch vụ y
tế, việc tiết lộ khuynh hướng tình dục bản thân Những vấn đề sức khỏe tâm thần không được can thiệp có thể dẫn tới các vấn đề về tự tử hay lạm dụng chất như một cách thức đối phó [42]
Ở Việt Nam các nghiên cứu trên nhóm NĐT bắt đầu từ những năm 2000 tuy nhiên chủ yếu tập trung vào hành vi tình dục của nhóm này liên quan đến
Trang 10lây nhiễm vào HIV và STIs [7][1] Từ năm 2005 trở lại đây các nghiên cứu tập trung nhiều về vấn đề sử dụng chất, kỳ thị của xã hội tuy nhiên chủ yếu quan tâm đến nhóm nam bán dâm đồng tính [9][10] Cho đến nay còn thiếu thông tin liên quan đến các vấn đề sức khỏe tâm thần trên nhóm NĐT nói chung Để góp phần tăng cường các can thiệp hỗ trợ về vấn đề sức khỏe tâm thần liên quan đến trầm cảm và lo âu rất cần có những hiểu biết đầy đủ về thực trạng vấn đề sức khỏe tâm thần trên quần thể này Trên cơ sở đó chúng
tôi thực hiện nghiên cứu “Rối loạn lo âu và trầm cảm trong nhóm nam đồng
tính tại Hà Nội”
2 Mục đích của nghiên cứu
Việc triển khai đề tài “Rối loạn lo âu và trầm cảm trên nhóm nam đồng tính tại Hà Nội” hướng tới 2 mục tiêu:
nam đồng tính ở Hà Nội
quần thể này nhằm hướng tới nâng cao nhận thức về sức khỏe tâm thần cho nhóm và có những can thiệp hỗ trợ phù hợp
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trong khuôn khổ đề tài luận văn, nhiệm vụ nghiên cứu sẽ tập trung vào các vấn đề:
- Tìm hiểu cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu: một số khái niệm liên quan bao gồm NĐT, lo âu, trầm cảm Tổng quan về các nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam đã làm về vấn đề lo âu, trầm cảm trên quần thể nam thanh niên nói chung và nam đồng tình nói riêng
- Tìm hiểu thực trạng về rối loạn lo âu và trầm cảm và các yếu tố liên quan trên quần thể NĐT ở Hà Nội
4 Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: rối loạn lo âu và trầm cảm
- Khách thể nghiên cứu: 100 NĐT hiện đang sinh sống ở Hà Nội
Trang 115 Câu hỏi nghiên cứu
- Rối loạn lo âu và trầm cảm trên nhóm NĐT tại Hà Nội như thế nào?
- Có những yếu tố gì liên quan đến rối loạn lo âu và trầm cảm trên quần thể NĐT tại Hà Nội?
6 Giả thuyết khoa học
- Tỉ lệ về nguy cơ trầm cảm và rối loạn lo âu trong nhóm NĐT cao hơn
so với quần thể dân số nói chung
- Có mối liên quan giữa các yếu tố đặc điểm nhân khẩu học, đặc điểm về nhân dạng tình dục, mức độ kỳ thị, sử dụng chất với tình trạng lo âu, trầm
cảm trên nhóm NĐT tại Hà Nội
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Đọc, phân tích các tài liệu nghiên cứu để khái quát hóa cơ sở lý luận cho đề tài
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp điều tra bảng hỏi có sử dụng test và thang đo
- Bảng hỏi thu thập thông tin về đặc điểm nhân khẩu học: tuổi, nơi sinh, thời gian sinh sống ở Hà Nội, trình độ học vấn, nơi ngủ qua đêm, nghề nghiệp, thu nhập trong 30 ngày qua
- Bảng hỏi về đặc điểm tình dục: đặc điểm giới tính tự nhận, xu hướng tình dục, tên gọi mô tả chính xác bản thân, bạo lực tình dục
- Bảng hỏi về sử dụng chất gây nghiện: từng sử dụng các chất gây nghiện trong cuộc đời của khách thể và trong 30 ngày qua Các chất gây nghiện bao gồm 3 nhóm là (1) nhóm các chất hợp pháp có rượu/bia và thuốc lá, (2) nhóm các chất ma túy có cần sa, thuốc lắc, các chất dạng amphetamine và (3) các loại thuốc sử dụng không vì mục đích điều trị bệnh có các loại thuốc ngủ
- Bảng hỏi về các vấn đề sức khỏe và tiếp cận dịch vụ y tế: các vấn đề sức khỏe gặp phải trong 6 tháng qua, tiếp cận dịch vụ y tế trong 6 tháng qua
Trang 127.2.2 Phương pháp trắc nghiệm
Sử dụng các trắc nghiệm tiêu chuẩn để khả sát các vấn đề về kỳ thị và các vấn đề về sức khỏe tâm thần trên nhóm NĐT bao gồm: (1) Thang đo đánh giá vấn đề kỳ thị bao gồm 3 thang đo là “Bị kỳ thị” , “Nhận thức về kỳ thị” và
“Tự kỳ thị” đã được thích ứng tại Việt Nam[35] ; (2) Thang đo GAD-7 (Generalized anxiety Disorder) để sàng lọc phân loại mức độ lo âu [45]; (3) Thang đo PHQ9 (Patient health questionnaire-9) để sàng lọc và phân loại mức
độ trầm cảm [36]
7.2.3 Phương pháp thống kê
Số liệu sau khi thu thập được chúng tôi tiến hành tổng hợp, mã hóa, xử
lý, phân tích và viết báo cáo Số liệu được nhập bằng phần mềm epidata 3.1
và phân tích bằng phần mềm STATA 13.0
8 Phạm vi nghiên cứu
8.1 Về thời gian và địa điểm nghiên cứu
- Thời gian: nghiên cứu trong khoảng thời gian từ tháng 8/2017 đến tháng 11/2017
- Địa điểm: tại phòng khám SHP (Sexual health promotion clinic)- Trung tâm Nghiên cứu vàĐào tạo cán bộ phòng chống HIV/AIDS - Trường đại học
Y Hà Nội
8.2 Về mẫu nghiên cứu
108 nam giới nhận mình có khuynh hướng tình dục đồng giới được thu thập tại phòng khám SHP
9 Giới hạn nghiên cứu
- Do hạn chế về thời gian, nguồn nhân lực nên trong nghiên cứu này chúng tôi chưa tiếp cận được nhiều khách thể Chúng tôi mới chỉ tập trung thu thập khách thể tại phòng khám SHP mà chưa tiếp cận tại các câu lạc bộ, các địa điểm trong cộng đồng nên đối tượng mẫu chưa đa dạng vì có nhiều khách thể ngại không muốn tới bệnh viện hay phòng khám Các nghiên cứu trong
Trang 13tương lai có thể triển khai nghiên cứu lâu hơn và ở nhiều địa điểm có NĐT hơn để tăng số lượng cũng như sự đa dạng trong mẫu nghiên cứu
- Trong nghiên cứu này chúng tôi tìm hiểu thực trạng về rối loạn lo âu và trầm cảm, xem xét các mức độ phân loại của rối loạn lo âu và trầm cảm để có bức tranh chung nên chưa đi sâu vào từng thể loại các vấn đề rối loạn lo âu và trầm cảm Các nghiên cứu trong thời gian tới sẽ tìm hiểu rõ hơn từng loại vấn
đề lo âu và trầm cảm trên cơ sở đó sẽ giúp hiểu rõ hơn về các nhóm vấn đề
này trong quần thể NĐT
10 Đóng góp mới của đề tài
- Kết quả nghiên cứu làm rõ hơn đặc điểm tâm lý của quần thể NĐT
- Đưa ra được tỷ lệ về nguy cơ liên quan đến rối loạn lo âu và trầm cảm trong nhóm NĐT
- Tìm thấy các yếu tố liên quan đến rối loạn lo âu và nguy cơ trầm cảm trên nhóm NĐT
11 Cấu trúc luận văn
Nội dung chính của luận văn bao gồm các chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu
Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu và một số đề xuất
Trang 14CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN
VỀ RỐI LOẠN LO ÂU VÀ TRẦM CẢM TRONG NHÓM NĐT
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
NĐT và sức khỏe tâm thần của nhóm NĐT đã được quan tâm và nghiên cứu từ lâu, các nghiên cứu đã đề cập đến lịch sử ra đời của nhóm NĐT, quá trình đấu tranh công nhận người đồng tính, các vấn đề sức khỏe tâm thần và các yếu tố liên quan
