gắn liền với lý thuyết tiếp nhận, lý thuyết giao tiếp, thi pháp học, lý luận dạy học ngữ văn”.[13] Xác định rõ vai trò của đọc – hiểu như vậy nhưng trong nhà trường phổ thông Việt Nam h
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
VŨ THỊ YẾN
DẠY HỌC ĐOẠN TRÍCH “HỒN TRƯƠNG BA,
DA HÀNG THỊT” CỦA LƯU QUANG VŨ (NGỮ VĂN 12, TẬP 2) THEO HƯỚNG TIẾP CẬN LIÊN VĂN BẢN
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN
CHUYÊN NGÀNH : LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN NGỮ VĂN)
Mã số: 8140111
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đoàn Đức Phương
Trang 3nghiên cứu tại trường
Tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Đoàn Đức Phương người trực
tiếp hướng dