ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC ĐẬU THỊ HUẾ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN CHO HỌC SINH LỚP 12 TRONG DẠY HỌC TRUYỆN NGẮN "CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA" CỦA NGUYỄN MINH
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
ĐẬU THỊ HUẾ
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN
CHO HỌC SINH LỚP 12 TRONG DẠY HỌC TRUYỆN NGẮN
"CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA" CỦA NGUYỄN MINH CHÂU
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH SƯ PHẠM NGỮ VĂN
CHUYÊN NGÀNH: LL&PP DẠY HỌC BỘ MÔN NGỮ VĂN
Mã số: 8.14.01.11
Người hướng dẫn khoa học: TS Trịnh Thị Lan
Hà Nội, năm 2018
Trang 2i
LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn TS Trịnh Thị Lan, người đã tận tình hướng
dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Tôi cũng xin cảm ơn Ban Giám Hiệu , Tổ Ngữ văn trường THPT Đông Thụy Anh đã tạo mọi điều kiện trong suốt quá trình tôi học tập và thực hiện
đề tài
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài, tôi cũng luôn nhận được sự giúp đỡ tận tình của các học viên chuyên nghành LL&PP dạy học bộ môn Ngữ văn khóa 2015 - 2017, sự quan tâm, động viên của người thân trong gia đình và bạn bè Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Tên tác giả
Đậu Thị Huế
Trang 3ii
MỤC LỤC
Lời cảm ơn i
Mục lục ……… ii
Danh mục các chữ viết tắt trong luận văn v
Danh mục bảng……… …………vi
Danh mục hình……… vii
MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài 01
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 04
3 Đối tượng, mục đích và phạm vi nghiên cứu 08
4 Phương pháp nghiên cứu 09
5 Giả thuyết khoa học 10
6 Đóng góp của luận văn 10
7 Cấu trúc luận văn 10
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN CHO HỌC SINH LỚP 12 TRONG DẠY HỌC TRUYỆN NGẮN "CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA" CỦA NGUYỄN MINH CHÂU 11
1.1 Năng lực và phát triển năng lực đọc hiểu văn bản 11
1.1.1 Năng lực 11
1.1.2 Phát triển năng lực đọc hiểu văn bản 15
1.1.3.Vấn đề phát triển năng lực đọc hiểu văn bản cho học sinh trong môn Ngữ văn 21
1.2 Truyện ngắn "Chiếc thuyền ngoài xa" của Nguyễn Minh Châu trong chương trình Ngữ văn THPT 23
1.2.1 Vị trí của truyện ngắn "Chiếc thuyền ngoài xa" trong chương trình Ngữ văn lớp 12 23
1.2.2 Những đặc điểm về nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật của truyện ngắn "Chiếc thuyền ngoài xa" của Nguyễn Minh Châu 24
1.2.3 Yêu cầu cần đạt đối với việc việc dạy học truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa" của Nguyễn Minh Châu cho học sinh lớp 12 28
Trang 4iii
1.3 Thực trạng dạy học truyện ngắn "Chiếc thuyền ngoài xa" của Nguyễn Minh Châu
nhằm phát triển năng lực đọc hiểu văn bản cho học sinh lớp 12 hiện nay 30
1.3.1 Về tài liệu dạy học 30
1.3.2 Tình hình dạy học của giáo viên 34
1.3.3 Tình hình học của học sinh 35
CHƯƠNG 2 TỔ CHỨC DẠY HỌC TRUYỆN NGẮN "CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA" CỦA NGUYỄN MINH CHÂU CHO HỌC SINH LỚP 12 NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN 37
2.1 Một số định hướng cho việc dạy học truyện ngắn "Chiếc thuyền ngoài xa" của Nguyễn Minh Châu nhằm phát triển năng lực đọc hiểu văn bản cho học sinh lớp 12 37
2.1.1 Đảm bảo yêu cầu dạy học truyện ngắn sau 1975 theo đặc trưng thể loại 37
2.1.2 Đảm bảo bám sát chuẩn kiến thức, kĩ năng và các thành phần trong cấu trúc năng lực đọc hiểu văn bản 38
2.1.3 Đảm bảo tính đồng bộ trong sử dụng các phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá theo hướng phát triển năng lực người học 45
2.2 Một số biện pháp tổ chức dạy học truyện ngắn "Chiếc thuyền ngoài xa" nhằm phát triển năng lực đọc hiểu văn bản cho học sinh lớp 12 48
2.2.1 Trước khi đọc hiểu văn bản 48
2.2.2 Trong khi đọc hiểu văn bản 57
2.2.3 Sau khi đọc hiểu văn bản 67
2.3 Một số lưu ý về việc dạy đọc hiểu truyện ngắn "Chiếc thuyền ngoài xa' nhằm phát triển năng lực đọc hiểu cho học sinh lớp 12 76
CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 80
3.1 Mục đích thực nghiệm 80
3.2 Địa bàn và đối tượng thực nghiệm 80
3.3 Nội dung và phương pháp thực nghiệm 81
3.4 Quá trình triển khai thực nghiệm 81
3.4.1 Kế hoạch thực nghiệm 81
3.4.2 Giáo án thực nghiệm 81
3.5 Kết quả thực nghiệm 92
3.5.1 Cách đo thực nghiệm 92
Trang 5iv
3.5.2 Kết quả đo thực nghiệm 96 3.5.3 Những nhận xét và đánh giá bước đầu 99
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 101 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN VĂN 103 TÀI LIỆU THAM KHẢO .104
Trang 6NLĐHVB Năng lực đọc hiểu văn bản
PPDHNV Phương pháp dạy học Ngữ văn PTNLĐHVB Phát triển năng lực đọc hiểu văn bản
Trang 7Bảng 2.8 Mẫu phiếu học tập sử dụng biện pháp hợp tác vòng tròn 61
Bảng 2.9 Nội dung phiếu học tập sử dụng biện pháp hợp tác vòng tròn
Bảng 3.1 Thông tin về lớp thực nghiệm và đối chứng 80
Bảng 3.2 Thang điểm và mức độ phát triển năng lực đọc hiểu 96
Bảng 3.3 Bảng thống kê kết quả thực nghiệm 96
Bảng 3.4 Bảng tổng hợp kết quả thực nghiệm 97
Bảng 3.5 Bảng mức độ phát triển năng lực ở các lớp thực nghiệm 98
Trang 8vii
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Cấu trúc năng lực của tác giả Đặng Thành Hưng 13
Hình 1.2 Cấu trúc năng lực của tác giả Hoàng Hoà Bình 13
Hình 1.3 Cấu trúc năng lực đọc hiểu văn bản của tác giả Nguyễn Thị Hồng
Trang 9Luật Giáo dục số 38/2005/QH11, Điều 28 qui định: "Phương pháp giáo dục
phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh"
Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp Hành Trung ương Đảng Cộng
sản Việt Nam khóa XI đã xác định: "Chuyển mạnh quá trình giáo dục chủ yếu
trang thiết bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực, phẩm chất người học" và “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực”[2]
Ngữ văn là một trong những môn học quan trọng trong trường học Việt Nam, vì thế, việc đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn từ truyền thụ kiến thức một chiều sang định hướng phát triển NL cho người học cũng đã và đang là vấn đề cần thiết và cấp bách Bên cạnh những NL chung cần phát
Trang 102
triển trong các môn học như: NL tự học; NL giải quyết vấn đề; NL giao tiếp;
NL hợp tác; NL tính toán; NL công nghệ thông tin và truyền thông thì cần
phát triển những NL riêng trong môn Ngữ văn cho học sinh (HS) như: NL
giao tiếp tiếng Viê ̣t; NL cảm thụ thẩm mĩ; NL đọc hiểu văn bản; NL tạo lập văn bản ”[37]
Phát triển NL đọc hiểu văn bản cho HS là một trong những đổi mới rõ
nét nhất của phương pháp học dạy học Ngữ văn (PPDHNV) hiện nay Đọc hiểu văn bản (ĐHVB) khác với giảng văn Giảng văn là phương pháp dạy học
cũ, yêu cầu giáo viên (GV) khám phá tác phẩm văn học thật sâu sắc, tự mình rung cảm để rồi truyền thụ tới học sinh (HS) sao cho hấp dẫn, để HS đồng cảm ghi nhớ và làm theo khuôn mẫu cảm thụ, phân tích của thầy, vì thế mà
dễ tạo ra sự thụ động, ỉ lại của các em Dạy học theo hướng phát triển năng
lực đọc hiểu văn bản (PTNLĐHVB) cho HS là hướng dẫn các em "vận dụng
