1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TÌM HIỂU LỊCH SỬ HÌNH THÀNH CẤU TRÚC NGUYÊN TỬ

21 138 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 1,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỤC LỤC A. MỞ ĐẦU 3 1. Lý do chọn đề tài 3 2. Mục đích và mục tiêu nghiên cứu. 3 3. Đối tượng và khách thể nguyên cứu. 3 4. Phạm vi nghiên cứu. 3 5. Nhiệm vụ nghiên cứu. 3 6. Phương pháp nghiên cứu. 3 B. NỘI DUNG 4 I. Thời cổ Hy Lạp Câu chuyện về những phân tử cực nhỏ, không hủy diệt được và là nền tảng của tất cả vật chất, đã được bắt đầu 25 thế kỷ trước và đã được các nhà triết học Cổ Hy Lạp đề cập tới. Khái niện nguyên tử thực ra đã được nói đến từ thế kỉ thứ V trước công nguyên trong những giả thuyết giải thích về vũ trụ và vật chất. Bắt đầu vào khoảng năm 600 trước Công nguyên (TCN), nhiều nhà triết học Hi Lạp đã nỗ lực tìm hiểu bản chất của vật chất. Một số người cho rằng vạn vật cấu tạo từ nước, chúng có ba dạng (băng ở thể rắn, nước lỏng và hơi nước). Một số người khác thì tin rằng vật chất cấu tạo hoàn toàn từ lửa ở dạng biến đổi không ngừng. Tuy nhiên, những người khác thì tin rằng cho dù vật chất cấu tạo từ cái gì thì nó phải là cái gì đó không thể bị phá hủy mà chỉ kết hợp lại thành những dạng thức mới. 4 1.1. Thuyết nguyên tử luận của Democritus 5 1.2. Thuyết bốn nguyên tố của Aristotle 6 1.3. Thuyết nguyên tố hóa học của Robert Boyle 7 II. Thuyết nguyên tử ở thế kỉ XVIII 7 2.1. Lý thuyết Phlogiston của Georg Ernst Stahl Tư tưởng duy vật của phái Thales về một vật chất ban đầu không làm thỏa mãn được các nhà triết học Hy Lạp cổ đại. Vì vậy họ đã đi tìm những lý thuyết khác để giải thích cấu trúc của vũ trụ và những biến đổi trong tự nhiên. Trong số các nhà triết học và khoa học thời xưa bàn về cấu tạo của vật chất, người phát biểu đúng đắn hơn cả là nhà bác học thời Hy Lạp cổ đại Democritus. Trái với lý thuyết của Anaxagoras kể trên. Lucretius, một môn đệ của Democritus, đã thuật lại rằng Democritus tin tưởng không có một sức mạnh nào trên thế gian có thể phá hủy được nguyên tử. Nếu họ có thể nhìn thấy những cái đủ nhỏ, họ sẽ thấy những “viên gạch cấu trúc” của chúng. Ông tưởng tượng bắt đầu với một mẩu lớn vật chất và dần dần chia cắt nó thành những mẩu mỗi lúc một nhỏ hơn, cuối cùng thì đạt tới mẩu nhỏ nhất. Viên gạch cấu trúc nhỏ nhất không thể chia cắt được nữa này được gọi là atomos, tiếng Hi Lạp có nghĩa “không thể chia cắt”. Từ atomos bước sang thời kì hiện đại đã biến đổi thành atom (nguyên tử). Trong lí thuyết của ông, những vật khác nhau trông khác nhau vì cách các nguyên tử sắp xếp. Nguyên tử của các chất khác nhau có kích thước, hình dạng và sự sắp xếp khác nhau, thí dụ nguyên tử sắt thì cứng chắc và có những móc để móc vào nhau, nguyên tử nước thì mềm và dễ trượt, nguyên tử muối thì nhọn và chọc được vào lữoi. Ta thấy học thuyết này hoàn toàn có tính chất thuần lý, không xây dựng trên các dữ kiện thực nghiệm nên còn mang nặng tính chất phác thô sơ. Tuy vậy, đối với thời đại đó, học thuyết này có thể coi là một phỏng đoán thiên tài về vật chất. 7 2.2. Lý thuyết của Joseph Priestley 8 2.3. Lý thuyết của Henry Cavendish 8 2.4. Lý thuyết của Lavoisier 8 III. Lý thuyết nguyên tử vào thế kỷ XIX 9 3.1. Lý Thuyết Nguyên Tử của John Dalton 9 3.2. Lý Thuyết Nguyên Tử Amedeo Avogadro 11 3.3. Bảng hệ thống tuần hoàn hóa học của Mendeleev 13 3.4. Sự phát hiện ra tia X 14 IV. Lý thuyết nguyên tử vào thế kỷ XX 14 4.1. Mẫu nguyên tử của Thomson 14 4.2. Mẫu nguyên tử của Rutherfor 15 4.3. Thuyết lượng tử Planck 16 4.4. Mẫu nguyên tử bán cổ điển của Bohr 16 4.5. Mẫu nguyên tử của Sommorfold 17 V. Cấu trúc nguyên tử theo cơ học lượng tử 18 KẾT LUẬN 20 TÀI LIỆU THAM KHẢO 21 I. TÀI LIỆU TRONG NƯỚC 21 II. TÀI LIỆU WEBSITE 21

