1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Quản lí tài chính tại các cơ sở đào tạo thuộc hệ thống học viện chính trị quốc gia hồ chí minh đáp ứng yêu cầu đổi mới

206 69 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 206
Dung lượng 4,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những yêu cầu trên đã và đang đặt ra những đòi hỏi mới về nghiên cứu và phát triển cơ sở lý luận về quản trị đại học nói chung và quản lý tài chính ở các cơ sở đào tạo đại học nói riêng

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN THỊ HỒNG MẾN

QUẢN LÍ TÀI CHÍNH TẠI CÁC CƠ SỞ ĐÀO TẠO THUỘC HỆ THỐNG HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI

LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÍ GIÁO DỤC

Mã số: 9 14 01 14

HÀ NỘI - 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN THỊ HỒNG MẾN

QUẢN LÍ TÀI CHÍNH TẠI CÁC CƠ SỞ ĐÀO TẠO THUỘC HỆ THỐNG HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI

LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC

Mã số: 9 14 01 14

Cán bộ hướng dẫn 1: PGS.TS Lê Phước Minh Cán bộ hướng dẫn 2: TS Đỗ Thị Thu Hằng

HÀ NỘI - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các kết quả nghiên cứu trong luận án là trung thực và chƣa đƣợc công bố trong bất kì công trình nào

Tác giả luận án

Nguyễn Thị Hồng Mến

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin trân trọng cảm ơn Quý lãnh đạo Trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội và thầy cô của nhà trường, đã nhiệt tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi

trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và bảo vệ luận án các cấp

Tôi xin trân trọng cảm ơn PGS.TS Lê Phước Minh và TS Đỗ Thị Thu Hằng - là thầy, cô đã tận tình, tận tâm hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian

nghiên cứu, thực hiện luận án

Tôi xin trân trọng cảm ơn Quý thầy cô trong hội đồng bảo vệ chuyên đề, Hội đồng bào vệ các cấp đã có nhiều ý kiến đóng góp quý báu giúp tôi nghiên cứu bổ sung trong quá trình thực hiện luận án

Tôi xin trân trọng cảm ơn thầy Giám đốc và các Quý thầy cô của các CSĐT thuộc hệ thống Học viện CTQG HCM đã giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu, khảo sát và cơ quan công tác, gia đình đã động viên, khuyến khích, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu để hoàn thành luận án này

Tác giả luận án

Nguyễn Thị Hồng Mến

Trang 5

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục ii

Danh mục chữ viết tắt vii

Danh mục bảng viii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CƠ SỞ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ 11

1.1 Tổng quan về nghiên cứu quản lí tài chính cơ sở đào tạo đại học 11

1.1.1 Những nghiên cứu về cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính 11

1.1.2 Những nghiên cứu về cơ chế phân cấp quản lí tài chính 15

1.1.3 Những nghiên cứu về mô hình quản lí tài chính 17

1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài 21

1.2.1 Quản lí 21

1.2.2 Tài chính 23

1.2.3 Quản lí tài chính 26

1.3 Tài chính của các cơ sở đào tạo đại học 27

1.3.1 Khái niệm về tài chính cơ sở đào tạo 26

1.3.2 Mối quan hệ giữa tài chính với các yếu tố đảm bảo chất lượng đào tạo đại học 28 1.3.3 Đặc thù của tài chính đối với các cơ sở đào tạo đại học 30

1.3.4 Nội dung cơ bản của tài chính các cơ sở đào tạo đại học 31

1.4 Đổi mới giáo dục đại học và những vấn đề đặt ra cho tài chính và quản lí tài chính tại các cơ sở đào tạo đại học 34

1.4.1 Đối mới giáo dục đại học và yêu cầu đổi mới quản lí tài chính tại các cơ sở đào tạo đại học 34

1.4.2 Phân cấp quản lý và tự chủ, tự chịu trách nhiệm quản lý tài chính tại các cơ sở đào tạo 36

1.5 Nội dung quản lí tài chính tại các cơ sở đào tạo theo hướng TC-TCCN 46

Trang 6

1.5.1 Lập kế hoạch các nguồn tài chính 48

1.5.2 Tổ chức thực hiện quản lý tài chính 49

1.5.3 Chỉ đạo thực hiện quản lý tài chính 52

1.5.4 Kiểm tra, đánh giá quản lý tài chính 55

1.6 Những yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động quản lí tài chính tại các cơ sở đào tạo 56 1.6.1 Nhóm các yếu tố chủ quan 57

1.6.2 Nhóm các yếu tố khách quan 59

1.7 Kinh nghiệm quốc tế về quản lí tài chính tại các cơ sở đào tạo đại học và bài học cho Việt Nam 60

1.7.1 Kinh nghiệm về cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính tại các cơ sở đào tạo đại học và bài học cho Việt Nam 60

1.7.2 Kinh nghiệm quốc tế về cơ chế phân cấp quản lí tài chính tại các cơ sở đào tạo đại học và bài học cho Việt Nam 61

1.7.3 Kinh nghiệm quốc tế về mô hình quản lí tài chính tại các cơ sở đào tạo đại học và bài học cho Việt Nam 64

Tiểu kết chương 1 67

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI CÁC CƠ SỞ ĐÀO TẠOTHUỘC HỆ THỐNG HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH 68

2.1 Giới thiệu chung về Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh 68

2.2 Giới thiệu về nghiên cứu khảo sát thực trạng 75

2.2.1 Mục đích khảo sát 75

2.2.2 Nội dung khảo sát 75

2.2.3 Phương pháp khảo sát 75

2.2.4 Đối tượng khảo sát 77

2.3 Thực trạng tài chính và đổi mới hoạt động tài chính tại các cơ sở đào tạo thuộc hệ thống Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh 78

2.3.1 Thực trạng tài chính 77

2.3.2 Thực trạng tổ chức và cơ chế hoạt động tài chính tại các cơ sở đào tạo thuộc hệ thống Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh 93

Trang 7

2.3.3.4.Về hoạt động công khai tài chính 106

2.4 Thực trạng quản lí tài chính tại các cơ sở đào tạo thuộc hệ thống Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh 111

2.4.1 Về xây dựng kế hoạch quản lí tài chính cơ sở đào tạo 111

2.4.2 Về tổ chức thực hiện quản lý tài chính 113

2.4.3 Về chỉ đạo thực hiện quản lý tài chính 116

2.4.4 Về kiểm tra, đánh giá thực hiện quản lý tài chính 116

2.5 Đánh giá chung về thực trạng quản lí tài chính tại các cơ sở đào tạo thuộc hệ thống Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh 119

2.5.1 Những mặt mạnh 119

2.5.2 Những điểm yếu 120

2.5.3 Thời cơ 122

2.5.4 Thách thức 123

Tiểu kết chương 2 124

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI CÁC CƠ SỞ ĐÀO TẠO THUỘC HỆ THỐNG HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI 125

3.1 Các nguyên tắc đề xuất giải pháp 125

3.2 Các giải pháp quản lí tài chính tại các cơ sở đào tạo thuộc hệ thống Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh đáp ứng yêu cầu đổi mới 126

3.2.1 Tổ chức hoạt động nâng cao nhận thức của các cán bộ, viên chức, giảng viên về tầm quan trọng trong quản lí tài chính tại các cơ sở đào tạo theo hướng TC-TCTN 128

3.2.2 Phân cấp quản lí tài chính tại các cơ sở đào tạo theo hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm 131

3.2.3 Chỉ đạo xây dựng kế hoạch thu, chi tài chính tại các cơ sở đào tạo 134

3.2.4 Triển khai hiệu quả kế hoạch quản lí tài chính tại các cơ sở đào tạo 136

3.2.5 Chỉ đạo xây dựng quy trình giám sát thực hiện nguồn tài chính tại các cơ sở đào tạo 142 3.2.6 Chỉ đạo xây dựng quy chế kiểm tra, kiểm soát trong quản lí tài chính tại các

Trang 8

cơ sở đào tạo 145

3.2.7 Tổ chức bồi dƣỡng năng lực chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ quản lí tài chính và cán bộ quản lý khoa, phòng, ban 149

3.3 Mối quan hệ giữa các giải pháp 152

3.4 Khảo nghiệm cấp thiết và tính khả thi của các giải pháp 153

3.5 Thực nghiệm giải pháp 156

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 164

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIÁLIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ĐÃ ĐƢỢC CÔNG BỐ 167

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 169

PHỤ LỤC 173

Trang 9

DANH MỤC CHỮ VIẾT TĂT

TT Chữ viết tắt Nghĩa của từ viết tắt

1 BC&TT Báo chí và Tuyên truyền

21 TNXH Trách nhiệm đối với xã hội

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.8 Bảng tổng hợp kinh phí chi sự nghiệp đào tạo tại 3 CSĐT 98 Bảng 2.9 Đánh giá trình độ của đội ngũ cán bộ QLTC tại 3 CSĐT 99

Bảng 2.14 Kết quả đánh giá mức độ thực hiện công khai tài chính 112

Bảng 2.16 Đánh giá về thực hiện kế hoạch các nguồn tài chính 116 Bảng 2.17 Đánh giá mức độ tổ chức thực hiện quản lí nguồn tài chính tại 3 CSĐT 117 Bảng 3.1 Kết quả khảo sát mức độ cấp thiết của các giải pháp quản lý 150 Bảng 3.2 Kết quả khảo sát mức độ khả thi của các giải pháp quản lý 151

Bảng 3.3 Tầm quan trọng của giải pháp “Tổ chức bồi dƣỡng năng lực chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ QLTC đáp ứng yêu cầu đổi mới” 157

Trang 11

DANH MỤC BIỂU ĐỒ, CÁC HÌNH, SƠ ĐỒ

Biểu đồ 2.3 (phụ lục 2) Tốc độ phát triển của các nguồn thu tại 3 CSĐT 188 Biểu đồ 2.4 (phụ lục 2) Tỷ lệ (%) các nhóm mục chi đào tạo của 3 CSĐT 188 Biều đồ 2.5 (phụ lục 2) Tốc độ phát triển (%) về chi cho đào tạo của 3 CSĐT 189

Sơ đồ 1.4

Mô hình khung về cơ chế quản lí tài chính đối với chương trình đào tạo CLC trong các trường đại học công lập