tổng hợp các kiến thức về tiếng Việt, về các loại hình văn bản và kĩ năng, phương pháp đọc, khả năng thu thập các thông tin, cảm thụ cái đẹp và các giá trị của tác phẩm văn chương nghệ thuật"[37] để cảm nhận TPVH, từ đó
tạo sự phát triển về trí tuệ, tâm hồn, nhân cách, và NL cho mỗi HS
1.2 Việc dạy học Ngữ văn ở trường phổ thông chưa chú trọng việc phát triển năng lực đọc hiểu văn bản cho người học
Chương trình (CT) và sách giáo khoa (SGK) đã có những đổi mới căn bản, thuận lơi cho việc phát triển NL đọc hiểu văn bản cho HS
Trong những năm học 2010, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đưa ra chuẩn kiến thức, kĩ năng cho mỗi bài học giúp GV thiết kế bài giảng phù hợp với mục tiêu dạy học theo hướng PTNLĐHVB cho HS
SGK Ngữ văn được thiết kế thuận lợi cho sự phát triển NLĐHVB của
HS Bên cạnh sự có mặt có những tác phẩm văn học nóng hổi tính thời sự của cuộc sống hiện đại tạo hứng thú cho học sinh khi tiếp nhận văn bản (VB) là những VB cung cấp cho học sinh những tri thức về đặc điểm thể loại văn học, phương pháp ĐHVB giúp các em tự nâng cao NLĐHVB của bản thân Hệ
Trang 113
thống câu hỏi trong phần "Hướng dẫn học bài" cũng như các bài tập phần
"Luyện tập" sau mỗi bài học được đưa ra nhằm mục đích kiểm tra, đánh giá NLĐHVB của HS ở những cấp độ nhận thức trong thang NL như nhận biết,
thông hiểu, vận dụng
Dù ngành giáo dục đã có nhiều cố gắng như trên nhưng trên thực tế, NL đọc hiểu văn bản trong dạy học môn Ngữ văn vẫn chưa được chú trọng một cách đồng bộ ở các nhà trường Theo tác giả Đỗ Ngọc Thống [55] nếu vào đầu những năm 90 của thế kỉ XX, thủ tướng Phạm Văn Đồng sau một lần dự
giờ dạy văn đã phải thốt lên: "Tôi hoàn toàn thất vọng khi thấy giáo viên nói
hàng giờ còn học sinh thì ghi chép" thì hiện nay, sau một quá trình đổi mới
PPDHNV vất vả, gian nan việc dạy học Ngữ văn theo kiểu thầy đọc, trò chép
đã giảm đi đáng kể Tuy nhiên do áp lực thi cử nên tình trạng GV đọc hộ, hiểu
hộ HS vẫn còn tồn tại đây đó [49] Hiện tượng HS đọc văn bản nhưng hiểu không đúng và hiểu hời hợt, nông cạn giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật của VB còn khá phổ biến Cá biệt có những HS còn hiểu sai lệch hoàn toàn giá trị nội dung cũng như giá trị nghệ thuật của VB văn học
Để khắc phục những hạn chế trên thì phát triển NLĐHVB cho HS là việc làm cần thiết và đó cũng là lí do chính để chúng tôi lựa chọn đề tài luận văn
1.3 Vị trí của văn bản và khả năng phát triển năng lực đọc hiểu văn bản cho học sinh lớp 12 trong dạy học " Chiếc thuyền ngoài xa" của Nguyễn Minh Châu
Chiếc thuyền ngoài xa (CTNX) là truyện ngắn tiêu biểu cho các tác phẩm
văn học sau năm 1975 ở nhiều lĩnh vực như: đề tài, bút pháp, tư duy thẩm
mĩ, điểm nhìn nghệ thuật Được cổ vũ bởi làn gió đổi mới dân chủ và cởi mở trong sáng tác văn học, tác phẩm của Nguyễn Minh Châu (NMC) đã chạm đến những câu chuyện của đời thường đang diễn ra với tất cả tính chất bộn bề, phức tạp của nó, với những nhân vật được nhìn nhận như bao con người bình thường gần gũi quanh ta Những câu chuyện đời thường đó được kể bằng cái nhìn đa chiều của người nghệ sĩ, làm bật lên những thông điệp giản dị mà sâu
Trang 124
sắc, đầy tính triết lí của nhà văn về con người, về cuộc sống đương đại Hướng dẫn HS đọc hiểu truyện ngắn này theo hướng PTNLĐH, GV sẽ giúp các em nâng cao NLĐH truyện ngắn hiện đại Việt Nam và đặc biệt là các
truyện ngắn sáng tác sau 1975 trong SKG Ngữ văn 12 như " Một người Hà
Nội - Nguyễn Khải, Mùa lá rụng trong vườn - Ma Văn Kháng
Trước đây, chương trình SGK môn Ngữ Văn THPT dừng lại quá lâu ở mốc 1975, trong khi đời sống xã hội luôn biến đổi không ngừng [54] Để môn Ngữ văn bắt kịp với thời đại, những người làm CT đã cập nhật những sáng tác văn học sau 1975 vào SGK và truyện ngắn CTNX của NMC là một sáng tác tiêu biểu Tính thời sự của tác phẩm đã khiến GV và HS hào hứng tìm hiểu, khám phá tác phẩm như hào hứng tìm hiểu, khám phá cuộc sống của con người mình, thời đại mình
Trong các kì thi quan trọng của HS lớp 12 thời gian gần đây, truyện ngắn CTNX cũng thường xuyên có mặt, vì vậy nếu dạy ĐHVB theo hướng PTNLĐHVB sẽ góp phần để HS đạt kết quả cao trong những kì kiểm tra, đánh giá liên quan đến VB
Dù có vị trí quan trọng như vậy, nhưng thực tế việc dạy học truyện ngắn CTNX theo hướng phát triển NLĐHVB cho HS vẫn gặp những khó khăn nhất định Thứ nhất là do thói quen truyền thụ tri thức, đọc và hiểu tác phẩm hộ HS vẫn còn tồn tại ở một số GV Thứ hai là bản thân tác phẩm dù nóng hổi tính thời sự nhưng cách kể đậm chất triết lí, những thông điệp sâu sắc, đa dạng, phong phú mà nhà văn gửi gắm trong tác phẩm không dễ phát hiện nếu HS không được hướng dẫn đọc hiểu một cách khoa học Vậy lựa chọn những biện pháp đọc hiểu nào để có thể phát triển tối đa NL đọc hiểu của HS khi tiếp cận với truyện ngắn này? Chính trăn trở đó đã thúc đẩy chúng tôi chọn lựa đề tài
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1 Những nghiên cứu về đọc hiểu và chiến thuật đọc hiểu
Theo tác giả Phạm Thị Thu Hương [34], ĐHVB là một nội dung nghiên cứu đã thu hút tâm sức của nhiều nhà khoa học giáo dục trên thế giới trong
Trang 135
khoảng 50 năm trở lại đây Phần lớn những công trình nghiên cứu về ĐH trên thế giới đều tập trung đề xuất các giải pháp cải thiện NL đọc của HS và tìm kiếm các biện pháp hình thành thái độ sáng tạo và hoạt động chiếm lĩnh TPVH một cách tích cực và năng động Đa số các nhà nghiên cứu nhấn mạnh vai trò chủ đạo của GV trong việc tìm cách tạo điều kiện cho HS đối thoại, tranh luận sôi nổi với đối tượng nghệ thuật được trình bày trong tác phẩm Từ
đó tạo nên sự kết nối giữa bạn đọc HS với VB, thúc đẩy sự phát triển NLĐHVB của HS
Ở trong nước, khái niệm đọc văn đã được bàn đến trong công trình của
nhiều nhà nghiên cứu Các công trình ở giai đoạn đầu thường chỉ nhấn vào
phương diện đọc bộc lộ - tức đọc diễn cảm cho vang nhạc, sáng hình, mà
chưa thực sự quan tâm đến đọc tiếp nhận - tức là đọc để hiểu văn bản Khái
niệm đọc hiểu hướng đến sự PTNL cho người học được bàn đến một cách sâu sắc, toàn diện trong một số bài báo của tác giả Trần Đình Sử như: Đọc - hiểu
văn bản - Một khâu đột phá trong nội dung và phương pháp dạy văn hiện nay,
Thông tin Khoa học Sư phạm, số 1, tháng 8/2003; Con đường đổi mới căn
bản phương pháp dạy học văn, Văn nghệ, số 10, 7/3/2009 Tác giả khẳng
định: GV - người hướng dẫn của hoạt động ĐH và HS - chủ thể tiếp nhận của
hoạt động DDH luôn phải bám sát VB [51] Tác giả cũng định hướng cho người dạy : “Dạy văn là dạy cho học sinh phương pháp đọc, kĩ năng đọc,
năng lực đọc để học sinh có thể đọc hiểu bất cứ văn bản nào cùng loại Từ đọc hiểu văn mà trực tiếp tiếp nhận các giá trị văn học, trực tiếp thể nghiệm các tư tưởng và cảm xúc được truyền đạt lại bằng nghệ thuật ngôn từ, hình thành cách đọc riêng có cá tính”[52]
Giáo sư Nguyễn Thanh Hùng cũng là người sớm quan tâm và có nhiều bài viết quan trọng về đọc hiểu và dạy đọc hiểu văn bản văn chương như
“Dạy đọc hiểu là tạo nền tảng văn hóa cho người đọc”, đặc biệt là công trình