Trang 1

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

KHOA HÓA HỌC

*****

BÀI TẬP LỚN HỌC PHẦN: CƠ HỌC LƯỢNG TỬ

CẤU TRÚC NGUYÊN TỬ

Giảng viên hướng dẫn: Sinh viên thực hiện:

Lớp: Hóa 3B

MSV: 16S2011001

Huế, tháng 05/2019MỤC LỤC

A.MỞ ĐẦU 3 1.Lý do chọn đề tài 3

Trang 2

2.Mục đích và mục tiêu nghiên cứu 3

3.Đối tượng và khách thể nguyên cứu 3

4.Phạm vi nghiên cứu 3

5.Nhiệm vụ nghiên cứu 3

6.Phương pháp nghiên cứu 3

B.NỘI DUNG 4

KẾT LUẬN 20

TÀI LIỆU THAM KHẢO 21

I.TÀI LIỆU TRONG NƯỚC 21

II.TÀI LIỆU WEBSITE 21

Trang 3

A.MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Khái niệm về vật chất là tổ hợp của những đơn vị rời rạc và không thể chianhỏ hơn đã xuất hiện từ nhiều thiên niên kỷ, nhưng những khái niệm này thường lànhững lập luận triết học và trừu tượng hơn là dựa trên những quan sát thực nghiệm.Chúng ta đang ở vào thời đại Nguyên Tử Câu chuyện về những phân tử cực nhỏ,không hủy diệt được và là nền tảng của tất cả vật chất, đã được bắt đầu 25 thế kỷtrước Bản chất của nguyên tử trong triết học thay đổi theo thời gian giữa nhiều nềnvăn minh và trường phái cổ đại, đa số có yếu tố tinh thần siêu hình học Tuy vậy,khái niệm cơ bản về nguyên tử được các nhà khoa học hàng nghìn năm sau chấpnhận bởi vì nó giải thích một cách đơn giản một số khám phá mới trong lĩnh vựcHóa học Để tìm hiểu kĩ hơn về lịch sử hình thành nên cấu trúc nguyên tử qua cácthời kì và hiểu sâu hơn các kiến thức về mẫu nguyên tử cổ điển, lý thuyết cơ họclượng tử, quan điểm hiện đại về cấu trúc nguyên tử… em xin chọn đề tài “TÌMHIỂU LỊCH SỬ HÌNH THÀNH CẤU TRÚC NGUYÊN TỬ”

2 Mục đích và mục tiêu nghiên cứu.

Tìm hiểu tổng quan về sự hình thành các thuyết cấu tạo nguyên tử qua cácthời kì cũng như cấu tạo nguyên tử lúc bấy giờ

3 Đối tượng và khách thể nguyên cứu.

