Xác định các chỉ số kê đơn điều trị và các chỉ số chăm sóc dược trên bệnh nhân ngoại trú BHYT và không BHYT tại Trung tâm Y tế huyện Châu Thành – tỉnh Hậu Giang. So sánh các chỉ số kê đơn và các chỉ số chăm sóc dược trên bệnh nhân ngoại trú BHYT và không BHYT tại Trung tâm Y tế huyện Châu Thành – tỉnh Hậu Giang.
Trang 1Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp dược sỹ chuyên khoa cấp I, tôi đã được Ban Giám hiệu nhà trường, các Thầy, Cô giáo trường Đại học Y Dược Cần Thơ tận tình giảng dạy và giúp đỡ trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Trước hết, với lòng kính trọng nhiệt thành, em xin bày tỏ sự biết ơn sâu
sắc đến PGS TS Phạm Thành Suôl, đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo và
truyền đạt kinh nghiệm cho em trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Xin trân trọng cảm ơn, Ban Giám hiệu, phòng Sau Đại học, quí Thầy
Cô của trường Đại học Y Dược Cần Thơ đã giảng dạy tận tình và tạo điều kiện cho em được học tập, nghiên cứu
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc, khoa Dược, quầy thuốc bệnh viện, khoa khám bệnh, Trung tâm Y tế huyện Châu Thành – Hậu Giang đã tạo điều kiện cho tôi tham gia khóa học, cung cấp số liệu và đóng góp các ý kiến quý báu cho tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp và những người thân đã luôn chia sẻ, động viên, giúp đỡ tôi trong cuộc sống cũng như trong học tập!
Cần Thơ, ngày 24 tháng 09 năm 2018
Học viên
Phan Thu Hiền
Trang 2Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả được ghi nhận trong quyển luận văn này là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào
Cần Thơ, ngày 24 tháng 09 năm 2018
Học viên
Phan Thu Hiền
Trang 3Trang
Trang bìa
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt
Danh mục bảng
Danh mục hình
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 TỔNG QUAN 3
1.1 Các khái niệm 3
1.2 Các chỉ số sử dụng thuốc 6
1.3 Những vấn đề trong công tác kê đơn thuốc 8
1.4 Công tác chăm sóc dược 12
1.5 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước 18
Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
2.1 Đối tượng nghiên cứu 21
2.2 Phương pháp nghiên cứu 22
2.3 Nội dung nghiên cứu 23
2.4 Phương pháp và kỹ thuật thu thập số liệu 28
2.5 Xử lý số liệu 30
2.6 Đạo đức trong nghiên cứu 30
Trang 43.1 Đặc điểm chung bệnh nhân 31
3.2 Xác định các chỉ số kê đơn 33
3.3 Xác định các chỉ số chăm sóc dược 37
3.4 So sánh các chỉ số kê đơn và các chỉ số chăm sóc dược trên bệnh nhân ngoại trú BHYT và không BHYT tại Trung tâm Y tế huyện Châu Thành – tỉnh Hậu Giang 42
Chương 4 BÀN LUẬN 50
4.1 Đặc điểm chung bệnh nhân 50
4.2 Xác định các chỉ số kê đơn 52
4.3 Xác định các chỉ số chăm sóc dược 56
4.4 So sánh các chỉ số kê đơn và các chỉ số chăm sóc dược trên bệnh nhân ngoại trú BHYT và không BHYT tại Trung tâm Y tế huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang 62
KẾT LUẬN 69
KIẾN NGHỊ 71 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 5ADR Adverse Drug Reactions
(phản ứng bất lợi của thuốc)
KBHYT Không bảo hiểm y tế
BVĐK Bệnh viện đa khoa
(Tổ chức y tế thế giới)
INRUD International Network for the Rational use of Drugs
(Mạng lưới quản lý về sử dụng thuốc hợp lý)
Trang 6Trang
Bảng 3.1: Phân bố bệnh nhân theo nhóm tuổi 31
Bảng 3.2: Phân bố bệnh nhân theo giới tính 32
Bảng 3.3: Phân bố bệnh nhân theo nghề nghiệp 32
Bảng 3.4 Số thuốc trung bình trong mỗi đơn 33
Bảng 3.5: Tỷ lệ phần trăm đơn thuốc có kê kháng sinh 34
Bảng 3.6: Số kháng sinh trung bình trong 1 đơn có kê kháng sinh 34
Bảng 3.7: Tỷ lệ phần trăm kháng sinh được kê theo họ kháng sinh 35
Bảng 3.8: Tỷ lệ phần trăm đơn thuốc có kê corticoid 36
Bảng 3.9: Tỷ lệ phần trăm đơn thuốc kê đơn với Vitamin 36
Bảng 3.10: Tỷ lệ phần trăm bệnh nhân được bác sĩ tư vấn về tình trạng bệnh hiện tại 37
Bảng 3.11: Tỷ lệ phần trăm bệnh nhân được dược sỹ hướng dẫn cách sử dụng thuốc 39
Bảng 3.12: Thời gian cấp phát thuốc trung bình 41
Bảng 3.13: So sánh các chỉ số kê đơn 43
Bảng 3.14: So sánh các chỉ số chăm sóc dược 46
Trang 7Trang
Hình 3.1: Tỷ lệ % bệnh nhân được tư vấn về những thay đổi lối sống (chế độ ăn uống, thể dục, nghĩ ngơi…) trong điều trị 37 Hình 3.2: Tỷ lệ % bệnh nhân được tư vấn về tự theo dõi bệnh sau khi dùng thuốc, chăm sóc bệnh tại nhà, lịch tái khám 38 Hình 3.3: Tỷ lệ % bệnh nhân có hài lòng về thời gian khám bệnh của bác sĩ 39 Hình 3.4: Tỷ lệ %bệnh nhân có được người cấp phát thuốc thông tin
về tác dụng không mong muốn của thuốc trong đơn 40 Hình 3.5: Tỷ lệ % các thuốc được dán nhãn đầy đủ 41 Hình 3.6: Tỷ lệ % bệnh nhân hài lòng về thời gian cấp phát thuốc 42
Trang 8ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm qua, ngành y tế đã có nhiều nỗ lực trong phục vụ chăm sóc sức khỏe nhân dân Quá trình chăm sóc bằng thuốc cho người bệnh gồm kê đơn thuốc, cấp phát thuốc và theo dõi dùng thuốc [3] Sử dụng thuốc hợp lý, an toàn là biện pháp quan trọng nhất để tiết kiệm cho người bệnh, tránh được lãng phí thuốc, tránh tình trạng lạm dụng kê đơn kháng sinh, corticoid, vitamin… [78] Muốn sử dụng thuốc hợp lý, an toàn phải thiết lập mối quan hệ chặt chẽ giữa bác sĩ, dược sĩ, điều dưỡng và bệnh nhân trong việc sử dụng thuốc [3][4]
Tuy nhiên kết quả thực hiện không thành công như mong đợi Theo một số điều tra thì việc kê đơn không đúng qui chế, kê quá nhiều thuốc trong một đơn đang khó kiểm soát tại nhiều cơ sở điều trị Để chấn chỉnh việc cung ứng thuốc nhằm bảo dảm chất lượng khám chữa bệnh và sử dụng thuốc hợp lý, an toàn Bộ trưởng Bộ Y tế đã chỉ thị phải đảm bảo đủ thuốc chữa bệnh theo Danh mục thuốc thiết yếu sử dụng tại cơ sở khám chữa bệnh không