Sự ra đời nhóm NĐT
Đồng tính trong xã hội đã tồn tại từ lâu và vấn đề nhóm đồng tính phải đối diện là sự kỳ thị của xã hội liên quan đến khuynh hướng quan hệ tình dục của nhóm này Vào khoảng trước thế kỉ thứ 19, hiện tượng đồng tính không được xã hội chấp nhận như một điều tự nhiên mà bị coi như một vấn đề bệnh
lý liên quan đến sức khỏe tâm thần và cần phải chữa trị Sau đó một thời gian dài cho đến thập niên 1960, bắt đầu xuất hiện cuộc đấu tranh đòi quyền bình đẳng của những nhóm đồng tính nam đã xảy ra song hành cùng với nhiều cuộc đấu tranh khác tiêu biểu như cuộc cách mạng về quyền của người phụ
nữ và quyền công dân Biểu trưng cho cuộc đấu tranh về quyền lợi của nhóm gay được đánh dấu bằng cuộc bạo loạn xảy ra tại Greenwich Village tại thành phố New York năm 1969 sau khi cảnh sát tấn công bất ngờ vào quán Stonewall Trong suốt khoảng thời gian từ giữa cho đến cuối thập niên 1960, rất nhiều nhóm đồng tính nam đã phát triển và bắt đầu tạo áp lực với ngành Y
tế và Hội tâm thần liên quan đến việc coi đồng tính như một bệnh Trước những áp lực về chính trị và xã hội, năm 1970 Hội tâm thần Hoa Kỳ đã nhìn nhận và đánh giá lại hiện tượng đồng tính luyến ái Vào tháng 12 năm 1973, hội tâm thần Hoa Kỳ đã quyết định loại bỏ hiện tượng “đồng tính” ra khỏi danh sách các bệnh lý tâm thần mà đã được đề xuất trước đó [47] Đến ngày 17/5/1990, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã công bố loại bỏ đồng tính luyến
Trang 15ái ra khỏi danh sách bệnh tâm thần Sự kiện 17/5 được tổ chức tại hơn 100 quốc gia, tại tất cả các khu vực trên thế giới từ năm 2004 Sự kiện này được công nhận chính thức bởi nhiều Chính phủ và tổ chức quốc tế như Nghị viện Châu Âu và rất nhiều nhà chức trách địa phương Liên Hiệp quốc đã chọn ngày 17 tháng 5 hàng năm là "Ngày quốc tế chống kỳ thị, phân biệt đối xử đối với người đồng tính, song tính và chuyển giới (LGBT) - IDAHO" (Tiếng Anh: International Day Against Homophobia and Transphobia) [20]
Tuy nhiên, đồng tính nam không phải xã hội nào cũng chấp nhận, họ chịu sự kỳ thị của cộng đồng và là nhóm yếu thế trong xã hội Từ khi dịch HIV xuất hiện được phát hiện trên những người nam giới có quan hệ tình dục đồng tính, nhóm đồng tính nam được coi là một trong những nhóm có nguy
cơ cao liên quan đến lây nhiễm HIV bởi hành vi quan hệ tình dục của họ [30]
1.1.1 Các nghiên cứu trên thế giới
Trên thế giới đã có các nghiên cứu tìm hiểu vê vấn đề sức khỏe tâm thần trên nhóm NĐT, các yếu tố liên quan và hệ quả của các vấn đề sức khỏe tâm thần lên
nhóm NĐT
Hướng nghiên cứu về tỷ lệ rối loạn lo âu và trầm cảm của nhóm NĐT
Các nghiên cứu trên thế giới chỉ ra những vấn đề sức khỏe tâm thần mà quần thể NĐT phải đối mặt như vấn đề trầm cảm, lo âu khá phổ biến Nghiên cứu của Murugesan Sivasubramanian tại Ấn Độ cho thấy trong số 150 nam
quan hệ tình dục đồng giới (MSM- Men who have sex with men), 29% có
nguy cơ trầm cảm và 24% có bất kỳ một rối loạn lo âu Kết quả này gợi ý cần
có dịch vụ chăm sóc về sức khỏe tâm thần cho nhóm MSM ở Mumbai [42]
Nghiên cứu của Louis F Graham và cộng sự năm 2011 trên quần thể NĐT da đen tại Mỹ cho thấy tỷ lệ có nguy cơ trầm cảm là 30% và lo âu là 33% [40]
Trong nghiên cứu của Yan và cộng sự khi so sánh sự hỗ trợ xã hội và triệu chứng trầm cảm giữa nhóm nam có quan hệ tình dục đồng tính và nhóm
Trang 16nam bán dâm cho thấy triệu chứng trầm cảm trong nhóm nam bán dâm là 70% cao hơn nhóm MSM là 46% [33]
Nghiên cứu của Tomori điều tra trên 11000 MSM cho thấy 11% gặp vấn đề trầm cảm trong đó 1,1% trầm cảm nặng và 9,9% trầm cảm trung bình
Tỷ lệ có ý tưởng tự tử tương đối phổ biến trong nhóm nghiên cứu chiếm 34%
Tỷ lệ trầm cảm cao hơn trong nhóm MSM biết được tình trạng bị nhiễm HIV của mình là 55,6% và điều này cho thấy nhóm MSM nhiễm HIV dễ gặp vấn
đề trầm cảm hơn so với nhóm không bị nhiễm HIV [26]
Hướng nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến lo âu và trầm cảm ở nhóm NĐT
Có nhiều nghiên cứu tìm hiểu về các yếu tố phân biệt kỳ thị có liên quan đến vấn đề sức khỏe tâm thần trong quần thể nhóm NĐT Trong một nghiên cứu khác của tác giả Guanzhi Chen và cộng sự nghiên cứu trên 710 MSM chỉ ra rằng khoảng gần 1/2 MSM tham gia nghiên cứu này có những trải nghiệm với các hình thức khác nhau liên quan đến phân biệt đối xử và kỳ thị sau khi tiết lộ khuynh hướng tình dục bản thân Và 44-60% trong số này cho biết cảm thấy đau khổ buồn phiền bởi khuynh hướng tình dục của bản thân và có hoặc không liên quan đến hành vi tình dục nguy cơ [32]
Nghiên cứu của Louis F Graham trên quần thể NĐT da mầu cũng chỉ
ra mối liên quan chặt chẽ giữa sự phân biệt đối xử liên quan đến vấn đề đồng tính Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng cho thấy phân biệt chủng tộc và nhận thức của bạn bè những người đồng tính về tư tưởng chống đối lại những người đồng tính có liên quan đến tình trạng trầm cảm và lo âu của đối tượng tham gia nghiên cứu [40]
Nghiên cứu của Kyung-Hee Choi trên quần thể MSM gốc Phi, Á cũng chỉ ra nhận thức của cộng đồng về chủ nghĩa phân biệt người đồng tính là yếu
tố liên quan đến trầm cảm của người tham gia nghiên cứu [37]
Trang 17Kết quả nghiên cứu của Tomori trên nhóm MSM chỉ ra mối tương quan chặt chẽ giữa việc tiết lộ tình trạng xu hướng tình dục đồng giới của bản thân, tiết lộ tình trạng HIV bản thân và việc sử dụng chất gây nghiện làm tăng nguy
cơ trầm cảm trong nhóm này Việc thiếu hỗ trợ về tâm lý sau khi MSM tiết lộ
xu hướng tình dục và tình trạng HIV của bản thân với người khác có thể đóng vai trò quan trọng làm tăng nguy cơ trầm cảm trong nhóm này Điều này cho thấy các dịch vụ hỗ trợ về sức khỏe tâm thần là cấu phần không thể thiếu cho các chương trình chăm sóc sức khỏe cho các nhóm MSM nói chung và MSM nhiễm HIV [26]
Bên cạnh các yếu tố làm tăng nguy cơ cao với trầm cảm và lo âu thì cũng có những yếu tố làm giảm các nguy cơ này trên nhóm MSM đã được các nghiên cứu chỉ ra
Một hướng nghiên cứu khác tìm hiểu các yếu tố bảo vệ giúp cho người đồng tính có thể đối phó với vấn đề trầm cảm và lo âu Nghiên cứu của Murugesan Sivasubramanian trên 150 MSM ở Ấn Độ nhận thấy rằng yếu tố
tự tin vào bản thân và biết đến những dịch vụ hỗ trợ xã hội thì ít gặp vấn đề trầm cảm và lo âu [42]
Trong nghiên cứu của Yan trên nhóm MSM và nam bán dâm đồng tính cho thấy hỗ trợ xã hội là yếu tố bảo vệ với nguy cơ trầm cảm cụ thể nam bán dâm đồng tính nhận được nhiều dịch vụ hỗ trợ xã hội thì giảm nguy cơ gặp các dấu hiệu trầm cảm Kết quả này gợi ý tới việc thiết kế các chương trình hỗ trợ tâm lý cho quần thể này [33]