“Đọc hiểu tác phẩm văn chương trong nhà trường” Đây là một trong số
những công trình lí thuyết đầu tiên có tính hệ thống bao quát được những nội
Trang 14cơ bản là: kĩ năng đọc chính xác, kĩ năng đọc phân tích, kĩ năng đọc sáng tạo
và kĩ năng đọc tích lũy [ dẫn theo 34]
Tác giả Nguyễn Thái Hòa cũng là một trong những nhà khoa học
nghiên cứu về vấn đề đọc hiểu sớm ở Việt Nam Trong bài “Vấn đề đọc –
hiểu và dạy đọc - hiểu” đăng trên tạp chí Thông tin ngôn ngữ, số 8 năm 2004
tác giả khẳng định: “đọc đúng, hiểu đúng, đọc nhanh, hiểu kỹ, đọc diễn cảm
hiểu tinh tế là một nhu cầu bức thiết của mọi người để tiếp nhận, giải mã thông tin trong thời đại thông tin dồn dập như vũ bão hiện nay Vì vậy đọc hiểu có tầm quan trọng đặc biệt trong việc nâng cao chất lượng giáo dục ở nhà trường” [19]
Ngoài ra còn có thể điểm đến một số tác giả khác cũng quan tâm nghiên cứu và có công trình nghiên cứu có giá trị về vấn đề này như tác giả Đỗ Ngọc Thống, tác giả Nguyễn Trọng Hoàn, tác giả Phạm Thị Thu Hương,…
Tuy nhiên, với GV và HS phổ thông, điều quan trọng là phải chuyển hóa được nội dung lí thuyết vào hệ thống các hoạt động, nhiệm vụ một cách khoa học để có thể vận dụng trong thực tiễn dạy học Vì vậy các nhà nghiên cứu đã đưa ra những biện pháp, chiến thuật đọc hiểu cụ thể bên cạnh hệ thống lí luận
mang tính khoa học Tiêu biểu như: “Phương pháp dạy đọc hiểu văn bản”
của Taffy Raphael (được dịch bởi nhóm tác giả trường Đại học Cần Thơ năm
2008; “Dạy văn ở trung học” của Beach và Marshall, đề cập đến các chiến thuật như : Nhập cuộc , Miêu tả, Giải mã, Cắt nghĩa; Kết nối; Suy luận; Đánh
giá và các hình thức hoạt động để thực hiện những chiến thuật này [ dẫn theo
34] Một số tác giả trong nước cũng có những công trình nghiên cứu hết sức
kĩ lưỡng về các biện pháp và chiến thuật đọc hiểu như: Nguyễn Thị Hồng Nam, Nguyễn Thị Hồng Vân, Phạm Thị Huệ, Phạm Thị Thu Hiền, Trịnh Thị
Trang 157
Lan, Bùi Minh Đức… Đáng chú ý nhất vẫn là cuốn " Đọc hiểu và chiến thuật
đọc hiểu văn bản trong nhà trường phổ thông" của tác giả Phạm Thị Thu
Hương Cuốn sách đã giới thiệu và phân tích hệ thống các chiến thuật đọc hiểu văn bản Đây là những kết quả nghiên cứu nền tảng để chúng tôi đi sâu vào việc hướng dẫn học sinh lớp 12 PTNLĐH truyện ngắn CTNX của nhà văn NMC
2.2 Những nghiên cứu về dạy học truyện ngắn "Chiếc thuyền ngoài xa" của Nguyễn Minh Châu ở nhà trường phổ thông
CTNX là truyện ngắn Việt Nam sáng tác sau 1975 Do vị trí và giá trị đặc biệt của tác phẩm nên có rất nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu dù tác phẩm mới được đưa vào nhà trường THPT trong những năm gần đây Trong luận văn này chúng tôi tập trung giới thiệu những công trình có ảnh hưởng sâu sắc đến quá trình dạy học truyện ngắn này ở trường THPT
Những cuốn sách như : “Văn học Việt Nam sau 1975 – những vấn đề
nghiên cứu và giảng dạy” của tác giả Nguyễn Văn Long, Lã Nhâm Thìn đồng
chủ biên [40]; Luận án Tiến sĩ “Những đổi mới của văn xuôi nghệ thuật Việt
Nam sau 1975 của tác giả Nguyễn Thị Bình trường Đại học sư phạm Hà Nội”
[12] cũng giúp chúng ta có cái nhìn toàn diện, sâu sắc về bối cảnh chung của văn học sau 1975 và những đặc điểm chung cũng như những đóng góp riêng
về nội dung và nghệ thuật của truyện ngắn CTNX trong văn học Việt Nam giai đoạn này
Về lĩnh vực phương pháp, đáng chú ý nhất là công trình nghiên cứu
"Đọc - hiểu tác phẩm văn chương trong nhà trường" của tác giả Nguyễn
Thanh Hùng Qua công trình của mình, tác giả đã đưa ra những định hướng quan trọng khi dạy đọc hiểu truyện ngắn hiện đại và truyện ngắn CTNX :
"nên đọc chậm để hiểu rõ ý nghĩa nội dung; đọc kĩ để hiểu thấu đáo; nên chú
trọng việc dạy cho học sinh phương pháp đọc hiểu văn bản chứ không chỉ là cách đọc diễn cảm hời hợt ở bên ngoài" [28] Một số công trình nghiên cứu
khác như : Luận án Tiến sĩ "Dạy học tác phẩm văn chương ở trường trung
Trang 168
học phổ thông theo hướng học sinh là bạn đọc sáng tạo" (2009) của tác giả
Bùi Minh Đức [17] ; Luận án Tiến sĩ "Dạy học truyện ngắn Việt Nam sau
1975 ở trường THPT" (2010) của tác giả Đặng Thị Mây[45]; ; Luận án Tiến
sĩ "Phát huy vai trò bạn đọc học sinh (dân tộc ít người-Tây Nguyên) trong
dạy học tác phẩm văn chương cho học sinh trung học phổ thông" (2016) của
tác giả Lê Thị Thảo [53]; Luận văn Thạc sĩ “Vận dụng lí thuyết hồi ứng trải
nghiệm vào dạy học truyện ngắn Việt Nam sau 1975 ở THPT" của tác giả
Trần Thị Kim Thoa, Đại học Sư phạm Hà Nội 2003[54]; tiếp tục là những
ví dụ điển hình cho việc áp dụng những phương pháp dạy học mới vào dạy đọc hiểu văn bản CTNX của NMC
Kế thừa những thành tựu mà người đi trước đã đạt được khi nghiên cứu về truyện ngắn này đồng thời nhấn mạnh việc phát triển NLĐHVB cho HS bằng những biện pháp, những kĩ thuật dạy học cụ thể ở cả ba giai đoạn: trước, trong
và sau khi đọc văn bản, chúng tôi đề xuất đề tài "Phát triển năng lực đọc hiểu
văn bản cho học sinh lớp 12 trong dạy học truyện ngắn "Chiếc thuyền ngoài xa" của Nguyễn Minh Châu" Chúng tôi mong có thể góp một phần nhỏ bé vào
việc tìm ra những biện pháp dạy học hiệu quả nhất nhằm phát triển NLĐHVB cho học sinh lớp 12 khi các em tiếp nhận truyện ngắn này
3 Đối tƣợng , mục đích và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng và nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu cách thức tổ chức dạy học đọc hiểu văn bản nhằm mục đích phát triển được các thành tố của NLĐHVB của học sinh lớp 12 Do giới hạn về thời gian và để đạt được mục đích nghiên cứu, chúng tôi giới hạn đối tượng nghiên cứu chỉ ở việc dạy học một văn bản là truyện ngắn CTNX của NMC trong chương trình Ngữ văn lớp 12 (chương trình chuẩn) hiện hành
3.2 Mục đích nghiên cứu
- Chỉ ra được các thành tố của NLĐHVB có thể phát triển được cho HS lớp 12 trong dạy đọc hiểu truyện ngắn CTNX của NMC
Trang 179
- Đề xuất được các biện pháp dạy đọc hiểu truyện ngắn CTNX của NMC cho học sinh lớp 12 nhằm phát triển được NLĐHVB cho HS
3.3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Đọc hiểu là phạm trù của khoa học có lịch sử nghiên cứu đầy đặn và bao quát nội dung rộng lớn Thông qua việc nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến dạy đọc hiểu, dạy học truyện ngắn CTNX của NMC, luận văn thực hiện những nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Tổng hợp lí luận nghiên cứu về NL và PTNLĐH
- Khảo sát thực trạng dạy học truyện ngắn "CTNX" của NMC
- Đề xuất định hướng vận dụng một số biện pháp dạy học để PTNLĐH cho HS trong dạy học truyện ngắn CTNX của NMC
- Thiết kế bài học theo định hướng lí luận của đề tài
- Thực nghiệm để kiểm chứng tính khả thi của các đề xuất trong luận văn
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, người viết đã sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu sau:
4.1 Phương pháp nghiên cứu tổng hợp lí luận
Hệ thống, tổng hợp, vận dụng các kiến thức làm sáng rõ bản chất khoa học của dạy học PTNLĐH môn Ngữ Văn và dạy đọc hiểu truyện ngắn hiện đại từ đó đề xuất và áp dụng các biện pháp dạy đọc hiểu phù hợp vào dạy học truyện ngắn CTNX của NMC