để người bệnh nội trú phải tự mua thuốc trong danh mục, đồng thời chỉ đạo Hội đồng thuốc và điều trị trong việc lụa chọn thuốc và sử dụng thuốc hợp lý,
an toàn [2] Trong một nghiên cứu hình hình kê đơn thuốc điều trị ngoại trú tại một bệnh viện huyện số thuốc trung bình trong một đơn là 4,14, số đơn thuốc kê chưa hợp lý an toàn theo nhóm bệnh là 78,75%, số đơn thuốc kê chưa đúng liều là 10% [26]
Để hỗ trợ cho quá trình chăm sóc cho bệnh nhân, sử dụng thuốc hợp lý,
an toàn, hiệu quả, công tác “chăm sóc dược” ra đời Theo đó dược sĩ là chuyên gia về thuốc, giữ vai trò chính trong chăm sóc dược, cụ thể đây là nhiệm vụ của dược sĩ lâm sàng Để có thể hoàn thành tốt công tác chăm sóc dược, dược sĩ cần trang bị kiến thức về thuốc và điều trị, kỹ năng giao tiếp
Trang 9(với bệnh nhân, với nhân viên y tế), khả năng phối hợp với đội ngũ nhân viên
y tế thật tốt Tuy nhiên khái niệm chăm sóc dược còn khá mới với ngành dược nước ta Bên cạnh đó là tình trạng thiếu cán bộ chuyên trách dược lâm sàng, nhất là dược sĩ đại học làm cho công tác dược lâm sàng nói chung và chăm sóc dược nói riêng chưa được thực hiện tốt
Với việc nghiên cứu các chỉ số kê đơn và chỉ số chăm sóc dược sẽ giúp người dược sĩ lâm sàng và cán bộ y tế có cái nhìn tổng quát về tình hình hoạt động kê đơn thuốc và chăm sóc dược trong bệnh viện Do hạn chế về thời gian và điều kiện nghiên cứu, chúng tôi chỉ tập trung vào nhóm các bệnh nhân ngoại trú Vì đây là những đối tượng có mức bệnh tật từ nhẹ đến trung bình nên thường không được chú ý nhiều Đặc biệt, ở các bệnh viện lớn luôn xảy
ra tình trạng số bệnh nhân quá tải so với số lượng cán bộ nhân viên y tế, vấn
đề chăm sóc các bệnh nhân ngoại trú càng bị xem nhẹ
Chính vì những nguyên nhân trên mà chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu:
“Khảo sát tình hình kê đơn thuốc và chăm sóc dược trong điều trị ngoại trú
bảo hiểm y tế và không bảo hiểm y tế tại Trung tâm Y tế huyện Châu Thành – tỉnh Hậu Giang năm 2017 - 2018” với các mục tiêu cụ thể như sau:
1 Xác định các chỉ số kê đơn điều trị cho bệnh nhân ngoại trú BHYT
và không BHYT tại Trung tâm Y tế huyện Châu Thành – tỉnh Hậu Giang
2 Xác định các chỉ số chăm sóc dược trên bệnh nhân ngoại trú BHYT
và không BHYT tại Trung tâm Y tế huyện Châu Thành – tỉnh Hậu Giang
3 So sánh các chỉ số kê đơn và các chỉ số chăm sóc dược trên bệnh nhân ngoại trú BHYT và không BHYT tại Trung tâm Y tế huyện Châu Thành – tỉnh Hậu Giang
Trang 10Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Thuốc là một loại hàng hoá đặc biệt, sử dụng loại thuốc nào số lượng bao nhiêu, cách thức ra sao thì lại không phải do người bệnh tự quyết định mà lại được quyết định bởi thầy thuốc và người dùng phải tuân thủ nghiêm ngặt [41] Số lượng và cơ cấu thuốc thông thường được sử dụng dựa vào mô hình bệnh tật và định hướng dùng thuốc của từng quốc gia Bác sĩ có vai trò quan trọng trong việc định hướngsử dụng thuốc cho cộng đồng [79]
1.1.2 Đơn thuốc và kê đơn thuốc
1.1.2.1 Đơn thuốc
Khái niệm “Đơn thuốc” (prescription) bắt nguồn từ tiếng Latinh
"praescriptus" có nghĩa là "viết trước" Trước đây “Đơn thuốc” được hiểu đơn
Trang 11giản là sự ghi chép của thầy thuốc để phối hợp các loại thuốc lại với nhau nhằm chữa trị một bệnh nào đó
Đơn thuốc là chỉ định điều trị của bác sỹ đối với bệnh nhân, nhằm giúp bệnh nhân có được những loại thuốc theo đúng phác đồ điều trị [6] Từ thế kỉ
XX trở lại đây, công nghiệp dược phát triển mạnh mẽ, thuốc mới liên tục ra đời và ngày càng tiện dụng , có nhiều ưu điểm hơn so với việc pha chế thuốc truyền thống Vì vậy, ngày nay đơn thuốc không chỉ là chỉ dẫn sử dụng thuốc của thầy thuốc dành cho bệnh nhân Đây còn là văn bản mang tính pháp lý để giải quyết các khía cạnh pháp luật của các hoạt động khám chữa bệnh và hành
nghề dược
Có thể nói với một căn bệnh nào đó sẽ có những điểm chung về triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng nguyên tắc điều trị và các loại thuốc đặc hiệu Tuy nhiên, do những khác biệt về tuổi tác, giới tính, tình trạng cơ thể (phụ nữ mang thai, đang cho con bú, bệnh nhân bị suy gan, suy thận, , đặc biệt là người có tiền sử dị ứng với một dược chất nào đó) Dựa trên đặc điểm đặc trưng cá thể, bác sĩ có thể suy nghĩ và lựa chọn thuốc cụ thể cho phù hợp với từng bệnh nhân Và quan trọng là tùy theo kinh nghiệm cá nhân của mỗi bác
sĩ và kinh nghiệm điều trị ở tại các bệnh viện, có thể có những cách điều trị khác nhau cho cùng một bệnh
1.1.2.2 Kê đơn thuốc
Thuốc chỉ được kê đơn khi cần thiết Khi kê đơn thuốc, thầy thuốc cần phải cân nhắc giữa lợi ích và nguy cơ đối với người bệnh Ðiều này đặc biệt quan trọng khi kê đơn cho người mang thai, người cho con bú, người cao tuổi, người có bệnh thận, bệnh gan hoặc có cơ địa dị ứng
- Việc chỉ định điều trị, kê đơn thuốc:
+ Chỉ được tiến hành sau khi trực tiếp khám bệnh [6]
+ Ghi bằng tiếng Việt [47]
Trang 12+ Bảo đảm các yêu cầu sau:
a) Phù hợp với chẩn đoán và diễn biến bệnh;
b) Phù hợp tình trạng bệnh lý và cơ địa người bệnh;
c) Phù hợp với tuổi và cân nặng;
d) Phù hợp với hướng dẫn điều trị (nếu có);
đ) Không lạm dụng thuốc [7]
- Muốn kê đơn thuốc tốt phải tuân theo quy trình sau đây:
+ Chẩn đoán, xác định đúng bệnh
+ Lựa chọn thuốc phù hợp với người bệnh
+ Kê đơn thuốc khi đã có chỉ định rõ ràng
+ Hướng dẫn dùng thuốc cho người bệnh
+ Theo dõi phản ứng không mong muốn của thuốc
+ Theo dõi hiệu quả điều trị [16] [73]
1.1.3 Chăm sóc dược
Chăm sóc dược được đề cập đến lần đầu tiên và năm 1975 bởi Mikael