37

Sơ đồ 1.6 Mô hình quản lý tài chính tại các CSĐT theo hướng

Sơ đồ 2.3 Mô hình cơ cấu tổ chức thực hiện QLTC tại Học

Trang 12

sự đổi mới về các mặt như tổ chức hệ thống GD, đội ngũ cán bộ QL và giảng viên, chương trình, phương pháp đào tạo… thì việc đảm bảo nguồn tài chính và xác lập cơ chế quản lí tài chính cho các cơ sở đào tạo đại học có vai trò cực kỳ quan trọng để đáp ứng yêu cầu đổi mới hiện nay Đối với các cơ sở đào tạo công lập là đơn vị sự nghiệp công, việc đa dạng hoá nguồn lực tài chính và đổi mới quản lý tài chính sao cho việc sử dụng các nguồn lực tài chính một cách tiết kiệm, có hiệu quả, có vai trò quan trọng, góp phần quyết định đến mục tiêu phát triển lâu dài của các cơ sở đào tạo đại học

Tuy nhiên, công tác quản lý tài chính tại các CSĐT đại học ở nước ta đã và đang là một vấn đề khá phức tạp, nhạy cảm Trước hết, các yêu cầu đổi mới GD&ĐT nói chung và QLTC nói riêng hiện nay được đặt ra trong bối cảnh Nhà nước đang chuyển dần cơ chế quản lí từ bao cấp hoàn toàn sang bao cấp một phần rất nhỏ chi phí, trong khi đầu ra và sản phẩm của hoạt động ĐT có yêu cầu chất lượng ngày càng cao và lại rất đa dạng Hơn nữa, xét về mặt cấu trúc cơ chế QLTC tại các CSĐT đại học công lập rất đa dạng cả về nguồn thu tài chính và mức độ trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong quyết định chi tiêu, do đó, không thể áp dụng một kiểu mô hình chung ở tất cả các CSĐT

Để đảm bảo các mục tiêu phát triển của sự nghiệp GD-ĐT, cùng với yêu cầu của chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước, đòi hỏi công tác quản

lí giáo dục nói chung và công tác QLTC nói riêng tại các CSĐT đại học công lập

Trang 13

cần đổi mới một cách căn bản để đảm bảo việc huy động và sử dụng các nguồn kinh phí tiết kiệm, hiệu quả, phù hợp theo quy định hiện hành của nhà nước nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ chính trị, chuyên môn được giao, đồng thời tăng cường công tác quản lí và phát huy quyền tự chủ cho các CSĐT đại học Việt Nam Những yêu cầu trên đã và đang đặt ra những đòi hỏi mới về nghiên cứu và phát triển cơ sở lý luận về quản trị đại học nói chung và quản lý tài chính ở các cơ sở đào tạo đại học nói riêng theo hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm

Quản lý tài chính tại các CSĐT là một bộ phận cấu thành trong hoạt động QLGD tại các CSĐT, gắn bó mật thiết với các hoạt động quản lí khác như: đội ngũ, chương trình ĐT, NCKH, tổ chức các hoạt động phục vụ cộng đồng, tài chính Quản

lý tài chính có chức năng đảm bảo cho các hoạt động của CSĐT thực hiện theo đúng nhiệm vụ nhưng cũng chịu sự quy định bởi chính nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức và quy

mô, loại hình ĐT Đồng thời QLTC còn bị tác động bởi cơ chế tài chính, nguồn lực tài chính thuộc NSNN và ngoài NSNN, kế hoạch chi tiêu, năng lực của cán bộ QLGD, kế toán và cùng các yếu tố khách quan khác Bởi thế, trong thời gian vừa qua, công tác QLTC tại các CSĐT đại học bị bó buộc trong cơ chế quản lí tập trung, phải tuân thủ nghiêm ngặt các văn bản pháp quy về tài chính Do đó, việc điều tiết các khoản mục chi tiêu khó khăn, chỗ thừa, chỗ thiếu dẫn đến tình trạng vừa thiếu tiền vừa phải “chạy” kinh phí để không bị cắt giảm khi kết thúc năm tài chính

Trong những năm gần đây, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh luôn nhận thức rõ tầm quan trọng của QLTC, phục vụ nhu cầu đổi mới công tác ĐT, NCKH theo hướng đồng bộ, thông suốt trong toàn bộ hệ thống Sau những thay đổi nhất định trong cơ chế quản lý, để đảm bảo thực hiện theo cơ chế QLTC mới theo quy định của Luật NSNN và Bộ Tài chính Học viện CTQG HCM đã đề ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện QLTC và điều hành khá tốt nguồn kinh phí và đang thực hiện các văn bản hướng dẫn về trao quyền tự chủ như: Thông tư số 113/2007/TT-BTC ngày 24/ 9/2007 sửa đổi bổ sung thông tư số 71/2006/TT-BTC ngày 09/08/2006 của Bộ Tài chính; hướng dẫn thực hiện nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/04/2006 của chính phủ quy định quyền TC-TCTN về thực hiện nhiệm vụ tổ chức bộ máy, biên

Trang 14

chế và tài chính đối với sự nghiệp công lập; Thông tư của Bộ Tài chính số 81/2006/TT-BTC ngày 06/9/2006 hướng dẫn chế độ kiểm soát chi đối với các CSĐT công lập thực hiện quyền TC-TCTN về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế

và tài chính; Quyết định số 181/2005/QĐ-TTg ngày 19/7/2005 "Quy định về phân loại, xếp hạng các tổ chức sự nghiệp, dịch vụ công lập" Đặc biệt, năm 2015 Chính

phủ đã ban hành Nghị quyết số 16/2015/NĐ-CP về "Quy định cơ chế tự chủ của đơn

vị sự nghiệp công lập" [12; 13; 14; 17; 19].Từ các văn bản trên, cho thấy Học viện CTQG HCM đã được Nhà nước giao toàn bộ quyền và trách nhiệm trong việc quản lí

sử dụng các nguồn kinh phí do Nhà nước cấp, được tự chủ trong việc khai thác, thu hút các nguồn lực tài chính để tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, đổi mới công tác ĐT, nghiên cứu theo hướng tích cực hiện đại hóa Vậy, vấn đề đặt ra là làm thế nào để quản lí, sử dụng nguồn tài chính có chất lượng và hiệu quả, đồng thời tăng các khoản thu từ hoạt động sự nghiệp, tiết kiệm chi để tăng thu nhập tăng thêm cho người lao động (cán bộ QLGD, viên chức, GV, ), đồng thời có giải pháp để huy động ngày càng nhiều các nguồn thu tài chính khác đáp ứng yêu cầu đổi mới theo hướng TC-TCTN Trên thực tế trong hệ thống Học viện CTQGHCM, tại các CSĐT trực thuộc còn biểu hiện nhiều hạn chế, bộc lộ một số điểm yếu trong QLTC khiến hiệu quả đạt được chưa tương xứng với tiềm năng cũng như nhu cầu phát triển của hệ thống Học viện Bản thân NCS đang đảm nhiệm công tác QLTC của Học viện Báo chí và Tuyên truyền (BC&TT) thuộc hệ thống Học viện CTQG HCM thấy có nhiều vấn đề cần nghiên cứu trên cả từ góc độ lý luận và thực tiễn Mặt khác, trong những năm gần đây, tuy đã có một số công trình nghiên cứu, luận án tiến sĩ nghiên cứu về quản lý tài chính trong giáo dục đại học nói chung và các CSĐT đại học nói riêng song chưa có công trình nào nghiên cứu sâu về đổi mới QLTC tại các cơ sở đào tạo thuộc hệ thống Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh.Chính vì lý do trên, NCS đã quyết định

chọn đề tài “Quản lí tài chính tại các cơ sở đào tạo thuộc hệ thống Học viện Chính

trị Quốc gia Hồ Chí Minh đáp ứng yêu cầu đổi mới” làm đề tài nghiên cứu trong

khuôn khổ một luận án Tiến sĩ chuyên ngành quản lý giáo dục

Trang 15

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Hoạt động tài chính ở các cơ sở đào tạo đại học

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Quản lý tài chính tại các CSĐT thuộc hệ thống Học viện CTQGHCM đáp ứng

yêu cầu đổi mới theo hướng TC-TCTN

4 Câu hỏi nghiên cứu

- Cần dựa trên cơ sở khoa học quản lý nào để nghiên cứu vấn đề QLTC tại các CSĐT đại học, đáp ứng yêu cầu đổi mới theo hướng TC-TCTN?

- Thực trạng QLTC tại các CSĐT thuộc hệ thống Học viện CTQG HCM có những điểm mạnh, điểm yếu nào?

- Có những vận hội và cản trở nào trong tiến trình đổi mới hoạt động tài chính của các CSĐT thuộc hệ thống Học viện CTQG HCM theo hướng TC-TCTN?

- Cần có các giải pháp quản lí nào để hoạt động QLTC tại các CSĐT thuộc

hệ thống Học viện CTQG HCM đáp ứng yêu cầu đổi mới theo hướng TC-TCTN?