Hướng nghiên cứu về hậu quả của các vấn đề sức khỏe tâm thần trong nhóm đồng tính
Nghiên cứu của Salomon đề cập đến tác động của trầm cảm ảnh hưởng đến lòng tự trọng, sự tự tin, hành vi tự bảo vệ và có thể tăng nguy cơ sử dụng chất gây nghiện trong nhóm NĐT Tỷ lệ sử dụng chất gây nghiện của nhóm MSM từ kết quả nghiên cứu này khá phổ biến bao gồm tài mà (60%), các loại
Trang 18ma túy gây ảo giác (40%) và amphetaminenhư (18%) [46] Việc sử dụng chất gây nghiện như một chiến lược giúp MSM vượt qua các vấn đề về tâm thần
mà họ đang gặp phải tuy nhiên họ cũng đối diện với các nguy cơ từ tác động gây hại của chất gây nghiện lên cơ thể trong quá trình sử dụng
Với nhóm MSM nhiễm HIV, các nghiên cứu cũng đề cập tới các vấn đề sức khỏe tâm thần mà nhóm gặp phải nếu không được hỗ trợ sẽ ảnh hưởng đến việc gắn kết nhóm này với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe và tuân thủ điều trị HIV [26]
Hệ quả nguy hại nhất của trầm cảm nếu không được hỗ trợ kịp thời có thể dẫn đến tự tử Nghiên cứu của Murugesan Sivasubramanian tại Ấn Độ cho thấy tỷ lệ gặp các vấn đề sức khỏe tâm thần trong nhóm MSM ở Mumbai rất cao và 45% có ý tưởng về tự tử trong đó 66% nguy cơ thấp, 19% nguy cơ trung bình và 15% nguy cơ cao [42]
1.1.2 Các nghiên cứu tại Việt Nam
Các nghiên cứu tại Việt Nam bắt đầu quan tâm đến quần thể MSM trong đó có nhóm NĐT từ những thập niên 1990 Tuy nhiên, từ những năm
2000 trở đi mới có những nghiên cứu quan tâm đến vấn đề sức khỏe tâm thần của quần thể MSM
Hướng nghiên cứu về đặc điểm nhóm NĐT ở Việt Nam và nguy cơ lây nhiễm HIV và các bệnh lây truyền qua đường tình dục
Trong bối cảnh ở Việt Nam, từ cuối thập niên 1990 đến đầu thập niên
2000 đã có những nghiên cứu tìm hiểu về nhóm MSM như nghiên cứu của Done Colby trên 219 MSM [27], nghiên cứu của Nguyễn Anh Tuấn và cộng
sự trên 600 MSM tại thành phố Hồ Chí Minh tìm hiểu về đặc điểm nhân khẩu
xã hội học cũng như những hành vi nguy cơ liên quan đến sức khỏe tình dục
và sự kỳ thị [19] Trong thời gian gần đây các nghiên cứu mở rộng và quan tâm nhiều đến nhóm nam bán dâm đồng tính Một nghiên cứu tiến hành trên
110 nam bán dâm đồng giới tại Hà Nội năm 2007 để tìm hiểu đặc điểm dịch
Trang 19tễ học lây nhiễm HIV/STIs [7] Nghiên cứu của Vũ Ngọc Bảo và cộng sự tại thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội tìm hiểu vấn đề sử dụng chất gây nghiện trong nhóm này [1] Nhìn chung, các nghiên cứu cho thấy hiện tượng tình dục đồng giới nam ở Việt Nam không phải là hiếm và khá đa dạng về xuất thân, lối sống, hành vi quan hệ tình dục và những nguy cơ liên quan đến lây nhiễm HIV/STIs
Hướng nghiên cứu về sức khỏe tâm thần và các yếu tố nguy cơ liên quan trên nhóm NĐT
Nghiên cứu của Vũ Ngọc Bảo và cộng sự tiến hành từ năm 2009-2010 quan tâm đến vấn đề sử dụng ma túy và tiếp cận dịch vụ y tế của quần thể nam đồng tính ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh cho thấy sử dụng ma túy không chỉ một loại mà nhiều loại và mục đích sử dụng như cách thức đối phó với các vấn đề căng thẳng trong cuộc sống [1] Nghiên cứu của Bùi Thị Minh Hảo và cộng sự trên 710 nam bán dâm đồng giới cho thấy tỷ lệ sử dụng methamphetamine là 33% và sử dụng trong 30 ngày qua là 17% [11] Bên cạnh việc quan tâm đến hành vi sử dụng ma túy, một số nghiên cứu sau này quan tâm nhiều hơn tới thực trạng trầm cảm lo âu trên quần thể nhóm nam bán dâm đồng tính Nghiên cứu của Bùi Thị Minh Hảo và cộng sự cho thấy
có tới 1/3 đối tượng bị stress (31%), 1/2 đối tượng trầm cảm (49,1%) và gần 2/3 đối tượng lo âu (57,7%) [11];
Nghiên cứu của Vũ Thị Thu Nga và cộng sự về vấn đề sức khỏe tâm thần trên hơn 600 NĐT ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh năm 2014 cho thấy tỷ lệ trầm cảm trên nhóm NĐT là 11,3% trong đó 10% từng cho biết là
đã nghĩ đến tự tử trong 2 tuần qua [43]
Các yếu tố nguy cơ liên quan đến vấn đề sức khỏe tâm thần các nghiên cứu đưa ra đó là vấn đề sử dụng ma túy nhất là các loại ma túy tổng hợp, bạo lực và lạm dụng tình dục, kỳ thị
Trang 20Trong nghiên cứu của Vũ Thị Thu Nga và cộng sự cho thấy nguy cơ trầm cảm trong nhóm sử dụng ATS (các chất ma túy thuộc nhóm amphetamine) cao gấp 2 lần so với nhóm không sử dụng ATS và trong nhóm
bị kỳ thị liên quan đến đồng tính cao gấp 2 lần nhóm không bị kỳ thị [43] Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng có mối liên quan giữa việc sử dụng ma túy và vấn đề sức khỏe tâm thần trên nhóm nam bán dâm đồng giới Nghiên cứu của Bùi Minh Hảo và cộng sự cho thấy trong hơn 600 nam bán dâm đồng giới tham gia nghiên thì đối tượng đang sử dụng ma túy có nguy cơ trầm cảm cao gấp 1,72 lần đối tượng hiện không sử dụng ma túy Nguy cơ lo âu của đối tượng chỉ liên quan với sử dụng ma túy trong 30 ngày qua (aOR=1,52; 95%CI [1,07-2,15]), trong đó đối tượng hiện đang sử dụng ma túy có nguy cơ lo âu cao gấp 1,52 lần đối tượng hiện đang không sử dụng ma túy [11]
Liên quan đến vấn đề trầm cảm trong nhóm nam bán dâm đồng tính, nghiên cứu của Bùi Thị Minh Hảo và cộng sự cho thấy những nam bán dâm đồng tính từng có trải nghiệm về bạo lực tình dục thì có nguy cơ trầm cảm cao hơn những đối tượng mà chưa bao giờ trải qua [11]
Kỳ thị cũng là một yếu tố phổ biến xảy ra trong gia đình, trường học, cộng đồng và gây nên những áp lực tinh thần trên nhóm NĐT [16] và sự kỳ thị phân biệt do biểu hiện giới khác với kỳ vọng xã hội về sự nam tính [17] Với nhóm nam bán dâm đồng tính còn chịu sự kỳ thị lớn hơn vì xã hội coi mại dâm là tệ nạn xã hội, phá vỡ hạnh phúc gia đình và là nguyên nhân lây nhiễm HIV và các bệnh lây truyền qua đường tình dục [18] Trong nghiên cứu của Hà Huy và cộng sự cho thấy có sự liên quan giữa tự kỳ thị và trầm cảm,
sử dụng chất trong nhóm NĐT tham gia nghiên cứu [34]
Tính đến nay ở Việt Nam đã có các nghiên cứu quan tâm đến nhóm NĐT nhưng chủ yếu tập trung vào vấn đề HIV, các bệnh lây truyền qua đường tình dục và sử dụng chất Một số nghiên cứu đã tìm hiểu về vấn đề sức khỏe tâm thần như stress, lo âu, trầm cảm nhưng chủ yếu các nghiên cứu này tập trung
Trang 21trên quần thể nhóm nam bán dâm đồng tính Còn thiếu các thông tin về các vấn đề sức khỏe tâm thần trên nhóm NĐT nói chung trong khi các nghiên cứu trên thế giới đã chỉ ra nhóm này cũng gặp nhiều áp lực trong xã hội và một tỷ