và cộng sự tại Mỹ, coi đây là sự chăm sóc mà một bệnh nhân cụ thể đòi hỏi và được hưởng, giúp đảm bảo việc sử dụng thuốc an toàn và hợp lý Các quan điểm về chăm sóc dược được hoàn thiện dần theo thời gian và trong giai đoạn gần đây nêu rõ rằng cần có sự chia sẻ trách nhiệm xung quanh vấn đề sử dụng thuốc Trách nhiệm chủ yếu thuộc về dược sĩ vì đó là chuyên gia về thuốc [29]
Trong cuốn “ Thực hành chăm sóc dược” xuất bản lần thứ 2 vào năm 2007 , nhóm tác giả Mỹ Strand L.M., Cipolle R.J và Morley P.C hoàn thiện định nghĩa chăm sóc dược một cách đầy đủ và khái quát hơn, theo đó:
Chăm sóc dược là một lĩnh vực thực hành lấy bệnh nhân làm trung tâm, trong
đó chuyên gia y tế nhận trách nhiệm về các nhu cầu liên quan đến thuốc của bệnh nhân và luôn luôn phải đảm bảo hoàn thành trách nhiệm đó [28] [29]
Trang 13Nhìn chung mọi định nghĩa đều thống nhất ở một điểm: “Chăm sóc Dược là
nhiệm vụ tập trung vào việc điều trị bằng thuốc với mục đích cải thiện về chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân” [29]
Để đạt được mục tiêu này, bệnh nhân không chỉ được cung cấp thuốc với chất lượng tốt, giá cả phù hợp mà còn được hưởng quyền lợi được nhận các loại thuốc có cách sử dụng thuận tiện, ít gây khó chịu và phiền toái nhất Mặc khác, thuốc được sử dụng phải chữa khỏi bệnh nhưng cũng phải ít để lại hậu quả nhất sau điều trị, nghĩa là phải hạn chế tối đa phản ứng có hại và các vấn đề phát sinh khi sử dụng thuốc Theo các quan niệm này, vai trò chính trong chăm sóc dược rõ ràng đã đặt vào trong tay dược sĩ [28]
Sử dụng thuốc hợp lý, an toàn luôn là mục tiêu hàng đầu trong công tác điều trị Muốn sử dụng thuốc hợp lý, an toàn phải thiết lập mối quan
hệ giữa dược sỹ, bác sỹ, y tá và bệnh nhân trong việc sử dụng thuốc
Mối quan hệ giữa dược sỹ, bác sĩ, y tá điều dưỡng và bệnh nhân trong
sử dụng thuốc biểu diễn qua sơ đồ sau:
Y văn về thuốc
Bác sĩ Dược sĩ Điều dưỡng
Kinh nghiệm lâm sàng
Trang 14viện, hướng dẫn về phân tích sử dụng thuốc trong bệnh viện gồm các chỉ số WHO/INRUD [12][37]:
1.2.1 Các chỉ số kê đơn:
- Số thuốc kê trung bình trong một đơn
- Tỷ lệ thuốc được kê tên Genergic
- Tỷ lệ thuốc được kê tên biệt dược
- Tỷ lệ đơn kê có kháng sinh
- Tỷ lệ đơn kê có thuốc tiêm
- Tỷ lệ kê đơn có Vitamin
- Tỷ lệ thuốc được kê đơn có trong danh mục thuốc thiết yếu do BYT ban hành (TT45/BYT) [13]
1.2.2 Các chỉ số sử dụng thuốc toàn diện:
- Số lượng bệnh nhân điều trị không dùng thuốc (không tính đến bệnh nhân chuyển viện)
- Chi phí trung bình cho thuốc mỗi đơn
- Tỷ lệ (%) chi phí thuốc dành cho kháng sinh
- Tỷ lệ (%) chi phí thuốc dành cho thuốc tiêm
- Tỷ lệ (%) chi phí thuốc dành cho Vitamin
1.2.3 Các chỉ số lựa chọn sử dụng trong bệnh viện:
- Số ngày nằm viện trung bình
- Số thuốc trung bình cho một bệnh nhân
- Số thuốc kháng sinh trung bình cho 1 bệnh nhân
- Số thuốc tiêm trung bình cho một bệnh nhân
- Giá trị thuốc trung bình cho một bệnh nhân
Các chỉ số sử dụng thuốc của WHO/INRUD được sử dụng để đánh giá khuynh hướng hành vi của các nhà cung cấp dịch vụ y tế tại cơ sở chăm sóc sức khỏe ban đầu một cách đáng tin cậy, cho dù ai là người thu thập số liệu
Trang 15Các chỉ số này cung cấp cho các nhà quản lý Y tế thông tin về sử dụng thuốc, thói quen kê đơn và các khía cạnh quan trọng khác của việc chăm sóc người bệnh Tất cả các chỉ số này đã được thử nghiệm trên thực địa một cách rộng rãi tại nhiều quốc gia và cho thấy rằng phù hợp, dễ tạo dựng và có thể xác định được, có giá trị, nhất quán, đáng tin cậy, mang tính đại diện, nhạy cảm với những thay đổi, dễ hiểu và định hướng theo hoạt động [55][81]
Các chỉ số sử dụng thuốc được xây dựng để sử dụng như là các phương pháp
đo lường việc thực hiện ở cả ba lĩnh vực nói chung liên quan tới vấn đề sử dụng thuốc hợp lý trong chăm sóc sức khỏe [61]:
- Thực hành kê đơn thuốc của người cung cấp dịch vụ y tế
- Những yếu tố của vấn đề chăm sóc bệnh nhân, bao gồm cả việc khám lâm sàng và phân phối thuốc
- Có các yếu tố đặc trưng của cơ sở để hỗ trợ cho việc sử dụng thuốc hợp lý như các thuốc thiết yếu và các thông tin tối thiểu về thuốc
Do giới hạn của đề tài nên chỉ thực hiện một số chỉ số tiêu biểu trong các chỉ
Hiện nay việc sử dụng thuốc an toàn hợp lý còn nhiều bất cập Điển hình là việc lạm dụng kháng sinh, corticoid, vitamin, thuốc an thần, gây ngủ đang có chiều hướng ngày càng gia tăng ở các nước phát triển trong đó
Trang 16có Việt Nam và đang xảy ra ở tất cả các tuyến, các cơ sở điều trị từ xã đến huyện đến tỉnh đến trung ương, cả cộng đồng và bệnh viện, cả y tế nhà nước
và tư nhân [1]
Sử dụng thuốc bất hợp lý bao gồm nhiều khía cạnh: lạm dụng thuốc trong phong ngừa bệnh, kê đơn quá nhiều loại thuốc không cần thiết, uống thuốc quá liều lượng quy định [78]
Để tăng cường sử dụng thuốc hợp lý trong bệnh viện cần nhiều hoạt động đồng bộ, trong đó điều trước tiên là Hội đồng thuốc và điều trị cần giám sát kê đơn thường xuyên thông qua bình đơn thuốc, bình bệnh án Nhưng thực tế nhiều bệnh viện chưa thường xuyên bình đơn thuốc, bình bệnh
án, chỉ tập trung khi có kiểm tra của cấp trên hay làm hình thức, mới chỉ là kiểm tra các thủ tục hành chính của đơn thuốc và bệnh án, chưa thực sự đi sâu vào nhận xét về chẩn đoán và điều trị Do đó, hội đồng cần giám sát các chỉ số
sử dụng thuốc,xác định các vấn đề, nguyên nhân liên quan đến sử dụng thuốc
và lựa chọn các giải pháp can thiệp phù hợp [12]
1.3.2 Kháng sinh và đề kháng kháng sinh
Từ sự khám phá ra penicillin và đưa penicillin vào điều trị, thời đại kháng sinh chính thức bắt đầu Tuy nhiên ngay từ năm 1945, A.Fleming- vị cha đẻ của kháng sinh- đã tiên đoán trên tờ New- York time về “sự đề kháng” Chỉ sau một thời gian ngắn khi con người đưa kháng sinh vào điều trị, sự đề kháng xuất hiện Cuộc chạy đua giữa con người với vi khuẩn diễn ra ngày càng căng thẳng khi tỷ lệ đề kháng gia tăng rất nhanh, những chủng siêu khuẩn kháng thuốc (superbug) ra đời Trong khi đó tốc độ phát minh các kháng sinh mới ngày càng chậm lại