Nguyên tử

4 Phạm vi nghiên cứu.

Tìm hiểu các vấn đề lý thuyết về nguyên tử như lịch sử phát triển, cấu trúcnguyên tử qua các giai đoạn và mô hình cấu trúc nguyên tử hiện đại

5 Nhiệm vụ nghiên cứu.

Lịch sử hình thành các thuyết cấu tạo nguyên tử

Cấu trúc nguyên tử

6 Phương pháp nghiên cứu.

Tìm hiểu các vấn đề lý thuyết thông qua các giáo trình cấu tạo chất và cơhọc lượng tử, báo, Internet và tài liệu liên quan

Trang 4

B.NỘI DUNG

I Thời cổ Hy Lạp

Câu chuyện về những phân tử cực nhỏ, không hủy diệt được và là nền tảng củatất cả vật chất, đã được bắt đầu 25 thế kỷ trước và đã được các nhà triết học Cổ HyLạp đề cập tới Khái niện nguyên tử thực ra đã được nói đến từ thế kỉ thứ V trướccông nguyên trong những giả thuyết giải thích về vũ trụ và vật chất

Bắt đầu vào khoảng năm 600 trước Công nguyên (TCN), nhiều nhà triết học HiLạp đã nỗ lực tìm hiểu bản chất của vật chất Một số người cho rằng vạn vật cấutạo từ nước, chúng có ba dạng (băng ở thể rắn, nước lỏng và hơi nước) Một sốngười khác thì tin rằng vật chất cấu tạo hoàn toàn từ lửa ở dạng biến đổi khôngngừng Tuy nhiên, những người khác thì tin rằng cho dù vật chất cấu tạo từ cái gìthì nó phải là cái gì đó không thể bị phá hủy mà chỉ kết hợp lại thành những dạngthức mới

500 năm TCN, Anaxagoras đã suy nghĩ về vạn vật và đi đến kết luận rằng nếulấy một vật rồi chia làm hai, phân nửa lấy được lại chia làm hai và cứ tiếp tục việcchia đôi đó, người ta sẽ không bao giờ đi tới cùng được, nghĩa là còn có thể tiếptục công việc chia đôi cho tới ngày tận thế Như vậy Anaxagoras đã quan niệm vậtchất được cấu tạo nên không phải do những thành phần rất nhỏ xác định khiến choviệc phân đôi không bao giờ ngừng

Trong thời cổ Hy Lạp, đối lập với những học thuyết duy tâm thần bí, giải thích

vũ trụ bằng những lực lượng siêu tự nhiên, phi vật chất, một số nhà triết học đã cốgắng đi từ cơ sở vật chất để giải thích vũ trụ lấy bản thân giới tự nhiên để giải thích

cơ sở vật chất không phải là một mà là sự tổng hợp của 4 yếu tố đầu tiên khác nhaulà: Đất, nước, lửa và không khí

Cũng trong thời đại này, về phía Á- Đông cũng có những điểm tương tự

Trang 5

Ở Ấn Độ, phái Cha-vơ-rắc cũng chủ trương thuyết bốn yếu tố: Đất, nước, lửa

và không khí

Ở Trung Quốc theo Vương Song thì nguyên thế đầu tiên là những vật chất cựcnhỏ mà ông gọi là “khí” tồn tại trong tự nhiên dưới dạng ngũ hành: Kim, mộc,thủy, hỏa, thổ

Khác với những nhà triết học trên, quan niệm rằng những hiện tượng muôn màumuôn vẻ của tự nhiên đều là sự thay đổi dạng của một hay một số nguyên thể nào

đó, Leucippe (TK V TCN) đã đưa ra thuyết nguyên tử để giải thích vũ trụ Họcthuyết này được Descocrite phát triển thêm và được xây dựng thành một hệ thốngtriết học duy vật nguyên tử luận cổ Hy Lạp