lệ không nhỏ trong nhóm này gặp các vấn đề liên quan đến trầm cảm, lo âu và
tự sát Vì vậy nghiên cứu về “Rối loạn lo âu và trầm cảm trong nhóm NĐT tại
Hà Nội” giúp đưa ra thực trạng vấn đề sức khỏe tâm thần ở nhóm này, nhằm giúp các nhà hoạch định chính sách có những biện pháp phù hợp để nâng cao sức khỏe tâm thần cho nhóm đồng tính nam không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận mà còn có ý nghĩa về mặt thực tế cao
1.2 Một số khái niệm
1.2.1 Rối loạn lo âu
1.2.1.1.Khái niệm về rối loạn lo âu
Lo âu là hiện tượng phản ứng của con người trước những khó khăn và các mối đe dọa của tự nhiên, xã hội mà con người phải tìm cách vượt qua và tồn tại Lo âu là một tín hiệu báo động, báo trước một nguy hiểm sắp xảy đến, cho phép con người sử dụng mọi biện pháp để đương đầu với sự đe dọa
Theo Freud, lo âu là triệu chứng cảnh báo cho “Cái Tôi” về sự nguy hiểm có thể có khi một mong ước vô thức nào đó bị dồn nén và đang có nguy
cơ trồi lên ý thức Lúc đó, “Cái Tôi” sẽ huy động các cơ chế phòng vệ thường
là ở cấp độ vô thức để ngăn ngừa điều này Các cơ chế phòng vệ này kiểm soát và làm giảm sợ hãi bằng việc làm méo mó thực tế theo một cách thức nào
đó [12]
Lo âu bệnh lý là lo âu quá mức hoặc dai dẳng không tương xứng với sự
đe dọa được cảm thấy, ảnh hưởng đến hoạt động của người bệnh, có thể kèm theo những ý nghĩ hay hành động có vẻ như quá mức hay vô lý [22]
Theo từ điển Tâm lý học do Vũ Dũng làm chủ biên, lo âu là những trải nghiệm cảm xúc tiêu cực được quy định bởi sự chờ đợi điều gì đó nguy hiểm,
có tính chất khuếch tán, không liên quan đến các sự kiện cụ thể Trạng thái
Trang 22cảm xúc xuất hiện trong các tình huống nguy hiểm không xác định và được thể hiện trong việc chờ đợi sự tiến triển không thuận lợi của sự kiện Khác với hoảng sợ, lo âu được coi là phản ứng đối với một đe dọa cụ thể nào đó, lo âu thể hiện sự sợ hãi chung chung, mang tính lan truyền và không có đối tượng, thường có liên hệ với việc chờ đợi điều không may trong tương tác xã hội và thường được tạo bởi sự không ý thức thức được nguồn gốc của nỗi nguy hiểm [6]
Như vậy, trên cơ sở tổng hợp các khái niệm của các tác giả, trong nghiên
cứu này chúng tôi đưa ra khái niệm rối loạn lo âu như sau: rối loạn lo âu là
một rối loạn cảm xúc được đặc trưng bởi sự lo lắng quá mức, dai dẳng và kéo dài về một tình huống vô lý, lặp đi lặp lại và ảnh hưởng đến sự thích nghi trong cuộc sống đồng thời đi kèm với những trạng thái liên quan đến thể chất như khó thở, mệt mỏi, rối loạn giấc ngủ, ra mồ hôi, tim đập nhanh
1.2.1.2.Nguyên nhân gây nên rối loạn lo âu
Giả thuyết về di truyền
Các nghiên cứu về gen di truyền đã chỉ ra rằng bệnh nhân có những người trong gia đình quan hệ ở mức độ 1 (bố, mẹ, anh, chị, em) bị lo âu thì cũng có nguy cơ đối diện với lo âu Sự phù hợp cao hơn đối với rối loạn ám ảnh cưỡng bức ở những những người sinh đôi cùng trứng so với các cặp sinh đôi khác trứng [14]
Giả thuyết sinh học
Vai trò của serotonin trong rối loạn lo âu được đánh giá bởi tác dụng chống lo âu của một số thuốc chống trầm cảm có tác dụng trên thụ cảm thể 5-hydroxytryptamin Các thuốc bình thần không benzodiazepine có tác dụng trên thụ cảm thể 5 – HT 1a cũng có hiệu quả trong lo âu mức độ trung bình
Các thụ cảm thể benzodiazepine liên quan rõ rệt đến cơ chế tạo ra lo
âu Các thụ cảm thể này được tìm thấy với mật độ cao ở thùy thái dương và thùy trán Ngoài ra các chất chống thụ cảm thể benzodiazepine tăng cao trong lo âu [14]
Trang 23Giả thuyết tâm lý
Thuyết phân tâm: lo âu là một tín hiệu khuấy động bản ngã thực hiện hành động phòng vệ chống lại những áp lực từ bên trong Một cách lý tưởng
sự dồn nén thành công tạo nên sự cân bằng tâm lý mà không có triệu chứng Học thuyết này mô tả rối loạn lo âu như là kết quả của những xung đột trong
vô thức Freud đã sử dụng thuật ngữ “angst” nghĩa là sợ hãi để mô tả phản ứng nội tâm đơn giản đối với mối đe dọa bên trong và bên ngoài Freud đã cho rằng những xung đột và những ức chế tạo ra sự thất bại trong việc kiểm soát các xung động tình dục Việc kìm hãm các xung động cùng với việc mất kiểm soát các xung động sẽ dẫn đến lo âu Freud đã sớm nhận ra hạn chế trong học thuyết của mình và gợi ý rằng rằng lo âu là sự chuyển dạng của các xung động tình dục và đã chấp nhận lo âu là kết quả của sự đe dọa [12]
Thuyết tập nhiễm xã hội: thuyết tập nhiễm xã hội của Bandura năm
1969 đã đưa ra vai trò quan trọng của nhận thức trong việc hình thành lo âu
Lo âu có thể được tập nhiễm từ người chăm sóc hay từ những người khác trong gia đình hoặc là liên quan đến môi trường sống của trẻ Như vậy cha mẹ liên quan đến yếu tố hình thành và phát triển lo âu của trẻ qua những hành vi diễn ra hàng ngày trong cuộc sống mà trẻ quan sát được [12]
Thuyết nhận thức: theo giải thích của Beck, những trạng thái cảm xúc bất thường như trầm cảm, lo âu là khi có kích thích tác động lên nhận thức sẽ dẫn đến một đáp ứng Khi gặp phải một tình huống gây lo sợ thì nhận thức bị bóp méo sự ước lượng của chúng về những kích thích gây lo âu Sự ước lượng này chứa đựng những kinh nghiệm, niềm tin sai lệch về chính bản thân mình, về thế giới và về tương lai Khi gặp phải một kích thích tương tự sẽ so sánh nó với những tình huống xảy ra trong quá khứ [12]
Thuyết hành vi: Các nhà trị liệu theo Tiếp cận Hành vi cũng xây dựng
mô hình nhận thức của rối loạn lo âu Theo đó, lo âu được giải thích là phản ứng chuẩn bị của cơ thể khi gặp các kích thích mang tính đe dọa (cả vật lý lẫn
Trang 24tâm lý- xã hội) Trong tình huống này con người chỉ có 2 lựa chọn hoặc là đối mặt chống lại hoặc là né tránh chốn chạy Beck và Weishaar cho rằng rối loạn
lo âu là khi các cơ chế sinh tồn bình thường này bị vận hành quá mực hoặc có lỗi Đó là khi nhận thức của cá nhân về các mối đe dọa được xây dựng trên những giả định sai so với thực tế theo hướng phóng đại chúng lên trong khi
đó lại tối thiểu hóa khả năng ứng phó của bản thân [12]
1.2.1.3.Các biểu hiện của rối loạn lo âu
Ở khía cạnh sinh lý phản ứng của lo âu biểu hiện ra bên ngoài liên quan đến đến nhịp tim mạch, hô hấp, dạ dày, ruột, huyết áp, hưng phấn và giảm ngưỡng cảm giác Ở khía cạnh tâm lý rối loạn lo âu được thể hiện bằng tình trạng căng thẳng, dễ bị kích động và dễ xúc động
- Hành vi: căng thẳng, run hoặc bồn chồn, bất an không tập trung tư tưởng, có khi cáu kỉnh, có khi như sắp khóc, ấp úng không nói lên lời
+ Né tránh tiếp xúc