Theo báo cáo điều tra của trường cán bộ quản lý y tế, tại một bệnh viện trung ương, bệnh nhân thường được dùng 2 loại kháng sinh trở lên, cá biệt có trường hợp phải dùng đến 6-7 loại kháng sinh khác nhau, chưa kể các loại
Trang 17thuốc khác Việc lạm dụng thuốc đang là một vấn đề đáng lo ngại bởi lẽ nó không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe, tiền của người bệnh mà còn gây nhiều hậu quả đáng tiếc về sau [39]
Kháng sinh là thuốc rất hiệu quả trong điều trị các bệnh nhiễm trùng, nhưng vấn đề phát triển các chủng vi khuẩn đề kháng lại kháng sinh cũng đặt
ra nhiều thách thức đối với công tác điều trị [81] Tại các bệnh viện, nhiều bệnh nhân đang có nguy cơ tử vong do các bệnh nhiễm trùng kháng trị mặc
dù vẫn được chăm sóc chu đáo bởi đội ngũ nhân viên y tế đầy năng lực
Nguyên nhân chủ yếu gây nên sự đề kháng là do: sử dụng kháng sinh bừa bãi cho những trường hợp không đúng chỉ định; sử dụng kháng sinh phòng ngừa; sử dụng kháng sinh phổ rộng để điều trị bao vây; sự không tuân thủ điều trị của bệnh nhân do thiếu hiểu biết hoặc do không đủ kinh phí điều trị Điều đó dẫn đến dùng thuốc không đủ số lượng, liều, khoảng cách liều và thời gian điều trị [80]
Vì vậy việc kê đơn kháng sinh cần được cân nhắc và xem xét kĩ
Nguyên tắc chung trong việc kê đơn kháng sinh cần căn cứ vào các tiêu
chí sau [80]:
- Phổ tác dụng của kháng sinh
- Dược lực học và dược động học của kháng sinh
- Chọn đường dùng thuốc hợp lý
- Tính tiện lợi và khả năng tuân thủ điều trị
- Ảnh hưởng tới vi hệ bình thường của cơ thể
- Chi phí điều trị
- Phối hợp kháng sinh
- Tác động của quảng cáo thương mại
- Danh mục thuốc
Trang 18Cần có sự hướng dẫn và giám sát việc sử dụng thuốc trong bệnh viện, chú trọng thông tin thuốc cho người bệnh và cán bộ y tế [11]
1.3.3 Sử dụng corticoid
Glucocorticoid là một trong những hormon có vai trò quan trọng trong điều hòa chuyển hóa các chất Ngoài ra hormon này còn có nhiều tác dụng khác như tác dụng chống viêm, chống dị ứng, ức chế miễn dịch, Công nghệ tổng hợp hóa dược đã ta những dẫn chất loại này với phạm vi áp dụng rất rộng rãi Và điều đáng lưu ý hoạt chất này có rất nhiều tác dụng phụ không mong muốn [28]
Vì vậy, cần tuân thủ và giám sát chặt chẽ các nguyên tắc chung để sử dụng corticoid sau đây:
- Mục đích của điều trị bằng GC chỉ để đạt được sự giảm bệnh có thể chấp nhận được, không nên đòi hỏi một sự khỏi bệnh hoàn toàn
- Liều dùng phụ thuộc chỉ định, đường dùng thuốc, mức độ nặng nhẹ của bệnh Một cách tổng quát, liều dùng càng lớn, thời gian sử dụng càng dài thì độc tính càng nặng
- Thời gian dùng thuốc
- Sử dụng thuốc lâu dài hơn thì phải giảm liều từ từ trước khi ngừng hẳn Sự giảm liều phụ thuộc liều dùng, thời gian sử dụng, tình trạng bệnh nhân và các tác dụng có hại của thuốc
- Cần cân nhắc khi dùng thuốc trong thời kỳ mang thai Trẻ sơ sinh có tiếp xúc với corticosteroid fluor hóa cần được đánh giá về khả năng suy vỏ thượng thận
- Trong thời gian sử dụng GC cần có chế độ ăn thích hợp như ăn ít đường, mỡ, muối, nhiều ion kali và protid
- Tuổi tác, liều dùng, thời gian sử dụng, sự đáp ứng của bệnh nhân là yếu tố cần thiết để xác định các tác dụng có hại
Trang 19- Bất cứ khi nào kê đơn GC cho người bệnh, bác sĩ phải cân nhắc giữa các tác dụng có lợi và các độc tính có thể xảy ra [24]
1.3.4 Sử dụng vitamin
Vitamin và chất khoáng là một trong những yếu tố cần thiết cho sức khỏe con người Hiện nay các vitamin thường được bán như những thuốc không kê đơn dưới nhiều dạng đơn lẻ hoặc phối hợp, với các hàm lượng khác nhau
Vitamin là nhóm thuốc chiếm một vị trí khá lớn trong danh mục thuốc cũng như trên thị trường dược phẩm Việt Nam Có nhiều chuyên gia đã cảnh báo về việc lạm dụng vitamin trong điều trị của thầy thuốc và về việc lạm
dụng vitamin do quan điểm sai trong cộng đồng
1.4 Công tác chăm sóc dược
1.4.1 Nội dung cơ bản trong chăm sóc dược [29]
Nội dung chăm sóc dược không chỉ bắt đầu từ khâu phát thuốc mà phải ngay từ khâu lựa chọn thuốc cho kê đơn; tiếp theo là hướng dẫn sử dụng thuốc, theo dõi hiệu quả, độ an toàn, phát hiện nguyên nhân thất bại điều trị liên quan đến sử dụng thuốc nếu xảy ra (không tuân thủ điều trị, tương tác thuốc, lựa chọn sai thuốc, sai liều, ) và đề xuất biện pháp xử trí
Các nội dung cần làm trong chăm sóc dược:
- Các mục tiêu ưu tiên hàng đầu trong điều trị
- Lựa chon thuốc có chỉ số hiệu quả/ an toàn và hiệu quả/ kinh tế cao nhất
- Xây dựng một kế hoạch điều trị hệ thống và liên tục về thuốc cho bệnh nhân
- Xác định được các vấn đề hiện tại và lâu dài liên quan đến sức khỏe
- Đảm bảo sự phối hợp đồng bộ giữa các bộ phận điều trị
Trang 20- Xác định những việc cần làm khi chăm sóc bệnh nhân ngoại trú
Tóm tắt quá trình chăm sóc dược cho bệnh nhân [28][61]
Chăm sóc dược là công việc trọng tâm trong điều trị với sự tham gia của tất cả đội ngũ y tế trong bệnh viện, nhưng người giữ vai trò trung tâm chính là dược sĩ lâm sàng Những mong muốn của bệnh nhân trong nhu cầu
về thuốc là vấn đề chủ yếu khi triển khai kế hoạch chăm sóc dược nhằm giải quyết các vấn đề liên quan đến thuốc và phòng ngừa được các nguy cơ do thuốc gây ra Việc phối hợp kiến thức về thuốc, kỹ năng giao tiếp với bệnh
- Giải quyết các vấn
đề có thể xảy ra liên quan đến thuốc
- Chọn đích điều trị
- Phòng ngừa các vấn đề có thể xảy ra liên quan đến thuốc
ĐÁNH GIÁ Kết quả điều trị qua bệnh án
Tiến triển của bệnh so với đích đặt ra
Đánh giá lại (nếu cần)
XÁC ĐỊNH MỐI QUAN HỆ ĐIỀU TRỊ
