Phong trào Cần vương thực chất đã trở thành một hệ thống các cuộc khởi nghĩa vũ trang trên khắp cả nước, hưởng ứng chiếu Cần Vương của vua Hàm Nghi, kéo dài từ 1885 cho đến 1896.. - Dưới
Trang 1Báo cáo bài tiểu luận
Môn: Đường lối Cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam
Trang 2A. XU HƯỚNG PHONG KIẾN
Phần 1 : PHONG TRÀO CẦN VƯƠNG & PHONG TRÀO BA ĐÌNH
(CHÂU)
I. Phong trào Cần Vương
1. Nguồn gốc và ý nghĩa ra đời chiều Cần Vương
Cần vương mang nghĩa "giúp vua" Trong lịch sử Việt Nam, trước thời nhà Nguyễn từng
có những lực lượng nhân danh giúp nhà vua phát sinh như thời Lê sơ, các cánh quân hưởng ứng lời kêu gọi của vua Lê Chiêu Tông chống lại quyền thần Mạc Đăng Dung Tuy nhiên phong trào này không để lại nhiều dấu ấn và khi nhắc tới Cần Vương thường được hiểu là phong trào chống Pháp xâm lược
Phong trào thu hút được một số các quan lại trong triều đình và văn thân Ngoài ra, phong trào còn thu hút đông đảo các tầng lớp sĩ phu yêu nước thời bấy giờ Phong trào Cần vương thực chất đã trở thành một hệ thống các cuộc khởi nghĩa vũ trang trên khắp cả nước, hưởng ứng chiếu Cần Vương của vua Hàm Nghi, kéo dài từ 1885 cho đến 1896
2. Nguyên Nhân bùng nổ phong trào Cần Vương
- Thực dân Pháp xác lập ách đô hộ trên toàn Việt Nam vào năm 1884
- Dưới sự ủng hộ nhiệt tình của nhân dân, phe chủ chiến đã sẵn sàng hành động
- Cuộc phản công của phái chủ chiến thất bại, khiến vua Hàm Nghi buộc phải chạy đến Quàng Trị sơ tán => chiều Cần Vương lần 1 được ban ra
- Chiếu Cần Vương lần 2 được ban ra tại Ấu Sơn của Hà Tĩnh vào ngày 20/9/1885
=> bùng nổ mạnh mẽ cuộc kháng chiến Cần Vương
3. Tóm lược diễn biến
Nội dung Giai đoạn thứ nhất (1885 - 1888) Giai đoạn thứ hai (1888 - 1896)
Lãnh đạo Vua Hàm Nghi, Tôn Thất Thuyết, văn
thân, sĩ phu yêu nước
Văn thân, sĩ phu yêu nước
Lực lượng Đông đảo nhân dân, có cả dân tộc
thiểu số
Đông đảo nhân dân, có cả dân tộc thiểu số
Trang 3Địa bàn - Rộng lớn, khắp Bắc và Trung Kì.
- Tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa của Mai
Xuân Thưởng ở Bình Định, đề đốc Tạ
Hiện (Thái Bình), Nguyễn Thiện
Thuật (Hưng Yên),…
- Thu hẹp, quy tụ dần thành các trung tâm lớn, chuyển trọng tâm hoạt động lên vùng trung du và miền núi
- Tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa Hùng Lĩnh do Cao Điển và Tống Duy Tân lãnh đạo, khởi nghĩa Hương Khê do Phan Đình Phùng lãnh đạo,…
Kết quả Cuối năm 1888, do sự phản bội của
Trương Quang Ngọc, vua Hàm Nghi
rơi vào tay giặc và chịu án lưu đày
sang An-giê-ri (Bắc Phi)
Năm 1896, phong trào Cần Vương chấm dứt
Đặc điểm - Phong trào diễn ra dưới danh nghĩa
“Cần vương”
- Phát huy cao độ lòng yêu nước, huy
động sự ủng hộ của đông đảo nhân
dân
- Nổ ra lẻ tẻ, rời rạc, chưa tạo thành sự
liên kết giữa các cuộc khởi nghĩa
- Mặc dù nhà vua đã bị bắt, phong trào vẫn diễn ra sôi nổi
- Phát huy cao độ lòng yêu nước, huy động sự ủng hộ của đông đảo nhân dân
- Nổ ra lẻ tẻ, rời rạc, chưa tạo thành
sự liên kết giữa các cuộc khởi nghĩa
4. Các cuộc khởi nghĩa nổ ra trong phong trào Cần Vương
Hưởng ứng chiếu Cần Vương, nhân dân ta ở khắp nơi, dưới sự lãnh đạo của các sĩ phu văn thân yêu nước, đã sôi nổi đứng lên chống Pháp:
o Khởi nghĩa của Nguyễn Văn Giáp ở Sơn Tây và Tây Bắc (1883-1887)
o Nghĩa hội Quảng Nam của Nguyễn Duy Hiệu
o Khởi nghĩa Hương Khê (1885–1896) của Phan Đình Phùng, Cao Thắng ở Hương Khê, Hà Tĩnh
o Khởi nghĩa của Nguyễn Xuân Ôn ở Nghệ An
o Khởi nghĩa Ba Đình (1886–1887) của Đinh Công Tráng, Phạm Bành ở Nga Sơn, Thanh Hóa
o Khởi nghĩa của Mai Xuân Thưởng ở Bình Định
o Khởi nghĩa của Lê Thành Phương ở Phú Yên (1885–1887)
Trang 4o Khởi nghĩa Hùng Lĩnh (1886–1892) của Tống Duy Tân ở Bá Thước và Quảng Xương, Thanh Hóa
o Khởi nghĩa Bãi Sậy (1883–1892) của Nguyễn Thiện Thuật ở Hưng Yên
o Phong trào kháng chiến ở Thái Bình – Nam Định của Tạ Hiện và Phạm Huy Quang
o Khởi nghĩa Hưng Hóa của Nguyễn Quang Bích ở Phú Thọ và Yên Bái
o Khởi nghĩa Thanh Sơn (1885–1892) của Đốc Ngữ (Nguyễn Đức Ngữ) ở Hòa Bình
o Khởi nghĩa của Trịnh Phong ở Khánh Hòa (1885–1886)
o Khởi nghĩa của Lê Trực và Nguyễn Phạm Tuân ở Quảng Bình
o Khởi nghĩa của Hoàng Đình Kinh ở vùng Lạng Sơn, Bắc Giang
o Khởi nghĩa của Lê Trung Đình, Nguyễn Tự Tân ở Quảng Ngãi
o Khởi nghĩa của Trương Đình Hội, Nguyễn Tự Như ở Quảng Trị
o khởi Nghĩa của Cù Hoàng Địch ở Nghệ Tĩnh
5. Nguyên nhân thất bại
+ còn mang tính địa phương, chưa có sự liên kết Các phong trào chưa quy tụ, tập hợp thành một khối thống nhất đủ mạnh để chống Pháp Các lãnh tụ Cần Vương chỉ có uy tín tại nơi họ xuất thân, tinh thần địa phương mạnh mẽ làm họ chống lại mọi sự thống nhất phong trào trên quy mô lớn hơn
+ ko thấy chế độ phong kiến đã lỗi thời
+ hậu cần thiếu thốn, vũ khí thô sơ chủ yếu là gậy gộc, giáo mác, các công cụ làm nông + sự hạn chế về lực lượng chiến thuật và tinh thần chiến đấu