+ Phụ thuộc người khác
- Về nhận thức:
+ Cảm giác, tri giác: không thật, lệch lạc âm thanh, ánh sáng, cảm giác
mơ hồ hoặc tri giác sai thực tại
+ Tư duy tưởng tượng
+ Tập trung và các biểu hiện của bản thân một cách quá mức
+ Luôn sợ hãi, lo lắng, tưởng tượng một cách quá mức cái gì đó đe dọa cuộc sống: sợ ốm đau, bệnh tật, tai nạn hoặc người thân chết, đói kém, cư xử ngốc nghếch với người khác
+ Đánh giá tương lai một cách bi quan, bất hạnh
- Các biểu hiện cơ thể (do rối loạn hệ thần kinh thực vật)
+ Hệ tim mạch: tim đập nhanh, hồi hộp, đau ngực, tức ngực, vã mồ hôi + Hệ hô hấp: cảm giác ngột ngạt, thiếu không khí thở, thở nhanh, thở sâu, thở dài, thở hắt, rối loạn nhịp thở
Trang 25+ Hệ tiêu hóa: cảm giác vướng họng, khó nuốt, khô miệng, biếng ăn, co thắt dạ dày, ăn không tiêu, nôn nao, táo bón
+ Hệ tiết niệu: đái dắt, đái són, đái nhiều, đái dầm
+ Hệ thần kinh: đau đầu, chóng mặt, nhìn, tê chân tay, khó ngủ, ác mộng, cáu bẳn, dễ bị kích thích
+ Hệ xương: mỏi nhức xương khớp, căng cơ bắp [22][14]
1.2.1.4 Chẩn đoán các rối loạn lo âu
Trong bảng phân loại bệnh Quốc tế lần thứ 10 (ICD 10), rối loạn lo âu nằm trong mục rối loạn suy nhược, rối loạn liên quan đến stress và các dạng
cơ thể Lo âu được phân thành các nhóm [48]:
Các rối loạn lo âu ám ảnh sợ:
Ám ảnh sợ khoảng trống (Không có rối loạn hoảng sợ và có rối loạn hoảng sợ);
Ám ảnh sợ xã hội;
Ám ảnh sợ đặc hiệu;
Các rối loạn lo âu ám ảnh sợ khác,
Rối loạn lo âu ám ảnh sợ, không biệt định
Các rối loạn lo âu khác:
Rối loạn hoảng sợ;
Rối loạn lo âu lan toả;
Rối loạn hỗn hợp lo âu và trầm cảm;
Các rối loạn lo âu hỗn hợp khác;
Các rối loạn lo âu biệt định khác;
Rối loạn lo âu không biệt định
Rối loạn ám ảnh nghi thức:
Những ý tưởng hoặc nghiền ngẫm ám ảnh chiếm ưu thế,
Hành vi nghi thức chiếm ưu thế,
Trang 26 Các ý tưởng và hành vi ám ảnh hỗn hợp,
Các rối loạn ám ảnh nghi thức khác,
Rối loạn ám ảnh nghi thức không biệt định
Phản ứng với stress trầm trọng và rối loạn sự thích ứng
Các rối loạn phân ly
Các rối loạn dạng cơ thể
Các rối loạn tâm căn khác
Một số loại lo âu phổ biến:
Rối loạn hoảng sợ:
Rối loạn hoảng sợ được đặc trưng bởi các cơn hoảng sợ có tính chất kịch phát Cơn hoảng sợ xuất hiện đột ngột, sợ hãi vô cùng mạnh mẽ Bệnh nhân có cảm tưởng sắp chết, cho rằng mình bị nhồi máu cơ tim, bị phát điên hoặc mất kiểm soát bản thân Cơn hoảng sợ kịch phát thường hay tái phát, mỗi cơn kéo dài 5-20 phút
Chẩn đoán: để chẩn đoán quyết định, nhiều cơn lo âu phải xảy ra trong thời gian khoảng 1 tháng:
(a) Trong hoàn cảnh không có nguy hiểm về mặt khách quan;
(b) Không khu trú vào hoàn cảnh được biết trước và không lường trước được và
(c) Giữa các cơn bệnh nhân tương đối thoát khỏi các triệu chứng lo âu [48]
Rối loạn lo âu lan tỏa:
Đặc trưng bởi các lo lắng quá mức về một sự kiện hoặc các hoạt động, diễn ra hầu như hàng ngày trong suốt một thời gian ít nhất 6 tháng Các triệu chứng lo lắng quá mức luôn phối hợp với các triệu chứng cơ thể như căng cơ,
dễ bị kích thích, khó vào giấc ngủ và bồn chồn Các triệu chứng của lo âu không phải là hậu quả của một bệnh cơ thể hoặc do một chất và không xảy ra trong phạm vi một rối loạn tâm thần khác Bệnh nhân không thể kiểm soát
Trang 27được các lo lắng này, giảm khả năng lao động, sinh hoạt và các chức năng qua trọng khác
Chẩn đoán: bệnh nhân phải có các triệu chứng lo âu nguyên phát trong
đa số các ngày trong ít nhất nhiều tuần và thường là nhiều tháng Các triệu chứng phải gồm các nhân tố sau:
(a) Sợ hãi (lo lắng về bất hạnh tương lai, cảm giác dễ cáu, khó tập trung
Chẩn đoán: Tất cả các tiêu chuẩn sau phải có đầy đủ để chẩn đoán quyết định:
(a) Các triệu chứng tâm lý hoặc thần kinh tự trị phải là những biểu hiện nguyên phát của lo âu chứ không phải là thứ phát sau các triệu chứng khác như hoang tưởng hoặc ý nghĩ ám ảnh;
(b) Lo âu phải khu trú vào ( hoặc chiếm ưu thế ít nhất hai trong các hoàn cảnh sau: đám đông, quảng trường công cộng, chuyển đi xa khỏi nhà và du lịch một mình và
(c) Né tránh tình huống gây ám ảnh là nét nổi bật hiện nay hay trước kia [48]
Ám ảnh sợ xã hội:
Là sợ liên quan đến các tình huống xã hội trong đó bệnh nhân bị người khác giám sát hoặc bệnh nhân phải tiếp xúc với người lạ Bệnh nhân ám ảnh
Trang 28sợ xã hội sợ các hoạt động mà bệnh nhân phải đối mặt với người khác Bệnh nhân ám ảnh sợ xã hội thường tránh xa các tình huống mà trong đó họ phải va chạm với những người khác hoặc phải đối diện với những người khác Các
ám ảnh sợ xã hội thường là sợ nói, sợ ăn, sợ viết ở nơi công cộng Hơn nữa cái sợ phổ biến nhất là sợ người khác tẩy chay
Rối loạn ám ảnh cưỡng bức (OCD)
Một nhóm đa dạng của các triệu chứng bao gồm suy nghĩ xâm nhập, nghi thức, những mối quan tâm và cưỡng bức Những ý nghĩ ám ảnh hay hành
vi cưỡng bức là bền vững theo thời gian và ảnh hưởng rõ ràng tới thói quen của người bệnh, gây suy giảm trầm trọng các khả năng hoạt động nghề nghiệp, hoạt động xã hội hoặc các mối quan hệ của bệnh nhân Một bệnh nhân rối loạn ám ảnh cưỡng bức có thể chỉ có ý nghĩ ám ảnh, hành vi cưỡng bức hoặc có cả hai Ám ảnh là ý nghĩa hay tái phát và xâm nhập vào tư duy, cảm xúc, chú ý hay cảm giác Hành vi cưỡng bức là các hành vi nhằm đáp lại
(b) Lo âu phải khu trú hay chiếm ưu thế ở các hoàn cảnh xã hội đặc biệt; và (c) Né tránh hoàn cảnh gây ám ảnh sợ phải là nét nổi bật [48]
Ám ảnh sợ đặc hiệu (ICD 10, Rối loạn lo âu)
Là những ám ảnh sợ khu trú vào các tình huống rất đặc hiệu như sợ gần các động vật, sợ chỗ cao, sợ sấm, sợ bóng tối, sợ đi máy bay, sợ chỗ đóng kín,
sợ đại tiểu tiện trong nhà vệ sinh công cộng, sợ ăn một số món ăn nhất định, sợ nhìn thấy máu Dù rằng hoàn cảnh phát sinh bệnh là kín đáo, sự tiếp xúc với
nó có thể gây ra hoảng sợ như trong ám ảnh sợ khoảng trống hoặc ám ảnh sợ
Trang 29xã hội Hầu hết bệnh nhân đều hiểu rằng không có gì đáng sợ nhưng hiểu biết
đó không ngăn chặn được sợ hãi Ám ảnh sợ đặc hiệu rất mạnh mẽ, bền vững
Chẩn đoán:
Tất cả các điểm dưới đây đều phải có đầy đủ để chẩn đoán quyết định: (a) Các triệu chứng tâm lý hoặc thần kinh tự trị phải là những biểu hiện nguyên phát của lo âu mà không phải là thứ phát sau các triệu chứng như hoang tưởng hoặc ý nghĩ ám ảnh
(b) Lo âu phải khu trú vào sự có mặt của đối tượng hay tình huống đặc biệt gây ám ảnh sợ, và
(c) Né tránh hoàn cảnh gây ám ảnh sợ bất cứ khi nào có thể [48]
Rối loạn stress sau sang chấn (PTSD):