Trang 21nhân và sự hợp tác chặt chẽ giữa dược sĩ lâm sàng với các thành viên trong bệnh phòng là mấu chốt để dược sĩ lâm sàng hoàn thành nhiệm vụ chăm sóc dược, góp phần vào thành công trong điều trị [28][29]
1.4.2 Xác định những việc cần làm khi chăm sóc bệnh nhân ngoại trú [11]
Hoạt động của dược sĩ lâm sàng bao gồm sử dụng thuốc trong điều trị cho cả bệnh nhân nội trú và ngoại trú đã được chẩn đoán bệnh và có phương
án điều trị, hướng dẫn bệnh nhân những vấn đề liên quan đến thuốc trước khi bệnh nhân xuất viện bao gồm:
- Sử dụng thuốc thế nào cho đúng
- Thời gian tái khám
- Các biện pháp theo dõi hiệu quả của thuốc
- Phát hiện, ghi nhận và báo cáo về tác dụng phụ do thuốc gây ra
- Có thể mua hoặc lĩnh thuốc ở đâu
- Biệt dược cùng loại có thể thay thế
Nhiệm vụ của dược sĩ lâm sàng trong mô hình chăm sóc dược:
- Thu thập thông tin liên quan đến bệnh nhân
- Chuẩn bị các thông tin liên quan đến thuốc
- Thông báo về tác dụng không mong muốn đã biết của thuốc cho bệnh nhân
Trang 221.4.3 Công tác tư vấn về chăm sóc sức khỏe
Hiện nay công tác tư vấn về chăm sóc sức khỏe đang được chú trọng và
đề cao Có hai hình thức chính cho hoạt động này là tư vấn trực tiếp hoặc gián tiếp về khám bệnh, chữa bệnh, phòng bệnh, chăm sóc sức khỏe cho người dân
và cộng đồng Tham gia truyền thông, giáo dục sức khỏe để góp phần nâng cao nhận thức của người dân về phòng bệnh tích cực và chủ động, phòng ngừa các yếu tố nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe và bệnh tật [10]
Bệnh nhân phải được biết đầy đủ về các khả năng để phòng ngừa tái phát hoặc để phục hồi chức năng Những thông tin cần thiết chủ yếu đến từ hệ thống y tế, nhưng các nguồn “không chính thức” khác như sách, báo, tạp chí
và đặc biệt là Internet có một vai trò ngày càng quan trọng [27]
Tư vấn cho người bệnh mang tính đặc thù cao Vì vậy vai trò của bác sĩ khám chữa bệnh trực tiếp là quan trọng, cần thiết và hiệu quả nhất Tại điều
26, chương IV Thông tư 07/2011/TT-BYT ngày 26/01/2011 hướng dẫn công tác điều dưỡng về chăm sóc người bệnh trong bệnh viện, quy định về trách nhiệm của bác sĩ điều trị: Giải thích, hướng dẫn chế độ sinh hoạt, chế độ dinh dưỡng, động viên, an ủi người bệnh và gia đình người bệnh an tâm điều trị [9]
1.4.4 Thông tin thuốc và tư vấn sử dụng thuốc
Bệnh nhân là khâu cuối cùng thực hiện các ý đồ sử dụng thuốc để đạt hiệu quả cao và an toàn Nếu bệnh nhân không thực hiện đúng y lệnh thì mọi điều cố gắng của y bác sỹ, dược sỹ, y tá…đều không có hiệu quả và trở thành
vô ích Muốn thực hiện đúng và tham gia đóng góp tích cực vào quá trình điều trị, bệnh nhân phải được hiểu rõ lợi ích, tác hại của thuốc để tránh các biểu hiện sai lệch, không chính xác hay có hại Việc thông tin - giáo dục - truyền thông về thuốc đến người bệnh là rất quan trọng [28]
Trang 23Tại điều 19 – chương III trong Thông tư 22/2011/TT-BYT ngày 10/6/2011 của Bộ Y tế Quy định tổ chức và hoạt động của khoa Dược bệnh viện có nêu rõ trách nhiệm của khoa dược nói chung và dược sĩ nói riêng về công tác thông tin thuốc và tư vấn và sử dụng thuốc như sau [8]:
- Tổ chức đơn vị thông tin thuốc để phổ biến, theo dõi, tuyên truyền sử dụng thuốc an toàn, hợp lý và hiệu quả
- Thông tin về thuốc: tên thuốc, hoạt chất, liều dùng, liều độc, quá liều; hiệu chỉnh liều cho các đối tượng người bệnh đặc biệt; chỉ định, chống chỉ định, tác dụng không mong muốn của thuốc, tương tác thuốc, tương hợp, tương kỵ của thuốc; lựa chọn thuốc trong điều trị; sử dụng thuốc cho phụ nữ
có thai/cho con bú, các lưu ý khi sử dụng thuốc
- Thông báo kịp thời những thông tin về thuốc mới: tên thuốc, thành phần; tác dụng dược lý, tác dụng không mong muốn, chỉ định, chống chỉ định, liều dùng đến các khoa lâm sàng
- Đánh giá sử dụng thuốc về chỉ định (sự phù hợp với hướng dẫn điều trị, với danh mục thuốc bệnh viện), chống chỉ định, liều dùng, tương tác thuốc thông qua việc duyệt thuốc cho các khoa lâm sàng và tham gia phân tích sử dụng thuốc trong các trường hợp lâm sàng và đánh giá quá trình
sử dụng thuốc
Giáo dục và tư vấn cho bệnh nhân là một phần quan trọng trong công tác chăm sóc dược Làm tốt công tác này sẽ góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe và đưa lại kết quả điều trị tốt [29]
Giáo dục bệnh nhân trong khuôn khổ công tác chăm sóc dược là cung cấp kiến thức về bệnh, về thuốc (cơ chế tác dụng, tác dụng không mong muốn ) liên quan đến quá trình điều trị của bệnh nhân [29]
Thực tế cho thấy bệnh nhân nào hiểu rõ lý do phải dùng thuốc, tác dụng của từng thuốc mà mình được kê đơn và cách sử dụng, những tác dụng không
Trang 24mong muốn có thể gặp phải thì việc tuân thủ điều trị sẽ dễ dàng và khả năng điều trị thành công cao hơn hẳn
Công tác thông tin và tư vấn về sử dụng thuốc trong bệnh viện được tổ chức và thực hiện như sau:
- Trưởng khoa đựợc giám sát việc sử dụng thuốc an toàn, hợp lí và hiệu quả
- Dược sĩ khoa dựơc tư vấn cùng bác sĩ điều trị tham gia chọn thuốc điều trị đối với một số người bệnh nặng, mạn tính cụ thể
- Khoa dược chịu trách nhiệm thông tin về thuốc, triển khai mạng lý theo dõi phản ứng có hại của thuốc (ADR: adverse dung reactions), giới thiệu thuốc mới
1.4.5 Cấp phát thuốc
Cũng như công tác kê đơn, cấp phát thuốc cũng là một trong những công tác quan trọng nhằm đảm bảo sử dụng thuốc hợp lý, an toàn, hiệu quả Quá trình cấp phát thuốc từ kho chẵn đến kho lẻ và đến bệnh nhân tương đối phức tạp, đòi hỏi sự kỹ lưỡng, chuẩn xác của dược sĩ
Những quy định cấp phát thuốc tại kho lẻ:
- Khoa Dược duyệt thuốc trước khi cấp phát
- Phát thuốc theo đơn cho người bệnh ngoại trú có thẻ bảo hiểm y tế
