Phương pháp nghiên cứu Trên cơ sở nghiên cứu tổng quan pháp luật và thực tiễn quốc tế về biên giới quốc gia qua các tài liệu, công trình đã xuất bản; thực tiễn về đường biên giới Việt N
Trang 1MỤC LỤC
TRANG PHỤ BèA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC HèNH VẼ
MỞ ĐẦU
…
…
1
2
5
9
Chương 1: BIấN GIỚI QUỐC GIA TRONG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN QUỐC TẾ …12
1.1- Biờn giới quốc gia và việc xỏc lập đường biờn giới trờn đất liền … 12
1.1.1- Biờn giới quốc gia … 12
1.1.1.1- Khỏi niệm … 12
1.1.1.2- Chức năng của biờn giới quốc gia … 16
1.1.1.3- Cỏc bộ phận cấu thành đường biờn giới quốc gia … 18
1.1.2- Phỏp luật quốc tế về biờn giới quốc gia .20
1.1.2.1- Những nguyờn tắc cơ bản của phỏp luật quốc tế về biờn giới quốc gia ….21
1.1.2.2- Quỏ trỡnh xỏc lập đường biờn giới quốc gia ….24
1.2- Biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc và Việt Nam - Căm-pu-chia
26
1.2.1- Đường biờn giới trờn đất liền Việt Nam - Trung Quốc ….26
1.2.1.1- Túm tắt lịch sử hỡnh thành đường biờn giới ….27
1.2.1.2- Đàm phỏn giải quyết đường biờn giới trờn đất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc .30
1.2.2- Đường biờn giới trờn đất liền Việt Nam - Căm-pu-chia .32
Trang 21.2.2.1- Tóm tắt lịch sử hình thành đường biên giới ….33
1.2.2.2- Tiến trình đàm phán giải quyết đường biên giới trên đất liền Việt Nam - Căm-pu-chia
35
Chương 2: - ĐƯỜNG BIÊN GIỚI VIỆT NAM - LÀO 41
2.1- Những vấn đề lịch sử … 41
2.1.1- Sự chuyển dịch lãnh thổ ở Đông Dương liên quan đến Việt Nam và Lào từ thế kỷ XI đến thế kỷ XIX………… 41
2.1.2- Biên giới Việt Nam - Lào trong thời kỳ phong kiến … 46
2.1.3- Biên giới Việt Nam - Lào trong thời kỳ Đông Dương thuộc Pháp (1887 - 1945) … 49
2.1.4- Quan hệ về biên giới Việt Nam - Lào trước khi hai bên bước vào đàm phán ….52
2.1.4.1- Giai đoạn từ năm 1945 đến 1954 ….52
2.1.4.2- Giai đoạn từ sau năm 1954 đến 1974
….55 2.2- Những vấn đề pháp lý … ….80
2.2.1- Đàm phán ký kết các Hiệp ước, Hiệp định về biên giới giữa Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hoà Dân chủ nhân dân Lào
….80 2.2.1.1- Đàm phán ký kết Hiệp ước hoạch định biên giới … 80
2.2.1.2- Đàm phán về phân giới, cắm mốc trên thực địa và ký kết Nghị định thư phân giới cắm mốc đường biên giới quốc gia Việt Nam - Lào ….88
2.2.1.3- Đàm phán ký kết Hiệp định về quy chế biên giới quốc gia Việt Nam - Lào ….91
2.2.2- Những vấn đề cần tiếp tục giải quyết … 98
2.2.2.1- Hoàn thiện chất lượng đường biên giới ….98
2.2.2.2- Vấn đề di cư tự do trên tuyến biên giới Việt Nam - Lào
….101 Chương 3 BÀI HỌC KINH NGHIỆM VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ VỀ CÔNG TÁC BIÊN GIỚI VIỆT NAM - LÀO 10
Trang 33 3.1- Bài học kinh nghiệm về đàm phán giải quyết đường biên
giới Việt Nam - Lào ….103
3.1.1- Bài học về sự lựa chọn nguyên tắc giải quyết vấn đề biên giới ….103
3.1.2- Bài học về xác định đàm phán giải quyết biên giới là một vấn đề vừa chính trị vừa pháp lý ….104
3.1.3- Bài học về sự chủ động, sáng tạo trong áp dụng nguyên tắc pháp luật quốc tế và xử lý các vấn đề liên quan trong đàm phán giải quyết vấn đề biên giới Việt Nam - Lào ….107 3.1.3.1- Vận dụng nguyên tắc kế thừa quốc gia về biên giới lãnh thổ ……… ….108
3.3.3.2- Vận dụng nguyên tắc công bằng ….109
3.2- Một số kiến nghị ….114
3.2.1- Đảng, Nhà nước cần chú trọng thường xuyên tăng cường công tác quản lý nhà nước về biên giới lãnh thổ
….114 3.2.2- Phương hướng nghiên cứu trong thời gian tới ….116
KẾT LUẬN …… …118
TÀI LIỆU THAM KHẢO ……… ….122
PHỤ LỤC ….126
Trang 4BẢN ĐỒ HÀNH CHÍNH VIỆT NAM (Ban Biên giới Bộ ngoại giao, Bản chắp bộ bản đồ đường Biên giới Quốc gia)
Trang 5BIÊN GIỚI BỘ VIỆT NAM - CAM PUCHIA
Trang 6ĐƯỜNG BIÊN GIỚI VIỆT NAM - LÀO
Trang 7ĐƯỜNG BIÊN GIỚI VIỆT - TRUNG
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Biên giới lãnh thổ là vấn đề hệ trọng và hết sức thiêng liêng nên việc bảo
vệ sự toàn vẹn lãnh thổ luôn luôn là mối quan tâm hàng đầu của mỗi quốc gia, dân tộc Thực tiễn giải quyết vấn đề biên giới giữa hai quốc gia dù có quan hệ hữu nghị hay đối địch, bao giờ cũng tồn tại những vấn đề phức tạp do tác động của hàng loạt nhân tố như chính trị, kinh tế, quân sự, lịch sử, dân tộc, địa lý, văn hoá Nếu giải quyết đúng sẽ góp phần bảo vệ và ổn định an ninh chung trong khu vực và thế giới Ngược lại, việc giải quyết không tốt sẽ dẫn đến những tranh chấp thậm chí gây ra xung đột đẫm máu làm tổn hại sinh mạng và thành quả lao động của nhân dân các nước có liên quan, đe doạ hoà bình và sự ổn định chung Thực tiễn quốc tế đã có nhiều sự kiện chứng minh cho vấn đề này
Việt Nam có chung đường biên giới trên đất liền với ba nước là Trung Quốc, Lào và Căm-pu-chia với tổng cộng chiều dài khoảng 4.610 km (trong
đó với Trung Quốc là 1.406 km, với Lào là 2.067 km, với Căm-pu-chia là 1.137 km) [26] Là quốc gia có lịch sử hình thành và phát triển lâu đời, đường biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và các nước láng giềng cũng trải qua nhiều biến cố thăng trầm Quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước của ông cha ta gắn liền với cuộc đấu tranh giữ gìn biên cương của tổ quốc qua nhiều thế hệ Từ năm 1975, sau khi đất nước được thống nhất, nước ta đã cùng các nước láng giềng đàm phán nhằm xác định rõ ràng đường biên giới với tư cách
là một quốc gia độc lập có chủ quyền, tạo điều kiện duy trì và phát triển mối quan hệ hữu nghị với các nước tiếp giáp, góp phần duy trì môi trường khu vực hoà bình, ổn định để xây dựng đất nước Tuy nhiên, biên giới đất liền giữa Việt Nam và các nước láng giềng do lịch sử để lại rất phức tạp Đến nay, nước ta mới chỉ giải quyết xong cơ bản đường biên giới với Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào, nghĩa là đường biên giới giữa hai nước đã được hoạch định, phân giới trên thực địa và được đánh dấu bằng hệ thống mốc giới khá vững
Trang 9chắc Còn trên tuyến biên giới đất liền Việt Nam - Trung Quốc và Việt Nam - Căm-pu-chia, Việt Nam đang cùng hai nước này triển khai công tác phân giới
và cắm mốc trên thực địa
Trên thế giới đã có các cuộc hội thảo quốc tế và nhiều công trình của tập thể hoặc cá nhân các học giả nghiên cứu về vấn đề biên giới Việt Nam - Lào, dưới nhiều góc độ khác nhau Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu trực tiếp và đầy đủ về lịch sử và pháp lý của đường biên giới Việt Nam - Lào, nhất là tình hình biên giới hai nước giai đoạn từ năm 1975 đến nay
Ở nước ta, tình hình cũng diễn ra như vậy Trước năm 1975, hầu như ở
cả hai miền Nam, Bắc Việt Nam chưa có một công trình nghiên cứu nào về vấn đề này Từ sau năm 1975 đến nay, các nhà khoa học Việt Nam đã bắt đầu
có các công trình nghiên cứu liên quan đến biên giới Việt Nam - Lào dưới dạng các tài liệu giảng dạy, các bài nghiên cứu đăng trên một số tạp chí hoặc các tác phẩm in thành sách Tuy nhiên, các tài liệu này chỉ dừng lại ở mức độ chuyển tải một số nội dung về xã hội - nhân văn, chưa đi sâu vào vấn đề lịch
sử và pháp lý của đường biên giới Việt Nam - Lào
Từ tình hình trên, việc thực hiện đề tài “Một số vấn đề lịch sử và pháp lý của đường biên giới Việt Nam - Lào” là cần thiết, có ý nghĩa cả về mặt lý
luận lẫn thực tiễn
2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài
2.1 Nghiên cứu lịch sử hình thành đường biên giới Việt Nam - Lào 2.2 Tổng hợp, hệ thống các sự kiện quan hệ về biên giới và tiến trình đàm phán giải quyết đường biên giới Việt Nam - Lào
2.3 Rút ra bài học kinh nghiệm cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn trong đàm phán giải quyết biên giới Việt Nam - Lào, kiến nghị các biện pháp nhằm tăng cường quản lý, bảo vệ và duy trì đường biên giới hoà bình, hữu nghị, ổn định lâu dài giữa hai nước
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trang 10Đối tượng nghiên cứu là những vấn đề liên quan đến biên giới quốc gia trong pháp luật và thực tiễn quốc tế
Phạm vi nghiên cứu chủ yếu tập trung vào các nguyên tắc pháp luật quốc
tế, thực tiễn quốc tế và kết quả đàm phán giải quyết đường biên giới Việt Nam - Lào
4 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu tổng quan pháp luật và thực tiễn quốc tế về biên giới quốc gia qua các tài liệu, công trình đã xuất bản; thực tiễn về đường biên giới Việt Nam - Căm-pu-chia và đường biên giới Việt Nam - Trung Quốc; cũng như thực trạng tình hình biên giới Việt Nam - Lào, sẽ làm sáng tỏ các khía cạnh lịch sử và pháp lý của đường biên giới Việt Nam - Lào, rút ra bài học kinh nghiệm thực tiễn và kiến nghị tăng cường củng cố quan hệ về biên giới giữa Việt Nam và Lào nhằm duy trì đường biên giới hoà bình, hữu nghị,