4.2 Phương pháp điều tra, thống kê khảo sát
Phương pháp này được vận dụng chủ yếu để tìm hiểu thực trạng và thống kê các kết quả thực nghiệm sư phạm
4.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
- Vận dụng những nghiên cứu lí luận vào thiết kế và tiến hành thực nghiệm bài học CTNX của NMC
- So sánh hiệu quả giờ học theo hướng phát triển NL đọc hiểu với phương pháp dạy học khác
Trang 1810
5.Giả thuyết khoa học
Hiện nay việc DH các văn bản trong chương trình Ngữ văn THPT chưa chú trọng phát triển NLĐHVB cho người học Nếu đưa ra được các biện pháp dạy ĐHVB "CTNX" của NMC kích thích tư duy, lôi cuốn người học vào các hoạt động học tập tích cực thì sẽ phát triển được NL đọc hiểu văn bản cho HS; từ đó góp phần nâng cao hiệu quả dạy học Ngữ Văn ở trường THPT
6 Đóng góp của luận văn
- Luận văn tiếp tục phát triển, bổ sung, cụ thể hóa lí luận về NL và PTNL
ĐH VB cho HS
- Đề xuất được một số biện pháp dạy học nhằm phát triển NLĐHVB văn bản CTNX của NMC
- Bước đầu hiện thực hóa ý tưởng của đề tài thông qua một giáo án thiết
kế thể nghiệm dạy học CTNX của NMC có tính khả thi làm cơ sở vận dụng,
là tài liệu tham khảo cho GV và HS
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận - khuyến nghị và tài liệu tham khảo, phần chính luận văn gồm ba chương:
CHƯƠNG 1: Cơ sở khoa học của việc phát triển năng lực đọc hiểu
văn bản cho học sinh lớp 12 trong dạy học truyện ngắn "Chiếc thuyền
ngoài xa" của Nguyễn Minh Châu
CHƯƠNG 2: Tổ chức dạy học truyện ngắn "Chiếc thuyền ngoài xa"
của Nguyễn Minh Châu cho học sinh lớp 12 nhằm phát triển năng lực đọc hiểu văn bản
CHƯƠNG 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 1911
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN CHO HỌC SINH LỚP 12 TRONG DẠY HỌC TRUYỆN NGẮN "CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA" CỦA
NGUYỄN MINH CHÂU
1.1 Năng lực và phát triển năng lực đọc hiểu văn bản
1.1.1 Năng lực
1.1.1.1 Khái niệm năng lực
Khái niệm NL (competence) đã được con người biết đến từ lâu, nhưng chỉ đến những năm 70 của thế kỉ XX, trong bối cảnh hội nhập toàn cầu, khái niệm này mới được tập trung nghiên cứu ở nhiều phương diện khác nhau như triết học, tâm lí học, kinh tế học, giáo dục học, xã hội học
Đáng chú nhất là định nghĩa về NL của Tổ chức Hợp tác và Phát triển
kinh tế Thế giới (OECD): năng lực là khả năng đáp ứng thành công những
yêu cầu phức tạp trong một bối cảnh cụ thể thông qua việc huy động những tiền đề về mặt tâm lí xã hội (bao gồm cả khía cạnh nhận thức và phi nhận thức [60]; và định nghĩa của tác giả F.E Weinert: năng lực là tổng hợp các khả năng và kĩ năng sẵn có hoặc học được cũng như sự sẵn sàng của học sinh nhằm giải quyết những vấn đề nảy sinh và hành động một cách có trách nhiệm, có sự phê phán để đi đến giải pháp [dẫn theo 34]
Ở Việt Nam, khái niệm NL cũng được định nghĩa bởi nhiều tác giả
Theo Từ điển Tiếng Việt (1998), NXB Đà Nẵng thì: Năng lực là khả năng,
điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó Năng lực cũng là phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao Tác giả Trần
Trọng Thủy và Nguyễn Quang Uẩn khẳng định: Năng lực là tổng hợp những
thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định, nhằm đảm bảo việc hoàn thành có kết quả tốt trong lĩnh vực hoạt động ấy Tác giả Đặng Thành Hưng định nghĩa : Năng lực là thuộc tính cá nhân cho phép cá nhân thực hiện thành công hoạt động nhất định, đạt
Trang 2012
kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể [ dẫn theo 11] Phân tích tất
cả những định nghĩa trên, tác giả Hoàng Hòa Bình đã đưa một khái niệm năng
lực toàn diện hơn : năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển
nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể Hai đặc trưng cơ bản của năng lực là : 1) Được bộc
lộ, thể hiện qua hoạt động; 2) Đảm bảo hoạt động có hiệu quả, đạt kết quả mong muốn."[11]
Đối chiếu các định nghĩa về NL của các tác giả trong nước và nước
ngoài, có thể khẳng định: NL là khả năng thực hiện thành công một hoạt động
của con người nhờ sự huy động tổng hợp nhiều thành tố như kiến thức, kĩ năng, phẩm chất cá nhân
sung thêm một số nguồn lực bên ngoài như bạn cùng lớp, thầy giáo, cô giáo,
các chuyên gia hoặc các nguồn thông tin khác [dẫn theo 34]
Cùng tiếp cận cấu trúc NL dựa trên nguồn lực hợp thành, tác giả Đặng Thành Hưng cho rằng cấu trúc NL bao gồm ba thành tố cơ bản là tri thức, kĩ năng và hành vi biểu cảm (thái độ), trong đó yếu tố cốt lõi trong bất cứ năng lực cụ thể nào là kĩ năng [32] Cấu trúc năng lực trên được tác giả Đặng Thành Hưng thể hiện qua sơ đồ hdưới đây:
Trang 21Hình 1.2 Cấu trúc năng lực của tác giả Hoàng Hoà Bình
Cấu trúc NL trên giúp những người làm giáo dục nhận ra : việc giáo dục
HS không chỉ tập trung vào mục tiêu cung cấp kiến thức, rèn luyện kĩ năng, hình thành thái độ và tổ chức đánh giá những mặt đó mà còn phải hình thành,
Năng lực phát triển (sáng tạo)
Tri thức - Trí tuệ Kĩ năng - Kĩ xảo Tình cảm- Giá trị
Năng lực làm
Cấu trúc bề mặt (Đầu vào)
Cấu trúc bề sâu (Đầu ra)
Trang 2214
phát triển, kiểm soát, đo lường được các chỉ số đầu ra Nghĩa là để phát triển
NL cho người học, GV không chỉ dừng lại ở nhiệm vụ trang bị kiến thức, rèn luyện kĩ năng, thái độ, bồi dưỡng thái độ sống đúng đắn mà còn phải làm cho những kiến thức sách vở trở thành hiểu biết thực sự của mỗi HS, đưa những
kĩ năng được ứng dụng, thực hành trên lớp vào đời sống, biến nhà trường thành môi trường để HS bộc lộ, hình thành, phát triển các hành vi ứng xử của mình từ đó mà hình thành nhân cách, phẩm chất vững bền cho các em
Cấu trúc NL trên cũng chỉ ra: đầu vào của NLĐHVB chính là kiến thức,
kĩ năng, thái độ về văn bản về môi trường sống, về tri thức vốn có của các em Đầu ra của NLĐHVB chính là kết quả của khả năng hiểu, cảm nhận văn bản
và ứng dụng văn bản vào đời sống
Hướng tiếp cận thứ hai để tìm ra cấu trúc NL là dựa theo các nguồn lực
hợp thành Theo quan điểm của tác giả Hoàng Hòa Bình: Mỗi năng lực
chung hoặc đặc thù đều được phân tích thành các năng lực bộ phận Tiếp theo mỗi năng lực bộ phận lại được phân tích thành các năng lực bộ phận ở bậc thấp hơn, cụ thể hơn cho đến khi xác định được các hành vi thể hiện ra bên ngoài của chúng[11]
Bộ Giáo dục và Đào tạo với chủ trương từng bước đổi mới, chuyển nền giáo dục định hướng nội dung sang nền giáo dục định hướng năng lực cho người học đã cụ thể hóa các năng lực thành hai bộ phận :
1) Các năng lực chung cốt lõi, bao gồm:
Nhóm năng lực làm chủ và phát triển bản thân: năng lực tự học; năng lực giải quyết vấn đề; năng lực tư duy; năng lực tự quản lí
Nhóm năng lực quan hệ xã hội: năng lực giao tiếp; năng lực hợp tác Nhóm năng lực công cụ: năng lực công nghệ thông tin và truyền thông; năng lực sử dụng ngôn ngữ; năng lực tính toán
2) Các năng lực chuyên biệt bao gồm: năng lực chuyên biệt dành cho môn Toán, năng lực chuyên biệt dành cho môn Văn, năng lực chuyên biệt dành cho môn Ngoại ngữ Nghĩa là mỗi môn học trong nhà trường đều có những
Trang 2315