- Từ chối phát thuốc nếu phát hiện sai sót trong đơn thuốc hoặc Phiếu lĩnh thuốc, thông báo lại với bác sĩ kê đơn và bác sĩ ký duyệt; phối hợp với bác sĩ lâm sàng trong việc điều chỉnh đơn thuốc hoặc thay thế thuốc
- Kiểm tra, đối chiếu khi cấp phát thuốc:
- Thể thức phiếu lĩnh thuốc hoặc đơn thuốc;
- Kiểm tra tên thuốc, nồng độ (hàm lượng), dạng bào chế, liều dùng, đường dùng, khoảng cách dùng thuốc trên đơn thuốc với thuốc sẽ giao;
- Nhãn thuốc;
Trang 25- Chất lượng thuốc;
- Đối chiếu số lượng, số khoản thuốc trong đơn, phiếu lĩnh thuốc với
số thuốc sẽ giao
- Sau khi cấp phát phải vào thẻ kho theo dõi thuốc hàng ngày
- Nguyên tắc thuốc nhập trước xuất trước, thuốc có hạn dùng ngắn hơn xuất trước Chỉ được cấp phát các thuốc còn hạn sử dụng và đạt tiêu chuẩn chất lượng
- Vào sổ theo dõi xuất, nhập hoặc thẻ kho
- Lưu trữ chứng từ xuất, nhập, đơn thuốc ngoại trú thực hiện theo quy định về lưu trữ hồ sơ bệnh án [8]
- Thuốc đưa tới bệnh nhân cần được: đóng gói phù hợp, dán nhãn đầy
đủ, thông tin dùng thuốc được viết rõ ràng và hướng dẫn sử dụng
- Dược sĩ phát thuốc cho bệnh nhân cần cung cấp những kiến thức cơ bản về thuốc (chỉ định, chống chỉ định, tác dụng phụ, ) lưu ý về liều dùng, thời gian dùng để bệnh nhân có thể sử dụng thuốc đúng cách, đủ liều, hạn chế những phản ứng có hại của thuốc Sự hiểu biết về thuốc của bệnh nhân và việc tuân thủ phát đồ điều trị là yếu tố quyết định hiệu quả điều trị [61]
1.5 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước
1.5.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Hầu hết các phản ứng có hại của thuốc đều bắt nguồn từ nguyên nhân dùng thuốc quá liều và quan niệm sai lầm khi dùng thuốc rằng một thuốc có thể chữa được nhiều bệnh Các chỉ số sử dụng thuốc của WHO/INRUD tại các nước đang phát triển cho thấy số lượng thuốc trung bình của hầu hết các đơn thuốc tại khu vực khám công vào khoảng 2,56 thuốc/đơn [62], ở Libya (3,04), Sudan (1,4) [62] và theo một nghiên cứu tại cộng đồng Mexico thì có 64,4% bệnh nhân sử dụng kháng sinh sai liều và 53,1% bệnh nhân chỉ sử dụng trong thời gian ngắn thì ngừng (có sự giám sát của bác sỹ) [57] và theo
Trang 26một báo cáo của WHO có khoảng 60% kháng sinh ở Nigeria được chỉ định
không cần thiết [65]
Theo báo cáo về tình hình thuốc trên thế giới năm 2004 của WHO, nghiên cứu về các chỉ số sử dụng thuốc tiến hành ở nhiều quốc gia được công bố: số lượng thuốc trung bình cho mỗi đơn là từ 2 – 3 thuốc Tuy nhiên ở Ghana số thuốc trung bình trong đơn là 4,4 và một số nước như Indonesia, Nigeri, Nigeria, Ấn Độ, Pakistan số thuốc trung bình trong đơn là từ 3 loại thuốc trở lên [57] Cũng theo báo cáo của WHO 2004 tỷ lệ % kê đơn kháng sinh chung của nhiều quốc gia là 45%, tuy nhiên ở Indonesia (1990) Pakistan (1998) Tây Begal, Ấn Độ (1999) tỷ lệ % kê đơn kháng sinh vượt quá 70% [57]
1.5.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Theo nghiên cứu tại BVĐK Bắc Giang của Lê Thị Thu cho thấy tỷ lệ đơn thuốc có 1 kháng sinh ở đơn thuốc của bệnh nhân có BHYT là 86,7%, tỷ
lệ đơn thuốc có 2 kháng sinh ở đơn thuốc của bệnh nhân có BHYT là 13,3%, trong đó 2 kháng sinh được sử dụng nhiều nhất là Cephalosporin (62,7%) và penicillin (17,2%); tỷ lệ đơn thuốc có kê vitamin ở đơn thuốc KBHYT (64,7%) cao hơn ở đơn BHYT (23,3%) [51]
Nghiên cứu mô tả cắt ngang của Trần Nhân Thắng về khảo sát tình hình kê đơn sử dụng thuốc điều trị ngoại trú tại bệnh viện Bạch Mai năm
2011 thì tỷ lệ trung bình trong một đơn thuốc trong toàn bệnh viện là 4,7 Tỷ
lệ % đơn thuốc có kê kháng sinh chung là 32,3% Tỷ lệ sử dụng vitamin với bệnh nhân có BHYT là 19,2% và bệnh nhân KBHYT là 30,1% [50]
Lạm dụng corticoid đang là thực trạng chung ở Việt Nam và các quốc gia đang phát triển Theo khảo sát về tình hình sử dụng corticosteroid trong điều trị nội trú tại bệnh viện đa khoa Thới Bình, Cà Mau năm 2013 của Quách
Trang 27Thành Phúc, số bệnh án có sử dụng nhóm thuốc này chiếm 7,14% [43] Tại bệnh viện Nhi Đồng 2, năm 2010 tỉ lệ này chiếm 16,80% [45]
Theo đánh giá của Phạm Chí Dũng thì tỷ lệ người tiêu dùng sử dụng vitamin trong tổng số người sử dụng thuốc dao động từ 45,9% đến 74,9%, thấp nhất ở Hà Giang và cao nhất ở Thành phố Hồ Chí Minh, trung bình chung là 52,0%; tỷ lệ đơn thuốc có vitamin ở các tỉnh dao động từ 55,4% đến 77,5%, tỷ lệ trung bình 66,1% [22]
Trang 28Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đơn thuốc của bệnh nhân điều trị ngoại trú có tham gia BHYT
và KBHYT tại TTYT huyện Châu Thành – tỉnh Hậu Giang
- Dược sĩ cấp phát thuốc
- Bệnh nhân khám và điều trị ngoại trú có tham gia BHYT và KBHYT tại TTYT huyện Châu Thành – tỉnh Hậu Giang
2.1.2 Tiêu chuẩn chọn mẫu
- Đơn thuốc của bệnh nhân khám và điều trị ngoại trú có BHYT
và KBHYT tại TTYT huyện Châu Thành – tỉnh Hậu Giang
- Dược sĩ cấp phát thuốc theo đơn thuốc tại nhà thuốc bệnh viện
và bộ phận phát thuốc BHYT - TTYT huyện Châu Thành – tỉnh Hậu Giang
- Bệnh nhân khám và điều trị ngoại trú có BHYT và KBHYT tại TTYT huyện Châu Thành – tỉnh Hậu Giang
- Thời gian lấy mẫu từ 06/2017 đến 06/2018
2.1.3 Tiêu chuẩn loại trừ
- Đơn thuốc không được mua tại nhà thuốc bệnh viện hoặc không được cấp phát từ bộ phận BHYT
- Bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu
2.1.4 Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành tại TTYT huyện Châu Thành – tỉnh Hậu Giang
2.1.5 Thời gian nghiên cứu
Thời gian từ tháng 6/2017 đến tháng 6/2018
Trang 292.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu
Theo phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang
2.2.2 Cỡ mẫu
Cỡ mẫu nghiên cứu [20]
Trong đó:
n: là cỡ mẫu nghiên cứu cần có
Z: hệ số tin cậy, Z = 1,96 với độ tin cậy 95%
p: Theo kết quả nghiên cứu của Trần Nhân Thắng [50]: số thuốc trung