5 Giả thuyết khoa học

Hiện nay, TC-TCTN về tài chính đã được các CSĐT đại học thực hiện và đạt được một số thành tựu nhất định đáp ứng yêu cầu đổi mới là phục vụ có hiệu quả cho hoạt động đảm bảo chất lượng ĐT Tuy nhiên, thực trạng QLTC tại các CSĐT thuộc hệ thống Học viện CTQG HCM còn nhiều bất cập, chưa thực sự đáp ứng được những yêu cầu trong tình hình mới

Nếu thực hiện QLTC tại các CSĐT thuộc hệ thống Học viện CTQG HCM theo mô hình quản lý phân cấp TC-TCTN dựa trên các chức năng cơ bản của quản

Trang 16

lý và phù hợp với thực tiễn các CSĐT thuộc hệ thống Học viện CTQG HCM thì sẽ đảm bảo việc quản lí và sử dụng hiệu quả của nguồn tài chính phục vụ nhiệm vụ trọng tâm của Học viện là ĐT và NCKH; đáp ứng yêu cầu đổi mới đào tạo, góp phần nâng cao chất lượng ĐT nguồn nhân lực trên các lĩnh vực mà Học viện CTQGHCM đảm nhiệm trong bối cảnh mới theo hướng TC-TCTN

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được những mục đích nghiên cứu trên, cần thực hiện những nhiệm

vụ nghiên cứu sau:

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về QLTC tại các CSĐT đại học đáp ứng yêu cầu đổi mới Đề xuất hệ thống các nội dung liên quan đến QLTC tại các CSĐT đại học theo hướng TC-TCTN

-Khảo sát, điều tra, phân tích thực trạng tài chính, đổi mới hoạt động tài chính và QLTC tại các CSĐT thuộc hệ thống Học viện CTQG HCM trong những năm gần đây; đánh giá thực trạng QLTC theo các chức năng cơ bản của quản lí

- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng,hiệu quả của QLTC tại các CSĐT thuộc hệ thống Học viện CTQG HCM đáp ứng yêu cầu đổi mới theo hướng TC-TCTN

- Tổ chức khảo nghiệm tính cấp thiết và tính khả thi của giải pháp QLTCtại các CSĐT thuộc hệ thống Học viện CTQG Hồ Chí Minh đáp ứng yêu cầu đổi mới Luận án tiến hành thực nghiệm 01 giải pháp tại Học viện BC&TT

7 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu

- Giới hạn phạm vi nghiên cứu: Tập trung nghiên cứu QLTC tại các CSĐT thuộc hệ thống Học viện CTQG HCM đáp ứng yêu cầu đổi mới

- Giới hạn phạm vi khảo sát: Đề tài nghiên cứu khảo sát các CSĐT thuộc hệ thống Học viện CTQG HCM bao gồm: Trung tâm Học viện, Học viện Chính trị khu vực II và Học viện BC&TT

- Giới hạn về đối tượng và thời gian khảo sát: Liên quan đến QLTC bao gồm: Cán bộ chuyên trách làm công tác tài chính (CBQL, viên chức), CBQLGD,

GV tại các CSĐT thuộc hệ thống Học viện CTQG HCM Thời gian khảo sát từ 01/2016 đến 05/2016

Trang 17

- Giới hạn thực nghiệm giải pháp: Do điều kiện không cho phép, chỉ tiến hành thực nghiệm 01 giải pháp đề xuất tại Học viện BC&TT

8 Điểm mới của luận án

-Học viện CTQG HCM là một hệ thống ĐT, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo,

quản lý chủ chốt, trung, cao cấp - vốn có truyền thống được bao cấp toàn diện nay hoạt động QLTC của Học viện được định hình theo hướng tiếp cận mới: TC-TCTN Theo đó sẽ khuyến khích sự năng động, sáng tạo, hiệu quả, trách nhiệm đối với xã hội bảo đảm mục tiêu chính trị trong QLTC của các CSĐT thuộc hệ thống Học viện CTQG HCM;

- Nhận diện và phân tích sâu các nội dung mới liên quan QLTC tại các CSĐT đại học (mối quan hệ tài chính với các yếu tố đảm bảo chất lượng ĐT, đổi mới giáo dục đại học (GDĐH) và những vấn đề đặt ra cho tài chính và QLTC tại các CSĐT đại học, QLTC tại các CSĐT đáp ứng yêu cầu đổi mới Tổng hợp và phân tích các yếu tố ảnh hưởng và kinh nghiệm quốc tế, bài học cho Việt Nam về QLTC tại các CSĐT đại học

- Phân tích và đánh giá đúng thực trạng TC và QLTC tại các CSĐT thuộc

hệ thống Học viện CTQG HCM và đánh giá các nội dung liên quan đến QLTC đáp ứng yêu cầu đổi mới theo hướng TC-TCTN

- Trên cơ sở khung lí luận về quản lí tài chính theo hướng TC-TCTN và

xác định rõ các hạn chế và nguyên nhân trên từng nội dung thực trạng QLTC, đề xuất các giải pháp QLTC tại các CSĐT thuộc hệ thống Học viện CTQG HCM, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục đại học

9 Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện được mục tiêu nghiên cứu, đề tài vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vận lịch sử với các cách tiếp cận và các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:

* Các phương pháp tiếp cận

- Tiếp cận duy vật biện chứng: Đặt đối tượng nghiên cứu trong mối liên hệ

với nhau, ảnh hưởng và ràng buộc lẫn nhau Đối tượng ở trạng thái vận động, biến

Trang 18

đổi, nằm trong khuynh hướng chung là phát triển, đây là quá trình thay đổi về chất của các sự vật hiện tượng Phương pháp tiếp cận duy vật biện chứng giúp luận án vận dụng, thể hiện tư duy mềm dẻo, linh hoạt, xem xét sự vật hiện tượng trong mối quan hệ tác động qua lại, chuyển hóa lẫn nhau Sự phản ánh hiện thực, đúng thực trạng trở thành công cụ hữu hiệu giúp lựa chọn đề xuất các giải pháp hiệu quả trong

QLTC đáp ứng yêu cầu đổi mới (TC-TCTN về tài chính)

- Tiếp cận hệ thống: Hoạt động quản lí CSĐT theo hướng TC-TCTN về tài chính, có hiệu quả hay không liên quan đến nhiều yếu tố, bao gồm các yếu tố từ

Nhà nước và các các yếu tố của mỗi CSĐT thuộc hệ thống Học viện CTQGHCM Phương pháp tiếp cận hệ thống giúp nhà nghiên cứu nhìn nhận vấn đề nghiên cứu một cách có hệ thống và lựa chọn được những chỉ tiêu đánh giá sát thực trong quá trình nghiên cứu thực tiễn của đề tài

- Tiếp cận quản lí sự thay đổi:Ngày nay,sự phát triển như vũ bão của khoa

học kỹ thuật, công nghệ và đời sống kinh tế - xã hội đã tạo ra rất nhiều cơ hội cũng như không ít thách thức, khó khăn đối với các nhà quản lí các CSĐT đại học Do

đó, thay đổi cho phù hợp với điều kiện thực tiễn là một yếu tố vô cùng quan trọng quyết định đến chất lượng và hiệu quả quản lí của các CSĐT đại học Nếu không mau chóng thích ứng với sự thay đổi, CSĐT đại học khó có thể giữ được vị trí, thương hiệu trong việc đáp ứng những đòi hỏi của xã hội Ở nước ta, việc trao quyền tự chủ đại học đã được nới rộng dần và tự chịu trách nhiệm cũng là đòi hỏi tương ứng với quyền tự chủ được trao Do vậy, các nhà QLGD tại các CSĐT đại học cần nhận thức rõ sự cần thiết của việc thay đổi, những yếu tố tác động tích cực

và tiêu cực của sự thay đổi, cần xây dựng kế hoạch hành động và quản lí sự thay đổi Chính vì vậy, QLTC đáp ứng yêu cầu đổi mới hiện nay chính là sự đổi mới tiếp cận theo hướng TC-TCTN về tài chính

- Tiếp cận quản lý theo chức năng: Xem xét các hoạt động, quá trình quản lý nói chung và quản lý tài chính cơ sở đào tạo đại học dựa trên việc thực hiện các chức năng cơ bản của quản lý : lấp kế hoạch - tổ chức và chỉ đạo thực hiện - kiểm tra - đánh giá

Trang 19

- Tiếp cận hiệu quả: Xem xét các hoạt động, quá trình quản lý nói chung và quản

lý tài chính cơ sở đào tạo đại học theo hướng tăng cường hiệu quả trong phân bổ, sử dụng nguồn lực tài chính cho các hoạt động của các cơ sở đào tạo đại học thuộc HV CTQG HCM

* Phương pháp nghiên cứu lý luận: Tiến hành phân tích, tổng hợp, so sánh

và khái quát hóa các công trình khoa học, sách chuyên khảo, các văn bản pháp quy như: Luật, Nghị định, Thông tư, Hướng dẫn về tài chính, QLTC, QLTC CSĐT đại học để xây dựng cơ sở khoa học, cơ sở pháp lý của Đề tài và nghiên cứu kinh

nghiệm quốc tế

* Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Khảo sát bằng phiếu hỏi, thu thập số liệu, nghiên cứu sản phẩm (các tài liệu, biểu bảng liên quan, các thông tin về ĐT, số liệu nguồn NSNN, thu - chi tài chính về ĐT v.v.) liên quan đến thực trạng và đánh giá thực trạng QLTC tại các CSĐT thuộc hệ thống Học viện CTQG HCM;

- Phỏng vấn trực tiếp cán bộ lãnh đạo, QLGD, GV, viên chức làm công tác QLTC tại các CSĐT thuộc hệ thống Học viện CTQG HCM để tìm hiểu và nghiên cứu sâu những vấn đề QLTC mà Đề tài quan tâm

- Sử dụng nguồn số liệu thứ cấp: Sử dụng số liệu thứ cấp là số liệu do các

vụ, phòng, ban trong các CSĐT thuộc hệ thống Học viện CTQG HCM thu thập, sử dụng cho các mục đích nghiên cứu Số liệu thứ cấp có thể là số liệu chưa xử lý (còn gọi là số liệu thô) hoặc số liệu đã xử lý

* Phương pháp bổ trợ

- Xử lí và phân tích số liệu nghiên cứu với phần mềm SPSS:SPSS được phân

tích mô tả với các nguyên tắc chính: phân tích, đánh giá và tổng hợp theo định lượng Trên cơ sở đề xuất nội dung về QLTC và QLTCtại CSĐT, phương pháp này giúp thu thập số liệu để phân tích, đánh giá, tổng hợp phục vụ quá trình đánh giá thực trạng

- Sử dụng các phần mềm hỗ trợ việc xử lý số liệu bằng các phương pháp

Trang 20

thống kê và thảo luận đưa ra những đánh giá, tìm ra giải pháp nhằm đổi mới và nâng cao hơn nữa hiệu quả của QLTC tại các CSĐT thuộc hệ thống Học viện CTQG HCM

- Tổ chức thực nghiệm 01giải pháp nghiên cứu của luận án

10 Những luận điểm cần bảo vệ

Luận điểm 1: QLTC tại các CSĐT đại học đáp ứng yêu cầu đổi mới là vấn đề

có tính cấp bách trong hoạt động QLGD tại các CSĐT đại học, có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động quản lí GD-ĐT của các đơn vị đó Do đó, cần đổi mới QLTC tại các CSĐT theo hướng TC-TCTN, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục đại học hiện nay