năng lực chuyên biệt khác nhau Cơ sở để xác định các năng lực chuyên biệt
là các năng lực chung cốt lõi Ví dụ, một trong những năng lực chuyên biệt của môn Toán là tính toán, một trong những năng lực chuyên biệt của môn Văn là đọc hiểu văn bản, tạo lập văn bản [3]
Thông qua cách tiếp cận cận cấu trúc NL theo NL bộ phận có thể thấy NL ĐHVB chính là năng lực chuyên biệt trong cấu trúc NL nói chung và NLĐHVB tạo điều kiện để HS hình thành và phát triển hai nhóm NL chung cốt lõi là nhóm NL quan hệ xã hội và nhóm NL công cụ Mối quan hệ trên là một trong những tiền đề lí luận quan trọng để chúng tôi nghiên cứu đề tài
"Phát triển năng lực đọc hiểu văn bản cho học sinh lớp 12 trong dạy học
truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu"
1.1.2 Phát triển năng lực đọc hiểu văn bản
1.1.2.1 Khái niệm văn bản
Trong Từ điển Tiếng Việt do tác giả Hoàng Phê chủ biên, văn bản có thể
hiểu theo hai nghĩa: nghĩa thông dụng là: bản viết hoặc in, mang nội dung là
những gì cần được ghi để lưu lại làm bằng; nghĩa chuyên môn là: chuỗi kí hiệu ngôn ngữ hay nói chung là những kí hiệu thuộc một hệ thống nào đó, làm thành một chỉnh thể mang một nội dung ý nghĩa trọn vẹn SGK Ngữ văn
10 Nâng cao, bài Văn bản khẳng định: Trong giao tiếp bằng ngôn ngữ, nói
phải nói thành lời, viết phải viết thành bài Lời nói và bài viết đó là văn bản Như vậy, văn bản vừa là phương tiện, vừa là sản phẩm của hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ Văn bản thường do nhiều câu kết hợp với nhau tạo thành, như bài thơ, bài báo, đơn xin việc, giấy mời họp Văn bản có thể ngắn dài khác nhau [ dẫn theo 31]
Ở một số chương trình giáo dục nước ngoài, khái niệm văn bản được mở rộng hơn, phù hợp với sự phát triển vượt bực của công nghệ thông tin hiện
nay Tiêu biểu như Chương trình giáo dục của Úc, định nghĩa: Văn bản là
phương tiện giao tiếp Những hình thức và quy ước của văn bản được phát triển để giúp chúng ta giao tiếp một cách hiệu quả với nhiều người khác nhau
Trang 2416
vì những mục đích khác nhau Văn bản có thể được viết, nói, đa phương thức
và có thể dưới dạng in hay dạng số hoặc trực tuyến Văn bản đa phương thức
có sự kết hợp của ngôn ngữ với phim hay các phương tiện truyền thông và máy tính [ dẫn theo 31]
Ở Việt Nam, trong chương trình Ngữ văn hiện hành, HS được học hai loại VB: VB văn học là những VB sử dụng ngôn từ một cách nghệ thuật và VB nhật dụng là những VB có chức năng bàn luận, thuyết minh, tường thuật, miêu tả, đánh giá về các vấn đề đa dạng, cấp thiết trong mọi lĩnh vực của cuộc sống hàng ngày như thiên nhiên, môi trường, văn hóa, giáo dục, chính trị, thể thao Truyện ngắn CTNX của NMC thuộc dạng VB văn học vì thế khi dạy đọc hiểu GV cần chú ý hướng dẫn HS tìm hiểu ngôn ngữ văn bản với những đặc thù riêng của ngôn từ nghệ thuật như tính hình tượng, tính biểu cảm, tính chuẩn xác, tính thẩm mĩ
1.1.2.2 Quan niệm về năng lực đọc hiểu văn bản
Trên thế giới có nhiều quan niệm khác nhau về ĐHVB Tác giả Adam
(1990) cho rằng: Đọc là quá.trình phức tạp bao gồm sự kết hợp của các khả
năng cảm nhận, tâm lí ngôn ngữ và nhận thức Tác giả Anderson&Pearson
(1984; Afferbach, 1990; Meneghetti, Carretti& De Benie, 2006) khẳng định:
Đọc hiểu là năng lực nhận thức phức tạp yêu cầu khả năng tích hợp thông tin trong văn bản với tri thức có trước của người đọc Đáng chú ý nhất là quan
niệm về ĐHVB của tổ chức PISA Họ sử dụng khái niệm "literacy" để chỉ
khái niệm ĐHVB, có thể dịch là sự biết đọc, biết viết Nghĩa là họ nhấn mạnh
đến khả năng đọc một cách tích cực, có ý nghĩa, có hiệu quả cao của khái niệm ĐHVB [dẫn theo 34]
Ở Việt Nam, tác giả Trần Đình Sử cụ thể khái niệm ĐHVB ở nhiều cấp
độ tư duy khác nhau: nhận biết - thông hiểu - đánh giá - vận dụng [51] Tác giả Nguyễn Thanh Hùng chỉ ra vị trí, vai trò của hoạt động ĐHVB: Đọc - hiểu
là một khái niệm khoa học chỉ ra mức độ cao nhất của hoạt động đọc; đọc hiểu đồng thời cũng chỉ ra năng lực của người đọc( ) [28] Tác giả Nguyễn
Trang 2517
Thái Hòa đề cao việc huy động tổng hợp các hành vi, thủ pháp, thao tác để
tiếp nhận thông tin của ĐHVB: Đọc - hiểu dù đơn giản hay phức tạp đều là
hành vi ngôn ngữ, sử dụng một loạt thủ pháp và thao tác cơ bản bằng cơ quan thị giác, thính giác để tiếp nhận, phân tích, giải mã và ghi nhớ nội dung thông tin, cấu trúc văn bản, vì vậy đọc hiểu không chỉ là kĩ năng riêng trong dạy học môn Ngữ Văn mà còn quan trọng trọng trong học tập và nhận thức nói chung [19]
Nhìn lại những định nghĩa trên có thể thấy khái niệm ĐHVB bản thực
chất cũng chính là khái niệm NLĐHVB với hai cấp độ: một là khả năng đọc
và hai là khả năng hiểu Dựa trên bản chất của khái niệm ĐHVB, tổ chức PISA đã khái quát thành khái niệm NLĐH như sau: Năng lực đọc hiểu là sự
hiểu, sử dụng, phản ánh và gắn kết với các văn bản viết nhằm đạt được các mục tiêu đọc, phát triển hiểu biết và tiềm năng của người đọc cũng như nhằm tham gia vào xã hội [dẫn theo 34] Coi quan niệm của tổ chức PISA là nền
tảng, tác giả Đoàn Thị Thanh Huyền tiếp tục cụ thể hóa khái niệm NLĐHVB
như sau: Năng lực đọc hiểu văn bản là sự tương tác tích cực với văn bản
bằng các hoạt động nhận thức và siêu nhận thức, tạo nên những hiểu biết, phản hồi, sử dụng đối với văn bản trong bối cảnh cụ thể nhằm đạt được các mục tiêu đọc và tự phát triển các tiềm năng của bản thân [31, tr 43] Định
nghĩa trên không dừng ở việc thay cụm từ đọc hiểu bằng năng lực đọc hiểu
mà còn nhấn mạnh hơn khả năng tích cực, chủ động tương tác với văn bản
của người học và khái quát được kết quả của quá trình tương tác đó ở nhiều cấp độ khác nhau
1.1.2.3 Cấu trúc năng lực đọc hiểu văn bản
Theo nhà nghiên cứu Phan Trọng Luận cấu trúc NLĐHVB bản bao gồm
những thành tố sau:
1 Năng lực tri giác ngôn ngữ nghệ thuật của tác phẩm văn học
2 Năng năng lực tái hiện hình tượng
3 Năng lực liên tưởng trong tiếp nhận văn học
Trang 267 Năng lực tự nhận thức và năng lực đánh giá [43]
Tác giả Nguyễn Thị Hồng Vân quan niệm cấu trúc năng lực đọc hiểu văn
bản gồm 4 thành tố chính và 10 thành tố con là: Nhận biết thông tin từ VB -
Nhận biết tác giả, bối cảnh - Xác định ý chính của VB; Phân tích, kết nối thông tin - Luận giải ý tưởng cơ bản từ các thông tin - Đối chiếu, phân tích các thông tin- Khái quát hóa kiểu nội dung, nghệ thuật; Phản hồi, đánh giá
VB - Đánh giá ý tưởng, giá trị của VB - Khái quát hóa ý nghĩa lí luận - Rút ra bài học kinh nghiệm; Vận dụng thông tin từ VB vào thực tiễn - Vận dụng thông tin trong hành động thực tiễn - Rút ra ý nghĩa tư tưởng, giá trị sống của
cá nhân [dẫn theo 31] Tất cả những thành tố ấy được tác giả trình bày trong
sơ đồ dưới đây:
Trang 2719
Hình 1.3 Cấu trúc năng lực đọc hiểu văn bản
của tác giả Nguyễn Thị Hồng Vân
Kế thừa, vận dụng các thành tựu về đọc hiểu cũng như mô hình cấu trúc NLĐH của các nhà nghiên cứu trước đó, tác giả Đoàn Thị Thanh Huyền đã đưa ra mô hình năng lực đọc hiểu văn bản ở hai phương diện bề nổi và bề sâu [31, tr.46]:
NĂNG LỰC ĐỌC HIỂU VĂN BẢN
Nhận biết
thông tin từ
văn bản
Phân tích, kết nối thông tin
Phản hồi, đánh giá văn bản