Được đặc trưng bởi sự gia tăng căng thẳng và lo lắng sau khi tiếp xúc với một sự kiện chấn thương tâm lý Sự kiện chấn thương tâm lý được giải thích là bệnh nhân là nạn nhân hoặc phải chứng kiến một tai nạn hoặc một tội
ác khủng khiếp….Bệnh nhân phản ứng với những chấn thương tâm lý này với nỗi sợ hãi và bất lực, họ luôn hồi tưởng lại sự kiện đau buồn này và cố gắng
để xa lánh nó Sự kiện này có thể được sống lại trong những giấc mơ và suy nghĩ của bệnh nhân lúc thức Các yếu tố stress là đủ mạnh để gây đau khổ cho hầu như tất cả mọi người Họ có thể tái hiện các sự kiện đau buồn trong những giấc mơ và suy nghĩ hàng ngày của họ Họ sẽ tránh bất cứ điều gì có thể gợi lại các ký ức đau buồn của stress cùng với một tình trạng tăng cảnh giác Rối loạn stress sau sang chấn là các rối loạn phát sinh sau chấn thương tâm lý từ vài tuần đến vài tháng, tối đa là 6 tháng Bệnh có thể tiến triển thuận lợi nhưng cũng có thể dai dẳng kéo dài nhiều năm
Chẩn đoán:
(a)Có sự kiện gây sang chấn diễn ra trong vòng 6 tháng;
(b) Phải có hồi ức bắt buộc về sự kiện gây sang chấn và lặp lại các sự kiện trong óc, trong giấc mơ;
Trang 30(c) Cảm xúc thờ ơ rõ rệt, tê liệt cảm xúc và né tránh các kích thích có thể khuấy động sự hồi tưởng sang chấn là thường hay có nhưng không cần thiết cho chẩn đoán
(d) Các rối loạn thần kinh tự trị, rối loạn khí sắc và những bất thường
về hành vi tất cả đều góp phần vào chẩn đoán nhưng không phải là quan trọng nhất [48]
1.2.2 Trầm cảm
1.2.2.1 Khái niệm trầm cảm
Theo tổ chức Y tế thế giới (WHO) trầm cảm là một rối loạn tâm thần phổ biến đặc trưng bởi sự buồn bã, mất đi hứng thú hoặc khoái cảm, cảm thấy tội lỗi hoặc tự hạ thấp giá trị bản thân, bị rối loạn giấc ngủ hoặc ăn uống kém
và kém tập trung Trầm cảm có thể kéo dài trong một thời gian hoặc tái phát nhiều lần Trầm cảm không được can thiệp nếu để tiến triển nặng có thể dẫn đến tự sát
Theo mô tả trong bảng phân loại bệnh quốc tế ICD10, trầm cảm là một hội chứng bệnh lý biểu hiện đặc trưng bởi khí sắc trầm, mất mọi quan tâm thích thú, giảm năng lượng, dễ mệt mỏi, phổ biến là tăng mệt rõ rệt nhiều khi chỉ sau một cố gắng nhỏ Kèm theo là các triệu chứng phổ biến khác như giảm sút tập trung chú ý, giảm sút lòng tự trọng và lòng tự tin, có ý tưởng bị tội không xứng đáng, bi quan về tương lai, có ý tưởng hành vi tự hủy hoại hoặc tự sát, rối loạn giấc ngủ, giảm cảm giác ngon miệng Các biểu hiện trên tồn tại trong một khoảng thời gian tối thiểu 2 tuần liên tục Các biểu hiện này được coi là những triệu chứng có nhiều ý nghĩa lâm sàng trong chẩn đoán
Giai đoạn trầm cảm điển hình bao gồm trầm cảm nhẹ, trầm cảm vừa, trầm cảm nặng không có triệu chứng loạn thần và trầm cảm nặng có triệu chứng loạn thần
Giai đoạn trầm cảm là một giai đoạn khởi đầu cho các rối loạn cảm xúc tiếp theo Một số tác giả coi đây là giai đoạn chờ, sự vận tiếp theo có thể diễn
Trang 31ra theo nhiều hình thái khác nhau như rối loạn cảm xúc lưỡng cực hiện tại giai đoạn trầm cảm hoặc rối loạn trầm cảm tái diễn [48][22]
Như vậy, trên cơ sở tổng hợp các khái niệm về trầm cảm, trong nghiên
cứu này chúng tôi đưa ra một khái niệm về trầm cảm như sau: trầm cảm là
một hội chứng bệnh lý biểu hiện đặc trưng bởi khí sắc trầm, mất mọi quan tâm thích thú, giảm năng lượng, dễ mệt mỏi Kèm theo là các triệu chứng phổ biến khác như giảm sút tập trung chú ý, giảm sút lòng tự trọng và lòng
tự tin, có ý tưởng bị tội không xứng đáng, bi quan về tương lai, có ý tưởng hành vi tự gây hại bản thân hoặc tự sát, rối loạn giấc ngủ, giảm cảm giác ngon miệng
1.2.2.2 Nguyên nhân gây nên trầm cảm
Trầm cảm là một vấn đề phổ biến trong xã hội và nguyên nhân dẫn tới trầm cảm cũng rất phức tạp Có rất nhiều giả thuyết được đưa ra để làm sáng
tỏ nguyên nhân của trầm cảm theo quan điểm về di truyền học, sinh học, tâm
lý học, xã hội học để qua đó nhằm nâng cao hiệu quả trong các hoạt động
dự phòng và can thiệp trầm cảm
Giả thuyết về di truyền
Các nghiên cứu đã cho thấy trầm cảm là một rối loạn có tính chất gia đình Nghiên cứu về di truyền học của trầm cảm đã được tiến hành với các cặp song sinh, cặp song sinh cùng trứng chia sẻ gen giống nhau trong khi cặp song sinh khác trứng thì có chất liệu di truyền không hoàn toàn giống nhau Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra trong một cặp song sinh cùng trứng, nếu một trong hai người bị trầm cảm thì người còn lại cũng có nguy cơ trầm cảm rất cao với tỷ lệ trong nghiên cứu của Kaplan là 76% và trong nghiên cứu của Gelder là 80% Với cặp song sinh khác trứng hay anh chị em ruột thì tỷ lệ bị rối loạn cảm xúc thấp hơn khoảng 19% theo Kaplan và 18% theo Gelder [13]
Kết quả nghiên cứu cho thấy mặc dù có bộ gen như nhau nhưng tỷ lệ bị rối loạn khí sắc ở các cặp sinh đôi cùng trứng không phải là 100% và giả
Trang 32thuyết về yếu tố di truyền sẽ không phải là nguyên nhân duy nhất mà còn do những nguyên nhân khác gây nên trầm cảm [13]
Nghiên cứu gần đây cho thấy một số gen gây ra trầm cảm bắt nguồn từ một khu vực cụ thể của nhiễm sắc thể 15 Theo Bùi Quang Huy và cộng sự cũng có nhận định gen gây ra rối loạn trầm cảm không phải là một gen duy nhất mà là nhiều gen cùng chịu trách nhiệm theo một cơ chế tổ hợp gen phức tạp [13]
Giả thuyết sinh học
Cơ chế hóa động thần kinh - thể dịch trong đó phải kể đến vai trò của các cấu trúc thần kinh, acid amin não và các hormon trong cơ thể được coi là
bộ máy sinh hóa thần kinh tự điều chỉnh, chịu trách nghiệm về các rối loạn cảm xúc và các rối loạn cơ thể Sự tăng cường hoạt động hệ thống giao cảm, cùng với toàn bộ hệ thống thần kinh- nội tiết đã đưa đến sự thoái biến các cơ chế sinh lý thần kinh Cuối cùng sự thoái biến các quá trình sinh lý thần kinh dẫn đến rối loạn nhất thời hoặc mạn tính về tâm thần và cơ thể [22]
Trong số 30 loại chất dẫn truyền thần kinh đã được xác định, người ta
đã phát hiện ra mối liên quan giữa biểu hiện lâm sàng của trầm cảm với chức năng của ba chất dẫn truyền thần kinh chính là serotonin, norepinerphrin và dopamin Chức năng chính của các chất dẫn truyền thần kinh này là điều chỉnh cảm xúc phản ứng với stress, giấc ngủ, sự thèm ăn và tình dục [13]
Não bộ kiểm soát hoạt động của hệ thống nội tiết qua đó kiểm soát hoạt động của cơ thể Hệ thống nội tiết được kết nối với não bộ thông qua vùng dưới đồi, chúng kiểm soát nhiều hoạt động của cơ thể như giấc ngủ, sự ngon miệng và ham muốn tình dục Vùng dưới đời cũng điều chỉnh hoạt động của tuyến yên còn tuyến yên kiểm soát sự tiết hormon của các tuyến khác Vùng dưới đồi sử dụng một số chất dẫn truyền thần kinh có liên quan với trầm cảm, các chất dẫn truyền thần kinh này cũng tham gia quản lý hệ thống nội tiết Những chất dẫn truyền thần kinh như serotonin, norepinephin và dopamin đều