Luận điểm 2: QLTC tại các CSĐT thuộc hệ thống Học viện CTQG HCM

hiện nay chưa thực sự đồng bộ về mọi mặt, vẫn còn tồn tại những hạn chế (về năng lực đội ngũ CBQL, GV; về phân cấp quản lí, cơ chế chính sách, cơ chế kiểm tra giám sát, công khai tài chính ) Chưa phù hợp với xu hướng phát triển chung trong công tác QLTC và với các đặc thù của các đơn vị thành viên

Luận điểm 3: Tăng quyền TC-TCTN về tài chính và quản lý tài chính tại

các CSĐT thuộc hệ thống Học viện CTQG HCM là giải pháp có hiệu quả, phù hợp trong bối cảnh đổi mới hiện nay Qua đó góp phần tăng nguồn thu sự nghiệp tại các CSĐT đại học thuộc hệ thống Học viện CTQG HCM, giảm gánh nặng NSNN đối với các đơn vị này; nâng cao thu nhập cho CBQL, GV, nhân viên

Luận điểm 4: Năng lực chuyên môn nghiệp vụ của cán bộ QLTC và cơ chế

kiểm tra, giám sát, công khai minh bạch có ảnh hưởng và tác động tích cực trong

QLTC tại CSĐT đại học theo hướng TC-TCTN đáp ứng yêu cầu đổi mới

11 Cấu trúc luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục các công trình khoa học đã công bố liên quan đến luận án Luận án gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý tài chính cơ sở đào tạo đại học đáp ứng

Trang 21

Chương 2: Thực trạng quản lý tài chính tại các cơ sở đào tạo thuộc hệ thống Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Chương 3: Giải pháp quản lý tài chính tại các cơ sở đào tạo thuộc hệ thống Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh đáp ứng yêu cầu đổi mới

Trang 22

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CƠ SỞ ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ

1.1 Tổng quan nghiên cứu quản lí tài chính cơ sở đào tạo đại học

Hiện nay, vấn đề tự chủ đại học đang được bàn luận sôi nổi, trong đó các nghiên cứu tập trung vào các hướng chính là TC-TCTN, cơ chế phân cấp tài chính,

cơ chế, mô hình QLTC Do đó, phần tổng quan này đề cập khái quát những hướng nghiên cứu như sau:

1.1.1 Những nghiên cứu về cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính

TC-TCTN về tài chính là một đặc điểm quan trọng của tổ chức CSĐT đại học Trên thế giới đã có rất nhiều nghiên cứu về vấn đề này đã nảy sinh từ những năm đầu của thế kỷ XIX, cụ thể như sau:

- Năm 1810, tác giả Wilhelm Von Humboldt đã nghiên cứu hình thành nên

nguyên lý về tự chủ, với những nguyên lý tác giả đưa ra tiền đề về tự do giảng dạy

và tự do học tập; tức là GDĐH không cần có sự can thiệp của Nhà nước [92, tr 74]

- Năm 2009, tác giả Salmi, J cho rằng: “Khái niệm, bản chất, nội dung tự chủ được quy định rõ ràng, mọi cơ sở giáo dục đều có thể thực hiện” Nhà nước luôn tạo mọi hành lang pháp lý để mọi cơ sở giáo dục đều thực hiện tốt quyền tự chủ Tự chủ tạo cho nhà trường có một môi trường quản lý thuận lợi để phát triển tự

do học thuật, tập trung nhân tài và huy động mọi nguồn lực tài chính [99]

- Các trường đại học tại châu Âu đã có nhiều nghiên cứu đã quan tâm, sôi nổi với vấn đề QLTC thể hiện ở việc được trao quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm

từ nửa đầu thế kỷ XXI như: Theo Sursock & H Smidt Trends (2010): “Một thập kỷ của sự thay đổi trong giáo dục châu Âu, Hiệp hội đại học Châu Âu”chỉ ra một tiền

đề cho những nghiên cứu về quyền tự chủ là chất lượng của các đại học công lập và các viện nghiên cứu, chất lượng có thể được cải tiến một cách tuyến tính so với mức

độ tự chủ được trao [64, tr.214]

- Nghiên cứu của Tom Christensen về “Cải cách quản trị đại học: Khả năng

tự chủ nhiều hơn?” Tác giả bàn về những xu hướng cải cách quản lí công trong ĐT

Trang 23

qua các giai đoạn khác nhau Tự chủ đại học hiện nay được chuyển từ tự chủ hình thức ở cấp độ thấp sang tự chủ thực sự ở mức cao hơn Vấn đề này dựa trên hai yếu

tố, một là thay đổi những quan điểm về tổ chức, văn hóa và môi trường nội tại, hai

là phác thảo xu hướng cải cách nhà trường Nhiều CSĐT đại học đã chủ động tìm kiếm khai thác các nguồn lực tài chính thay vì sự bảo trợ từ tài chính công như trước đây [100, tr 503]

Ở nước ta hiện nay, đầu tư GD-ĐT luôn được Đảng và Nhà nước rất quan tâm và coi là quốc sách hàng đầu Từ sự quan tâm đó nên trong những năm gần đây,

đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về vấn đề QLTC Các công trình nghiên cứu này đã đề cập đến công tác QLTC theo hướng tự chủ tài chính, cơ chế đổi mới quan lí tài chính, đảm bảo chất lượng GD-ĐT như: thực hiện tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính theo hướng TC-TCTN, quản lí nhà nước và tự chủ tài chính của các trường đại học, bàn về quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của các cơ

sở GDĐH, giải pháp tự chủ tài chính tại các trường đại học công lập [46, tr 91; 50, tr 83-90; 51]

88-Một số công trình nghiên cứu đã đề cập đến vấn đề tự chủ và TNXH ở Việt Nam như: Hayden và Thiep (2006, 2007) trong “A 2020 vision for Vietnam” và

“Institutional autonomy for HE in Vietnam” cho rằng sự đổi mới GDĐH Việt Nam gắn với đổi mới quản lí và đảm bảo tự chủ cho đại học Nghiên cứu chỉ rõ tự chủ đại học chịu thách thức không chỉ do sự miễn cưỡng đối với việc từ bỏ sự kiểm soát trực tiếp của một bộ phận quản lí GDĐH mà còn do sự nhận thức chưa đầy đủ bản chất thực sự của tự chủ, cả những đòi hỏi liên quan đến trách nhiệm xã hội cũng như cơ chế quản lí hiệu quả trong điều kiện nguồn nhân lực, vật lực, tài lực, cho cơ quan quản lí còn hạn chế Nghiên cứu này đã chỉ ra một số khiếm khuyết trong quản

lí dẫn tới sự thiếu tự chủ thực chất, nhưng chưa đưa ra cách khắc phục tháo gỡ cơ chế đối với cơ quan chủ quản [90, tr 11-13; 91, tr 73-85]

Các công trình nghiên cứu áp dụng cơ chế thực hiện TC-TCTN được khái quát theo các vấn đề sau:

Thứ nhất: các nghiên cứu đã đưa ra cơ sở lí luận, kinh nghiệm tự chủ và tự

Trang 24

chịu trách nhiệm ở các nước trên thế giới như Mỹ, Anh, Trung Quốc, Pháp, Đức, Singapo, Ấn độ với các nội dung như: TC-TCTN, các điều kiện, tiêu chí, nội dung

để thực hiện tự chủ, đưa ra các mối quan hệ tài chính với các yếu tố tác động Trong các quốc gia thì Mỹ và Singapo thực hiện quyền tự chủ cao nhất Sự tự chủ này cho phép các trường đại học linh hoạt trong giảng dạy và nghiên cứu, đa dạng các nguồn lực tài chính, cơ chế tự chủ tạo ra môi trường cạnh tranh, khích lệ tinh thần nghiên cứu sử dụng các nguồn lực tài chính có hiệu quả và có những giải pháp, hướng đi phù hợp với sự phát triển Các tác giả tập trung khái quát những vấn đề cơ sở và bài học kinh nghiệm có thể áp dụng vào Việt Nam [80]

Thứ hai, đáp ứng yêu cầu đổi mới, GDĐH Việt Nam đã đặt ra nhiều mục

tiêu: hiệu quả, chất lượng, số lượng và sự công bằng, chuẩn hóa Để đạt các mục tiêu đó, đòi hỏi nhà nước phải phân cấp quản lí, hoàn thiện cơ chế QLTC cho các CSĐT đại học Các công trình nghiên cứu của các tác giả như: Luận án tiến sĩ:

“Các giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư tài chính cho ĐTĐH ở Việt Nam” của tác giả Đặng Văn Du, Học viện Tài chính, 2004; Luận án tiến sĩ: “Hoàn thiện chính sách tài chính cho GDĐH Việt Nam” của tác giả Lê Phước Minh, Học viện Ngân hàng, 2005; Luận án tiến sĩ: “Hoàn thiện cơ chế QLTC đối với các trường đại học

ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Anh Thái, Học viện Tài chính, 2008; Đề tài NCKH: “Đề án triển khai thực hiện chuyển đổi cơ chế tài chính Đảng sang thực hiện Luật NSNN đối với Học viện CTQG HCM từ năm 2008”, Học viện CTQG HCM, 2008; Luận án tiến sĩ “Hoàn thiện cơ chế QLTC đối với các chương trình

ĐT chất lượng cao trong các trường đại học công lập Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thu Hương, Đại học Kinh tế quốc dân, năm 2014; Luận án tiến sĩ “ Đổi mới cơ chế tài chính đối với các trường đại học công lập ở Việt Nam” của tác giả

Lê Thị Minh Ngọc, Học viện Ngân hàng, năm 2017 Các tác giả này đã đi sâu phân tích: khái niệm, nội dung, bản chất của phân cấp, cơ chế QLTC, quá trình thực hiện tự chủ Một số quan điểm cho rằng thực hiện quyền tự chủ là yêu cầu khách quan nhưng không tách rời với việc giải trình và chịu trách nhiệm của các

CSĐT đại học giữa các bên liên quan (xã hội, cha mẹ SV, đơn vị tuyển dụng, SV)

Trang 25

Tác giả Lê Đức Ngọc (2009): “Bàn về quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của các

cơ sở ĐTĐH” đã chỉ ra rằng: nền kinh tế thị trường đòi hỏi mọi CSĐT đại học phải sản xuất nguồn nhân lực chất lượng cao, phải thực hiện trách nhiệm xã hội qua việc đảm bảo thỏa mãn tiêu chí hiệu quả với nội hàm: chất lượng cao, hiệu quả cao, phù hợp với công bằng xã hội” [20; 45; 50; 51; 59; ]