ổn định lâu dài và hợp tác phát triển giữa hai nước
5 Đóng góp mới của luận văn
Trên cơ sở phân tích những vấn đề về lý luận và thực tiễn, đề tài tập trung làm nổi bật các nội dung lịch sử và pháp lý của đường biên giới Việt Nam - Lào; đồng thời tổng kết toàn diện kết quả giải quyết đường biên giới giữa hai nước Những kết quả đạt được của đề tài có thể được sử dụng vào công tác nghiên cứu, giảng dạy về pháp luật quốc tế trong nhà trường, góp phần củng cố và hoàn thiện pháp luật về quản lý Nhà nước đối với biên giới, lãnh thổ
6 Kết cấu của luận văn
Nội dung chính của luận văn kết cấu thành 3 chương:
Chương 1 Biên giới quốc gia trong pháp luật và thực tiễn quốc tế
Chương 2 Đường Biên giới Việt Nam - Lào
Chương 3 Bài học kinh nghiệm và một số kiến nghị về công tác biên giới Việt Nam - Lào
*
Trang 11* *
Trang 12Chương 1 BIÊN GIỚI QUỐC GIA TRONG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN QUỐC TẾ
Vấn đề biên giới quốc gia đã được đề cập khá rộng rãi trong nhiều công trình nghiên cứu và bài viết của các học giả trong và ngoài nước Do vậy, trong chương 1 chỉ nhắc lại một số nội dung cơ bản của pháp luật và thực tiễn quốc tế về biên giới quốc gia Đồng thời đề cập một cách tổng quát về đường biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc và Việt Nam - Căm-pu-chia Toàn bộ nội dung của chương 1 sẽ là cơ sở lý luận và thực tiễn định hướng cho việc nghiên cứu về đường biên giới Việt Nam - Lào
1.1- Biên giới quốc gia và việc xác lập đường biên giới trên đất liền 1.1.1- Biên giới quốc gia [8, 10, 20, 24]
1.1.1.1- Khái niệm
Lãnh thổ và biên giới quốc gia là những phạm trù lịch sử, là hệ quả tất yếu của xã hội loài người khi xuất hiện nhà nước và pháp luật Cùng với sự phát triển của lịch sử, khái niệm về lãnh thổ và biên giới quốc gia cũng có một quá trình phát triển lâu dài và ngày càng hoàn thiện
Theo khái niệm thông thường, lãnh thổ là một phần trái đất bao gồm đất liền, hải đảo, vùng nước nội địa, vùng nội thuỷ, lãnh hải và vùng trời bên trên chúng cũng như lòng đất dưới chúng thuộc chủ quyền của một quốc gia nhất định Ngoài ra, quốc gia (nhất là quốc gia ven biển) còn có các lãnh thổ đặc biệt với quy chế pháp lý khác biệt về cơ bản so với các vùng lãnh thổ thông thường Các “lãnh thổ đặc biệt” có thể kể đến là: vùng tiếp giáp lãnh hải; vùng đặc quyền về kinh tế; thềm lục địa; sông, kênh đào quốc tế; nơi ở và làm việc của phái đoàn ngoại giao; phương tiện giao thông, phương tiện bay, dây cáp, ống dẫn ngầm nằm trên lãnh thổ một nước khác hay nằm ngoài lãnh thổ của bất cứ quốc gia nào; lãnh thổ cho mượn hay nhượng lại có thời hạn
Trong tiếng Việt, lãnh thổ là một danh từ, có nghĩa “đất đai thuộc chủ quyền của một nước” [19] Với vị trí địa lý của mình, Việt Nam có lãnh thổ
Trang 13bao gồm “đất liền, các hải đảo, vùng biển và vùng trời” kể cả lòng đất của đất liền, của các hải đảo, đáy và lòng đất dưới đáy vùng biển như quy định trong Điều 1 Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992
Quốc gia có lãnh thổ tức là có biên giới quốc gia Biên giới quốc gia, theo tiếng Việt có ý nghĩa số ít, ám chỉ là một “đường” hay “tuyến” và được dùng để nói đến đường biên giới chính thức giữa các quốc gia (tức là biên giới quốc tế) Theo tiếng Pháp, “Les Frontiès” cũng có tính chất quốc tế, luôn
ở số nhiều, ám chỉ một không gian hay một khu vực biên giới; theo tiếng Anh,
“The Boundaries” cũng có tính chất quốc tế, luôn ở số nhiều nhưng lại ám chỉ dạng tuyến
Về mặt địa lý, biên giới của một quốc gia là đường và mặt phẳng thẳng đứng đi qua đường xác định phạm vi lãnh thổ của quốc gia đó
Trên phương diện pháp luật, biên giới quốc gia là “hàng rào pháp lý” xác định giới hạn vùng đất, vùng nước, vùng biển, vùng trời và lòng đất thuộc chủ quyền quốc gia Biên giới quốc gia là nơi phân chia chủ quyền lãnh thổ của một quốc gia với quốc gia khác và/hoặc với các vùng biển thuộc quyền chủ quyền và quyền tài phán của quốc gia đó Nói một cách khác, biên giới quốc gia chính là giới hạn ngăn cách lãnh thổ của quốc gia này với quốc gia khác
và ngăn cách lãnh hải với vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa
Biên giới trước hết gắn với lãnh thổ vì nó đánh dấu giới hạn của lãnh thổ Những cộng đồng người du mục trước đây không biết khái niệm biên giới, nhưng đến thời đại văn minh, mỗi bộ lạc có khu vực săn bắn, hái lượm của mình và giữa hai bộ lạc bao giờ cũng có khoảng rừng hay khu vực ngăn cách, không bộ lạc nào được đến săn bắn hay hái lượm (Ăng-ghen gọi là Schutzwal’d) Đó là hình ảnh đầu tiên về biên giới - vùng
Thời Hy Lạp - La Mã, khái niệm biên giới còn chưa rõ Người La Mã thiết lập bức tường gọi là LIMES, song đây không hẳn là biên giới vì chỉ có mục đích nhằm đánh dấu bước tiến tạm thời của các đạo binh trên bước
Trang 14đường tiến quân Trên thực tế, bức tường đó biến chuyển theo đoàn quân chinh phục các vùng đất và đánh dấu sự cách biệt giữa đế quốc và thế giới man rợ Vua Tần Thuỷ Hoàng cho xây dựng bức Vạn lý Trường thành dài 6.000 Km để ngăn cách lãnh thổ nước Tần với thế giới Hung Nô cũng là một kiểu biên giới nhưng với ý đồ chiến lược chủ yếu là nhằm ngăn cách Hung Nô tiến vào lãnh thổ nước Tần
Đến thời Trung đại, các đế quốc lớn lần lượt tan vỡ thành vô số những nước nhỏ, khi đó khái niệm về biên giới - vùng của các đế quốc không còn thích hợp với các cộng đồng mới xuất hiện với những quốc gia chồng chéo lên nhau, không những có vấn đề chủ quyền mà còn có vấn đề tôn chủ và chư hầu, thậm chí trên một lãnh thổ có hai, ba chính quyền chính trị
Từ thời Trung đại về sau, các quốc gia hiện đại xuất hiện, biên giới đánh dấu sự kết thúc chủ quyền lãnh thổ của quốc gia, ngăn cách chủ quyền của các nước láng giềng Lúc đầu là biên giới - vùng, sau tiến lên biên giới - tuyến
Sau cuộc chiến tranh ba mươi năm, các nước Đức, Pháp và Thuỵ Điển
ký Hiệp ước Wesphalie năm 1648 lần đầu tiên quy định các quốc gia hiện đại quan hệ với nhau bằng luật pháp Vấn đề biên giới ngày càng gắn với vấn đề lãnh thổ, yêu cầu ổn định biên giới càng cần thiết để phân rõ chủ quyền lãnh thổ của các bên, do đó biên giới dần dần trở thành biên giới - tuyến
Trước khi xuất hiện biên giới - tuyến, việc miêu tả biên giới chỉ dựa vào các văn bản, vào nhà địa lý thời cổ Nhưng về sau thiên văn và toán học được phục hưng, việc miêu tả biên giới dựa vào quan sát trên thực địa, do đó các nhà địa lý phải tìm những giới hạn các địa phương: các nhà toán học tính toán, các kỹ sư vẽ lên bản đồ; nước Đức là nước đầu tiên trên thế giới đã xuất bản một bản đồ địa hình tỷ lệ lớn; năm 1681, Viện Hàn lâm khoa học Pháp công bố bản Tổng đồ của nước Pháp tỷ lệ 1/86.400
Tuy khái niệm biên giới - tuyến ngày càng được chấp nhận, nhiều giới của nước Pháp có quan điểm vẫn muốn nước Pháp có “biên giới tự nhiên”,
Trang 15nghĩa là nước Pháp lấy dãy núi Py-rê-nê, dãy núi An-pơ, sông Ranh làm ranh giới của mình Bản thân nhà vua Pháp cũng không muốn biên giới của mình
có mốc quốc giới Tuy vậy, các nhà chính trị của nước Pháp không tán thành thuyết “biên giới tự nhiên” Thuyết “biên giới - tuyến” ngày càng được chấp nhận phổ biến và chủ quyền lãnh thổ quốc gia đều căn cứ vào biên giới - tuyến
Do thực tế và ý muốn của các quốc gia, biên giới không chỉ giới hạn trên mặt đất mà còn có khuynh hướng mở rộng theo hai hướng: Biển và Trời Trước khi có khái niệm biên giới biển, để tranh giành vùng biển, các quốc gia nêu các thuyết vùng biển kế cận, vùng biển liền kề, vùng biển tiếp giáp Nhưng con người ngày càng mở rộng khai thác biển, người ta còn tranh cãi về biển mở (tự do đi lại) hay biển kín Trước đây, nhiều nước không quy định vùng biển của mình Do sớm phát triển ngành hàng hải, các nước phương Tây đã sớm quy định lãnh hải của nước mình là 3 hải lý căn cứ vào tầm xa của đại bác thời bấy giờ là 5 Km Về sau các nước quy định lãnh hải rộng 12 hải lý tuy con số đó không do một yêu cầu quân sự, khoa học hay ngư nghiệp gì cả, vì thế trong một thời gian khá dài, nước thì quy định lãnh hải 3 hải lý, nước thì quy định lãnh hải 12 hải lý, có nước quy định lãnh hải rộng tới 200 hải lý Mãi đến năm 1982, Hội nghị của Liên hiệp quốc về Luật biển mới quy định thống nhất lãnh hải rộng 12 hải lý, tiếp theo lãnh hải 12 hải lý là một vùng 200 hải lý tính từ đường cơ sở gọi là vùng đặc quyền về kinh tế với các quyền riêng biệt về kinh tế