Trang 33có một vai trò nhất định trong việc kiểm soát chức năng của các tuyến nội tiết Trầm cảm có thể là một triệu chứng của một rối loạn tồn tại trong các cơ quan sản xuất hormon, các rối loạn này bao gồm các bệnh lý tuyến giáp, hội chứng Cushing và bệnh Addison [13]
Giả thuyết tâm lý xã hội
Lý thuyết Tâm lý học nhận thức được ứng dụng đầu tiên trong Tâm lý học lâm sàng bởi các công trình nghiên cứu của A.Beck về trầm cảm Qua quá trình quan sát bệnh nhân trầm cảm, Beck nhận ra việc giải thích trầm cảm
“là sự giận dữ quay ngược vào trong suy nghĩ và các giấc mơ” như S Freud
lý giải là chưa thỏa đáng Beck nhận thấy chính những định kiến, tiêu cực trong nhận thức của bệnh nhân mới là những yếu tố gây ra và duy trì triệu chứng trầm cảm và trên cơ sở đó ông đã phát triển lý thuyết về rối loạn cảm xúc [12]
Theo quan điểm của Ellis có hai dạng rối loạn cảm xúc là nhiễu loạn Cái Tôi (Ego disturbance) và nhiễu loạn khó chịu (Discomfort disturbance) Nhiễu loạn Cái Tôi là do cá nhân có các nhu cầu về bản thân mình, một khi
họ không đáp ứng các nhu cầu đó họ sẽ đánh giá bản thiên tiêu cực, vô giá trị dẫn đến mặc cảm tội lỗi, tự ti và đây là nguyên nhân của trầm cảm [12]
Beck, Epstein và Harrison cũng nghiên cứu các đặc điểm nhân cách của bệnh nhân trầm cảm và phát hiện ra rằng các cá nhân có tính phụ thuộc xã hội thường trở nên suy sụp khi các mối quan hệ của họ bị gián đoạn, còn những người tự chủ lại rơi vào trầm cảm khi họ thất bại trong việc đạt được mục tiêu
mà họ mong muốn Tuy nhiên, các tác giả này cũng cho rằng phụ thuộc xã hội hay tự chủ không phải là các cấu trúc cố định của nhân cách Khác biệt ở chỗ người trầm cảm có cái nhìn tiêu cực về bản thân và thế giới, họ cho rằng bản thân không có giá trị tương lại của họ là không thể cải thiện được Chính những giả định này lại được củng cố thêm bởi các triệu chứng về cảm xúc và hành vi và kết quả là chúng càng làm trầm trọng thêm các vấn đề về cảm xúc, động cơ và hành vi [12]
Trang 341.2.2.3 Các biểu hiện của trầm cảm
Các triệu chứng lâm sàng chính của giai đoạn trầm cảm
- Ba triệu chứng chính:
Khí sắc trầm: khí sắc thay đổi ít từ ngày này sang ngày khác và thường không tương xứng với hoàn cảnh được duy trì trong ít nhất hai tuần Trong một số trường hợp, lo âu, buồn phiền, kích động có thể nổi bật Sự thay đổi cảm xúc có thể bị che lấp bởi sự cau có, lạm dụng rượu, tác phong kịch tính
và các triệu chứng sợ ám ảnh
Mất mọi quan tâm tích thú trong các hoạt động;
Giảm năng lượng và tăng sự mệt mỏi
- Bảy triệu chứng phổ biến khác:
Giảm sự tập trung chú ý;
Giảm tính tự trọng và lòng tự tin;
Ý tưởng bị tội và không xứng đáng;
Nhìn vào tương lai ảm đạm và bi quan;
Ý tưởng và hành vi tự hủy hoại hoặc tự sát;
Rối loạn giấc ngủ;
Thay đổi cảm giác ngon miệng với sự thay đổi trọng lượng cơ thể tương ứng;
- Các triệu chứng cơ thể của trầm cảm:
Mất những quan tâm thích thú trong những hoạt động thường ngày gây thích thú;
Mất phản ứng cảm xúc với những sự kiện và môi trường xung quanh thường làm vui thích;
Buổi sáng thức giấc sớm 2 giờ trước ngày thường;
Trạng thái trầm cảm nặng hơn vào buổi sáng;
Có bằng chứng khách quan về sự chậm chạp tâm thần vận động hoặc kích động (được người khác nhận thấy hoạc kể lại);
Giảm những cảm giác ngon miệng;
Trang 35 Sút cân (5% hoặc nhiều hơn trọng lượng cơ thể so với tháng trước);
Chẩn đoán xác định giai đoạn trầm cảm:
Lần đầu tiên xuất hiện ở bệnh nhân các triệu chứng lâm sàng đặc trưng, phổ biến của trầm cảm
Giai đoạn trầm cảm kéo dài ít nhất 2 tuần
Không có đủ các triệu chứng đáp ứng các tiêu chuẩn của giai đoạn hưng cảm nhẹ hoặc hưng cảm ở bất kỳ thời điểm nào trong đời
Giai đoạn này không gắn với việc sử dụng chất tác động tâm thần hoặc bất cứ rối loạn thực tổn nào
Các thể lâm sàng của giai đoạn trầm cảm [22]:
Giai đoạn trầm cảm nhẹ
Khí sắc trầm, mất quan tâm thích thú, tăng mệt mỏi thường được coi là những triệu chứng điển hình nhất của trầm cảm và ít nhất phải có hai trong những triệu chứng đó, cộng thêm ít nhất là hai trong số những triệu chứng khác được mô tả ở mục F32 để chẩn đoán xác định Không có triệu chứng nào trong
số đó ở mức độ nặng và thời gian tối thiểu của cả giai đoạn là 2 tuần [22]
Giai đoạn trầm cảm vừa
Có ít nhất hai trong ba triệu chứng điển hình nhất đặc trưng cho giai đoạn trầm cảm nhẹ (F32.0), cộng thêm ít nhất 3 (và tốt hơn là 4) những triệu chứng khác Thời gian tối thiểu của cả giai đoạn này là khoảng 2 tuần
Trang 36Bệnh nhân với giai đoạn trầm cảm vừa thường có nhiều khó khăn để tiếp tục hoạt động xã hội, nghề nghiệp hoặc công việc gia đình [22]
Giai đoạn trầm cảm nặng, không có các triệu chứng loạn thần (F32.2) Trong giai đoạn trầm cảm nặng, người bệnh thường biểu lộ buồn chán nặng hoặc kích động Mất tự tin hoặc cảm thấy vô dụng hoặc tội lỗi dường như chiếm ưu thế Tự sát là hành vi nguy hiểm rõ ràng trong những trường hợp đặc biệt trầm trọng Hội chứng cơ thể hầu như luôn có mặt trong giai đoạn trầm cảm nặng
Có trong số những triệu chứng điển hình để khẳng định giai đoạn trầm cảm nhẹ và vừa (F32.0, F32.1), cộng thêm ít nhất 4 triệu chứng khác và một
số phải đặc biệt nặng Tuy nhiên, nếu có những triệu chứng quan trọng như kích động hoặc chậm chạp rõ nét thì bệnh nhân có thể không muốn hoặc không thể mô tả nhiều triệu chứng một cách chi tiết Trong những trường hợp như vậy, việc phân loại toàn bộ một giai đoạn trầm trọng có thể vẫn còn được chấp nhận Giai đoạn trầm cảm thường kéo dài ít nhất là 2 tuần tuy nhiên nếu các triệu chứng đặc biệt nặng và khởi phát rất nhanh thì có thể chẩn đoán trước 2 tuần
Trong giai đoạn trầm cảm nặng, người bệnh có thể ít khả năng tiếp tục công việc xã hội, nghề nghiệp hoặc gia đình [22]
Giai đoạn trầm cảm nặng kèm theo cá triệu chứng loạn thần
Một giai đoạn trầm cảm nặng thỏa mãn các tiêu chuẩn đã nêu ra trong mục F32.2 và trong đó có các hoang tưởng, ảo giác hoặc sững sờ trầm cảm Các hoang tưởng thường bao gồm những ý tưởng tội lỗi, thấp hèn hoặc những tai họa sắp xảy ra, trách nhiệm bệnh nhân phải gánh chịu Những ảo thanh hoặc ảo khứu thường là giọng kết tội hoặc phỉ báng hoặc mùi rác mục [22]
1.2.3 Nam đồng tính