Thứ ba,đánh giá thực trạng về tình hình thực hiện cơ chế tự chủ tài chính

của một số trường đại học như: Trường Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Kinh tế quốc dân, Đại học Bách khoa Hà Nội, Đại học Thái Nguyên, Đại học Sư phạm Hà Nội, Học viện QLGD, Học viện công nghệ bưu chính viễn thông, Học viện Âm nhạc Huế, các công trình nghiên cứu cả hệ thống các CSĐT đại học trong những năm qua đã nêu ra những thực trạng thuận lợi và khó khăn trong việc thực hiện tự chủ tài chính, tự chịu trách nhiệm tài chính Những tác động tích cực của

cơ chế tự chủ tài chính đã tạo điều kiện để các trường chủ động nâng cao hiệu quả

sử dụng nguồn tài chính gắn với đảm bảo chất lượng hoạt động như đa dạng hóa các nguồn thu, tăng nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp, nguồn quà biếu, quà tặng

từ các tổ chức và cá nhân tiết kiệm chi, thực hành chống lãng phí, nâng cao đời sống của CBQL, GV tại các CSĐT này Bên cạnh đó, các tác giả đã chỉ ra về những tác động tiêu cực của cơ chế TC-TCTN như trong giải quyết mối quan hệ theo văn bản hướng dẫn pháp quy và quyền thực tế; cơ chế phân bổ TC-TCTN chưa có tiêu chí; phân bổ ngân sách cho chi thường xuyên nặng tính bình quân, các văn bản nhà nước cơ bản còn chưa phù hợp [20; 45; 50; 51; 59 ]

Từ những vấn đề nghiên cứu trên, cho thấy rằng vấn đề cơ chế TC-TCTN tài chính đại học nói chung và của các cơ sở đào tạo nói riêng đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhận diện về quan điểm, chủ trương, cơ chế triển khai và các tác động tích cực cũng như những hạn chế, khó khăn khi triển khai thực hiện ở các cơ

sở đào tạo Để giải quyết tốt vấn đề TC-TCTN tài chính thì đòi hỏi phải thực hiện đồng bộ giữa các văn bản pháp quy được ban hành, các CSĐT phải có nhiều quyền trên thực tế, việc phân bổ ngân sách cần có tính linh hoạt để tạo điều kiện các CSĐT đại học năng động hơn trong quá trình xây dựng kế hoạch trung, dài

Trang 26

hạn về tài chính Các nội dung trên sẽ được nghiên cứu vận dụng và phát triển khi giải quyết các nhiệm vụ, nội dung nghiên cứu có liên quan của Luận án

1.1.2 Những nghiên cứu về cơ chế phân cấp quản lí tài chính

Phân cấp QLTC trong GDĐH là xu thế tất yếu trong quản lí Nhà nước Trong những thập kỷ gần đây phân cấp QLTC trong GDĐH có nhiều tác động tích cực đến chất lượng giáo dục Do đó, đã có nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước đề cập tới vấn đề phân cấp QLTC trong giáo dục nói chung và CSĐT đại học nói riêng như sau:

Theo nghiên cứu của Clive A J Dimmock (1993) thì phân cấp QLTC cho giáo dục có ảnh hưởng và tác động không nhỏ đến chất lượng giáo dục Tuy nhiên yếu tố ảnh hưởng mạnh mẽ đến chất lượng và công bằng trong giáo dục không phải

là tổng số tiền có bao nhiêu và cơ sở vật chất như thế nào mà nằm ở cách thức và hiệu quả sử dụng ngân sách đầu tư cho giáo dục ở mỗi CSĐT Cách thức sử dụng các nguồn lực tài chính của CSĐT phụ thuộc vào cơ chế tài chính và chính sách tài chính của nhà nước, CSĐT, và phụ thuộc vào khả năng của những người thực hiện các chính sách đó [92]

Phân cấp QLTC giáo dục còn có tác dung như sau: (1) Tạo điều kiện cho nhiều đối tượng (các bên liên quan: GV, SV, đội ngũ cán bộ CSĐT, đại diện nhà tuyển dụng, doanh nghiệp ) tham gia giám sát hệ thống giáo dục thông qua việc tham gia vào các tiểu ban: tiểu ban tài chính, tiểu ban chương trình và chỉ đạo quá trình giảng dạy Nhờ đó hiệu quả được thực hiện, huy động được nhiều nguồn lực, các thông tin trong CSĐT và từ CSĐT tới các cấp trên được minh bạch hơn (2) Việc CSĐT tự phân bổ kinh phí đáp ứng tốt hơn nhu cầu học tập của SV vì các quyết định về kinh phí do những người gần gũi nhất với SV đưa ra Mặt khác tham gia vào việc quyết định các vấn đề về phân bổ làm cho mọi người thấy được sự tự chủ của mình đối với công tác QLGD có nhiều cơ hội hơn để phát triển các năng lực quản lí nói chung và năng lực QLTC nói riêng (3) Khi được tự chủ phân bổ và

sử dụng kinh phí, CSĐT sẽ được lựa chọn các ưu tiên, tính toán giá thành và hiệu suất của đồng tiền sử dụng, được sáng tạo và đổi mới các hình thức chi tiêu tài

Trang 27

chính Đây là động thái làm cho hiệu suất sử dụng các nguồn lực gia tăng [39]

Đề tài “Nghiên cứu QLTCGDĐH của một số nước trên thế giới” của tác giả Vương Thanh Hương do Viện Khoa học giáo dục Việt Nam chủ trì; đề tài đã chỉ

ra những xu hướng chung và sự khác biệt về QLTC tại các CSĐT đại học của một

số nước như Mĩ, Trung Quốc, Hàn Quốc và Singapore Tác giả đã phân tích chính sách đa dạng hóa nguồn thu, cơ chế kiểm tra giám sát và chính sách phân cấp QLTC các CSĐT đại học, mô hình tài chính cho SV (bao gồm tín dụng SV, học bổng, các khoản hỗ trợ khác ); từ đó, tác giả đã đưa ra bài học và khuyến nghị vận dụng cho các CSĐT đại học Việt Nam [33]

Tác giả Lê Toàn Thắng với luận án Tiến sĩ “Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước ở Việt Nam hiện nay”, đã phân tích và chỉ rõ cơ sở và thực trạng phân cấp quản lí NSNN Trong đó, tác giả đã nhấn mạnh phân cấp NSNN còn hạn chế ở một

số điểm: Thứ nhất, phân cấp quản lí NSNN ở Việt Nam vẫn thực hiện theo phương

thức quản lí theo các yếu tố đầu vào cho nên làm cho hiệu quả sử dụng NSNN kém

hiệu quả (được thể hiện thông qua việc sử dụng hệ thống định mức NSNN) Thứ hai, những quy định về phân cấp NSNN chưa bao quát hết phạm vị NSNN Thứ ba,

thẩm quyền quản lí NSNN của địa phương tăng lên, nhưng thẩm quyền quyết định

NSNN vẫn thuộc về trung ương Thứ tư, việc phân cấp quản lí nguồn thu và chi

NSNN giữ ngân sách TW và ngân sách địa phương còn có điểm chưa phù hợp trên

thực tế Thứ năm, tương quan giữa nguồn thu và chi của địa phương chưa tương xứng Thứ sáu, bất cập trong những quy định phân cấp quản lý thực hiện theo chu trình NSNN Thứ bảy, công tác giám sát NSNN chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn

[67] Từ luận án nhận thấy việc phân cấp QLTC còn nhiều bất cập, mà cụ thể là phân cấp NSNN trong bối cảnh đáp ứng yêu cầu đổi mới hiện nay

Tác giả Đỗ Thị Thu Hằng - Trần Thị Bích Liễu nghiên cứu vấn đề: “Phân cấp QLTC với giáo dục phổ thông ở Việt Nam - Một nghiên cứu tình huống tại Hà Nội”; tác giả đã chỉ ra ảnh hưởng của phân cấp QLTC tới chất lượng giáo dục như ảnh hưởng của quyền tự chủ tài chính và các chính sách phân cấp lên chất lượng giáo dục; những hạn chế trong thực hiện chính sách phân cấp QLTC với giáo dục ở

Trang 28

các trường THPT (ngân sách ít, thiếu nguồn lực; thiếu sự tham gia của giáo viên và cha mẹ học sinh vào quá trình lập kế hoạch tài chính, có nhiều khó khăn trong mối quan hệ hợp tác giữa Kho bạc, các phòng, ban hay Sở tài chính với trường học, đồng thời thủ tục hành chính còn phức tạp; thiếu kĩ năng sử dụng công nghệ thông tin trong các hoạt động tài chính, thiếu các đơn vị đo hiệu quả chi tài chính) [32, tr 14-26] Từ kết quả nghiên cứu này, đã chỉ ra những bất cấp việc phân cấp QLTC trong giáo dục, thực trạng của phân cấp này; đây cũng là vấn đề mà luận án cần nghiên cứu tới

Như vậy, qua tổng hợp và phân tích các nội dung trên cho thấy: phân cấp QLTC là trong những xu thế tất yếu của QLTC trong giáo dục và đã có nhiều công trình nghiên cứu, luận án đề cập đến Các nghiên cứu cho thấy: muốn thực hiện hiệu quả sử dụng các nguồn tài chính phải có quá trình phân cấp đúng mức tài chính, tạo điều kiện cho các bên liên quan tham gia vào quá trình giám sát, thực hiện tài chính cùng với việc CSĐT tự phân bổ về kinh phí tạo tính năng động chủ động hơn trong

sử dụng nguồn lực tài chính Đây là vấn đề sẽ được kế thừa và tiếp tục nghiên cứu làm rõ hơn, cụ thể hơn trong các nội dung nghiên cứu của luận án ở chương 1, 2, 3