+ thiếu sự tổ chức lãnh đạo thống nhất Khi các lãnh tụ bị bắt hay chết thì quân của họ hoặc giải tán hay đầu hàng
+ chưa thúc đẩy động viên khai thác triệt để sự ủng hộ của nhân dân, sự mâu thuẫn về tôn giáo và sắc tộc Các đạo quân này không được lòng dân quê nhiều lắm bởi để có phương tiện sống và duy trì chiến đấu, họ phải đi cướp phá dân chúng
+ Mâu thuẫn với tôn giáo: sự tàn sát vô cớ những người Công giáo của quân Cần Vương khiến giáo dân phải tự vệ bằng cách thông báo tin tức cho phía Pháp Những thống kê của người Pháp cho biết có hơn 20.000 giáo dân đã bị quân Cần Vương giết hại
+ Mâu thuẫn sắc tộc: Chính sách sa thải các quan chức Việt và cho các dân tộc thiểu số được quyền tự trị rộng rãi cũng làm cho các sắc dân này đứng về phía Pháp Chính người Thượng đã bắt Hàm Nghi, các bộ lạc Thái, Mán, Mèo, Nùng, Thổ đều đã cắt đường liên lạc của quân Cần Vương với Trung Hoa làm cạn nguồn khí giới của họ Quen thuộc rừng núi, họ cũng giúp quân Pháp chiến tranh phản du kích đầy hiệu quả
Trang 5II. Phong trào Ba Đình
1. Nguồn gốc cuộc khởi nghĩa Ba Đình
Khởi nghĩa Ba Đình (1886 – 1887) là một trong những cuộc khởi nghĩa lớn và tiêu biểu nhất trong phong trào Cần Vương chống thực dân Pháp xâm lược cuối thế kỷ XIX Thủ lĩnh Đinh Công Tráng, Phạm Bành đã dương cao ngọn cờ tập hợp hơn 300 nghĩa binh về mảnh đất Ba Đình như kiềng ba chân là Thượng Thọ, Mậu Thịnh, Mỹ Khê (Nga Sơn), đã
mở đầu và là đỉnh cao của phong trào yêu nước chống Pháp của cộng đồng dân tộc Việt Nam…
2. Điểm khác biệt của khởi nghĩa Ba Đình
- Căn cứ Ba Đình là nơi bảo vệ cửa ngõ miền Trung và là bàn đạp tỏa đánh địch ở đồng bằng
- Ba Đình nằm giữa cánh đồng chiêm trũng và hai con sông là Sông Hoạt, Sông Chính Đại biệt lập với khu dân cư lân cận, nhất là vào mùa mưa
Đóng quân ở Ba Đình, nghĩa quân Cần Vương có thể kiểm soát được dòng sông,
dễ dàng kéo lên Bỉm Sơn, Đồng Giao để khống chế Quốc lộ 1 Địa thế Ba Đình rất thuận lợi cho việc xây dựng Pháo đài phòng ngự vững chắc, Phạm Bành, Đinh Công Tráng, Hoàng Bật Đạt được phân công xây dựng và chỉ huy căn cứ Ba Đình
- Lúc đầu nghĩa quân Ba Đình chỉ có khoảng 300 người, nhưng sau đó được bổ sung thêm
- Vũ khí của nghĩa quân là súng hỏa mai, súng trường, cung, nỏ, vài khẩu súng thần công tổ chức cho 10 cơ đội, mỗi cơ đội khoảng 30 người do một hiệp quân chỉ huy
- Lãnh đạo tối cao của căn cứ Ba Đình là Cán lý quân vụ Phạm Bành, còn người trực tiếp chỉ huy là Đinh Công Tráng được coi là linh hồn của khởi nghĩa Ba Đình
3. Tóm lược diễn biến
Năm 1886, nghĩa quân liên tiếp tiến công các phủ, thành, huyện lỵ, chặn đánh các đoàn xe, các toán quân lẻ, gây cho quân Pháp nhiều thiệt hại Ngày 12 tháng 3 năm 1886 lợi dụng phiên chợ đã tấn công Tòa Công sứ Thanh Hóa Và tiếp đó, nghĩa quân đã tấn công nhiều phủ thành, chặn đánh các đoàn xe, gây cho quân Pháp nhiều thiệt hại
Từ 18 tháng 12 năm 1886 đến 20 tháng 1 năm 1887 Đại tá Brissand thống lĩnh