Từ đầu thế kỷ XX, ngành hàng không ngày càng phát triển mạnh mẽ Theo pháp luật quốc tế, quốc gia có chủ quyền hoàn toàn và riêng biệt trên lãnh thổ của mình Nếu theo chiều nằm ngang, giới hạn của chủ quyền là biên giới lãnh thổ và việc quy định chủ quyền không có khó khăn vì biên giới nằm trên mặt đất Nhưng theo chiều thẳng đứng thì không rõ quy định biên giới trên không lên đến đâu là cùng Người ta thường phân biệt vùng trời theo
Trang 16nghĩa thông thường ta hiểu là không gian ngoài khí quyển Có người đã đề xuất lãnh thổ vùng trời cao 100 km nhưng chưa được chấp nhận
Công ước Chi-ca-gô 1944 quy định về mặt pháp lý mỗi quốc gia có chủ quyền hoàn toàn và riêng biệt đối với không gian khí quyển ở bên trên lãnh thổ mình, các máy bay được hưởng quyền tự do cơ bản là quyền bay qua không gây hại vùng trời của nước khác nhưng phải theo các quy định của công ước, quyền xuống sân bay để tiếp tế hay sửa chữa Công ước này đã thành lập ra Tổ chức Hàng không dân dụng quốc tế (OACJ) được coi là một
tổ chức chuyên môn của Liên hợp quốc có nhiệm vụ thống nhất các quy định
về hàng không dân dụng
Quy chế về không gian ngoài khí quyển lại hoàn toàn khác Hiệp ước ngày 27-01-1967 quy định các nước được tự do sử dụng không gian ngoài khí quyển Nhưng vấn đề vệ tinh thông tin trên quỹ đạo vệ tinh địa tĩnh (cách trái đất 36.000 km) chỉ có lợi cho các nước phát triển có khả năng kỹ thuật và tài chính Vấn đề mới đặt ra là phải tôn trọng các quyền của các nước vùng xích đạo và cũng là những nước đang phát triển Để giải quyết vấn đề, một hội nghị quốc tế được triệu tập năm 1985 và năm 1988 để quyết định những nguyên tắc phân chia và quy hoạch quỹ đạo địa tĩnh Nước Việt Nam ở gần xích đạo, lại có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nên đã tham dự vào việc chia quỹ đạo vệ tinh địa tĩnh
Tóm lại, khái niệm biên giới nảy sinh để đánh dấu phạm vi chủ quyền lãnh thổ, nhưng về sau khái niệm đó được đa dạng hoá theo nhu cầu chính trị, kinh tế, tôn giáo thành những nhóm như biên giới văn hoá, biên giới tôn giáo, biên giới dân tộc, biên giới kinh tế Tuy nhiên, gắn với quá trình phát triển của xã hội loài người, chúng ta thấy rằng lịch sử khái niệm biên giới bắt đầu
từ “biên giới vùng - miền” đến “biên giới đường - tuyến”
Điều 1 của Luật Biên giới quốc gia nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có hiệu lực thi hành từ ngày 01-01- 2004, quy định: “Biên giới quốc gia của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là đường và mặt thẳng đứng
Trang 17theo đường đó để xác định giới hạn lãnh thổ đất liền, các đảo, các quần đảo trong đó có quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, vùng biển, lòng đất, vùng trời của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”
1.1.1.2- Chức năng của biên giới quốc gia [10, 11]
Phân tích các chức năng của đường biên giới là vấn đề khó và trừu tượng Quốc gia nào cũng đều phải có các đường biên giới nhằm thể hiện chủ quyền và bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia Do mỗi loại đường biên giới đảm nhiệm một chức năng riêng biệt, nên có thể sơ bộ phân biệt các chức năng của biên giới quốc gia thành hai chức năng chính: chức năng phân chia phạm vi lãnh thổ (không gian đất liền và không gian biển) thuộc chủ quyền của các quốc gia hay còn gọi là chức năng phân cách (ngăn cách) phạm vi chủ quyền; và chức năng hợp tác Hai chức năng này của biên giới luôn song song tồn tại và không mâu thuẫn nhau
- Chức năng phân chia (phân cách) phạm vi lãnh thổ thuộc chủ quyền
quốc gia: Cùng với ý nghĩa phân chia phạm vi lãnh thổ, đường biên giới cũng
đồng thời có chức năng phân cách phạm vi thực thi chủ quyền giữa các quốc gia Chỉ khi xác định được một đường biên giới rõ ràng, quốc gia mới có thể thực hiện được toàn vẹn và đầy đủ thẩm quyền quản lý nhà nước (gồm các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp) trên toàn bộ các vùng lãnh thổ thuộc chủ quyền quốc gia Có thể nói, biên giới được coi là “phên dậu”, là “hàng rào” ngăn cách của mỗi quốc gia Phên dậu, hàng rào có vững chắc thì chủ quyền lãnh thổ, an ninh đất nước mới ổn định và bền vững Biên giới còn là mục tiêu, xuất phát điểm của các cuộc chiến tranh, là bàn đạp để kẻ địch tiến sâu vào xâm chiếm đất đai lãnh thổ bên trong, đồng thời cũng là cầu nối tiền tiêu để các thế lực thù địch ở bên ngoài lợi dụng phá hoại an ninh quốc gia và quấy phá sự ổn định trong nước
- Chức năng hợp tác: Biên giới là “con đường” giao lưu kinh tế trực tiếp
ở vùng biên giới nói riêng và của từng quốc gia nói chung Đặc điểm các khu vực biên giới thường là những vùng sâu, vùng xa, sự phát triển kinh tế - xã
Trang 18hội còn gặp nhiều khó khăn, do đó thông qua việc giao lưu hợp tác qua biên giới sẽ hỗ trợ cho việc phát triển vùng biên giới Biên giới còn là nơi diễn ra
sự giao lưu các mối quan hệ xã hội đa dạng và phức tạp nhưng thường xuyên, phong phú và đan xen nhiều chiều giữa các quốc gia như giao lưu về văn hoá, khoa học, kỹ thuật, bảo vệ môi trường, đặc biệt là sự tiếp thu những văn minh, tiến bộ của các quốc gia là biểu hiện tích cực trong quan hệ xã hội và hợp tác giữa các quốc gia Biên giới cũng còn là cửa ngõ để mở rộng quan hệ giao lưu quốc tế, là bộ mặt của mỗi quốc gia để quan hệ với các nước láng giềng, khu vực và thế giới, là nơi diễn ra các quan hệ giữa các cơ quan, lực lượng đại diện của hai quốc gia, thực hiện các điều ước quốc tế giữa các quốc gia với nhau Chính vì thế, chức năng hợp tác của biên giới trong thời đại ngày nay đang ngày càng được phát huy cao độ trong đời sống quốc tế
1.1.1.3- Các bộ phận cấu thành đường biên giới quốc gia
Trong lịch sử phát triển khái niệm biên giới quốc gia, có rất nhiều loại đường biên giới như: biên giới tự nhiên và biên giới nhân tạo; biên giới chính thức và biên giới không chính thức; biên giới chính trị và biên giới hành chính Ngày nay, đường biên giới giữa các quốc gia không chỉ thuần tuý là ranh giới trên đất liền, mà còn bao gồm cả trên biển, trên không và dưới lòng đất Theo đó:
- Đường biên giới trên đất liền là đường phân chia lãnh thổ giữa các
quốc gia có chung biên giới, chạy trên phần đất liền, đảo, trên sông, hồ, kênh đào và biển nội địa, là kết quả của việc ký kết các điều ước quốc tế về biên giới giữa các quốc gia có chung biên giới hoặc là các quyết định của cơ quan tài phán quốc tế khi các quốc gia hữu quan đồng ý đưa ra quốc tế phân xử Trên thực tế, có một số trường hợp biên giới được ấn định do điều ước tô nhượng lãnh thổ giữa các quốc gia (như trường hợp Hồng Công, Ma Cao hoặc Nam Kỳ trước đây)
Trang 19Điều 5 khoản 2 của Luật Biên giới quốc gia nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: “Biên giới quốc gia trên đất liền được hoạch định
và đánh dấu trên thực địa bằng hệ thống mốc quốc giới”
- Đường biên giới trên biển là ranh giới ngoài của lãnh hải của các quốc
gia ven biển hoặc là đường phân định nội thuỷ hoặc lãnh hải giữa các quốc gia ven biển [6] có bờ biển tiếp liền hoặc đối diện nhau Theo Luật biển quốc
tế, ranh giới ngoài của lãnh hải không được vượt quá 12 hải lý tính từ đường
cơ sở theo quy định của Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 [6] Các quốc gia ven biển tự xác định đường cơ sở của mình phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 Trong trường hợp khi hai quốc gia có bờ biển tiếp liền hoặc đối diện nhau nhưng khoảng cách giữa đường cơ sở của hai quốc gia nhỏ hơn 24 hải lý, đường biên giới trên biển là đường phân định lãnh hải nằm cách đều các điểm gần nhất của các đường cơ
sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải của mỗi quốc gia, trừ khi có sự thoả thuận khác giữa các quốc gia này [6]
Điều 1 khoản 3 của Luật Biên giới quốc gia nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: “Đường biên giới quốc gia trên biển được hoạch định và đánh dấu bằng các toạ độ trên hải đồ là ranh giới phía ngoài lãnh hải của đất liền, lãnh hải của các đảo, lãnh hải của các quần đảo của Việt Nam được xác định theo Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 và các điều ước quốc tế giữa Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và các quốc gia hữu quan”
- Đường biên giới trong lòng đất là mặt thẳng đứng được xác định dựa
trên các đường biên giới trên đất liền và biên giới trên biển, kéo dài đến tâm của trái đất Trong thực tiễn quốc tế, biên giới này được các quốc gia mặc nhiên thừa nhận
Điều 5 khoản 4 của Luật Biên giới quốc gia nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: “Biên giới quốc gia trong lòng đất là mặt thẳng đứng từ biên giới quốc gia trên đất liền và biên giới quốc gia trên biển xuống