Vận dụng thông tin từ
vb vào thực tiễn Nhận biết
từ các thông tin Đối chiếu, phân tích thông tin
Đánh giá ý tưởng, giá trị của văn bản
Khái quát hóa ý nghĩa
lí luận
Vận dụng thông tin trong hành động thực tiễn
Rút ra ý nghĩa tư tưởng, giá trị sống của cá nhân
Rút ra bài học kinh nghiệm
Khái quát hóa kiểu nội dung, nghệ thuật
Trang 2820
Hình 1.4 Cấu trúc năng lực đọc hiểu văn bản của tác giả
Đoàn Thị Thanh Huyền
Mô hình NLĐH trên đây đã thể hiện cụ thể cả NL đầu vào (cấu trúc bề sâu) và NL đầu ra (cấu trúc bề nổi) của hoạt động ĐHVB Nếu cấu trúc bề nổi giúp ta quan sát được mức độ NL được thể hiện thì cấu trúc bề sâu giúp ta
lí giải được người đọc đạt được mức năng lực ấy nhờ khả năng kết nối các tri
BỀ SÂU
Phân tích, kết nối thông tin để kiến tạo ý
nghĩa của văn bản
Phản hồi, đánh giá ý nghĩa và giá trị của
Hệ thống các chiến thuật dạy đọc hiểu
Các quan điểm, cảm xúc liên quan
Sẵn sàng huy động các tri thức nền và sử dụng linh hoạt các chiến thuật đọc hiểu
Khả năng thúc đẩy, giám sát quá trình đọc
hiểu của bản thân
CẤU TRÚC
BỀ NỔI
Nhận biết các thông tin, đặc điểm văn bản
Trang 2921
thức, các kĩ năng và phẩm chất cá nhân Cấu trúc NL này cũng cho thấy vai trò tích cực, chủ động của chủ thể người đọc thông qua hệ thống tri thức nền liên quan đến văn bản; các quan điểm cảm xúc liên quan; sự sẵn sàng huy động các tri thức nền và sử dụng chiến thuật đọc hiểu và khẳng định vai trò định hướng, dẫn dắt của người dạy qua hệ thống các biện pháp, kĩ thuật, chiến thuật; khả năng thúc đẩy, giám sát quá trình đọc hiểu của HS Nhận diện được những thành tố cấu trúc của NLĐHVB bản sẽ giúp GV có định hướng lí luận quan trọng để phát triển toàn diện NLĐHVB cho HS trong quá trình dạy học môn Ngữ văn
Cả hai mô hình cấu trúc NLĐHVB của tác giả Nguyễn Thị Hồng Vân và Đoàn Thị Thanh Huyền đều có tính khoa học và thực tiễn cao Tuy nhiên chúng tôi coi cấu trúc NLĐHVB của tác giả Đoàn Thị Thanh Huyền là cơ sở
lí luận cốt lõi để triển khai đề tài “Phát triển năng lực đọc hiểu cho học sinh
lớp 12 trong dạy học truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh
Châu” bởi các thành tố trong cấu trúc NLĐHVB mà tác giả đưa ra phù hợp
với trình độ hiểu biết (tri thức nền liên quan đến văn bản; các chiến thuật đọc
hiểu; các quan điểm và cảm xúc liên quan; khả năng sẵn sàng huy động và sử dụng linh hoạt các chiến thuật đọc hiểu; khả năng thúc đẩy giám sát quá trnhf đọc hiểu của bản thân) và tư duy (nhận biết thông tin từ văn bản ; phân tích, kết nối thông tin trong văn bản; phản hồi, đánh giá ý nghĩa của thông tin trong văn bẩn; vận dụng hiểu biết về văn bản vào thực tiễn) của học sinh
THPT
Cấu trúc NLĐH của tác giả Nguyễn Thị Hồng Vân hơi khó vận dụng vào chủ thể đọc hiểu văn bản là học sinh THPT Vì bên cạnh những thành tố phù
hợp với trình độ nhận thức và tư duy của học sinh (nhận biết thông tin từ văn
bản; nhận biết tác giả, bối cảnh sáng tác; xác định ý chính của văn bản; phân tích, kết nối thông tin; đối chiếu phân tích thông tin; phản hồi, đánh giá văn bản; rút ra bài học kinh nghiệm; vận dụng thông tin từ văn bản vào thực tiễn)
là những thành tố đòi hỏi trình độ hiểu biết và tư duy của những chủ thể đọc ở
Trang 3022
các bậc học trên (luận giải ý nghĩa cơ bản từ các thông tin; khái quát hóa kiểu
nội dung, nghệ thuật; khái quát hóa ý nghĩa lí luận; đánh giá ý tưởng, giá trị của văn bản; vận dụng thông tin trong hành động thực tiễn; rút ra ý nghã tư tưởng giá trị sống của cá nhân) Nếu có cơ hội nghiên cứu năng lực đọc hiểu
của chủ thể đọc hiểu văn bản ở bậc học cao hơn, chúng tôi tin rằng cấu trúc NLĐHVB của tác giả Nguyễn Thị Hồng Vân sẽ là căn cứ lí luận cốt lõi của
đề tài
1.1.3.Vấn đề phát triển năng lực đọc hiểu văn bản cho học sinh trong môn Ngữ Văn
1.1.3.1.Năng lực Ngữ Văn của học sinh trung học
Học sinh THPT (16 - 18 tuổi), độ tuổi vị thành niên với những thay đổi lớn về các mặt: thể chất, nhận thức, xúc cảm và xã hội để hướng tới sự trưởng thành, tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho sự phát triển năng lực đọc hiểu văn bản
Về mặt nhận thức, theo lí thuyết của Piaget đây là giai đoạn tiến dần tới
sự chín muồi trong quá trình phát triển về nhận thức của HS Biểu hiện là khả năng suy luận dựa trên các giả thuyết và khả năng tư duy trừu tượng của HS phát triển Các em có thể suy nghĩ, hiểu, suy luận một cách linh hoạt về các khái niệm trừu tượng như : sự thật, công bằng, đạo lí và mối quan hệ giữa chúng Vì thế, các em có khả năng nhận biết và nắm vững các thông tin và đặc điểm cấu trúc tương đối phức tạp của văn bản văn học trong chương trình Ngữ văn Các em có thể tiếp cận, phân tích các thông tin quan trọng, thông tin ngầm ẩn của văn bản, kết hợp với vốn hiểu biết, sự trải nghiệm phong phú của mình để kiến tạo nên những ý nghĩa đa cấp độ của văn bản đang đọc hiểu [dẫn theo 31]
Về mặt cảm xúc, HS cấp THPT, đặc biệt là học sinh lớp 12 cảm nhận và thể hiện cảm xúc mãnh liệt hơn Khả năng thấu cảm với người khác và khả nawgn tự kiểm soát cảm xúc bản thân của HS đều phát triển HS luôn muốn
tự khẳng định mình, thích độc lập, mạo hiểm, mới lạ và linh hoạt Đặc điểm
Trang 3123
tâm sinh lí đó đã tạo điều kiện để HS dễ dàng bày tỏ những quan điểm, chia
sẻ những suy nghĩ, cảm nhận của mình khi đọc hiểu văn bản
Về mặt xã hội, mối quan hệ và tương tác với mọi người đặc biệt là bạn cùng tuổi rất quan trọng đối với HS Nhờ tương tác với các bạn cùng trang lứa
mà HS nhận thức và có niềm tin về bản thân, khẳng định được vị trí, vai trò của chính mình Đó cũng là điều kiện quan trọng để học sinh THPT có thể tiến hành hoạt động nhóm một cách hiệu quả, trao đổi cùng nhau những biện pháp, những chiến thuật đọc hiểu phong phú để nâng cao NL bản thân
Bên cạnh những thuận lợi trên thì vẫn còn tồn tại một số khó khăn làm hạn chế sự phát triển năng lực Ngữ văn của học sinh THPT Theo nghiên cứu của
nhóm tác giả trường Đại học Sư phạm Hà Nội thì khó khăn trước hết là đến từ
phía thời đại - giữa lúc văn hóa nghe nhìn đang lấn lướt văn hóa in - đọc HS ngày nay không thích học văn chính là vì các em không hoặc ít có thói quen đọc sách Không có vốn hiểu biết về văn học, không có tình yêu với văn chương, HS
sẽ rất khó khăn trong việc cảm thụ, tiếp nhận văn bản, làm cho giờ dạy học văn kém hiệu quả [ 37] Đây được coi là khó khăn lớn nhất trong hoạt động học tập
môn Ngữ văn ở trường THPT hiện nay (Phụ lục 1.1; 1.2)
Ngoài ra, những khoảng cách giữa hoàn cảnh sống của HS với bối cảnh
xã hội trong văn bản; giữa tầm văn hóa, ý đồ sáng tác của nhà văn với HS; sự
đa nghĩa, phức tạp của ngôn từ trong văn bản văn học với vốn hiểu biết ngôn ngữ còn hạn chế của HS; tâm thế tiếp nhận văn bản ở từng hoàn cảnh sống khác nhau của độc giả cũng tạo nên những khó khăn nhất định cho việc phát triển NL đọc hiểu văn bản của HS
1.1.3.2 Yêu cầu phát triển năng lực đọc hiểu văn bản cho học sinh trong môn Ngữ Văn