76 sĩ quan và 3.500 quân vây hãm và tiến đánh căn cứ Ba Đình[1] Quân Pháp
đã nã tới 16.000 quả đại bác trong vòng một ngày trời, biến căn cứ Ba Đình thành biển lửa Nghĩa quân Ba Đình đã chiến đấu trong suốt 32 ngày đêm
Trang 6chống lại đối phương đông gấp 12 lần, được trang bị vũ khí tối tân hiện đại Trong trận chiến đấu vô cùng ác liệt này, nghĩa quân đã tỏ ra mưu trí dũng cảm, nhưng vì hỏa lực mạnh của đối phương nên nghĩa quân Ba Đình bị
thương vong nhiều
Để tránh khỏi bị tiêu diệt hoàn toàn, nghĩa quân Ba Đình đã mở một con đường máu vượt qua vòng vây dày đặc của quân Pháp, rút lên căn cứ Mã Cao
Đến sáng ngày 21 tháng 1 năm 1887, quân Pháp mới chiếm được Ba Đình Sau
đó, quân Pháp đã triệt hạ hoàn toàn cả ba làng của căn cứ Ba Đình, tiếp tục cho quân truy kích nghĩa quân ở Mã Cao, rồi triệt hạ luôn đồn này vào 2 tháng 2 năm 1887
Sau đó, một số đông nghĩa rút lên Thung Voi, Thung Khoai, rồi lên miền Tây Thanh Hóa sáp nhập với đội nghĩa quân của Cầm Bá Thước
Kết cục, thủ lĩnh Nguyễn Khế tử trận Phạm Bành, Hà Văn Mao, Lê Toại tự sát Hoàng Bật Đạt sau bị bắt và bị Pháp chém đầu vì tinh thần bất khuất, không hàng giặc Đinh Công Tráng thì chạy về Nghệ An Quân Pháp treo giải cái đầu ông với giá trị tiền thưởng rất cao Tháng 10 năm 1887, vì tham tiền thưởng, viên lý trưởng làng Chính An [1] đã mật báo cho quân Pháp đến bắt và sát hại Đinh Công Tráng
4. Nguyên nhân thất bại :
- Thời gian diễn ra dài xuyên suốt 32 ngày
- Tương quan lực lượng địch nhiều hơn gấp 12 lần
- Vũ khí hiện đại tối tân
=> lực lượng thương vong quá lớn, bèn phải rút lui để bảo toàn lực lượng
Phần 2 : PHONG TRÀO HƯƠNG KHÊ & KHỞI NGHĨA BÃI SẬY (HÀO)
I. Phong trào Hương Khê
a, Tổng quan
- Sau khi vua Hàm Nghi ban chiếu Cần Vương (tháng 7 năm 1885), ở Hà
Tĩnh và Nghệ An đã bùng nổ nhiều phong trào đấu tranh vũ trang
- Trên cơ sở các cuộc khởi nghĩa đó, sau khi được vua Hàm Nghi và đại tướng Tôn Thất Thuyết giao trọng trách tổ chức phong trào kháng Pháp ở Hà Tĩnh (tháng
Trang 710 năm 1885), Phan Đình Phùng đã tiến hành tập hợp, phát triển thành một phong trào có quy mô rộng lớn, dưới sự chỉ đạo thống nhất của ông
- Địa bàn hoạt động của nghĩa quân bao gồm bốn tỉnh: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình; với địa bàn chính là Hương Khê (Hà Tĩnh), tồn tại suốt 10 năm liên tục
- Theo giúp Phan Đình Phùng, có các trí thức như tiến sĩ Phan Trọng Mưu, cử nhân Phan Quảng Cư, Ấm Ninh (Lê Ninh), và rất nhiều chỉ huy xuất thân từ nhân dân lao động nghèo khổ
- Phương thức chiến đấu: lựa chọn lối đánh du kích với lợi thế dựa vào địa hình hiểm trở cùng hệ thống công sự chằng chịt Một số lối đánh như chặn đường tiếp
tế, công đồn, dụ đối phương…
- Phan Đình Phùng chia 4 tỉnh thành hoạt động thành 15 quận thứ, xây dựng chiến tuyến cố định, đại bản doanh được đặt tại ở núi Vụ Quang
b, Diễn biến cuộc khởi nghĩa Hương Khê