Trang 20lòng đất Ranh giới trong lòng đất thuộc vùng biển là mặt thẳng đứng từ các đường ranh giới phía ngoài của vùng đặc quyền về kinh tế, thềm lục địa xuống lòng đất xác định quyền chủ quyền, quyền tài phán của Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm
1982 và các điều ước quốc tế giữa Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và các quốc gia hữu quan”
- Đường biên giới vùng trời là các ranh giới xác định phạm vi vùng trời
của một quốc gia Trong những năm 1940 và 1950, đã có một số quốc gia đưa
ra tuyên bố về biên giới vùng trời theo tiêu chuẩn không gian, nhưng hiện nay chủ quyền quốc gia được nhận thức theo những tiêu chuẩn về chức năng sử dụng Đường biên giới vùng trời có hai loại là đường biên giới bên sườn và đường biên giới trên cao Đường biên giới bên sườn cũng được xác định trên
cơ sở đường biên giới trên đất liền và đường biên giới biển theo cách kéo dài đường biên giới trong lòng đất vượt lên ở một độ cao nhất định Đường biên giới trên không được xác định bởi mặt cong song song với mặt địa cầu Trong thực tiễn quốc tế chưa có quy định thống nhất nào về độ cao của đường biên giới trên không
Điều 5 khoản 5 của Luật Biên giới quốc gia nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: “Biên giới quốc gia trên không là mặt thẳng đứng
từ biên giới quốc gia trên đất liền và biên giới quốc gia trên biển lên vùng trời”
1.1.2- Pháp luật quốc tế về biên giới quốc gia [13, 14, 24]
Pháp luật quốc tế là hệ thống những nguyên tắc và quy phạm pháp luật điều chỉnh các mối quan hệ giữa các chủ thể của pháp luật quốc tế (trước hết
và chủ yếu là giữa các quốc gia) Khái niệm và sự điều chỉnh của pháp luật quốc tế trong quan hệ giữa các quốc gia liên quan đến vấn đề biên giới lãnh thổ ở mỗi thời kỳ phát triển của pháp luật quốc tế có sự thay đổi khác nhau Nhưng dù khác nhau thế nào thì vấn đề biên giới lãnh thổ vẫn luôn là nền tảng của trật tự pháp lý quốc tế ổn định
Trang 21Quốc gia khi tham gia vào các quan hệ pháp luật quốc tế với tư cách là chủ thể cơ bản và chủ yếu thì sự ổn định phát triển của quốc gia trước hết phụ thuộc vào yếu tố lãnh thổ, bởi lãnh thổ là cơ sở vật chất để một quốc gia tồn tại và phát triển Do vậy, nội dung của các quy phạm pháp luật quốc tế về biên giới lãnh thổ quốc gia điều chỉnh các vấn đề như: xây dựng quy chế pháp
lý cho các loại hình lãnh thổ, quan hệ điều ước quốc tế về phân định, hoạch định biên giới lãnh thổ, giải quyết các tranh chấp về lãnh thổ, tranh chấp biên giới trên đất liền, các vùng biển, xác định danh nghĩa chủ quyền lãnh thổ khi thay đổi chủ quyền do những sự kiện pháp lý như chuyển nhượng, trao đổi lãnh thổ, tách ra hoặc hợp nhất quốc gia
Sở dĩ pháp luật quốc tế phải điều chỉnh quan hệ giữa các quốc gia về vấn
đề biên giới lãnh thổ là do tính chất đặc biệt quan trọng của biên giới quốc gia, có ảnh hưởng rất lớn đến quan hệ quốc tế Một trong những nguyên nhân phổ biến và chủ yếu của các cuộc chiến tranh ở các quy mô khác nhau giữa các dân tộc và các quốc gia là xuất phát từ những tranh chấp, xung đột về biên giới lãnh thổ Vì vậy, việc hình thành và tồn tại các quy phạm về biên giới lãnh thổ quốc gia trong pháp luật quốc tế là một tất yếu
1.1.2.1- Những nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế về biên giới quốc gia [41, 42]
Pháp luật quốc tế đã xác định những nguyên tắc chung, những nguyên tắc cơ bản liên quan đến biên giới quốc gia Các nguyên tắc này được hình thành và củng cố cùng với sự phát triển của pháp luật quốc tế hiện đại và đã góp phần rất quan trọng vào việc duy trì ổn định, hoà bình và an ninh trên thế giới
Trong số những nguyên tắc áp dụng cho việc phân chia hoặc giải quyết tranh chấp về biên giới lãnh thổ, nguyên tắc bất khả xâm phạm và toàn vẹn biên giới lãnh thổ - một bộ phận của nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia
- là nguyên tắc quan trọng nhất Nguyên tắc này đã xác định những nội dung
cụ thể áp dụng đối với tất cả các chủ thể của pháp luật quốc tế
Trang 22Điều 2, khoản 1 của Hiến chương Liên hợp quốc quy định: “Liên hợp quốc được thành lập trên nguyên tắc bình đẳng về chủ quyền giữa tất cả các quốc gia thành viên”; Điều 2, khoản 4 quy định: “Các nước thành viên Liên hợp quốc không được đe doạ sử dụng vũ lực hoặc sử dụng vũ lực để chống lại
sự toàn vẹn lãnh thổ hay nền độc lập chính trị của bất cứ một nước nào”; Điều
2, khoản 7 còn cấm Liên hợp quốc can thiệp vào công việc thuộc thẩm quyền nội bộ của các quốc gia thành viên
Điều 1 trong Tuyên bố ngày 24-10-1970 của Đại Hội đồng Liên hợp quốc về các nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế nêu rõ: “Mỗi quốc gia có nghĩa vụ từ bỏ việc đe doạ dùng vũ lực hoặc sử dụng vũ lực để vi phạm biên giới quốc tế hiện tại của một nước khác hoặc dùng nó làm phương tiện để giải quyết các tranh chấp quốc tế, kể cả tranh chấp về lãnh thổ và các vấn đề liên quan đến biên giới các nước” Tuyên bố này đã giải thích chính thức và cụ thể nội dung của nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia, theo đó nguyên tắc này được hiểu trong một thể thống nhất)
Bất khả xâm phạm có nghĩa là không được xâm phạm biên giới lãnh thổ
của một quốc gia khác bằng cách sử dụng vũ lực hay đe doạ sử dụng vũ lực Pháp luật quốc tế cấm sử dụng hay đe doạ sử dụng vũ lực chống lại sự toàn vẹn lãnh thổ của một quốc gia; không được xâm phạm đường biên giới được đánh dấu bằng các dấu hiệu vật chất rõ ràng và cụ thể; không được xâm phạm chế độ pháp lý của khu vực biên giới
Toàn vẹn lãnh thổ tức là cấm chia cắt, xâm chiếm lãnh thổ của quốc gia
khác Mọi quốc gia không được phép sử dụng lãnh thổ của mình để tiến hành các hoạt động gây hại cho quốc gia khác Xâm phạm các quyền và lợi ích hợp pháp của quốc gia trên đất liền (bao gồm cả hải đảo), trên các vùng biển và thềm lục địa, trên không cũng như trong lòng đất là vi phạm pháp luật quốc tế
và hành động vi phạm đó cần bị lên án và trừng phạt
- Nghĩa vụ tôn trọng chủ quyền của các quốc gia khác là nghĩa vụ bắt buộc và vô điều kiện, không phụ thuộc vào việc các quốc gia có quan hệ bình
Trang 23thường với nhau hay không hoặc có công nhận nhau hay không, bởi vì mọi quốc gia từ khi thành lập có chủ quyền đã là thành viên độc lập trong quan hệ quốc tế và có quyền tham gia các hoạt động của đời sống quốc tế ngang hàng với mọi quốc gia khác
- Mọi hành vi xâm phạm lãnh thổ của một quốc gia khác đều là bất hợp pháp về phương diện pháp luật quốc tế và bị xử lý Theo tinh thần của nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia, việc ra, vào, qua lại lãnh thổ quốc gia khác phải tuân theo thủ tục xin phép nhất định do quốc gia chủ quyền quy định hoặc theo thoả thuận được ký kết giữa các quốc gia hữu quan
- Quyền của mỗi quốc gia được tự do lựa chọn và phát triển chế độ chính trị, xã hội, kinh tế và văn hoá của riêng mình và các quốc gia khác phải tôn trọng sự lựa chọn đó Xâm phạm biên giới quốc gia của một nước khác là vi phạm pháp luật quốc tế Khi biên giới của một quốc gia bị một quốc gia khác
vi phạm, quốc gia bị đe doạ có quyền tự bảo vệ dưới các hình thức như tự vệ
cá nhân hay tự vệ tập thể … Nếu việc vi phạm biên giới quốc gia do một thể nhân tiến hành, quốc gia có quyền xử phạt hành chính hay truy cứu trách nhiệm hình sự theo pháp luật của mình
Bên cạnh nguyên tắc bất khả xâm phạm và toàn vẹn biên giới lãnh thổ là nguyên tắc về tính bền vững và ổn định của đường biên giới Nguyên tắc này được pháp luật quốc tế bảo đảm trên cơ sở:
Một là, các quốc gia được tự do tiến hành xác lập các đường biên giới Hoạt động này được coi như một thẩm quyền nhà nước riêng biệt, không bị
áp đặt hay phụ thuộc Đây là cơ sở ban đầu cho sự tôn trọng triệt để thành quả
về biên giới do chính các quốc gia có liên quan tạo lập, theo đó tính bền vững
và ổn định của đường biên giới được bảo đảm
Hai là, các quốc gia tự do thoả thuận xác lập biên giới căn cứ vào các yếu tố lịch sử, chính trị - pháp lý cũng như điều kiện địa lý - tự nhiên Pháp luật quốc tế không đặt ra các tiêu chuẩn bắt buộc về lựa chọn loại biên giới này hay loại biên giới khác, ngược lại khuyến khích các quốc gia thương
Trang 24lượng hoà bình và cùng nhau thoả thuận về một đường biên giới chung Chính
vì vậy, nguyên tắc thoả thuận là nguyên tắc cao nhất trong xác lập đường biên giới giữa các quốc gia liên quan, loại bỏ được những bất hoà phát sinh ảnh hưởng đến sự ổn định và bền vững của đường biên giới
Tuy nhiên, vì việc xác lập đường biên giới quốc gia là một hoạt động pháp lý quốc tế nên thành quả đạt được chỉ có giá trị khi được tiến hành đúng với các quy định của pháp luật quốc tế, đặc biệt là các nguyên tắc cơ bản như: Tôn trọng chủ quyền quốc gia, tôn trọng ý chí thoả thuận của các quốc gia, tự nguyện thực hiện các cam kết quốc tế v.v