bình trong 1 đơn thuốc ngoại trú BHYT là 4,2 Do đó, chọn p = 0,042
d: là khoảng sai lệch mong muốn giữa tỷ lệ từ mẫu và tỷ lệ thật của
quần thể (sai số tuyệt đối) Trong nghiên cứu này chọn d = 0,02
Tính được n = 384 là cỡ mẫu cần nghiên cứu
Để tránh trường hợp mẫu nghiên cứu không đạt yêu cầu, chúng tôi thu thập thêm 15% mẫu (58 bệnh nhân, đơn thuốc)
Cỡ mẫu đơn thuốc thu thập và bệnh nhân là 442, bao gồm: 221 bệnh nhân có tham gia BHYT và 221 bệnh nhân không có tham gia BHYT
2.2.3 Phương pháp chọn mẫu
Chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống các bệnh nhân Tổng số bệnh nhân đến khám và điều trị ngoại trú BHYT và KBHYT tại TTYT huyện Châu Thành – tỉnh Hậu Giang từ 01/06/2017 đến 30/06/2018 là:
Bệnh nhân đến khám và điều trị ngoại trú BHYT: 50.000 được xếp theo thứ tự từ 1 đến 50.000 căn cứ vào ngày bệnh đăng ký khám bệnh, thì mỗi bệnh nhân được lấy bằng cách áp dụng khoảng định k
Trang 30Trong khoảng từ 1 đến 24 chọn ngẫu nhiên được số 3 thì các bệnh nhân
được lấy ra có số thứ tự lần lượt 3, 6, 9, 12…
- Chọn ngẫu nhiên bệnh nhân đến khám và điều trị ngoại trú có BHYT
và KBHYT tại TTYT huyện Châu Thành – tỉnh Hậu Giang
- Quan sát quá trình dược sĩ nhận đơn thuốc, cấp phát và tư vấn hướng dẫn về việc dùng thuốc cho bệnh nhân
- Phỏng vấn bệnh nhân về quá trình thăm khám của bác sĩ và quá trình phát thuốc, tư vấn về thuốc của dược sĩ
- Thu thập đơn thuốc từ bệnh nhân và tiến hành phân tích
2.3 Nội dung nghiên cứu
2.3.1 Đặc điểm chung bệnh nhân
Phân bố bệnh nhân theo nhóm tuổi
Chia làm ba nhóm tuổi
- Dưới 40 tuổi
- Từ 40 – 60 tuổi
- Trên 60 tuổi
Trang 31Cách tính: Tỷ lệ phần trăm bệnh nhân theo nhóm tuổi được tính bằng
cách lấy số bệnh nhân của mỗi nhóm tuổi chia cho tổng số bệnh nhân khảo sát
Cách tính: Tỷ lệ phần trăm bệnh nhân theo giới tính được tính bằng cách
lấy số bệnh nhân nam và nữ chia cho tổng số bệnh nhân khảo sát và nhân với
100
Phân bố bệnh nhân theo nghề nghiệp
Chia nghề nghiệp của bệnh nhân thành các nhóm:
Cách tính: Tỷ lệ phần trăm bệnh nhân theo nghề nghiệp được tính bằng
cách lấy số bệnh nhân thuộc mỗi nhóm chia cho tổng số bệnh nhân khảo sát
và nhân 100
2.3.2 Xác định các chỉ số kê đơn
2.3.2.1 Số thuốc trung bình cho mỗi đơn
Cách tính: Số thuốc trung bình mỗi đơn được tính bằng cách chia tổng
số các loại thuốc khác nhau được kê cho số đơn thuốc được khảo sát Các thuốc hỗn hợp được tính là một
Trang 322.3.2.2 Tỷ lệ phần trăm kê đơn với kháng sinh
Cách tính: Tỷ lệ này được tính bằng cách chia số các lần khám bệnh có
kê kháng sinh cho số lần khám bệnh được khảo sát nhân 100
2.3.2.3 Tỷ lệ kháng sinh trung bình trong 1 đơn có kê kháng sinh
Cách tính: Tỷ lệ này được tính bằng cách chia số kháng sinh trung bình
1 đơn có kê kháng sinh cho tổng số đơn thuốc được kê có kháng sinh được khảo sát và nhân 100
2.3.2.4 Tỷ lệ kháng sinh được kê đơn theo họ kháng sinh
Cách tính: Tỷ lệ này được tính bằng cách chia số kháng sinh được kê
theo họ cho tổng số đơn thuốc được kê có kháng sinh được khảo sát và nhân
100
2.3.2.5 Tỷ lệ phần trăm kê đơn với corticoid
Cách tính: Tỷ lệ này được tính bằng cách chia số các lần khám bệnh có
kê thuốc corticoid cho số lần khám bệnh được khảo sát và nhân 100 Các thuốc dạng phối hợp với các thuốc khác vẫn được tính là một thuốc
2.3.2.6 Tỷ lệ phần trăm kê đơn với vitamin
Cách tính: Tỷ lệ này được tính bằng cách chia số các lần khám bệnh có
kê thuốc vitamin cho số lần khám bệnh được khảo sát và nhân 100 Dựa trên danh mục các sản phẩm thuốc được coi là vitamin
2.3.3 Xác định các chỉ số chăm sóc dược
2.3.3.1 Tỷ lệ phần trăm bệnh nhân được bác sỹ tư vấn về tình trạng bệnh hiện tại
Cách tính: Tỷ lệ này được tính bằng cách chia số trường hợp bệnh nhân
được bác sĩ tư vấn về tình hình bệnh hiện tại cho tổng số trường hợp khảo sát
và nhân 100
2.3.3.2 Tỷ lệ bệnh nhân được bác sĩ tư vấn về những thay đổi lối sống(chế độ ăn uống, thể dục, nghĩ ngơi…) trong điều trị
Trang 33Cách tính: Tỷ lệ này được tính bằng cách chia số trường hợp bệnh nhân
được bác sĩ tư vấn về những thay đổi lối sống (chế độ ăn uống, thể dục, nghĩ ngơi…) trong điều trị cho tổng số trường hợp khảo sát và nhân 100
2.3.3.3 Tỷ lệ bệnh nhân được bác sĩ hướng dẫn tự theo dõi bệnh sau khi dùng thuốc, chăm sóc bệnh tại nhà, lịch tái khám
Cách tính: Tỷ lệ này được tính bằng cách chia số trường hợp bệnh nhân
được bác sĩ hướng dẫn tự theo dõi, chăm sóc bệnh tại nhà cho tổng số trường hợp khảo sát và nhân 100
2.3.3.4 Tỷ lệ bệnh nhân hài lòng về thời gian khám bệnh
Cách tính: Tỷ lệ này được tính bằng cách chia số trường hợp bệnh nhân
hài lòng về thời gian khám bệnh cho tổng số trường hợp khảo sát và nhân
100
2.3.3.5 Tỷ lệ phần trăm bệnh nhân được dược sĩ hướng dẫn sử dụng thuốc
Cách tính: Tỷ lệ này được tính bằng cách chia số trường hợp bệnh nhân
được dược sĩ cấp phát thuốc hướng dẫn sử dụng thuốc cho tổng số trường hợp khảo sát và nhân 100
Bệnh nhân được dược sĩ hướng dẫn sử dụng thuốc có thể bằng cách trao đổi trực tiếp hoặc có hướng dẫn trên từng loại thuốc của đơn thuốc và có hướng dẫn sử dụng trên từng vĩ thuốc, bao bì đựng thuốc (đối với thuốc viên rời cấp phát lẻ)
2.3.3.6 Tỷ lệ phần trăm bệnh nhân được dược sĩ thông tin về tác dụng không mong muốn của thuốc
Cách tính: Tỷ lệ này được tính bằng cách chia số trường hợp bệnh nhân
được dược sĩ thông tin về tác dụng không mong muốn của thuốc cho tổng số trường hợp khảo sát và nhân 100
Trang 34Bệnh nhân được dược sĩ thông tin về tác dụng không mong muốn của thuốc bằng cách trực tiếp hoặc bệnh nhân đã từng biết về tác dụng không mong muốn của thuốc đang dùng (đối với những bệnh nhân dùng thuốc chữa bệnh mãn tính hay các bệnh thông thường….)