1.1.3 Những nghiên cứu về mô hình quản lí tài chính

Nhận diện và phân tích cấu trúc, đặc trưng của mô hình quản lý tài chính là một nội dung được đề cập trong nhiều trong các công trình nghiên cứu về mô hình quản lí công mới (the New Public Management - NPM) Mô hình quản lí công mới phản ánh phong cách quản lí được xây dựng trên quan niệm tính hiệu quả trong các

tổ chức khu vực công có thể được tăng cường bằng cách áp dụng phong cách quản

lí đang được sử dụng tại các cửa hàng kinh doanh Mô hình này được khởi xướng tức các nước Tây Âu trong thập kỷ 1980 và sau lan rộng ra toàn cầu Việc chuyển sang áp dụng NPM trong các CSĐT đại học xuất phát từ chiến lược mới của chính phủ; nhằm tăng cường quyền tự chủ cho các CSĐT đại học, và phải có trách nhiệm giải trình và chịu kiểm soát về sản phẩm hay kết quả hoạt động Việc áp dụng này ở mỗi nước không giống nhau và có nhiều biểu hiện khác nhau Tuy nhiên, về cơ bản NPM gồm 3 yếu tố chính: (1) Sử dụng các công cụ của cơ chế thị trường như khích

Trang 29

lệ về tài chính, tài trợ dựa trên kết quả hoạt động, hợp đồng công việc và trách nhiệm; (2) Củng cố các thước đo mức độ thực hiện công việc; tăng cường sử dụng kiểm soát, đảm bảo chất lượng, kiểm định để theo dõi và đánh giá của tổ chức; (3) Chuyển giao quyền lực từ các cơ quan Trung ương cho người quản lí trong tổ chức với sự nhấn mạnh đến chức năng lãnh đạo và quản lí [83,tr 299-316] Từ mô hình này cho thấy việc áp dụng đều khẳng định vai trò của người đứng đầu tổ chức (Hiệu trưởng, Giám đốc) các CSĐT đại học; việc huy động triệt để các nhân tố tăng nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp, kiểm soát, đảm bảo chất lượng và đánh giá là các vấn

đề mà các nghiên cứu ngày nay đang tiếp tục làm rõ

Mô hình hoạt động tài chính của các CSĐT đại học theo mô hình sau:

Sơ đồ 1.1.Mô hình hoạt động QLTC các CSĐT đại học ở Việt Nam

(nguồn: Hautman (2006))

Theo Hauptman (2006) thì có ba nguồn tài chính nhằm duy trì các hoạt động nghiên cứu và giảng dạy của các trường ĐHCL, đó là nguồn ngân sách chính phủ, học phí và đóng góp từ xã hội Trong đó đóng góp từ ngân sách chính phủ là quan trọng và nên kết hợp linh hoạt các nguồn tài chính trên Điều này có nghĩa không thể giảm sự hỗ trợ100% từ NSNN và để các CSĐT đại học tự tìm nguồn kinh phí hoạt động.Theo

Cơ sở đào tạo đại học

Đầu vào

Nguồn lực tài chính Mục tiêu các kế hoạch

(Đào tạo, tài chính, )

Đầu ra

Đào tạo

Hoạt động ngoài đào tạo(nghiên cứu khoa học, dịch vụ, sản phẩm )

Trang 30

Hauptman (2007) đã tổng hợp bốn mô hình về tài chính cho CSĐT đại học, trong đó có

3 mô hình tài chính liên quan trực tiếp đến CSĐT đại học:

Mô hình 1 : Miễn học phí hoặc áp dụng học phí thấp

Theo mô hình này thì nguồn tài chính chủ yếu của CSĐT đại học là từ NSNN, học phí chỉ là tượng trưng và thu khá thấp, nguồn NSNN chiếm khoảng 90% còn 10% học phí Để theo mô hình này thì CSĐT đại học phải hoàn toàn phụ thuộc vào nguồn tài trợ của chính phủ, học phí hoàn toàn bị kiểm soát Mô hình được Mỹ áp dụng vào thập niên 50 và 60, sau đó một số quốc gia của khu vực Bắc

Âu như Na Uy, Thụy Điển, Phần Lan cũng đã áp dụng hơn một nữa thế kỷ Để có thể áp dụng thành công mô hình này, các quốc gia cần phải có đủ năng lực tài chính

để đầu tư cho giáo dục công lập Đây là điều khiến nhiều quốc gia đặc biệt là các quốc gia còn hạn chế về nguồn lực tài chính từ ngân sách nhà nước không thể áp dụng mô hình này

Mô hình 2 : Học phí được hoàn trả sau khi tốt nghiệp

Theo mô hình này thì NSNN sẽ đóng vai trò là nguồn đầu tư ban đầu cho CSĐT đại học, những đối tượng thụ hưởng dịch vụ GDĐH phải trả tương xứng với chất lượng của dịch vụ cung cấp theo phương thức vay tín dụng và trả sau khi tốt nghiệp thông qua hệ thống thuế thu nhập cá nhân và hệ thống ngân hàng Quốc gia

Öc đã áp dụng mô hình này cuối những năm 1980 thông qua chương trình hỗ trợ đại học Sau đó Anh và Thái Lan cũng đã bắt đầu áp dụng các mô hình tương tự như của Úc từ năm 2006 Hai điều kiện then chốt của mô hình này là: Mức độ đầu tư ban đầu của NSNN và các thành phần khác đủ hình thành một ĐHCL có chất lượng; Nhà nước cần thiết lập được một cơ chế hữu hiệu nhằm thu hồi nợ vay của

SV sau khi tốt nghiệp Theo Phạm Phụ (2010) thì tỷ lệ hoàn vốn từ nguồn nợ vay

của SV Trung Quốc là 55% của Hàn Quốc là 64%, còn đối với các nước phát triển thì cao hơn nhiều Nhằm giảm bớt áp lực cho bộ máy quản lý, nhiều quốc gia đã giao trách nhiệm cho vay và thu hồi nợ vay cho hệ thống ngân hàng [52]

Mô hình 3 : Tăng học phí kết hợp với các chính sách hỗ trợ

Mô hình này yêu cầu học phí phải được tính toán sao cho có thể bù đắp một

Trang 31

phần đáng kể các chi phí hoạt động của CSĐT đại học, đồng thời mô hình này sẽ hướng đến các chính sách hỗ trợ học phí đối với các SV có hoàn cảnh khó khăn Các nước áp dụng thành công mô hình này hơn nửa thế kỷ qua là Mỹ, New Zealand

và Canada

Gia tăng học phí được xem như một giải pháp chủ yếu nhằm chia sẽ chi phí giáo dục Nhiều quốc gia ở Châu Âu và Châu Phi thiết lập cơ chế học phí song song: những SV không hội đủ những điều kiện nào đó về kết quả học tập thì không được theo học miễn phí mà phải đóng học phí ở mức cao Tuy nhiên việc áp dụng một mức học phí quá cao sẽ có nguy cơ loại bỏ những SV nghèo trong việc tiếp cận

dịch vụ CSĐT đại học (Phạm Phụ (2010)) Một cách làm khác có thể giúp vừa gia

tăng sự chia sẽ chi phí giáo dục, vừa đáp ứng được yêu cầu công bằng là: những SV theo học những ngành được Nhà nước quan tâm phát triển thì sẽ đóng mức học phí thấp, còn những SV theo học các ngành mà xã hội đang có nhu cầu cao như kinh tế, tài chính hay luật thì sẽ phải đóng học phí ở mức cao Các mức học phí khác nhau còn được áp dụng đối với các cấp độ ĐT và đối tượng người học : học phí chương trình sau đại học thì cao hơn so với chương trình đại học, SV nước ngoài phải đóng học phí cao hơn so với SV chính qui bản xứ Úc là một ví dụ, những SV khó khăn thỏa mãn các điều kiện tham gia chương trình hỗ trợ được tính mức học phí theo qui định của chính phủ, còn các SV khác và SV nước ngoài phải đóng mức học phí cao hơn nhiều[59] Như vậy, tùy vào điều kiện, hoàn cảnh và khả năng nguồn NSNN đầu tư cho GDĐH mà có thể lựa chọn mô hình tài chính thích hợp áp dụng cho các CSĐT đại học Việc thực hiện chính sách thu học phí hợp lí cùng với việc kết hợp linh hoạt các nguồn tài chính trong đó tranh thủ nguồn thu từ NSNN cấp, mở rộng nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp và kêu gọi sự đóng góp của cộng đồng đó là biện pháp nhằm đảm bảo nguồn tài chính các CSĐT đại học ở Việt Nam phát triển theo hướng bền vững

Theo nghiên cứu của Tony Holloway (2006) luận giải bằng những thách thức đối với CSĐT đại học trong việc đề ra mục tiêu chiến lược và cách xác định cơ cấu sử dụng nguồn lực tài chính trong ngắn hạn, dài hạn Cơ cấu đó có thể được

Trang 32

phân bổ theo mô hình, công cụ QLTC hiện đại đang được áp dụng ở những tập đoàn kinh doanh lớn [101] Holloway đã khẳng định yếu tố quyết định của người đứng đầu trong việc QLTC cho các yếu tố đảm bảo chất lượng và tác giả còn nhấn mạnh thành công trong QLTC CSĐT đại học là việc áp dụng mô hình QLTC trong kinh doanh; bởi vì hoạt động tài chính trong khu vực này có kỷ luật rất nghiêm ngặt

và minh bạch để hướng tới việc đạt được lợi nhuận

- Trong báo cáo “Phát huy hiệu quả của GDĐH”, Ngân hàng Thế giới khu vực châu Á Thái Bình Dương (2012) đã đề cập đến vấn đề quản lí các CSĐT đại học qua lăng kính của vấn đề tự chủ và đảm bảo trách nhiệm trong xu thế GDĐH thế giới chuyển sang mô hình thị trường Báo cáo này nói về phạm vi tự chủ thực chất và tự chủ thủ tục Tự chủ thực chất trong báo cáo này lên là tự chủ về thiết kế chương trình, chính sách nghiên cứu, tiêu chuẩn tuyển sinh; và tự chủ thủ tục là tự chủ về ngân sách, QLTC, phân cấp tài chính, bổ nhiệm cán bộ, viên chức làm tài chính, mua sắm, kí kết hợp đồng [48]

Như vậy, các nghiên cứu nghiên cứu mô hình về tài chính đều hướng tới chuyển sang mô hình thị trường; với mô hình này đáp ứng với bối cảnh thực tiễn phát triển của thế giới hiện nay khi mà có nhiều biến đổi về chính trị, kinh tế, xã hội Đây cũng là tiền đề, cơ sở để tác giả nghiên cứu đánh giá thực trạng về mô hình QLTC tại các CSĐT nói chung và ở HVCTQG HCM nói riêng nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới hiện nay ở nước ta; từ đó đưa ra giải pháp QLTC phù hợp với các đặc điểm và tính chất của HVCTQG HCM