Tư tưởng duy vật của phái Thales về một vật chất ban đầu không làm thỏamãn được các nhà triết học Hy Lạp cổ đại Vì vậy họ đã đi tìm những lý thuyếtkhác để giải thích cấu trúc của vũ trụ và những biến đổi trong tự nhiên Trong sốcác nhà triết học và khoa học thời xưa bàn về cấu tạo của vật chất, người phát biểuđúng đắn hơn cả là nhà bác học thời Hy Lạp cổ đại Democritus Trái với lý thuyếtcủa Anaxagoras kể trên Lucretius, một môn đệ của Democritus, đã thuật lại rằngDemocritus tin tưởng không có một sức mạnh nào trên thế gian có thể phá hủyđược nguyên tử Nếu họ có thể nhìn thấy những cái đủ nhỏ, họ sẽ thấy những

“viên gạch cấu trúc” của chúng Ông tưởng tượng bắt đầu với một mẩu lớn vật

chất và dần dần chia cắt nó thành những mẩu mỗi lúc một nhỏ hơn, cuối cùng thìđạt tới mẩu nhỏ nhất Viên gạch cấu trúc nhỏ nhất không thể chia cắt được nữa này

được gọi là atomos, tiếng Hi Lạp có nghĩa “không thể chia cắt” Từ atomos bước sang thời kì hiện đại đã biến đổi thành atom (nguyên tử) Trong lí thuyết của ông,

những vật khác nhau trông khác nhau vì cách các nguyên tử sắp xếp Nguyên tửcủa các chất khác nhau có kích thước, hình dạng và sự sắp xếp khác nhau, thí dụnguyên tử sắt thì cứng chắc và có những móc để móc vào nhau, nguyên tử nước thìmềm và dễ trượt, nguyên tử muối thì nhọn và chọc được vào lữoi Ta thấy họcthuyết này hoàn toàn có tính chất thuần lý, không xây dựng trên các dữ kiện thựcnghiệm nên còn mang nặng tính chất phác thô sơ Tuy vậy, đối với thời đại đó, họcthuyết này có thể coi là một phỏng đoán thiên tài về vật chất

Nội dung thuyết nguyên tử luận Democritus:

Trang 6

- Không có cái gì phát minh ra từ cái không có gì Không có cái gì đang tồntại lại có thể bị hủy diệt Mọi sự đều do các bộ phận hợp lại với nhau và táchkhỏi nhau.

tất yếu

tưởng tượng ra

không gian vô tận Những hạt to rơi nhanh hơn, va đập vào những hạt nhỏgây ra những chuyển động xiên và xoáy tạo thành các thế giới Có vô số thếgiới luôn luôn sinh ra hoặc mất đi

bằng sức nén và va chạm Các vật khác nhau vì được tạo thành bởi nhữngnguyên tử có số lượng, độ lớn hình dạng và cách sắp xếp khác nhau

những nguyên tử tinh tế, nhẵn nhụi, tròn trịa và linh hoạt nhất Chúngchuyển động xuyên thấu vào cơ thể, tạo ra mọi hiện tượng của sự sống.Trong học thuyết này nguyên lý bảo toàn có vai trò quan trọng, Chân không làmột khái niệm mới, chưa có trong các thuyết trước đó và các nguyên tử tự mìnhchuyển động trong chân không, không cần một thần linh hay trí tuệ nào khác tạo ramọi hiện tượng trong thế giới Tóm lại theo Democritus thì vật chất được cấu tạo từnguyên tử và chân không Như vậy, nguyên tử luận của Democritus nhằm giảiquyết vấn đề vật chất cấu tạo như thế nào của khoa học

Lý thuyết của Democritus lại không được các nhà triết học khác chấp nhận.Aristotle, nhà đại hiền triết mà lý thuyết đã ngự trị trong 2,000 năm trên kiến thứccủa Nhân Loại, đã không chấp nhận nguyên tử Aristotle cho rằng trong vũ trụ chỉ

có 4 thành phần chính là lửa, nước, không khí và đất Bốn nguyên tố mang bốntính chất nguyên thủy là khô, ẩm, nóng, lạnh phân bố như sau:

Trang 7

nặng nề: Sự xác định không có trạng thái nguyên tử nơi vật chất và sự kết hợp 4thành phần với linh khí

Uy tín to lớn của Aristotle đã làm chậm sự phát triển về quan điểm nguyên tửtrong nhiều thế kỷ

1.3 Thuyết nguyên tố hóa học của Robert Boyle

Thế rồi các giáo điều của Aristotle đã ngự trị cho tới thời Phục Hưng Một trongcác nhà trí thức đầu tiên đã phản đối những thành kiến dị đoan cũ là Francis Bacon.Bacon là luật gia kiêm chính trị gia dưới triều đại Nữ Hoàng Elizabeth và VuaJames I, đã tố cáo Aristotle là đã pha thêm màu sắc và làm sai lệch triết học tựnhiên bằng những thành kiến của mình Qua tác phẩm Novum Organum, Bacon đãtán thành ý tưởng của Democritus về tính chất của sự vật Mặc dù Bacon khôngphải là một nhà thực nghiệm, nhưng các nguyên tắc luận lý do ông đặt ra đã ảnhhưởng sâu rộng đến các nhà khoa học sau thời đại của ông

Kế tiếp ý tưởng của Bacon là tư tưởng của Robert Boyle Để xây dựng lý thuyết

về nguyên tố hóa học, Robert Boyle đã đi từ quan niệm về nguyên tử của thuyếtnguyên tử trên Theo Robert Boyle mỗi nguyên tố hóa học bao gồm những hạt có

độ lớn, hình dạng và chuyển động xác định Những hạt này hay những nguyên tửcủa các nguyên tố hóa học có khả năng kết hợp lại thành những tập hợp lớn hơn

mà ông gọi đó là những hạt thứ cấp Boyle đã khám phá ra rằng thể tích của mộtchất khí phụ thuộc vào áp suất của chất khí đó Boyle đã cho rằng chất khí đượccấu tạo do các hạt rất nhỏ nằm giữa các khoảng trống và các hạt này phải ở trongtrạng thái luôn luôn dao động Sự khác biệt về 3 trạng thái vật lý hay 3 thể rắn,lỏng và hơi là do các hạt đó ở trong tình trạng bị giam hãm hay tự do Cùng vớiBoyle đã chấp nhận giả thuyết nguyên tử vào năm 1679, còn có Isaac Newton vànhư vậy vào cuối thế kỷ 17, làm sống lại lý thuyết của Democritus là ba nhà khoahọc người Anh Bacon, Boyle và Newton

Tới đầu thế kỷ XVIII, nhiều nhà khoa học còn “tiếc rẻ” lý thuyết của Aristotle

và do đó, nhiều điều bổ túc đã được phát minh để cứu vãn lý lẽ về các thành phầncủa Aristotle Năm 1729, Georg Ernst Stahl, y sĩ của Vua Phổ và cũng là nhà hóa

học “tài tử”, đã phát minh ra một thứ “vô vật chất” mới gọi tên là “phlogiston” để

cắt nghĩa sự cháy và oxít hóa Stahl đã cho phlogiston các đặc tính sau đây: Khôngmàu, không mùi, không vị và không trọng lượng Theo Stahl, phlogiston là cănnguyên của sự cháy Có thứ vật chất chứa phlogiston, có thứ không Khi một vậtcháy, phlogiston bốc ra từ nơi “có” sang nơi “không có” và vật nào có nhiều