Cuộc khởi nghĩa Hương Khê có thể chia thành hai giai đoạn chính:
- Giai đoạn I (1885-1888): Nghĩa quân tập trung chuẩn bị và xây dựng lực lượng
- Giai đoạn II (1889-1896): Thời kì chiến đấu quyết liệt và hết mình của nghĩa quân
c, Nguyên nhân thất bại của khởi nghĩa Hương Khê:
- Mặc dù là tập kết nhiều nghĩa sĩ trên 4 vùng rộng lớn, thế những cuộc khởi nghĩa Hương Khê vẫn chưa liên kết và tập hợp được lực lượng với quy mô lớn trên toàn quốc
- Sự hạn chế vì khẩu hiệu chiến đâu, sự chênh lệch về vũ khí, đạn dược
- Tương quan lực lượng quá chênh lệch giữa ta và địch
d, Ý nghĩa
- Cuộc khởi nghĩa Hương Khê đã để lại nhiều bài học và kinh nghiệm sâu sắc
- Có ý nghĩa lớn lao trong sự nghiệp giải phóng dân tộc
II. Khởi nghĩa Bãi Sậy
a, Tổng quan
- Là một trong các cuộc khởi nghĩa của phong trào Cần Vương cuối thế kỷ XIX của nhân dân Việt Nam chống lại ách đô hộ của thực dân Pháp, diễn ra từ năm 1883 và
Trang 8kéo dài đến năm 1892 mới tan rã Bãi Sậy là một trong những trung tâm chống Pháp lớn nhất vào cuối thế kỷ XIX
- Trong thời kỳ đầu (1883 - 1885), phong trào do Đinh Gia Quế lãnh đạo, các địa bàn hoạt động lúc này còn giới hạn ở vùng Bãi Sậy Từ năm 1885 trở đi, vai trò lãnh đạo thuộc về Nguyễn Thiện Thuật
b,
Các giai đoạn chính
- Giai đoạn từ 1885-1887 xây dựng căn cứ Bãi Sậy, từ đây toả ra khống chế các tuyến giao thông Hà Nội – Hải Phòng, Hà Nội – Nam Định, Hà Nội – Bắc Ninh, sông Thái Bình, sông Hồng, sông Đuống
- Nghĩa quân phiên chế thành những phân đội nhỏ 10-15 người trà trộn vào dân để hoạt động
- Giai đoạn từ năm 1888 bước vào chiến đấu quyết liệt, di chuyển linh hoạt, đánh thắng một số trận lớn ở các tỉnh đồng bằng
c, Tính chất của khởi nghĩa
- Cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy là cuộc khởi nghĩa dưới ngọn cờ phong kiến
- Khởi nghĩa Bãi Sậy áp dụng chiến thuật du kích, dựa vào sự ủng hộ của dân chúng, lúc ẩn lúc hiện, đánh úp đồn trại Pháp trên đường Hà Nội – Hưng Yên – Hải Dương, hay dựa vào địa thế sình lầy, lau sậy um tùm dễ tiến thoái của căn cứ
để chống Pháp…
d, Nguyên nhân thất bại
- Tính chất địa phương: sự thất bại của khởi nghĩa Bãi Sậy có nguyên nhân từ sự kháng cự chỉ có tính chất địa phương Các phong trào chưa quy tụ, tập hợp thành một khối thống nhất đủ mạnh để chống Pháp
- Các lãnh tụ chỉ có uy tín tại nơi họ xuất thân, tinh thần địa phương mạnh mẽ làm
họ chống lại mọi sự thống nhất phong trào trên quy mô lớn hơn Khi các lãnh tụ bị bắt hay chết thì quân của họ hoặc giải tán hay đầu hàng
- Vũ khí thô sơ
- Tồn tại trong thời gian ngắn
- Không diễn ra đồng loạt, Không có đường lối đấu tranh thống nhất
e , Ý nghĩa
- Cuộc khởi nghĩa này đã kế tục truyền thống yêu nước, bất khuất của ông cha, cổ
vũ nhân dân ta tiếp tục đấu tranh
Trang 9- Bên cạnh đó, khởi nghĩa Bãi Sậy cũng đã để lại nhiều lại bài học bổ ích, nhất là phương thức hoạt động và hình thức tác chiến du kích ở một đồng bằng đất hẹp người đông