1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài

Trang 33

nào cũng nhằm mục đích thống nhất đó là sự ổn định và phát triển của hệ thống, của

sự vật Tuy nhiên, cách diễn đạt thành triết lí hành động mang sắc thái khác nhau Quản lí ở phương Tây biểu đạt là “Management”, từ chỉ la tinh Manus = main = bàn tay [3, tr 52] Cũng theo phương Tây nhìn vấn đề “ hoạt động”, nói đến quản lí là nói đến bốn chức năng then chốt: “Kế hoạch - Tổ chức - Chỉ đạo - Kiểm tra” được biểu thị theo sơ đồ sau:

Sơ đồ 1.2: Sơ đồ các chức năng cơ bản của quản lí

Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Quản lí là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra” và “Hoạt động quản lí là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lí (người quản lý) đến khách thể quản lí (người bị quản lý) - trong một tổ chức - nhằm làm cho tổ chức vận hành và

đạt được mục đích của tổ chức” [16, tr 9]

- Quản lí là những tác động của chủ thể quản lí trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích

của tổ chức với hiệu quả cao nhất [38, tr 32]

Hoạt động quản lí theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về mối quan

hệ qua lại giữa những quy luật xã hội khách quan và hoạt động tự giác của con người có ý nghĩa to lớn đối với lí luận và thực tiễn quản lí Hoạt động quản lí - đó là

sự biểu hiện ý nguyện tự giác của chủ thể quản lí muốn đều chỉnh và hướng dẫn các quả trình và các hiện tượng xã hội Việc xác định đúng đắn những khả năng và

Quản lí

Kế hoạch

Tổ chức

Chỉ đạo Lãnh đạo Kiểm tra

Trang 34

những giới hạn khác nhau của hoạt động là tiền đề cơ bản xây dựng lí luận khoa học

về quản lí và hoàn thiện quá trình quản lí về mặt thực tiễn Như vậy, hoạt động quản

lí có bản chất là hoạt động tự giác, đúng như Ph.Angghen đã chỉ ra: "Trong lịch sử

xã hội, nhân tố hoạt động là con người có ý thức, hành động có suy nghĩ hay dưới ảnh hưởng của nhiệt tình và theo đuổi những mục đích nhất định Ở đây không có gì được thực hiện mà không có ý định tự giác, không có mục đích mong muốn" [43, tr.17] Tuy nhiên không nên tuyệt đối hóa yếu tố tự giác, vì như vậy dễ rơi vào quan điểm duy tâm về quản lí Ngược lại, việc nhận thức đúng đắn vai trò yếu tố tự giác trong hoạt động xã hội cho phép ta xác định đúng đắn những giới hạn, chức năng và

ý nghĩa xã hội của việc quản lí của quá trình xã hội

Qua những phân tích trên, có thể thấy các đặc điểm chung nhất mà các khái niệm và qua sự phân tích trên là: Quản lí bao giờ cũng là quản lí một đối tượng cụ thể (quản lí một tổ chức, quản lí con người); Quản lí bao giờ cũng đạt đến những mục tiêu đã xác định của một tổ chức; Quản lí bao giờ cũng bao gồm hai yếu tố đó

là chủ thể quản lí và đối tượng quản lí (con người hoặc một tổ chức, một bộ máy); Quản lí chịu sự tác động có định hướng, có mục đích, có hệ thống, có kế hoạch của chủ thể quản lí đến đối tượng quản lí; Quản lí tồn tại với tư cách là một hệ thống, có cấu trúc và vận hành trong một môi trường xác định

Tóm lại, có thể khái quát định nghĩa về quản lý như sau: Quản lí là một hoạt động nhằm thực hiện những tác động hướng đích của chủ thể quản lí nhằm sử dụng có hiệu quả những tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt đến mục tiêu của

tổ chức đặt ra trong một môi trường luôn luôn thay đổi

1.2.2 Tài chính

Lịch sử phát triển xã hội loài người đã chứng minh rằng, vào thời kỳ cuối của chế độ công xã nguyên thủy, sự phát triển của phân công lao động xã hội đã làm xuất hiện chế độ tư hữu, sự ra đời của sản xuất và trao đổi hàng hoá Hàng hoá sản xuất ra không chỉ nhằm mục đích tự cấp mà còn được đem trao đổi nhằm thỏa mãn các nhu cầu khác nhau trong tiêu dùng Lúc đầu là hàng đổi hàng, sau đó, do yêu cầu trao đổi và phạm vi trao đổi được mở rộng, tiền tệ xuất hiện đóng vai trò như

Trang 35

một loại hàng hoá đặc biệt mang tính chất là vật ngang giá chung Thông qua đồng tiền, các thành viên trong xã hội có thể sử dụng để đổi lấy bất kỳ loại hàng hóa theo nhu cầu Những hình thái đầu tiên của tiền tệ có thể được quy ước là vỏ sò, lông thú, kim loại…Về sau, để thuận tiện hơn cho việc cất giữ, mang theo, trao đổi, tiền

tệ dần dần được chuyển sang hình thức tín tệ Bên trong mối quan hệ mua bán, trao đổi hàng hóa có thể quy ước vật ngang giá chung có giá trị là tiền Cùng với với quá trình phát triển của sản xuất và trao đổi hàng hoá và sự ra đời của tiền tệ, chế độ tư hữu đã nảy sinh và kéo theo những hệ quả xã hội như tình trạng phân chia giai cấp, phân biệt giữa giàu nghèo… Trên cơ sở của những hệ quả đó, xã hội bắt đầu xuất hiện hiện tượng cho vay nặng lãi - biểu hiện của hình thức phân phối lại của cải xã hội theo ý chí chủ quan Các nhà nghiên cứu đã chứng minh rằng, với dấu hiệu của hành vi phân phối của cải xã hội dưới hình thức giá trị là tiền, hoạt động cho vay nặng lãi là một trong những hiện tượng kinh tế tất yếu của thời kỳ này và được coi

là những hình thức, mầm mống đầu tiên của các quan hệ tài chính, tiền tệ ra đời Vậy tài chính được hiểu như thế nào?

Qua quan điểm của các nhà kinh tế về tài chính và các khái niệm có liên quan, phải thừa nhận rằng các khái niệm phản ánh qua các hoạt động kinh tế bằng các quan điểm tiếp cận với những phương pháp khác nhau và tiếp cận với khái niệm tài chính đó

là sản xuất hàng hóa - tiền tệ và Nhà nước Do đó, có thể coi sản xuất hàng hóa - tiền tệ

và Nhà nước là những tiền đề quyết định sự ra đời và tồn tại của tài chính Trong đó sản xuất hàng hóa - tiền tệ là nhân tố mang tính chất khách quan có ý nghĩa quyết định đối với sự ra đời, tồn tại và phát triển của tài chính và Nhà nước; là nhân tố có ý nghĩa tạo ra hành lang pháp lí và điều tiết sự phát triển của tài chính

Có rất nhiều khái niệm tài chính và theo mỗi cách tiếp cận tài chính được

hiểu theo nghĩa khác nhau: Theo nghĩa hẹp: "Tài chính là việc con người dịch

chuyển các nguồn lực hữu hạn (tức là tiền) từ chủ thể này sang chủ thể khác qua

không gian và thời gian nhằm sinh lợi"; Theo nghĩa rộng: "Tài chính là hệ thống

các quan hệ kinh tế trong phân phối tổng sản phẩm xã hội dưới hình thức giá trị giữa các chủ thể kinh tế thông qua việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ" Còn

Trang 36

theo tác giả Phạm Chí Thanh đã đưa ra khái niệm: “Tài chính là một phạm trù kinh

tế, phản ánh mối quan hệ giữa các chủ thể kinh tế trong việc hình thành, quản lí và

sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm phát triển sản xuất, thỏa mãn các nhu cầu chung của

xã hội, cũng như các nhu cầu của tổ chức, cá nhân"[21, tr 17; 68]

Theo tác giả Bùi Minh Hiền - Nguyễn Vũ Bích Hiền: Tài chính là hệ thống các các quan hệ phát sinh trong quá trình phân phối các nguồn tài chính bằng việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm đáp ứng yêu cầu tích lũy và tiêu dùng của các chủ thể trong xã hội [29, tr 302]

Tài chính là quá trình phân phối các nguồn tài chính nhằm đáp ứng nhu cầu của các chủ thể kinh tế Hoạt động tài chính luôn gắn liền với sự vận động độc lập tương đối của các luồng giá trị dưới hình thái tiền tệ thông qua việc hình thành và

sử dụng các quỹ tiền tệ trong nền kinh tế [53]

Còn hệ thống tài chính là tổng thể các hoạt động tài chính trong các lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế quốc dân, nhưng có quan hệ hữu cơ với nhau về việc hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ ở các chủ thể kinh tế - xã hội hoạt động trong lĩnh vực đó Hệ thống tài chính bao gồm: Tài chính công (gồm NSNN và các quỹ ngoài ngân sách); Tài chính doanh nghiệp; Thị trường tài chính (gồm thị trường tiền

tệ và thị trường vốn); Tài chính quốc tế; Tài chính hộ gia đình, cá nhân; Tài chính các tổ chức xã hội (nhà trường, cơ sở y tế ) và Tài chính trung gian (bao gồm tín dụng, bảo hiểm) Các thành phần này có quan hệ mật thiết với nhau, hỗ trợ và thúc đẩy sự phát triển của tài chính

Tài chính là một phạm trù kinh tế, tồn tại khách quan và mang tính lịch sử Tài chính chỉ ra đời và tồn tại trong những điều kiện kinh tế xã hội nhất định Những điều kiện kinh tế xã hội này là những tiền đề khách quan cho sự ra đời và phát triển của tài chính Những tiền đề đó là nền kinh tế hàng hóa - tiền tệ và Nhà nước Tài chính đáp ứng giải quyết kịp thời nguồn lực tài chính cho các hoạt động của cơ quan bộ máy Nhà nước và thuộc các cơ quan thuộc lĩnh vực không sản xuất vật chất Sự phát triển đồng bộ và ổn định của nền kinh tế - xã hội không thể thiếu

sự quản lí của Nhà nước và sự hoạt động của các cơ quan hành chính sự nghiệp, văn hóa xã hội, an ninh quốc phòng, y tế, giáo dục Để duy trì hoạt động của cơ quan