Trang 8

phlogiston sẽ cháy bừng bừng trong không khí, trong khi không khí là nơi không

có chút phlogiston nào.Khi phlogiston thoát ra từ một vật chất, nó để lại “tro” màtheo như Aristotle thời trước, đó là thành phần “đất” Để giải đáp tại sao một thứkim khí khi mất phlogiston, tức là rỉ sét, lại nặng hơn, các người ủng hộ lý thuyếtphlogiston đã trả lời rằng “vì phlogiston có trọng lượng âm và làm vật nhẹ hơn khi

có nó “

Lý thuyết về phlogiston của Stahl đã là giải pháp cuối cùng để cứu vãn tư tưởngchìm dần dần của Aristotle Nếu trước kia giáo điều Aristotle đã làm lý thuyếtnguyên tử bị bỏ quên 2,000 năm thì phlogiston cũng làm sai lệch sự diễn tả về vậtchất của nhiều nhà khoa học

Vào năm 1774, Joseph Priestley, nhà thần học kiêm khoa học người Anh, đãdùng một thấu kính 30 cm để hội tụ ánh sáng Mặt Trời vào một thứ đất đỏ (oxítthủy ngân) và đã thấy rằng nhiệt lượng đã làm bay ra một thứ khí và để lại một kimloại lỏng: Thủy ngân Priestley đã hứng lấy thứ khí này để nghiên cứu đặc tính vàthấy rằng bên trong khí này, một cây nến cháy sáng hơn và mạnh hơn là trongkhông khí Thực ra, thứ khí này là “Oxygen” nhưng Priestley đã bỏ lỡ một cơ hộikhám phá vô cùng quan trọng cũng vì ông tin tưởng vào lý thuyết phlogiston

Priestley cho rằng chất khí bay ra đó (Oxygen) vì thiếu hụt phlogiston, nên nó

đã chiếm lấy một cách mạnh mẽ phlogiston của cây nến, vì vậy ông gọi thứ khí bay

ra đó là “không khí thiếu phlogiston” Priestley quan niệm rằng trong không khícòn một chút phlogiston và chỉ có thứ khí kể trên là hoàn toàn không còn chútphlogiston nào

Lý thuyết phlogiston còn làm sai nhầm một nhà bác học lừng danh khác, làHenry Cavendish Vào năm 1766, Cavendish đã khám phá ra khí “Hydrogen” vàkhi pha trộn khí này với “không khí thiếu phlogiston” của Priestley rồi bật một tialửa điện, Cavendish đã lấy được nước Nhưng Cavendish đã cắt nghĩa hiện tượng

đó sai nhầm hẳn, bằng cách cho rằng Hydrogen là “nước dư phlogiston” trong khiOxygen là “nước thiếu phlogiston”

2.4 Lý thuyết của Lavoisier

Lavoisier đã thực hiện lại thí nghiệm của Priestley bằng cách đun thủy ngântrong một bình kín và đã thấy rằng trọng lượng tăng thêm của thủy ngân bằngtrọng lượng mất đi của không khí và khi đun thêm oxit thủy ngân, ông lại được thứkhí có trọng lượng bằng với trọng lượng không khí đã mất ban đầu Tin tưởng vào

Trang 9

sự cân đúng, Lavoisier thấy rằng vật chất không được tạo ra hay bị hủy diệt mà đãphối hợp với nhau để tạo nên các chất mới

Ông tìm ra hai yếu tố quan trọng:

(1) những chất đơn giản nhất, cái ông gọi là nguyên tố, không thể bị phân táchthành chất khác nữa

(2) những nguyên tố này luôn phản ứng với nhau theo những tỉ lệ giống nhau.Những chất phức tạp hơn mà giống nhau đó ông gọi là hợp chất Thí dụ, hai thểtích hydrogen phản ứng chính xác với một thể tích oxygen để tạo ra nước Nước cóthể bị phân tách luôn cho chính xác hai thể tích hydrogen và một thể tích oxygen.Lavoisier không có sự giải thích nào cho những kết quả nhất quán bất ngờnày.Điều này đã đưa Lavoisier đến sự phân biệt giữa hợp chất và đơn chất, tức làchất không thể làm cho đơn giản hơn