1.1.2.2- Quá trình xác lập đường biên giới quốc gia
Quá trình xác lập đường biên giới quốc gia thường được thực hiện theo bốn giai đoạn [10, 11]:
- Giai đoạn xác định nguyên tắc giải quyết vấn đề biên giới: Các quốc
gia có chung biên giới tiến hành thương lượng với nhau để giải quyết vấn đề biên giới Việc thương lượng có thể được tiến hành theo nhiều cách, thường
có ba cách cơ bản được áp dụng là đàm phán trực tiếp, trung gian hoà giải và
sử dụng một cơ quan tài phán hay trọng tài quốc tế Trong đó, cách đàm phán trực tiếp thường được các quốc gia liên quan áp dụng nhiều nhất Trong giai đoạn này, bước đầu hai quốc gia thống nhất những nguyên tắc cơ bản để tiến hành việc xác lập biên giới Theo đó, các nhà lãnh đạo cao cấp của các nước
có liên quan thường có một tuyên bố chung, hoặc một bên có tuyên bố, sau đó bên kia ra tuyên bố chấp nhận, hoặc cùng ký một văn bản thoả thuận cấp cao Sản phẩm của giai đoạn này là tiền đề cho công tác hoạch định biên giới tiếp theo Ví dụ thực tiễn giải quyết biên giới với các nước láng giềng trong giai đoạn này, Việt Nam và Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào đã có một Thoả thuận chung giữa hai Bộ Chính trị Việt Nam - Lào năm 1976; giữa Việt Nam
và Trung Quốc có Thoả thuận năm 1993; với Cộng hoà nhân dân chia, có Hiệp ước về nguyên tắc giải quyết vấn đề biên giới Việt Nam - Căm-pu-chia năm 1983
Trang 25Căm-pu Giai đoạn hoạch định biên giới quốc gia: Là toàn bộ quá trình hoạt
động pháp lý của các quốc gia có chung biên giới (hoặc của tổ chức quốc tế
có thẩm quyền trong trường hợp các quốc gia hữu quan thoả thuận đưa ra) để tạo thành những quy phạm pháp lý quy định về đường biên giới quốc gia Các kết quả của quá trình hoạt động pháp lý này được ghi nhận bằng điều ước quốc tế về biên giới quốc gia Sản phẩm của giai đoạn này sẽ là cơ sở pháp lý quan trọng nhất để tiến hành việc phân giới trên thực địa và cắm mốc quốc giới Ví dụ, việc phân giới cắm mốc đường biên giới I-rắc - Cô-oét căn cứ vào Nghị quyết 687 (1991) của Liên hợp quốc, biên giới Ix-ra-en - Giooc-đa-ni căn cứ vào Hiệp ước hoà bình (1994), biên giới Việt Nam - Lào căn cứ vào Hiệp ước hoạch định biên giới (1977), biên giới Việt Nam - Trung Quốc căn
cứ vào Hiệp ước hoạch định biên giới (1999) v.v
- Giai đoạn phân giới trên thực địa và cắm mốc quốc giới: Nhiệm vụ
chính của giai đoạn này là chuyển đường biên giới đã được xác định trong văn bản pháp lý về hoạch định biên giới ra thực địa một cách chính xác nhất
có thể được và đánh dấu bằng một hệ thống mốc quốc giới Nhiệm vụ này mang tính kỹ thuật và các quyết định chỉ giới hạn trong việc chuyển những yếu tố biên giới đã được xác định bằng văn bản và bản đồ, sơ đồ ra thực địa Tuy nhiên, do việc phân giới trên thực địa và cắm mốc quốc giới là một nhiệm vụ quan trọng để thể hiện đường biên giới trên thực tế, nhằm bảo tồn tính bất khả xâm phạm của đường biên giới và giúp việc duy trì quy chế biên giới, nên giai đoạn này phải được tiến hành song phương thông qua một uỷ ban liên hợp về phân giới cắm mốc quốc gia do các quốc gia liên quan thống nhất thành lập Kết quả công tác phân giới trên thực địa và cắm mốc quốc giới được ghi nhận bằng một văn bản pháp lý khi kết thúc công tác phân giới cắm mốc Văn bản pháp lý này thường được gọi là Nghị định thư về phân giới cắm mốc biên giới quốc gia Nước ta với bạn Lào đã ký kết Nghị định thư phân giới cắm mốc năm 1987
Trang 26- Giai đoạn quản lý biên giới hành chính: Việc quản lý biên giới lãnh thổ
quốc gia được các quốc gia đơn phương tiến hành ngay từ khi nhà nước ra đời
và tiếp tục được duy trì trong suốt quá trình giải quyết vấn đề biên giới giữa các quốc gia Sau khi hoàn thành việc phân giới trên thực địa và cắm mốc quốc giới, các quốc gia hữu quan thoả thuận một cơ chế quản lý song phương bao gồm các quy định điều chỉnh tất cả những hoạt động liên quan đến việc duy trì đường biên giới chung Các quy định này được làm rõ và chi tiết hoá trong một thoả thuận chung (thường được gọi là quy chế) về kiểm tra và giải quyết những tranh chấp phát sinh dọc biên giới (như qua lại biên giới trái phép, hành vi phá hoại các yếu tố biên giới, trao đổi thông tin, hoạt động kinh
tế, quản lý tài nguyên v.v ), cũng như thủ tục giải quyết những vấn đề tồn tại
và những vấn đề vượt quá thẩm quyền của uỷ ban song phương về biên giới Thực tế trong giai đoạn này, sau khi hoàn tất việc hoạch định và phân giới cắm mốc toàn bộ đường biên giới trên đất liền, các quốc gia hữu quan thường cùng nhau xác lập và ký kết một văn bản song phương làm cơ sở pháp lý để hợp tác quản lý, bảo vệ đường biên giới, mốc giới và tiến hành các hoạt động trong khu vực biên giới Văn bản đó thường được gọi là Hiệp định về quy chế biên giới quốc gia Nước ta đã ký Hiệp định quy chế biên giới với Căm-pu-chia năm 1983, với Lào năm 1990 và Hiệp định tạm thời với Trung Quốc năm
1991
Các giai đoạn xác lập biên giới quốc gia trên đây có thể được tiến hành tuần tự theo từng bước một, nhưng cũng có thể được tiến hành gối lên nhau, đan xen nhau và cũng có khi được làm cách quãng, kéo dài, thậm chí không làm tuỳ theo tình hình thực tế của đường biên giới, quan hệ giữa các nước có chung biên giới cũng như hoàn cảnh, điều kiện và sự quan tâm của các quốc gia đối với đường biên giới đó Tuy nhiên, hai giai đoạn “hoạch định biên giới” và “phân giới cắm mốc” là cực kỳ quan trọng và thường được các quốc gia quan tâm đầu tiên, bởi vì hai nội dung giai đoạn này nhằm xác định đường biên giới, giới hạn phân chia chủ quyền quốc gia giữa hai nước láng giềng
Trang 271.2- Biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc và Việt Nam - Căm-pu-chia
1.2.1- Đường biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc [26, 27]
Đường biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc dài khoảng 1.406
km (đo trên bộ bản đồ chủ trương tỷ lệ 1/50.000, hai bên sử dụng đính kèm Hiệp ước biên giới năm 1999) Tiếp giáp giữa bảy tỉnh của Việt Nam từ Tây sang Đông là Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh với hai tỉnh của Trung Quốc là Vân Nam và Khu tự trị dân tộc Choang - Quảng Tây
Trải qua quá trình lịch sử biến động lâu dài, kể từ sau khi Việt Nam thoát khỏi ách Bắc thuộc vào thế kỷ X, giữa Việt Nam và Trung Quốc đã hình thành một đường biên giới và đường biên giới này tồn tại tương đối ổn định cho đến khi Pháp xâm lược Đông Dương Tài liệu “Đường biên giới Trung Quốc - Việt Nam” của Vụ Tình báo và Nghiên cứu Bộ Ngoại giao Mỹ, N038, ngày 15-12-1978, viết: “Sau hơn mười thế kỷ bị đô hộ, năm 939 Bắc Kỳ đã phá vỡ ách đô hộ của Trung Quốc và thành lập vương quốc Đại Cồ Việt nhà nước mới này đã bảo vệ được nền độc lập của mình một đường biên giới gần giống như ngày nay dường như đã tồn tại giữa hai quốc gia”
Trong thời kỳ Đông Dương thuộc Pháp, Pháp và nhà Thanh đã ký hai công ước hoạch định biên giới năm 1887 và 1895, khẳng định lại về mặt pháp
lý đường biên giới truyền thống Việt - Trung Với hai công ước này, đường biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc đã trở thành đường biên giới quốc tế đầu tiên của Việt Nam
1.2.1.1- Tóm tắt lịch sử hình thành đường biên giới
Lịch sử hình thành đường biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc có từ rất lâu đời Sách xưa của Trung Quốc thường nói đến cương giới Việt Nam và Trung Quốc ở núi Phân Mao [15] (núi Cỏ Rẽ: Trên đất Việt Nam thì cỏ ngả về Việt Nam, trên đất Trung Quốc thì cỏ ngả về Trung Quốc) Tương truyền Mã Viện sau khi dẹp xong cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng ở
Trang 28Giao Chỉ, đã dựng một cột đồng ở núi Phân Mao ở vùng Đông Cổ Sâm Bản
đồ ngày nay còn ghi lại một số nơi là Cổ Sâm bên phía Trung Quốc Như vậy, ngày nay cả núi Phân Mao lẫn Cổ Sâm đều nằm trên lãnh thổ Trung Quốc Trong suốt thời kỳ Bắc thuộc, lãnh thổ của nước ta bị các triều đại phong kiến Trung Hoa đô hộ, ranh giới giữa hai nước không được phân định rõ ràng Đến năm 938 khi Ngô Quyền lãnh đạo nhân dân ta đập tan cuộc xâm lược của quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, nước ta bước vào kỷ nguyên độc lập, vấn đề lãnh thổ và chủ quyền quốc gia mới được phân định rõ nét trong mối
quan hệ giữa nước Việt với đế chế phong kiến phương Bắc Theo Tống sử,
Tống Cảo là sứ giả nhà Tống được phái sang nước Việt năm 990 (tức là 9 năm sau chiến thắng Bạch Đằng lần thứ hai) đã báo cáo lên vua Tống rằng khi