Trang 37

này cần phải có nguồn tài chính đảm bảo nguồn tài chính thường xuyên Vậy trong giáo dục là lĩnh vực không sản xuất là vật chất nhưng để duy trì nền giáo dục hoạt động thì có nguồn tài chính Do đó, khái niệm tài chính được sử dụng trong quản lí GD-ĐT như là một nguồn lực đảm bảo cho các hoạt động GD-ĐT

1.2.3 Quản lí tài chính

Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau khi đưa ra các hiểu về QLTC Theo J.R.Hough (1994), QLTC là phương tiện hỗ trợ để đạt mục tiêu của tổ chức thông qua cung cấp tài chính Với cách tiếp cận này thì QLTC liên quan đến câu hỏi

là làm thế nào lựa chọn các khoản đầu tư hợp lí để có lợi nhuận từ khoản đầu tư đó Tuy nhiên quyết định đầu tư liên quan đến quy mô đầu tư, quy mô đầu tư lớn thường được thiết kế để duy trì khả năng sinh lợi dài hạn của tổ chức để xác định tỷ

lệ thu thập chi trả cổ tức, tỷ lệ lợi nhuận giữ lại phục vụ đầu tư phát triển trong tương lai Nếu xét về quá trình QLTC cơ bản trong một tổ chức có thể khái quát qua

sơ đồ sau:

Hình 1.1 Quản lí tài chính theo điều khiển vòng lặp(Nguồn: Worl Bank (1996), [81])

Theo Shaprio, 1995 và Hart, 1993 thì QLTC sẽ bao gồm các hoạt động xem xét, dự báo, phân tích tài chính, đưa ra các chỉ dẫn lập kế hoạch ngân sách, quyết định kế hoạch chi tiêu, giám sát việc xây dựng và thực hiện kế hoạch chi tiêu của nhà trường và đánh giá hiệu quả của nó (dẫn theo Shaprio, 1995 và Hart, 1993)

Ngoài ra còn có rất nhiều khái niệm QLTC như:

QLTC là quản lí các hoạt động huy động, phân bổ và sử dụng các nguồn lực tài chính bằng những phương pháp tổng hợp gồm nhiều biện pháp khác nhau

Quá trình

quản lí tài chính So sánh Mục tiêu

Quá trình

Thông tin phản hồi

Trang 38

được thực hiện trên cơ sở vận dụng các quy luật khách quan về kinh tế - tài chính một cách phù hợp với điều kiện đổi mới, hội nhập quốc tế của đất nước

QLTC là việc sử dụng các công cụ QLTC nhằm phản ánh chính xác tình trạng tài chính của một đơn vị, thông qua đó lập kế hoạch quản lí và sử dụng các nguồn tài chính nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của đơn vị

Theo tác giả Bùi Minh Hiền và Nguyễn Vũ Bích Hiền thì Quản lí nhà trường là quản lí các hoạt động huy động, phân bổ và sử dụng các nguồn lực tài chính bằng phương pháp tổng hợp gồm nhiều biện pháp khác nhau được thực hiện trên cơ sở vận dụng các quy luật khách quan về kinh tế - tài chính một cách phù hợp với điều kiện đổi mới, hội nhập của đất nước QLTC nhà trường chính là việc sử dụng các công cụ QLTC nhằm phản ánh chính xác tình trạng tài chính của một đơn

vị, thông qua đó lập kế hoạch quản lí và sử dụng các nguồn tài chính nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động nhà trường [29, tr 303]

Theo nghĩa rộng QLTC được hiểu là việc sử dụng tài chính làm công cụ quản lí hệ thống xã hội thông qua việc sử dụng chức năng vốn có của nó QLTC theo nghĩa hẹp là việc sử dụng các thông tin phản ánh chính xác tình trạng tài chính của một đơn vị để phân tích điểm mạnh, điểm yếu của nó và lập kế hoạch sử dụng nguồn tài chính (thông qua các định mức, quy định chi tiêu hiện hành của Nhà nước) với mục tiêu là đạt được hiệu quả cao nhất

Như vậy,QLTC là một hoạt động nhằm thực hiện những tác động hướng đích của chủ thể quản lí nhằm huy động và sử dụng hợp lý, có hiệu quả các nguồn lực tài chính của tổ chức, góp phần thực hiện các mục tiêu của tổ chức đặt ra trong điều kiện kinh tế thi trường

1.3 Tài chính của các cơ sở đào tạo đại học

1.3.1 Khái niệm về tài chính cơ sở đào tạo

Trong hoạt động đào tạo tại các CSĐT hiện nay, vai trò của tài chính là không thể phủ nhận Bất kì hoạt động ĐT nào cũng cần có tài chính đảm bảo phục vụ cho nhiệm vụ trung tâm của CSĐT Vậy tài chính CSĐT được hiểu như sau: Theo góc

độ của quản lí nhà trường thì tài chính CSĐT chính là hệ thống các quan hệ kinh tế

Trang 39

hay nói cách khác là sự phản ánh các khoản thu chi trong quá trình phân phối, sử dụng và tạo lập các nguồn lực tài chính của CSĐT Nó có mối quan hệ như: quan hệ tài chính CSĐT với NSNN, tài chính CSĐT với xã hội, tài chính trong nội bộ nhà trường (mối quan hệ tài chính với các yếu tố đảm bảo chất lượng ĐT); Từ việc quản

lí hiệu quả các hoạt động ĐT, đặc biệt về mặt tài chính là hết sức quan trọng và cần thiết để công tác quản lí nhà trường tiến hành thường xuyên và hiệu quả, đi đúng các mục tiêu của các chiến lược phát triển nhà trường lâu dài

Như vây, có thể hiểu tài chính CSĐT là quá trình phản ánh hoạt động các khoản thu - chi trong quá trình xây dựng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra giám sát, sử dụng và tạo lập sử dụng quỹ về tài chính Các mối quan hệ trong tài chính với các yếu tố đảm bảo chất lượng ĐT, nguồn NSNN, nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp, thu khác, chi tiêu để CSĐT đi đúng định hướng chiến lược phát triển GD-

bao gồm tự chủ học thuật, nhân sự, tài chính mà đảm bảo chất lượng thì cần bảo

đảm các yếu tố tự chủ này thực hiện có hiệu quả Bởi vì tài chính là nguồn lực cần thiết quan trọng đảm bảo cho chất lượng ĐT Các yếu tố đảm bảo chất lượng ĐTĐH gồm có: Chương trình ĐT; Quản lí hoạt động ĐT; Quản lí cơ sở vật chất, học liệu; Quản lí đội ngũ GV, CBQL, SV

a Chương trình đào tạo

Chương trình ĐT quy định mục đích và mục tiêu cụ thể đặt ra đối với một ngành ĐT Chương trình được xây dựng theo hai hướng: (1) Xác định một hệ thống đơn vị kiến thức, kỹ năng cần trang bị cho người học Đây là kiểu chương trình trang bị được cho người học có tính hệ thống về lý thuyết, nhưng yếu về năng lực thực hành, đặc biệt là kỹ năng sống (2) Xác định theo hướng năng lực để phát triển phẩm chất

Trang 40

năng lực người học phù hợp với năng lực chuyên biệt Xây dựng chương trình theo hướng năng lực tức là định ra khung năng lực và hoạt động làm nảy sinh ở nhu cầu người học khám phá thế giới, khám phá năng lực của bản thân để phát triển

Để tạo ra chương trình phù hợp với thực tế xã hội, đặc biệt các chuyên ngành

ĐT thì chương trình ĐT cần phải được cập nhật, bổ sung thường xuyên Để có chương trình ĐT tốt phải đòi hỏi có kinh phí lớn đầu tư vào hoạt động này Mặt khác, cũng cần số lượng kinh phí nhất định để nghiên cứu các chương trình ĐT tiên tiến ở nước ngoài Do đó, vấn đề tự chủ đặt ra ở đây là, các CSĐT cần tự chủ, lập kế hoạch tài chính phù hợp với hoạt động phát triển chương trình ĐT

b Quản lí hoạt động đào tạo

Quản lí hoạt động ĐT bao gồm nhiều yếu tố, trên nhiều lĩnh vực như quản lí quá trình thực hiện nội quy, quy định của nhà trường, quản lí GV, SV Đây là những công việc thường xuyên và phức tạp, đòi hỏi mỗi CSĐT cần quan tâm đầu tư các công cụ quản lý hiện đại Hoạt động ĐT bao gồm nhiều nội dung từ hoạt động tuyển sinh; quá trình hoạt động học tập của SV; hoạt động giảng dạy của GV; đánh giá chất lượng giáo dục và lưu trữ các thông tin hàng năm Quy trình quản lí phù hợp kết hợp với hệ thống trang thiết bị hỗ trợ sẽ nâng cao chất lượng quản lí hoạt động ĐT góp phần nâng cao chất lượng ĐT Do đó, cần có kế hoạch kinh phí cho các trang thiết bị hỗ trợ ĐT như các phần mền quản lí, đánh giá kết quả học tập của SV; có ý nghĩa hết sức to lớn trong quá trình quản lí ĐT, giúp quản lí linh hoạt và khoa học, tạo điều kiện thuận lợi cho SV học tập cũng như GV giảng dạy

c Quản lí cơ sở vật chất, học liệu

Hoạt động QLTC quyết định việc phân bổ nguồn kinh phí cũng như cơ cấu chi cho đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm trang thiết bị, sửa chữa lớn tài sản cố định để tăng quy mô chất lượng cơ sở vật chất Nguồn chi đầu tư cơ sở vật chất lớn sẽ tạo cho các trường có điều kiện mở rộng cơ sở hoạt động (số phòng học giảng đường, ký túc

xá, phòng chuyên dùng, thí nghiệm phục vụ quá trình học tập và sinh hoạt của SV) thiết bị, học liệu hiện đại phục vụ công tác giảng dạy và nghiên cứu, học tập QLTC linh hoạt, thuận lợi sẽ góp phần tăng hiệu quả sử dụng vốn đầu tư và nâng cao đảm bảo

Ngày đăng: 15/10/2019, 16:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w