Để phát triển NLĐHVB cho học sinh trong môn Ngữ văn trước hết cần coi HS là tâm điểm của hoạt động ĐHVB Xoay quanh tâm điểm đó là một số yếu tố căn bản như: nguồn VB phong phú mà HS có khả năng đọc và muốn đọc; môi trường đọc trên lớp cũng như môi trường đọc rộng lớn ngoài xã hội
Trang 32Tiếp đến cần chú ý hình thành cho HS các năng lực chuyên biệt của môn
Ngữ văn như : NL tri giác ngôn ngữ nghệ thuật; NL tái hiện hình tượng; NL
liên tưởng trong tiếp nhận văn học; NL cảm thụ cụ thể kết hợp với năng lực khái quát hóa các chi tiết nghệ thuật của tác phẩm trong chỉnh thể của nó; NL nhận biết loại thể để định hướng hoạt động tiếp nhận; NL cảm xúc thẩm mĩ;
NL tự nhận thức và đánh giá [42]
Ngoài ra GV cũng cần nắm chắc mục tiêu dạy học bộ môn Ngữ văn mà
Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đề ra: dạy văn là dạy cho học sinh năng lực đọc,
kĩ năng đọc để giúp các em có thể đọc hiểu bất cứ văn bản nào cùng loại Từ đọc hiểu văn bản mà trực tiếp tiếp nhận các giá trị văn học, trực tiếp thể nghiệm các tư tưởng và cảm xúc được truyền đạt bằng nghệ thuật ngôn từ, hình thành cách đọc riêng, có cá tính Đó là con đường duy nhất để để bồi dưỡng cho học sinh năng lực của chủ thể tiếp nhận thẩm mĩ Mỗi giáo viên cần hiểu bản chất của môn Văn là dạy đọc văn mới là hiểu đúng bản chất của văn học và hiểu đúng thực chất của việc dạy văn là dạy năng lực và phát triển năng của chủ thể học sinh [7]
Trên đây là những yêu cầu cơ bản mà GV phải tuân theo nếu muốn thực
sự phát triển NLĐHVB cho HS
1.2 Truyện ngắn "Chiếc thuyền ngoài xa" trong chương trình Ngữ văn THPT
1.2.1 Vị trí của truyện ngắn "Chiếc thuyền ngoài xa" trong chương trình Ngữ Văn lớp 12
Truyện ngắn CTNX của NMC được dạy ở học kì 2 và có vị trí quan
trọng trong chương trình Ngữ văn lớp 12 Đây là truyện ngắn duy nhất sáng tác sau 1975 trở thành bài học chính thức trong chương trình Ngữ văn lớp 12
(Hai truyện ngắn sáng tác cùng thời như "Mùa lá rụng trong vườn - Ma Văn
Trang 3325
Kháng, Một người Hà Nội - Nguyễn Khải, nằm trong chương trình đọc thêm),
bởi tác phẩm tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của Nguyễn Minh Châu, khẳng định được vị trí "người mở đường tinh anh" của nhà văn trong văn học Việt Nam thời kì đổi mới và mang tính thời sự, tính nhân văn sâu sắc
1.2.2.Những đặc điểm về nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật của truyện ngắn "Chiếc thuyền ngoài xa
1.2.2.1 Nội dung tư tưởng tác phẩm
Truyện ngắn CTNX của NMC ra đời vào tháng 8 năm 1983, giai đoạn
đất nước đang gồng mình lên chống chọi với những khó khăn, thiếu thốn do chiến tranh để lại và sự băng hoại về đạo đức của con người trước cuộc mưu sinh Tác phẩm tiêu biểu cho xu hướng chung của văn học Việt Nam thời kì đổi mới: hướng nội, khai thác sâu sắc số phận cá nhân và thân phận con người trong cuộc sống đời thường Thông qua những chiêm nghiệm sâu sắc của của nhân vật chính - nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng sau một chuyến đi thực tế về vùng biển nghèo, tác phẩm đã mang lại cho người đọc những bài học sâu sắc về cách nhìn con người, cuộc đời và nghệ thuật
Mở đầu tác phẩm là bức tranh ngôn từ tuyệt đẹp về hình ảnh thuyền và
biển trong buổi sớm mai: "trước mặt tôi là một bức tranh mực tàu của một
danh họa thời cổ toàn bộ khung cảnh, từ đường nét đến ánh sáng đều hài hòa và đẹp, một vẻ đẹp thực đơn giản và toàn bích" Đối diện với bức tranh
tuyệt mĩ ấy tâm hồn nghệ sĩ Phùng như được gột rửa, thanh lọc và đó cũng là lúc độc giả nhận ra chân lí " cái đẹp có thể cứu vớt thế giới", cái đẹp có thể cảm hóa con người
Sau bức tranh mang đầy tính thẩm mĩ ấy là một hiện tượng phi thẩm mĩ, phi nhân tính Đó là cảnh một người đàn ông to lớn, dữ dằn đang dùng chiếc thắt lưng to bản của lính ngụy ngày xưa quật tới tấp vào lưng vợ mình - một người đàn bà thô kệch, xấu xí, khuôn mặt tái nhợt, mệt mỏi vì phải thức kéo lưới suốt đêm Đó là hình ảnh một đứa con lao vào đánh lại cha để bảo vệ mẹ nhưng lại bị cha mình dang thẳng cánh cho nó hai cái tát khiến nó ngã dúi
Trang 3426
xuống cát còn mẹ nó thì quỳ xuống vái lạy con rồi lại vội vã đuổi theo người đàn ông vừa không tiếc tay đánh đập mình Đằng sau hiện thực phũ phàng ấy chính là thông điệp sâu sắc của Nguyễn Minh Châu về cuộc đời và nghệ thuật: cuộc đời đôi khi khác xa và trái ngược với nghệ thuật nếu người nghệ sĩ
chỉ nhìn cuộc đời ở bề ngoài, ở tầm xa Nghệ thuật có thể là ánh trăng lừa dối
nhưng cuộc đời thì luôn chân thực với biết bao ngang trái, bẽ bàng và ẩn chứa đằng sau là những vẻ đẹp tiềm ẩn mà mỗi chúng ta phải nhìn sâu, nhìn lâu, nhìn kĩ mới mong nhận thấy
Tiếp theo là câu chuyện của người đàn bà tại tòa án huyện Biết bao éo le, ngang trái, bẽ bàng đã được người đàn bà sẻ chia, tâm sự trong câu chuyện ấy
Từ lí do bà không thể bỏ chồng dù bị hành hạ "ba ngày một trận nhẹ, năm ngày một trận nặng", đến việc bà cảm thông, yêu thương, thấu hiểu chồng, hi sinh hết thảy cuộc sống của mình vì con như thế nào Cả những chính sách nửa vời của chính phủ, cả sự hời hợt, nông cạn của những người có chức có quyền, những người cầm cân nảy mực trong cuộc sống cũng được phơi bày trên trang sách của Nguyễn Minh Châu Phải nhìn con người và cuộc sống ở nhiều chiều, nhiều phương diện Phải có sự chung tay của toàn xã hội mới mong cải tạo, giúp đỡ những con người đang ngày ngày phải sống kiếp ngựa, kiếp trâu! Đó chính là một trong những thông điệp quan trọng nhất mà HS cần đọc và hiểu ra khi đọc hiểu sự kiện này
Cuối tác phẩm là cảm xúc, suy tư của nghệ sĩ Phùng mỗi khi nhìn lại bức ảnh đen trắng về thuyền và biển mà anh đã chụp Không chỉ có hình ảnh của thuyền và biển mà luôn luôn là hình ảnh người đàn bà lam lũ, khó nhọc với những bước chân chậm rãi, chắc chắn đang bước ra từ bức tranh và hòa lẫn vào đám đông Tác phẩm nghệ thuật chỉ thực sự có giá trị khi nó phản ánh đời sống con người, vì con người mà ra đời, vì con người mà tồn tại Đó phải chăng là thông điệp ý nghĩa nhất mà nhà văn Nguyễn Minh Châu muốn gửi gắm qua đoạn kết của truyện ngắn này Dù cố gắng đến đâu, nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng cũng không thể tạo ra một bức tranh hoàn toàn là tĩnh vật Và có lẽ
Trang 3527
chính hình ảnh ẩn chìm của con người trong chiều sâu của bức tranh mới là sức hấp dẫn lớn lao khiến mọi gia đình sành nghệ thuật đều phải ao ước có được bức ảnh của nghệ sĩ Phùng
Xuyên suốt chiều dài tác phẩm như một sợi chỉ đỏ, một thứ động mạch
chủ còn là những thay đổi trong nhận thức của nghệ sĩ Phùng và chánh án
Đẩu khi trực tiếp được chứng kiến sự lộn trái quái đản của hai bức tranh cuộc đời và nghệ thuật, được nghe câu chuyện đầy éo le của cuộc đời người đàn bà hàng chài tại tòa án huyện Đối mặt với mỗi một sự kiện, mỗi một tình huống trong đời người đàn bà, là một lần Phùng và Đẩu vỡ vạc ra nhiều điều về con người, cuộc sống và chính bản thân mình Đó là không thể nhìn đời, nhìn người một cách đơn giản, xuôi chiều Không thể giúp đỡ con người chỉ bằng
sự nhiệt tình và lòng tốt Trái lại, cần có tâm và có cả tầm nhìn xa trông rộng, cần huy động sự chung tay, góp sức của mọi ban nghành đoàn thể mới mong
chống lại giặc đói, giặc nghèo, trong cuộc sống hôm nay