họ đến “hải giới” Giao Chỉ thì vua Lê Đại Hành đã cho 9 thuyền và 300 quân lên đón ở Thái Bình Tường (Trân Châu) và dẫn đoàn sứ thần đến địa điểm quy định Như vậy, ngay trong nghi thức tiếp đón sứ thần khi đó đã đề cập đến cương vực “hải giới” và chủ quyền lãnh thổ
Năm 1078, vua Lý Nhân Tông gửi thư cho vua Tống đòi lại vùng Quảng Nguyên (Quảng Hoà và Thạch An thuộc tỉnh Cao Bằng ngày nay) và vùng Tô Mậu (Đình Lập và An Châu thuộc tỉnh Lạng Sơn ngày nay) mà nhà Tổng đã chiếm trên đường rút quân trong cuộc chiến tranh xâm lược thất bại năm
1076 Năm 1127, trong di chiếu vua Lý Nhân Tông đã điểm lại việc thực hiện nhiệm vụ bảo vệ cương vực lãnh thổ và hài lòng nhận thấy “bốn biển yên lành, biên thuỳ ít biến” Năm 1171, 1172, vua Lý Anh Tông đích thân đi xem xét biên cương, vùng biển phía Nam, phía Bắc, biên soạn ra cuốn sách “Nam Bắc phân giới địa đồ” ghi chép về hình thế núi sông, cương vực đất nước [12] Đến thế kỷ XII, nhà Trần giao nhiệm vụ lãnh đạo bảo vệ các hướng biên giới cho các trọng thần Trần Hưng Đạo phụ trách hướng Lạng Sơn; Trần Nhật Duật phụ trách hướng Tuyên Quang; Trần Khánh Dư trấn giữ Vân Đồn, bảo vệ hướng biển Đông Bắc Năm 1349, nhà Trần nâng vị trí trang Vân Đồn thời Lý lên thành một trấn trực thuộc triều đình với nhiệm vụ tổ chức bảo vệ
Trang 29vùng biển Đông Bắc và quản lý việc thông thương với nước ngoài
Năm 1432, vua Lê Thái Tổ cho khắc vào vách núi ở Hoà Bình “Biên phòng hảo vị trù phương lược, xã tắc ưng tu kế cửu an” [12] Năm 1446, vua
Lê Thánh Tông đã phản kháng nhà Minh cho quân cướp bóc vùng Thông Nông, Bảo Lạc (Cao Bằng ngày nay) và đòi họ phải bồi thường, mặt khác ra lệnh đày hai viên quan cai quản Cao Bằng đi xa vì tội phòng giữ biên cương không cẩn mật
Chính nhờ cuộc đấu tranh kiên cường, bền bỉ và khôn khéo của các thế
hệ người Việt Nam nối tiếp nhau qua các triều đại, dù so sánh lực lượng chênh lệch nhưng biên cương phía Bắc nước ta vẫn được bảo tồn và cơ bản
ổn định cả từ nghìn năm nay
Đến thời kỳ Pháp thuộc, sau khi chiếm xong Bắc Kỳ, để khẳng định chủ quyền thuộc địa của mình đối với Việt Nam, ngày 11-5-1884 tại Thiên Tân, Trung Quốc, chính quyền Pháp và triều đình nhà Thanh đã ký Công ước hữu nghị và láng giềng Theo nội dung của Công ước này, Pháp tôn trọng vào bảo
vệ biên giới phía Nam của Trung Quốc; Trung Quốc rút ngay các lực lượng quân sự đóng tại Bắc Kỳ và tôn trọng hiện tại cũng như tương lai các hiệp ước đã ký hoặc sẽ ký giữa chính quyền Pháp và triều đình Huế ở Việt Nam (thực tế là từ bỏ cái gọi là quyền tôn chủ của Trung Quốc đối với Việt Nam) Mặc dù Pháp không buộc Trung Quốc bồi thường, nhưng Trung Quốc đồng ý
tự do trao đổi hàng hoá hai bên biên giới và sẽ ký kết một hiệp ước thương mại có lợi nhất cho Pháp
Tuy nhiên, chỉ 15 ngày sau khi ký kết, nhà Thanh đã có những hành động vi phạm công ước, đòi Pháp phải công nhận biên giới truyền thống của Trung Quốc vào sâu trong lãnh thổ của Việt Nam mà Pháp đang quản lý Phía Pháp đã không chấp nhận yêu sách đó của Trung Quốc Cuộc tranh chấp giữa Pháp và nhà Thanh trong 8 tháng mới kết thúc và hai bên lại đi vào cuộc thương lượng mới Kết quả là, các đại diện toàn quyền của hai bên đã ký kết Hiệp ước hoà bình và thương mại ngày 09-6-1885 tại Thiên Tân, Trung
Trang 30Quốc
Về vấn đề biên giới, Điều 3 Hiệp ước năm 1885 ghi: Trong thời hạn 6 tháng kể từ ngày ký kết Hiệp ước này, các uỷ ban do các bên ký kết cử ra sẽ đến tại chỗ để hội khám biên giới giữa Trung Quốc và Bắc Kỳ Ở nơi nào có nhu cầu, họ sẽ đặt những mốc giới nhằm làm rõ đường biên giới Trường hợp
họ không thể thoả thuận về vị trí những mốc giới đó hoặc về những điều chỉnh chi tiết cần có đối với đường biên giới hiện tại của Bắc Kỳ, họ sẽ vì lợi ích chung của cả hai nước báo cáo lên Chính phủ của mỗi bên quyết định
Từ tháng 01-1886, Pháp và nhà Thanh tiến hành đàm phán để xác định biên giới Hai bên đã tiến hành hoạch định thí điểm khu vực từ Chi Ma đến Bình Nghi thuộc đoạn biên giới Bắc Kỳ - Quảng Tây Trong quá trình đàm phán, phía nhà Thanh không muốn phân giới, chỉ muốn hoạch định trên bản
đồ Do lúc đó chưa có bản đồ nên hai bên thống nhất cử các đoàn đi đo vẽ thực địa, lập bản đồ đường biên giới hiện tại Từ ngày 20 tháng 3 năm 1886 đến 13-4-1886, hai bên đã vẽ bản đồ và hoạch định xong đoạn biên giới thí điểm, Pháp và nhà Thanh đã lần lượt ký biên bản hoạch định các đoạn biên giới Bắc Kỳ - Vân Nam (ngày 19-10-1886), đoạn biên giới Bắc Kỳ - Quảng Đông và Bắc Kỳ - Quảng Tây (ngày 29-3-1887) Trong các biên bản hoạch định này còn nhiều đoạn biên giới chưa được hai bên thống nhất
Ngày 26-6-1887, Pháp và nhà Thanh ký Công ước hoạch định biên giới trên bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc, trong đó thoả thuận hoạch định lại một số đoạn biên giới thuộc tỉnh Vân Nam Đến ngày 20-6-1895, hai bên ký Hiệp ước bổ sung hoạch định biên giới, thống nhất hoạch định các đoạn biên giới hai bên còn gác lại trong các văn bản hoạch định trước đây và hoạch định mới đoạn biên giới giữa Bắc Kỳ và Vân Nam từ sông Đà đến sông Mê Công Trên cơ sở các Hiệp ước hoạch định biên giới 1887 và 1895, từ năm 1889, Pháp và nhà Thanh đã tiến hành phân giới và cắm mốc trên thực địa và hoàn thành công việc này vào năm 1897 Tổng hợp toàn bộ kết quả phân giới cắm mốc từ tháng 6-1885 đến tháng 6-1897, hai bên đã xác định 314 vị trí mốc và
Trang 31cắm được 341 mốc giới trên thực địa
1.2.1.2- Đàm phán giải quyết đường biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc [27]
Từ khi nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa được thành lập (năm 1949)
và sau khi miền Bắc Việt Nam hoàn toàn giải phóng (năm 1954), hai nước đã
có những cuộc trao đổi tiếp xúc về các vấn đề biên giới Trên thực tế, hai bên đều thừa nhận và tôn trọng đường biên giới hiện tại Tháng 11-1957, Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã gửi thư cho Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đề nghị hai bên duy trì nguyên trạng biên giới do lịch sử để lại Tháng 4-1958, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đã có thư trả lời, đồng ý với đề nghị của phía Việt Nam
Trong giai đoạn này, hai Đảng Lao động Việt Nam và Đảng Cộng sản
Trung Quốc đã thống nhất nguyên tắc: Vấn đề quốc giới là vấn đề quan trọng
cần giải quyết theo những nguyên tắc pháp lý đang có hoặc xác định lại do Chính phủ hai nước quy định Nhất thiết cấm các nhà chức trách và đoàn thể địa phương không được thương lượng với nhau để cắm mốc giới hoặc cắt nhượng đất cho nhau Giao cho địa phương giải quyết ổn thoả việc tranh chấp có hành hung, còn mọi việc di dời mốc giới hoặc cắt nhượng đất thì nhất thiết đều do Trung ương hai bên quyết định [34] Đến cuối năm 1974, diễn ra cuộc đàm phán chính thức lần đầu tiên về biên giới lãnh thổ giữa Việt Nam và Trung Quốc Tuy nhiên, trong đợt đàm phán này hai bên chỉ trao đổi các vấn đề liên quan đến vịnh Bắc Bộ nhưng không thoả thuận được gì vì quan điểm hai bên cách xa nhau
Sau năm 1975, các tranh chấp về biên giới lãnh thổ giữa Việt Nam và Trung Quốc bùng phát với quy mô ngày càng mở rộng và phức tạp, tình hình biên giới giữa hai nước rất căng thẳng Cuộc đàm phán lần thứ hai về biên giới lãnh thổ giữa hai nước được tổ chức tại Bắc Kinh từ tháng 10-1977 đến tháng 6-1978 ở cấp Thứ trưởng Ngoại giao (gồm 4 vòng họp) Tuy nhiên, do quan điểm của hai bên khác xa nhau, thêm vào đó là quan hệ chính trị hai
Trang 32nước tiếp tục xấu đi nên các cuộc đàm phán trong giai đoạn này không đạt được thoả thuận gì
Đợt đàm phán thứ ba diễn ra vào năm 1979 qua hai vòng tại Hà Nội và Bắc Kinh ở cấp Thứ trưởng Ngoại giao, chủ yếu bàn về những biện pháp bảo đảm hoà bình, ổn định trên vùng biên giới Do quan hệ chính trị hai nước thời điểm này vẫn còn căng thẳng nên kết quả đàm phán chỉ dừng lại ở mức độ khẳng định lập trường nguyên tắc của mỗi bên
Sau năm 1980, hai nước bình thường hoá quan hệ ngoại giao Từ năm
1991, đàm phán được nối lại và đến ngày 07-11-1991, lãnh đạo hai nước đã
ký kết Hiệp định tạm thời về việc giải quyết công việc trên vùng biên giới Việt Nam - Trung Quốc Tiếp đó, hai bên đã tiến hành các cuộc đàm phán cấp Chính phủ về các vấn đề biên giới lãnh thổ và ngày 19-10-1993 tại Hà Nội, hai bên đã ký kết Thoả thuận về những nguyên tắc cơ bản giải quyết vấn đề biên giới lãnh thổ giữa Việt Nam và Trung Quốc [27]
Từ năm 1994, hai bên xúc tiến đàm phán thực chất giải quyết vấn đề biên giới Đến năm 1999, hai bên đã cơ bản thoả thuận xong các nội dung liên quan đến tranh chấp biên giới lãnh thổ và ngày 30-12-1999 ký kết Hiệp ước biên giới trên đất liền giữa nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa
Hiệp ước biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc ký năm 1999 là một thắng lợi của cả hai nước Cái được lớn nhất là kể từ đây giữa hai nước
có một đường biên giới chính thức và ổn định Hiệp ước đã đáp ứng nguyện vọng của nhân dân hai nước, trước hết là nhân dân vùng biên giới và đáp ứng yêu cầu gìn giữ hoà bình, ổn định ở khu vực Đông Nam Á Sau Hiệp ước hoạch định biên giới Việt Nam - Lào năm 1977 và Hiệp ước hoạch định biên giới Việt Nam - Căm-pu-chia năm 1985, Hiệp ước biên giới trên đất liền Việt Nam - Trung Quốc năm 1999 đã hoạch định xong tuyến biên giới trên đất liền cuối cùng nhưng lại là tuyến biên giới quan trọng nhất của Việt Nam, khẳng định trên thực tế thoả thuận 16 chữ vàng giữa hai Tổng Bí thư Đảng Cộng sản
Trang 33Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc là xây dựng quan hệ Việt Nam - Trung Quốc “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” Hiệp ước là thắng lợi của nguyên tắc bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia, tạo điều kiện xây dựng một đường biên giới hoà bình, hữu nghị,
ổn định và bền vững lâu dài, mở ra bước phát triển mới trong quan hệ hợp tác toàn diện giữa hai nước Việt Nam - Trung Quốc cũng như tập trung xây dựng đất nước Hiệp ước đánh dấu bước mở đầu và thể hiện rõ quyết tâm của hai Đảng, hai Chính phủ, hai dân tộc Việt Nam - Trung Quốc trong việc giải quyết bằng thương lượng hoà bình tất cả các vấn đề biên giới lãnh thổ còn tồn đọng trong quan hệ hai nước Đồng thời, hiệp ước này phản ánh xu thế chung của thời đại và đóng góp vào việc khẳng định các nguyên tắc chung của luật quốc tế: đàm phán hoà bình giải quyết các vấn đề biên giới lãnh thổ; không sử dụng vũ lực và đe doạ sử dụng vũ lực trong giải quyết tranh chấp quốc tế Hiệp ước góp phần củng cố hoà bình, an ninh trong khu vực, khẳng định vai trò của hai nước Việt Nam và Trung Quốc trong đảm bảo hoà bình, ổn định của khu vực cũng như trong phạm vi thế giới
Sau khi Hiệp ước được Quốc hội hai nước phê chuẩn và có hiệu lực thi hành từ tháng 7-2000, Việt Nam và Trung Quốc đã thành lập Uỷ ban liên hợp phân giới, cắm mốc biên giới đất liền để tiến hành phân giới và cắm mốc giới trên toàn tuyến biên giới đất liền giữa hai nước (gồm 12 đoạn biên giới được đánh số theo chiều từ Tây sang Đông với 1.373 vị trí mốc tương ứng 1.532 cột mốc - 1.246 mốc đơn, 95 mốc đôi, 32 mốc ba và 01 mốc ngã ba biên giới Việt - Lào - Trung) Công việc này được chính thức triển khai từ năm 2001,
dự kiến sẽ hoàn thành vào cuối năm 2008 [33]
1.2.2- Đường biên giới trên đất liền Việt Nam - Căm-pu-chia
Việt Nam và Căm-pu-chia có chung đường biên giới trên đất liền khởi đầu từ ngã ba biên giới Việt Nam - Căm-pu-chia - Lào (ở tỉnh Kon Tum) đến điểm mút của đường biên giới ở trên bờ biển tiếp giáp giữa tỉnh Kiên Giang
và tỉnh Kăm-pốt, có chiều dài khoảng 1.137 Km (đo trên 40 mảnh bản đồ
Trang 34UTM tỷ lệ 1/50.000 và 26 mảnh bản đồ Bonne tỷ lệ 1/100.000 đính kèm Hiệp ước hoạch định biên giới Việt Nam - Căm-pu-chia ký năm 1985)1
, đi qua 10 tỉnh biên giới của Việt Nam là Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Đắc Nông, Bình Phước, Tây Ninh, Long An, Đồng Tháp, An Giang và Kiên Giang; tiếp giáp với 09 tỉnh biên giới của Căm-pu-chia là Ra-ta-na-ki-ri, Môn-đun-ki-ri, Công-pông-chàm, Ca-ra-chê, Svey-riêng, Prây-veng, Kần-đan, Tà-keo và Kăm-pốt
1.2.2.1- Tóm tắt lịch sử hình thành đường biên giới
Khi nước Văn Lang - Âu Lạc hình thành, phạm vi lãnh thổ phía Nam mới chỉ đến Đèo Ngang Từ Đèo Ngang trở vào, khoảng đầu công nguyên xuất hiện Vương quốc Chăm Pa (Chiêm Thành) Cho đến thế kỷ XV, Chăm
Pa khá cường thịnh Trong thời kỳ nước Văn Lang - Âu Lạc bị Bắc thuộc, Chăm Pa nhiều lần tấn công các quận Giao Chỉ, Cửu Chân và thường xuyên cho quân cướp phá vùng biển Nghệ An, Thanh Hoá ngày nay Có thời kỳ đã chiếm được kinh đô Thăng Long (các năm 1371, 1378, 1380)
Đến thời Hậu Lê và đặc biệt đến đời các Chúa Nguyễn, biên giới nước ta
đã mở rộng xuống phía Nam Năm 1755, Chăm Pa sáp nhập vào Đại Việt Tới triều Tây Sơn, thực tế không còn quan niệm về Vương quốc Chăm Pa nữa Công cuộc nam tiến tiếp tục được các triều đại nhà Nguyễn thực hiện, đến năm 1758 thì toàn bộ “Lục tỉnh Nam Kỳ” đã hoàn toàn thuộc Việt Nam [9]
Từ giữa thế kỷ XIX , nước ta trải qua thời kỳ đô hộ thực dân kéo dài trên
80 năm Năm 1858, thực dân Pháp bắn súng vào cửa biển Đà Nẵng, đánh dấu
sự mở đầu của quá trình xâm lược thực dân Năm 1862, Pháp hoàn thành việc xâm chiếm ba tỉnh miền Đông Nam Bộ Năm 1867, Pháp chiếm nốt ba tỉnh
máy bay, dùng lưới chiếu hình trụ ngang giữ góc Mercator cải tiến (biến dạng về chiều dài và diện tích),
sử dụng Elipxoid Everest hệ toạ độ gốc Ấn Độ năm 1960, khởi điểm ở đồi Klianpur và múi chiếu hình là
6 độ, độ biến dạng kinh tuyến trục k = 0,9996 Tỷ lệ 1/25.000 có nghĩa là 01 cm trên mặt phẳng bản đồ tương đương 25 mét trên mặt đất ở thực địa
Bản đồ Bonne: Loại bản đồ do Sở Địa dư Đông Dương (Service Géographique de L'Indochine - SGI) thành lập bằng phương pháp chụp ảnh máy bay có kết hợp đo đạc thực địa, theo hệ toạ độ độc lập, lưới chiếu hình nón giả giữ diện tích (các yếu tố biến dạng là chiều dài và góc), sử dụng Elipxoid thực dụng Clark có kinh tuyến gốc là kinh tuyến đi qua Paris Tỷ lệ 1/100.000 có nghĩa là 01 cm trên mặt phẳng bản
đồ tương ứng với 100 mét trên mặt đất ở thực địa
Trang 35miền Tây và từ đó kiểm soát toàn bộ “Lục tỉnh Nam Kỳ” của Việt Nam Năm
1873, Pháp chiếm thành Hà Nội và từ đó dần dần mở rộng chiếm đóng ra toàn Bắc Kỳ Theo Hiệp ước Pa-tơ-nốt được Pháp và triều đình Nguyễn ký kết tại Huế ngày 06-6-1884, Pháp thay mặt nhà nước Việt Nam trong quan hệ đối ngoại, trong đó có vấn đề phân định biên giới lãnh thổ giữa Việt Nam với các nước láng giềng
Năm 1963, Pháp áp đặt chế độ bảo hộ ở Căm-pu-chia và đến năm 1868 xâm chiếm toàn bộ lãnh thổ quốc gia này
Đến năm 1887, khi tiến trình xâm chiếm thuộc địa hoàn tất, chính quyền Pháp đã tuyên bố thành lập “Liên bang Đông Dương” gồm thuộc địa Nam Kỳ
và bốn xứ bảo hộ là Cao Miên, Ai Lao, Bắc Kỳ và Trung Kỳ Các đường ranh giới giữa các xứ được coi là “ranh giới hành chính” và được xác định theo trình tự, thủ tục do pháp luật của Cộng hoà Pháp quy định
Riêng với Căm-pu-chia, căn cứ theo Thoả ước ngày 09-7-1870 và tiếp
đó là Công ước ngày 15-7-1873 giữa Thống đốc Nam Kỳ (thay mặt Cộng hoà Pháp) và Quốc vương Cao-miên (thay mặt triều đình Căm-pu-chia), các chuyên gia Pháp và Căm-pu-chia đã tiến hành công việc khảo sát song phương trên thực địa để xác định đường ranh giới giữa Nam Kỳ và Căm-pu-chia Trong các năm từ 1876 đến 1896, Pháp và Căm-pu-chia đã ký được một loạt văn bản pháp lý về phân định biên giới và cắm mốc giới Sau này, Toàn quyền Đông Dương chỉ ban hành một số nghị định để điều chỉnh chi tiết những đoạn biên giới nhỏ Cùng với việc hoạch định biên giới và phân giới cắm mốc trên thực địa, Sở Địa dư Đông Dương đã in ấn bản đồ thể hiện khá
rõ ràng đường biên giới giữa Nam Kỳ và Căm-pu-chia Phần biên giới giữa Trung Kỳ và Căm-pu-chia được xác định trong các nghị định của Toàn quyền Đồng Dương khi ấn định ranh giới các tỉnh Trung Kỳ
Tính đến thời điểm năm 1954, khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết lập lại hoà bình ở Đông Dương, toàn bộ đường biên giới giữa Việt Nam và Căm-pu-chia đã được thể hiện trên 26 mảnh bản đồ Bonne tỷ lệ 1/100.000 do Sở
Trang 36Địa dư Đông Dương xuất bản Về cơ bản, đường biên giới đất liền giữa Việt Nam và Căm-pu-chia thể hiện trên các bản đồ này không khác biệt gì lắm so với đường biên giới đã được hoạch định và phân giới cắm mốc trong giai đoạn lịch sử trước đây giữa Pháp và triều đình Căm-pu-chia cũng như so với đường biên giới hiện nay giữa hai nước Việt Nam và Căm-pu-chia
1.2.2.2- Tiến trình đàm phán giải quyết đường biên giới trên đất liền Việt Nam - Căm-pu-chia [15]
Có thể nói công việc đàm phán, ký kết các hiệp định biên giới giữa nước
ta với các nước láng giềng nói chung và với Căm-pu-chia nói riêng là một sự tiếp nối và kế thừa lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam luôn đấu tranh kiên cường để giữ gìn nền độc lập và sự toàn vẹn lãnh thổ của đất nước
Như ở phần trên đã nêu, trong thời kỳ thực dân biên giới giữa hai nước chủ yếu là đường ranh giới hành chính đã được chính quyền Pháp thể hiện trên 26 mảnh bản đồ tỷ lệ 1/100.000 do Sở Địa dư Đông Dương xuất bản trong nhiều năm khác nhau Sau khi hoà bình lập lại ở Đông Dương (năm 1954), hai nước đã thống nhất tôn trọng đường biên giới do chính quyền thực dân để lại Tuy nhiên, đường biên giới này còn có những tồn tại không phù hợp với thực tế quản lý, vì vậy trong các năm 1964, 1966, 1975 và 1976 hai bên đã xúc tiến một số cuộc đàm phán, thương lượng giải quyết những tồn tại nêu trên, nhưng không đạt được thoả thuận