2.3.3.7 Tỷ lệ phần trăm các thuốc được dán nhãn đầy đủ
Cách tính: Tỷ lệ này được tính bằng cách chia số thuốc trên đó có kèm
ít nhất là tên thuốc, hàm lượng, số lượng thuốc cho tổng số thuốc đã phân phát và nhân 100
Thuốc được tính là dán nhãn đầy đủ khi thuốc ra lẻ phải có nhãn phụ và trên nhãn phụ có ghi rõ tên thuốc, nồng độ hay hàm lượng, số lượng
2.3.3.8 Thời gian cấp phát thuốc trung bình
Cách tính: Thời gian trung bình này được tính bằng cách chia tổng số
thời gian dành cho việc phát thuốc cho số trường hợp được phát
Quy trình ghi nhận chính xác thời gian trung bình mà bệnh nhân tiếp xúc với nhân viên cấp phát thuốc, tính từ lúc bệnh nhân đến điểm phát thuốc tới khi bệnh nhân rời đi
2.3.3.9 Tỷ lệ bệnh nhân hài lòng về thời gian cấp phát thuốc
Cách tính: Tỷ lệ này được tính bằng cách chia số trường hợp bệnh nhân
hài lòng về thời gian cấp phát thuốc cho tổng số trường hợp khảo sát và nhân
100
2.3.4 So sánh các chỉ số kê đơn và các chỉ số chăm sóc dược trên bệnh nhân ngoại trú BHYT và không BHYT tại Trung tâm Y tế huyện Châu Thành – tỉnh Hậu Giang
2.3.4.1 So sánh các chỉ số kê đơn
- Số thuốc trung bình cho mỗi đơn
- Tỷ lệ phần trăm kê đơn với kháng sinh
- Tỷ lệ kháng sinh trung bình trong 1 đơn có kê kháng sinh
Trang 35- Tỷ lệ kháng sinh được kê theo họ kháng sinh
- Tỷ lệ phần trăm kê đơn với corticoid
- Tỷ lệ phần trăm kê đơn với vitamin
Số liệu về các chỉ số kê đơn trên bệnh nhân ngoại trú BHYT và
KBHYT được tính trung bình X ± SEM (Standard Error of Mean, sai
số chuẩn của giá trị trung bình)
- Tỷ lệ bệnh nhân hài lòng về thời gian khám bệnh
- Tỷ lệ phần trăm bệnh nhân được dược sĩ tư vấn hướng dẫn sử dụng thuốc
- Tỷ lệ phần trăm bệnh nhân được dược sĩ thông tin về tác dụng không mong muốn của thuốc
- Tỷ lệ phần trăm các thuốc được dán nhãn đầy đủ
- Thời gian cấp phát thuốc trung bình
- Tỷ lệ bệnh nhân hài lòng về thời gian cấp phát thuốc
Số liệu về các chỉ số chăm sóc dược trên bệnh nhân ngoại trú
BHYT và KBHYT được tính trung bình X ± SEM (Standard Error of Mean,
sai số chuẩn của giá trị trung bình)
Xử lý số liệu bằng phương pháp thống kê y – sinh học: Phân tích phương sai một yếu tố với t – test trên SPSS Giá trị p< 0.05 được xem là khác biệt có ý nghĩa thống kê
Trang 362.4 Phương pháp và kỹ thuật thu thập số liệu
- Nguồn cung cấp số liệu: Đơn thuốc và bệnh nhân nghiên cứu được
thực hiện tại nhà thuốc bệnh viện và bộ phận phát thuốc bảo hiểm y tế để khảo sát, phỏng vấn, xác định các chỉ số kê đơn và các chỉ số chăm sóc dược Các số liệu này được tập hợp và tính toán thông thường trên máy vi tính
- Người đi thu thập số liệu: Người thực hiện đề tài sau khi soạn bộ câu
hỏi phỏng vấn và quan sát, trực tiếp đi đến cơ sở nghiên cứu lấy số liệu gặp
gỡ đối tượng nghiên cứu để lấy thông tin và số liệu Các đối tượng nghiên cứu được phỏng vấn phải tự nguyện hợp tác với người phỏng vấn để có số liệu khách quan và không vi phạm đạo đức trong nghiên cứu Nếu đối tượng nghiên cứu từ chối hợp tác sẽ không được thu thập và loại trừ mẫu này
2.4.1 Kỹ thuật thu thập thông tin
Khi bệnh nhân đến nhận thuốc người di thu thập só liệu sẽ quan sát quá trình cấp phát thuốc của dược sĩ
Sau khi bệnh nhận lãnh thuốc xong sẽ phỏng vấn bệnh nhân bằng bộ câu hỏi điều tra quá trình khám bệnh, kê đơn của bác sĩ
Đơn thuốc của bệnh nhân sẽ được người đi thu thập số liệu chụp ảnh lại hoặc xin từ phần mềm quản lý của TTYT
2.4.2 Kiểm soát sai lệch thông tin
+ Người đi thu thập số liệu phải am hiểu và nắm vững các quy chế chuyên môn để tránh sai lệch và nhầm lẫn
+ Tiến hành khảo sát thử trên 5% đối tượng nghiên cứu, hiệu chỉnh lại phiếu khảo sát
+ Thấy ổn định và hợp lý, tiến hành thu thập thông tin ở các đối tượng nghiên cứu khác
- Hướng xử lý và phân tích số liệu
Trang 37Sau khi tổng hợp các số liệu thu thập được, tiến hành tính toán theo các biến số cụ thể đã đề ra ở trên
2.5 Xử lý số liệu
Kết quả trong nghiên cứu sẽ được nhập vào phần mềm Microsolt Excel
và chương trình SPSS 20.0 để xử lý số liệu thống kê, tính theo tỷ lệ phần trăm của mẫu nghiên cứu.
Trình bày kết quả dưới dạng bảng, biểu đồ
2.6 Đạo đức trong nghiên cứu
Nghiên cứu đảm bảo tính bí mật riêng tư của đối tượng tham gia nghiên cứu, kết quả chỉ phục vụ cho mục đích nghiên cứu, không sử dụng kết quả nghiên cứu cho các mục đích khác ngoài mục đích nghiên cứu của đề tài
Nhằm đảm bảo bí mật và khách quan cho dữ liệu nghiên cứu nên danh tính và các thông tin cá nhân của đối tượng nghiên cứu không ghi trong bảng câu hỏi, không gây phiền hà cho các nhà thuốc khảo sát
Số liệu thu thập được từ việc nghiên cứu có tính trung thực, tính khách
quan, tính chính xác và giá trị thực tiễn
Trang 38Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Đặc điểm chung bệnh nhân
3.1.1 Phân bố bệnh nhân theo nhóm tuổi:
Bảng 3.1: Phân bố bệnh nhân theo nhóm tuổi
Kết quả phân tích ở bảng 3.1 cho thấy
- Bệnh nhân có BHYT đến khám và điều trị theo nhóm tuổi tương đối đồng đều, nhóm bệnh nhân nhóm tuổi từ 40 – 60 nhiều nhất chiếm tỉ lệ 38,5% trong tổng số bệnh nhân có BHYT được khảo sát, tiếp theo là nhóm bệnh nhân tuổi trên 60 tuổi chiếm 38,5%, nhóm bệnh nhân dưới 40 tuổi chiếm tỉ lệ 29,8%
- Bệnh nhân KBHYT đến khám và điều trị nhiều nhất thuộc nhóm tuổi dưới 40 tuổi chiếm tỉ lệ 66,1% trong tổng số bệnh nhân KBHYT được khảo sát, tiếp theo là nhóm bệnh nhân tuồi từ 40 đến 60 chiếm tỉ lệ 25,8%, nhóm bệnh nhân tuổi trên 60 tuổi chiếm tỉ lệ 8,1%
Trang 393.1.3 Phân bố bệnh nhân theo nghề nghiệp
Bảng 3.3: Phân bố bệnh nhân theo nghề nghiệp
Trang 40Nhận xét:
Từ bảng 3.3 ta được:
- Bệnh nhân đến khám và điều trị có BHYT: chủ yếu là nhóm khác chiếm tỷ lệ cao nhất 25,3% , kế đến là nội trợ chiếm 19%, công nhân chiếm 17,6%, nông dân chiếm 16,7%, người già chiếm 15,4% và sau cùng thấp nhất
là công chức viên chức chiếm tỉ lệ 5,9%
- Bệnh nhân đến khám và điều trị không có BHYT: chiếm tỷ lệ cao là nhóm khác 28,1%, tiếp đến là công nhân chiếm tỉ lệ 26,2%, nội trợ chiếm 18,6%, nông dân chiếm 16,7%, người già chiếm tỉ lệ 7,2%, thấp nhất vẫn là công chức viên chức chiếm tỉ lệ 3,2% trên tổng số bệnh nhân KBHYT
3.2 Xác định các chỉ số kê đơn
3.2.1 Số thuốc trung bình cho mỗi đơn
Bảng 3.4 Số thuốc trung bình trong mỗi đơn
Số thuốc trung bình trong 1 đơn 4,48 4,28
Nhận xét:
Theo kết quả nghiên cứu ở bảng 3.4 ta được số thuốc trung bình trong một đơn BHYT là 4,48 thuốc, đơn KBHYT là 4,28 thuốc