Hiện tượng “đồng tính” chỉ những người có khuynh hướng tình dục với những người cùng giới, có quan hệ tình cảm, tình dục với người có giới tính như mình, nam với nam, nữ với nữ “Đồng tính” có từ gốc tiếng Anh là
Trang 37“homosexuality” xuất hiện lần đầu tiên trong một cuốn tiểu thuyết của nhà văn Đức Karl Maria Ketbenty xuất bản năm 1869 nhằm phản đối việc nước Phổ ban hành luật chống lại các mối quan hệ giới tính bị cho là trái tự nhiên Sau đó thuật ngữ này được sử dụng rộng rãi để phân biệt giữa người có thiên hướng tính dục đồng tính với người dị tính và người lưỡng tính [20]
Trong nghiên cứu của Mai Anh Tú đề cập khái niệm xu hướng tình dục
là sự hấp dẫn về tình cảm hay tình dục có tính bền vững với người cũng giới, khác giới hay cả hai Đồng tính, dị tính hoặc song tính là các xu hướng tình dục trong đó người đồng tính (homosexual) là người có sự hấp dẫn về tình cảm hoặc tình dục với người cùng giới, người dị tính (heterosexual) là người
có sự hấp dẫn về tình cảm hay tình dục với người khác giới Một khái niệm cũng được đưa ra trong nghiên cứu này là bản dạng giới, khái niệm này được định nghĩa là cảm nhận hoặc trải nghiệm mang tính chủ quan của một cá nhân, cảm thấy mình thuộc về giới nam hay nữ Người chuyển giới (trangender) được hiểu là người sinh ra với giới tính sinh học là nam nhưng lại nghĩ mình là nữ và ngược lại Người chuyển giới có thể đã hoặc chưa trải qua phẫu huật chuyển đổi giới tính [18]
Một trong những thuật ngữ ở trên thế giới hay Việt Nam hay được sử dụng để chỉ nhóm NĐT là “Gay” Từ này cũng được hiểu trong mối quan hệ đồng tính luyến ái, người yêu người đồng giới là nam được gọi là “gay”, hay đồng tính luyến ái nam Từ khoảng thế kỷ XII, các nhà ngôn ngữ học người Anh đã bắt gặp tồn tại của từ “gay” với xuất xứ nguyên thủy là từ tiếng Pháp
có ý nghĩa ban đầu là “đẹp” Thời gian sau này từ gay vẫn được sử dụng với hàm ý đến sự “tươi sáng, xinh đẹp, tự do, đầy màu sắc” Vào khoảng giữa thể
kỷ XX, từ “gay” với nghĩa “đồng tính” bắt đầu xuất hiện nhiều trong sách tâm
lý học và các tài liệu chuyên ngành khác Cuối thế kỷ XIX, từ “gay” chính thức được các tổ chức hoạt động vì quyền lợi của cộng đồng LGBT (đồng tính, lưỡng tính và chuyển giới) dùng với nghĩa mới là “đồng tính nam” Bản
Trang 38thân những người đồng tính nam cũng muốn sử dụng thuật ngữ này chỉ bản thân họ hơn [20]
Đồng tính nam cũng được phân thành các nhóm nhỏ có tên gọi riêng cùng với những đặc điểm đặc thù “Bóng kín” để chỉ người đồng tính nam có thiên hướng giấu giếm về đặc điểm tính dục của mình trong khi đó “Bóng lộ”
có xu hướng bộc lộ công khai về đặc điểm tính dục của mình, dễ nhận biết nhất trong hành vi ứng xử, màu sắc của phục trang [20][16] Trong nghiên cứu của Vũ Ngọc Bảo và cộng sự phân loại “Bóng kín” là nam mặc quần áo nam giới và không thể xác định được họ là đồng tính nam bằng vẻ bề ngoài trong khi “bóng lộ” là nam mặc quần áo nữ giới và thể hiện mình như phụ nữ NĐT tự chọn mình là “bóng kín” hay “bóng lộ” cũng thể hiện mức độ công khai của họ trong cộng đồng và phần nào phản ánh áp lực từ gia đình và xã hội liên quan đến khuynh hướng tình dục của họ “Bóng kín” luôn muốn giấu kín khuynh hướng tình dục của họ bằng vẻ ngoài của đàn ông trong khi “bóng lộ” lại muốn thể hiện mình như là phụ nữ Họ thể hiện nữ tính rõ ngay trong cách đi đứng và ăn nói [2]
Trên thế giới, các nghiên cứu về nhóm tình dục đồng giới nam có từ rất sớm tuy nhiên ở Việt Nam vấn đề này mới bắt đầu được quan tâm từ thập kỷ
1990 Cũng chính trong giai đoạn này, một thuật ngữ dùng trong lĩnh vực nghiên cứu để chỉ hành vi quan hệ tình dục đồng giới nam được viết tắt là MSM bắt đầu xuất hiện ở Việt Nam cùng với dịch HIV MSM là từ viết tắt của “men who have sex with men” hàm ý chỉ những người nam giới có quan
hệ tình dục đồng giới với nhau MSM là thuật ngữ chỉ hành vi, chứ không phải một đặc tính Thuật ngữ “MSM” xuất hiện để mô tả tất cả những người
tham gia vào tình dục đồng giới nam, bất kể là do hoàn cảnh, sở thích hay tự nhận diện (Foreman, 2003) Nói cách khác, thuật ngữ này được dùng để chỉ tất cả các loại nam quan hệ tình dục với nam, không cần quan tâm đến hoàn cảnh hay khuynh hướng tình dục của họ [2]
Trang 39Trong nghiên cứu này chúng tôi định nghĩa nam đồng tínhlà những
người sinh ra có đặc điểm giới tính sinh học là nam và có sự hấp dẫn về tình cảm hoặc tình dục với những người nam giới khác
1.2.4 Rối loạn lo âu và trầm cảm trong nhóm nam đồng tính
Trên cơ sở tổng hợp các khái niệm của các tác giả về rối loạn lo âu, trầm cảm và NĐT, trong nghiên cứu này chúng tôi đưa ra khái niệm về rối loạn lo âu và trầm cảm ở nhóm NĐT trong đó:
Nam đồng tính là những người sinh ra có đặc điểm giới tính sinh học
là nam và có sự hấp dẫn về tình cảm hoặc tình dục với những người nam giới khác
Rối loạn lo âu là một rối loạn cảm xúc được đặc trưng bởi sự lo lắng
quá mức, dai dẳng và kéo dài về một tình huống vô lý, lặp đi lặp lại và ảnh hưởng đến sự thích nghi trong cuộc sống đồng thời đi kèm với những trạng thái liên quan đến thể chất như khó thở, mệt mỏi, rối loạn giấc ngủ, ra mồ hôi, tim đập nhanh
Trầm cảm là một hội chứng bệnh lý biểu hiện đặc trưng bởi khí sắc trầm,
mất mọi quan tâm thích thú, giảm năng lượng, dễ mệt mỏi Kèm theo là các triệu chứng phổ biến khác như giảm sút tập trung chú ý, giảm sút lòng tự trọng
và lòng tự tin, có ý tưởng bị tội không xứng đáng, bi quan về tương lai, có ý tưởng hành vi tự gây hại bản thân hoặc tự sát, rối loạn giấc ngủ, giảm cảm giác ngon miệng
Trang 40Tiểu kết chương 1
Tóm lại, trên thế giới đã có nhiều nghiên được thực hiện để tìm hiểu về các vấn đề sức khỏe tâm thần trên nhóm NĐT Kết quả của các nghiên cứu đi trước đã chỉ ra lo âu và trầm cảm chiếm tỷ lệ cao trong nhóm NĐT Các yếu
tố tương quan chặt chẽ với lo âu và trầm cảm liên quan đến sự kỳ thị về xu đồng tính, sắc tộc, nhận thức, sử dụng chất gây nghiện, tiết lộ xu hướng tình dục bản thân, tiết lộ tình trạng HIV Tại Việt Nam, mặc dù đã có những nghiên cứu trên nhóm nam đồng tính đã được triển khai tuy nhiên trong phạm
vi tìm hiểu của đề tài hiện chưa có nhiều nghiên cứu đi sâu tìm hiểu về nhóm nam đồng tính và các vấn đề sức khỏe tâm thần mà nhóm này đang phải đối diện Bên cạnh đó, việc hệ thống hóa tài liệu giúp xác định các khái niệm công cụ chính cho đề tài Đó là nền tảng cho chúng tôi triển khai đề tài nghiên cứu tìm hiểu rối loạn lo âu và trầm cảm trong nhóm NĐT