Năm 1979, nhà nước Cộng hoà nhân dân Căm-pu-chia thành lập Từ năm 1982 đến 1985, hai bên đàm phán và ký kết được bốn Hiệp ước, Hiệp định về biên giới:
- Hiệp định về vùng nước lịch sử giữa nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hoà nhân dân Căm-pu-chia, ký ngày 07-7-1982;
- Hiệp ước về nguyên tắc giải quyết vấn đề biên giới giữa nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hoà nhân dân Căm-pu-chia, ký ngày 20-7-1983;
Trang 37- Hiệp định về quy chế biên giới giữa nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hoà nhân dân Căm-pu-chia, ký ngày 20-7-1983;
- Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia giữa nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hoà nhân dân Căm-pu-chia, ký ngày 27-12-1985
Các Hiệp ước, Hiệp định về biên giới trên đây đã được đàm phán, ký kết bởi hai quốc gia độc lập có chủ quyền, thương lượng hoà bình dựa trên tinh thần tôn trọng sự toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích của nhau, bình đẳng, khách quan, công bằng, phù hợp với pháp luật và thực tiễn quốc tế, phù hợp với quan hệ giữa hai nước Việt Nam và Căm-pu-chia
Để có cơ sở đàm phán giải quyết vấn đề biên giới giữa hai nước, Hiệp ước về nguyên tắc ký năm 1983 ghi hai nguyên tắc:
(1) Trên đất liền, hai bên coi đường biên giới hiện tại giữa hai nước thể hiện trên bản đồ tỷ lệ 1/100.000 của Sở Địa dư Đông Dương thông dụng trước năm 1954 hoặc gần năm 1954 nhất (kèm theo 26 mảnh bản đồ đã được hai bên xác nhận) là đường biên giới quốc gia giữa hai nước;
(2) Ở nơi nào đường biên giới chưa được vẽ trên bản đồ hoặc hai bên đều thấy chưa hợp lý thì hai bên sẽ cùng nhau bàn bạc, giải quyết trên tinh thần bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau vì lợi ích của mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Căm-pu-chia, phù hợp với pháp luật và thực tiễn quốc tế
Để duy trì sự ổn định trên biên giới trong khi hai nước đàm phán về phân định, Hiệp định về quy chế biên giới ký năm 1983 đã quy định khá đầy đủ về
cơ chế quản lý biên giới, bảo vệ đường biên giới và cột mốc, vấn đề dân cư, việc qua lại biên giới, quản lý tài nguyên và sử dụng nguồn nước, xây dựng công trình, bảo vệ môi trường, hợp tác giữ gìn an ninh và trật tự an toàn xã hội ở khu vực biên giới hai nước
Theo nguyên tắc đã thoả thuận trong Hiệp ước nguyên tắc năm 1983, hai bên tiến hành đàm phán và ký Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia Việt Nam - Căm-pu-chia ngày 27-12-1985 Theo Điều 1 Hiệp ước 1985, đường
Trang 38biên giới trên đất liền giữa hai nước được miêu tả chi tiết theo bản đồ UTM tỷ
lệ 1/50.000 (đường biên giới đã hoạch định, được chuyển vẽ từ bản đồ Bonne
tỷ lệ 1/100.000 sang) Hai bộ bản đồ đính kèm Hiệp ước (bản đồ Bonne và bản đồ UTM) đều có giá trị như nhau Hiệp ước cũng quy định các vấn đề liên quan đến sông suối, rạch biên giới: Các sông suối biên giới dù có đổi dòng, đường biên giới vẫn giữ nguyên; những cù lao, bãi bồi dọc sông suối biên giới
ở phía bên nào sẽ thuộc bên đó; đối với các cầu biên giới, đường biên giới đi chính giữa cầu
Như vậy, Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia năm 1985 đã thể hiện
rõ lập trường của hai nước Việt Nam và Căm-pu-chia tôn trọng đường biên giới hiện tại, căn cứ vào bản đồ do chính quyền thực dân Pháp xuất bản để hoạch định biên giới và sử dụng bản đồ UTM của quân đội Mỹ để thuận tiện cho việc phân giới, cắm mốc
Sau khi Hiệp ước hoạch định biên giới năm 1985 có hiệu lực, hai bên đã tiến hành phân giới được hơn 200 Km trong tổng số 1.137 Km đường biên giới và cắm được 72 mốc trong tổng số 322 vị trí mốc dự kiến Năm 1989, do những lý do nội bộ Căm-pu-chia, công việc phân giới, cắm mốc phải tạm dừng lại
Ngày 01-6-1998, nhân dịp Thủ tướng thứ nhất Chính phủ Hoàng gia Căm-pu-chia Ung Huốt thăm chính thức Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ hai
nước đã ký Tuyên bố chung, trong đó thoả thuận: Về vấn đề biên giới, hai bên
bày tỏ lòng mong muốn xây dựng đường biên giới chung hoà bình, hữu nghị
và hợp tác Hai bên khẳng định tiếp tục tôn trọng các Hiệp ước, Hiệp định về biên giới mà hai bên đã ký kết trong những năm 1982, 1983 và 1985; hai bên nhất trí tiến hành các cuộc họp giữa hai bên để tiếp tục giải quyết các tồn tại
về biên giới giữa hai nước [23]
Thực hiện thoả thuận trên đây, từ đầu năm 1999, Uỷ ban liên hợp về biên giới Việt Nam - Căm-pu-chia được thành lập Hai bên nối lại các cuộc đàm phán chính thức nhằm hoàn thiện việc hoạch định biên giới đất liền giữa Việt
Trang 39Nam và Căm-pu-chia trên cơ sở Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia năm
1985 Đến ngày 10-10-2005, tại Hà Nội, Thủ tướng Chính phủ hai nước Việt Nam và Căm-pu-chia đã ký Hiệp ước giữa nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Vương quốc Căm-pu-chia bổ sung Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia năm 1985 Ngày 30-11-2005, Quốc vương Căm-pu-chia Xi-ha-mô-ni ký Sắc lệnh ban hành Hiệp ước và ngày 05-12-2005, Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Trần Đức Lương ký Lệnh công bố Hiệp ước sau khi Quốc hội - cơ quan quyền lực cao nhất của hai Nhà nước đã phê chuẩn Hiệp ước bổ sung này Ngày 06-12-2005, tại Phnôm Pênh, Bộ trưởng Ngoại giao hai nước Việt Nam và Căm-pu-chia đã tiến hành trao đổi văn kiện phê chuẩn Hiệp ước Hiệp ước bổ sung về biên giới Việt Nam - Căm-pu-chia
đã chính thức có hiệu lực kể từ ngày 06-12-2005
Ý nghĩa quan trọng nhất của Hiệp ước bổ sung là khẳng định lại giá trị của những Hiệp ước, Hiệp định mà Việt Nam và Căm-pu-chia đã ký kết trong những năm 80, đẩy lùi âm mưu của các phe phái, thế lực thù địch tìm cách xoá bỏ, đặc biệt là Hiệp ước hoạch định biên giới quốc gia năm 1985 Bằng việc ký kết Hiệp ước bổ sung, hai bên đã thể hiện thiện chí giải quyết những vấn đề tồn tại về biên giới, lãnh thổ thông qua thương lượng hoà bình Và quan trọng nhất là, Hiệp ước bổ sung đã phá vỡ bế tắc, tạo cơ sở pháp lý thuận lợi để nối lại tiến trình phân giới cắm mốc, tiến tới giải quyết dứt điểm vấn đề biên giới đất liền Việt Nam - Căm-pu-chia vào cuối năm 2008, tạo cơ
sở tăng cường hợp tác, xây dựng đường biên giới Việt Nam - Căm-pu-chia thành đường biên giới hoà bình, ổn định, hợp tác, cùng phát triển Hiệp ước
bổ sung không những đáp ứng các yêu cầu về bảo vệ lợi ích quốc gia của Việt Nam, mà còn hỗ trợ cho Đảng CPP và Chính phủ liên hiệp của Thủ tướng Hun Xen đứng vững, phát triển, tạo thế và lực mới cho quan hệ Việt Nam - Căm-pu-chia
Hiệp ước bổ sung gồm 6 điều, trong đó có 3 nội dung chính Thứ nhất, hai bên thống nhất điều chỉnh 6 điểm trên tuyến biên giới, trong đó có 01
Trang 40điểm ở Kon Tum, 01 điểm ở Gia Lai, 01 điểm ở Đắc Lắc (do sai sót bản đồ);
3 điểm ở An Giang lâu nay vốn thuộc Việt Nam hoặc thuộc Căm-pu-chia nhưng lại chưa được thể hiện trên bản đồ Hiệp ước năm 1985 Riêng đối với khu vực Bu Prăng (Đắc Nông), Hiệp ước bổ sung ghi “hai bên sẽ tiếp tục thảo luận” vấn đề này
Thứ hai, điều chỉnh đường biên giới trên sông suối biên giới theo nguyên tắc pháp luật quốc tế và thực tiễn quốc tế, tức là ở những sông suối tàu thuyền không đi lại được thì đường biên giới đi theo trung tuyến của dòng chảy chính; ở những sông tàu thuyền đi lại được thì đường biên giới đi theo trung tuyến của luồng chính tàu thuyền đi lại Để giải quyết những phát sinh khi thực hiện nguyên tắc này, hai bên thống nhất ghi thêm một khoản là: “Trong trường hợp nảy sinh khó khăn trong việc áp dụng các quy định nêu trên, hai bên sẽ trao đổi hữu nghị nhằm tìm ra một giải pháp mà hai bên có thể chấp nhận được”
Thứ ba, hai bên cam kết hoàn thành phân giới và cắm mốc toàn bộ tuyến trước tháng 12-2008 Đây là lần đầu tiên hai bên đặt ra một mục tiêu cụ thể như vậy
Ngay sau khi Hiệp ước bổ sung có hiệu lực, từ ngày 17 đến 22-12-2005, tại Phnôm Pênh, Uỷ ban liên hợp biên giới hai nước đã tiến hành các cuộc họp cấp chuyên viên và hai Trưởng đoàn Hai bên đã thông qua Kế hoạch tổng thể về công tác phân giới cắm mốc biên giới đất liền Việt Nam - Căm-pu-chia, gồm 3 giai đoạn:
(1) Giai đoạn chuẩn bị phân giới cắm mốc từ tháng 12-2005 đến tháng 2006;
8-(2) Giai đoạn phân giới cắm mốc trên thực địa từ tháng 9-2006 đến tháng 6-2008;
(3) Giai đoạn hoàn thiện hồ sơ văn bản và xây dựng Nghị định thư phân giới cắm mốc, hoàn thành vào cuối tháng 12-2008