Phần 3 : KHỞI NGHĨA YÊN THẾ & NGUYÊN NHÂN THẤT BẠI CHUNG
CỦA PHONG KIẾN (DŨNG)
Khởi nghĩa Yên Thế là một cuộc đối đầu vũ trang giữa những người nông dân ly tán tại
vùng Yên Thế Thượng và sau đó là Thái Nguyên, đứng đầu là Hoàng Hoa Thám, với quân Pháp, khi Pháp vừa kết thúc chiến tranh với Trung Quốc và bắt đầu kiểm soát toàn
bộ vùng Bắc kỳ những năm cuối thế kỷ 19 trong lịch sử Việt Nam
1. Nguyên nhân phát sinh:
-Cuộc khởi nghĩa Yên Thế khởi nguồn tại vùng Yên Thế Thượng Trước khi thực dân Pháp đặt chân đến vùng này, nơi đây đã là một vùng đất có một cư dân phức tạp, chủ yếu là nông dân lưu tán các loại Họ chọn nơi đây làm nơi cư trú và đã công khai chống lại triều đình Khi thực dân Pháp đến bình định vùng này, các toán vũ trang ở đây có thể cũng chống lại quân Pháp như đã từng chống lại triều đình nhà
Nguyễn trước đó để bảo vệ miền đất tự do của họ.Và vì Yên Thế là bình địa của Pháp khi chúng mở rộng chiếm đóng Bắc Kì nên họ đã nổi dậy đấu tranh để bảo vệ cuộc sống của mình
2. Nguyên nhân dẫn đến cuộc khởi nghĩa:
• Do nhu cầu tự vệ của nông dân lưu tán cư trú ở đây, nhằm giữ vững vùng đất này như là một vùng đất ngoài pháp luật, không chịu sự kiểm soát của bất kỳ chính quyền nào
Trang 10• Sự yêu nước và chống ngoại bang Pháp của nghĩa quân Yên Thế.
• Yên Thế là vùng đất phía Tây Bắc Giang, diện tích rộng cây cối rậm rạp, cây cỏ
um tùm từ đấy có thể đi thông sang Tam Đảo, Thái Nguyên, Phúc Yên, Vĩnh Yên nên rất thích hợp với lối đánh du kích, dựa vào địa thế hiểm trở và công sự dã chiến, đánh nhanh và rút nhanh lại rất thuận tiện khi bị truy đuổi
3. Diễn biến
Giai đoạn thứ nhất (1884 - 1892)
- Giai đoạn này, các toán nghĩa quân còn hoạt động riêng lẻ, chưa có sự phối hợp và chỉ huy thống nhất
- Để cứu vãn tình thế, Đề Thám đã đứng ra tổ chức lại phong trào và trở thành thủ lĩnh tối cao của nghĩa quân Yên Thế Tuy gặp khó khăn, nhưng thế mạnh của quân Yên Thế là thông thuộc địa hình và cơ động, giúp họ thoát được vòng vây của quân Pháp
Giai đoạn thứ hai (1893-1897)
- Trong giai đoạn này, nghĩa quân đã hai lần đình chiến với Pháp, lần thứ nhất vào tháng 10-1894, lần thứ hai vào tháng 12-1897 Sau khi Đề Nắm hi sinh, Đề Thám đảm nhận vai trò lãnh đạo phong trào Yên Thế Ông đã khôi phục những toán quân còn sót lại ở Yên Thế và các vùng xung quanh, rồi tiếp tục hoạt động So với giai đoạn trước,
số lượng nghĩa quân tuy có giảm, nhưng địa bàn hoạt động lại mở rộng hơn
Giai đoạn thứ ba (1898 - 1908)
-Trong suốt 11 năm đình chiến, nghĩa quân Yên Thế vẫn giữ vững tinh thần chiến đấu Tại căn cứ Phồn Xương, nghĩa quân vừa sản xuất tự túc lương ăn, vừa tăng cường sắm sửa vũ khí, ra sức luyện tập Nhờ vậy, lực lượng nghĩa quân ở Phồn Xương tuy không đông (khoảng 200 người), nhưng rất thiện chiến Đồng thời, Đề Thám còn mở rộng quan hệ giao tiếp với các nhà yêu nước ở Bắc và Trung Kì,