Lý thuyết của Lavoisier vào thời đó cũng chưa được chấp nhận ngay Có nhàkhoa học nói rằng nếu có các đơn chất chưa được phối hợp để tạo ra hợp chất thìlại không có gì chứng tỏ tỉ lệ các đơn chất phối hợp đó luôn luôn không thay đổi

mà trái lại, tỉ lệ đó còn thay đổi với thời gian và không gian Hầu Tước Berthelotcũng có ý tưởng này

Pierre Marcellin Berthelot đã nghiên cứu cùng Lavoisier và đã được Napoléonchọn làm cố vấn về Khoa Học trong chuyến viễn chinh Ai Cập vào năm 1789.Theo Berthelot, các đơn chất phối hợp với nhau theo các tỉ lệ không hạn định và vì

tỉ lệ của Hydrogen và Oxygen để tạo thành nước khác nhau nên nước của dòngsông Nile khác hẳn với nước của dòng sông Seine Ý tưởng này của Berthelot bịJoseph Louis Proust cho là vô nghĩa Proust cho rằng nước có cùng cách cấu tạomặc dù căn nguyên của nó và cuộc tranh luận giữa hai nhà khoa học Pháp đã kéodài trong 6 năm trường, và chỉ chấm dứt khi vô số những phép đo thận trọng củaLavoisier đã cung cấp manh mối cho một nhà hóa học khác tên là John Dalton xuấthiện

3.1 Lý Thuyết Nguyên Tử của John Dalton

Dalton nhận ra rằng nếu như các nguyên tố cấu tạo gồm những nguyên tử, mỗinguyên tố khác nhau có một loại nguyên tử riêng, thì thuyết nguyên tử có thể giảithích các kết quả của Lavoisier Nếu hai nguyên tử hydrogen luôn luôn kết hợp vớimột nguyên tử oxygen, thì tổ hợp nguyên tử thu được, gọi là phân tử, sẽ là nước.Dalton công bố sự giải thích của ông vào năm 1803 Năm này được xem là năm rađời của thuyết nguyên tử hiện đại Các thí nghiệm khoa học sau Dalton đã cố gắng

mô tả đặc trưng xem có bao nhiêu nguyên tố, nguyên tử của mỗi nguyên tố trông

Trang 10

như thế nào, các nguyên tử thuộc cùng một nguyên tố giống nhau như thế nào vàchúng khác nhau như thế nào và, cuối cùng, liệu có cái gì nhỏ hơn nguyên tử nữahay không?

Vào năm 1808, John Dalton cho xuất bản cuốn sách “Lý Thuyết Nguyên Tử”.Dalton đã xác định rằng tất cả vật chất đều do nguyên tử tạo thành và không thểphân chia nguyên tử ra thứ nhỏ hơn được Ngoài ra Dalton còn đọc Định Luật Tỉ

Lệ Không Đổi và Định Luật Bội Số Tỉ Lệ/

Lý thuyết Nguyên Tử của Dalton được thế giới khoa học chấp nhận ngay.Nhưng Dalton đã nhầm lẫn khi nói về “các nguyên tử của hợp chất” mà không đềcập đến phân tử, nên đã tìm ra trọng lượng nguyên tử của Oxygen là 8 và công

lượng nguyên tử của Nitrogen chỉ bằng 1/3 trọng lượng chính thức

Nội dung thuyết nguyên tử của Dalton:

tạo nguyên tử

cấu trúc và tính chất

sinh ra hoặc mất đi

nhau để tạo ra các hợp chất

hợp, phân tách hoặc tái sắp xếp lại

Lý thuyết của Dalton không chỉ giải thích các định luật trên mà còn là cơ sở để xâydựng các lý thuyết khác về nguyên tử sau này

Nội dung chính:

phân chia được gọi là nguyên tử

nguyên tố này sang nguyên tử của nguyên tố khác Khối lượng của cácnguyên tử được so sánh với khối lượng nguyên tử Hydrogen chọn làm khốilượng đơn vị ( đó là khối lượng tương đói mà sau này chúng ta gọi là nguyên

tử lượng)

kết hợp các nguyên tử thuộc những loại khác nhau

Ngày đăng: 15/10/2019, 11:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w