Có thể nói, truyện hấp dẫn người đọc ở những câu chuyện về con người
và vùng đất ven biển miền Trung nhưng nó cũng khiến người đọc không thôi trăn trở đau đáu cùng nhà văn về những vấn đề của cuộc đời và nghệ thuật Bài học nhận thức mà truyện ngắn đem lại có giá trị không chỉ với một cuộc đời, một thời đại Và đó chính là những giá trị nội dung tư tưởng quan trọng nhất mà GV cần giúp HS đọc và hiểu khi tiếp nhận tác phẩm này từ đó góp phần nâng cao NLĐH truyện ngắn hiện đại Việt Nam sau 1975 cho HS
1.2.2.2 Đặc điểm về hình thức nghệ thuật tác phẩm
Cốt truyện CTNX của NMC đơn giản nhưng tình huống truyện lại đầy những yếu tố bất ngờ Đó là sự ngỡ ngàng của người đọc khi bất chợt được chứng kiến cảnh bạo lực phũ phàng của gia đình người đàn bà hàng chài cùng lúc với khung cảnh tuyệt mĩ, thánh thiện của chiếc thuyền ngoài xa trong sương sớm Đó là sự ngỡ ngàng của bao độc giả trước lí do không thể bỏ chồng dù bị hành hạ về cả thể xác lẫn tinh thần của người đàn bà hàng chài tại
Trang 3628
tòa án huyện Đó là chân dung của người đàn bà cứ sừng sững hiện lên trong bức tranh tĩnh vật về thuyền và biển ở những trang cuối cùng của thiên truyện Cách lựa chọn ngôi kể, điểm nhìn trần thuật của người trong cuộc - nghệ
sĩ nhiếp ảnh Phùng cũng làm cho câu chuyện trở nên gần gũi, sinh động và có sức thuyết phục
Ngôn ngữ nhân vật cũng hết sức chân thực, phù hợp với tính cách từng nhân vật Chắc hẳn không ai có thể quên ngôn ngữ của người đàn bà tưởng
mình là con giun cái dế khi mới đặt chân vào tòa án huyện: " Con lạy quý tòa,
quý tòa bắt tội con cũng được, phạt tù con cũng được, đừng bắt con bỏ nó ",
trái ngược hoàn toàn với ngôn ngữ của một người phụ nữ khi nhận ra sự nông nổi, hời hợt trong cách nhìn cuộc sống của chánh án huyện Đẩu cũng như
nghệ sĩ nhiếp ảnh Phùng: "Chị cám ơn các chú! Lòng các chú tốt nhưng các
chú đâu có phải là người làm ăn cho nên các chú đâu có hiểu được cái việc của các người làm ăn lam lũ, khó nhọc " Chắc hẳn cũng không ai là không
còn nhớ giọng nguyền rủa rên rỉ đau đớn của người chồng khi đánh vợ : "Mày
chết đi cho ông nhờ Chúng mày chết hết đi cho ông nhờ!" và "sự giận dữ, căng thẳng như một viên đạn trên đường lao tới đích đã nhắm" của thằng bé
Phác khi thấy bố hành hạ mẹ
Lời văn của NMC giản dị mà vẫn hết sức sâu sắc, đa nghĩa Mãi mãi
những câu văn sau vẫn còn găm vào tâm trí người đọc nhiều thế hệ: "Thằng
nhỏ cho đến lúc này vẫn chẳng hề hé răng, như một viên đạn bắn vào người đàn ông và bây giờ đang xuyên qua tâm hồn người đàn bà, làm rỏ xuống những dòng nước mắt "
Hướng dẫn HS đọc và hiểu được tất cả những đặc sắc nghệ thuật trên vừa giúp các em nâng cao NLĐH văn bản CTNX của NMC trên hai phương diện nội dung và nghệ thuật, vừa giúp các em khám phá, phát hiện về đời sống sâu sắc hơn, vừa đánh giá được tài năng cũng như vị trí "người mở đường tinh
anh trong văn học Việt Nam thời kì đổi mới" của nhà văn
Trang 3729
1.2.3 Yêu cầu cần đạt đối với việc việc dạy học truyện ngắn 'Chiếc thuyền ngoài xa" của Nguyễn Minh Châu
Nhằm định hướng cho việc dạy học truyện ngắn CTNX của NMC theo
hướng phát triển NLĐHVB cho HS, chúng tôi đã khảo sát yêu cầu cần đạt đối
với việc dạy học truyện ngắn này trong những tài liệu sau: Sách giáo khoa
Ngữ Văn 12, tập 2; Sách giáo viên Ngữ Văn 12, tập 2; Sách giáo khoa Ngữ Văn 12 Nâng cao, tập 2; Sách giáo viên Ngữ Văn 12 Nâng cao, tập 2
Bảng 1.1 Yêu cầu cần đạt khi dạy học truyện ngắn CTNX của NMC
- Thấy được nghệ thuật kết cấu độc đáo, cách triển khai cốt truyện, khắc họa nhân vật của một cây bút viết truyện ngắn có bản lĩnh và tài hoa
Trang 3830
nhìn nhận cuộc sống và con người: một cách nhìn đa diện, nhiều chiều, phát hiện ra bản chất thực sự sau bề ngoài của hiện tượng
- Cảm nhận được vẻ đẹp của lối văn giản dị mà sâu sắc, thấm thía, nhiều
dư vị của tác giả
Qua việc thống kê những tài liệu trên chúng tôi nhận thấy phần lớn các
tài liệu mới dừng ở việc định hướng về kiến thức cần đạt khi dạy đọc hiểu truyện ngắn CTNX của NMC ở hai phương diện nội dung tư tưởng và nghệ thuật Một số tài liệu có bàn đến chuẩn về kĩ năng nhưng cũng chỉ dừng lại ở việc nêu kĩ năng một cách chung chung mà chưa có sự gợi ý về phương pháp, cách thức, chưa có những chỉ dẫn cụ thể về các thành tố của kĩ năng đọc hiểu một truyện ngắn hiện đại mà GV cần phát triển cho HS Để PTNLĐHVB cho
HS khi dạy học truyện ngắn này GV cần xác định được những NL cần đạt một cách cụ thể như:
- Phát triển được khả năng nhận biết các thông tin và đặc điểm của văn bản CTNX của NMC và truyện ngắn hiện đại sau 1975 của HS
Trang 3931
- Phát triển được khả năng phân tích, kết nối các thông tin để kiến tạo những ý nghĩa nội dung tư tưởng cũng như đặc điểm nghệ thuật của tác phẩm
đã nêu trong phần 2.1.Tác phẩm của HS
- Phát triển được khả năng phản hồi, đánh giá ý nghĩa văn bản CTNX của
HS như: đóng góp mới của NMC trong cách nhìn nhận về con người và cuộc sống hay tính thời sự của văn bản, khả năng thức tỉnh của những thông điệp
và nhà văn đưa ra đối với con người
- Phát triển được khả năng vận dụng những hiểu biết về văn bản vào thực tiễn như : cách nhìn nhận, đánh giá con người; cách giải quyết những khó khăn trong đời sống của chính mình cho HS
- Phát triển được khả năng huy động những tri thức nền liên quan đến văn bản như hoàn cảnh xã hội Việt Nam những năm 1980; tâm lí, định kiến của con người trong xã hội, quan niệm về cái đẹp trong nghệ thuật và cái đẹp trong cuộc đời
- Phát triển được khả năng sử dụng các biện pháp, chiến thuật đọc hiểu để
1.3.1 Về tài liệu dạy học
1.3.1.1 Bài học 'Chiếc thuyền ngoài xa" trong sách giáo khoa Ngữ Văn 12(chương trình chuẩn)
Cấu trúc bài đọc hiểu văn bản CTNX có sáu phần, được sắp xếp theo trình
tự: Kết quả cần đạt, Tiểu dẫn, VB, Hướng dẫn học bài, Ghi nhớ, Luyện tập
Trang 4032
Bảng 1.2 Cấu trúc bài “Đọc hiểu văn bản CTNX của NMC”, SGK Ngữ
văn 12, tập 2 (chương trình chuẩn)
Cấu trúc bài học Nội dung Thuận lợi - Khó khăn
1 Kết quả cần đạt - Cảm nhận được suy
nghĩ của người nghệ sĩ nhiếp ảnh khi phát hiện
ra sự thật: đằng sau bức ảnh rất đẹp về chiếc thuyền trong sương sớm
mà anh tình cờ chụp được là số phận đau đớn của người phụ nữ
và bao ngang trái trong một gia đình hàng chài
Từ đó thấu hiểu: mỗi người trong cõi đời, nhất là người nghệ sĩ, không thể đơn giản, sơ lược khi nhìn cuộc sống
và con người
- Thấy được nghệ thuật kết cấu độc đáo, cách triển khai cốt truyện, khắc họa nhân vật của một cây bút viết truyện ngắn có bản lĩnh và tài hoa
- Thuận lợi: HS và GV xác định được đích đến cua quá trình đọc hiểu văn bản với những thông tin cơ bản về nội dung và nghệ thuật tác phẩm
- Khó khăn: Chú trọng nhiều đến mục tiêu kiến thức ở một số cấp độ tư duy như nhận biết, thông hiểu, vận dụng
qua những từ "cảm
nhận, thấy được, từ đó thấu hiểu" nhưng chưa
chú trọng đến kĩ năng và phương pháp đọc
2 Tiểu dẫn - Cung cấp những kiến
thức khái quát về tác giả (tiểu sử- sự nghiệp); tác
- Thuận lợi: tạo điều kiện để học sinh phát triển khả năng huy động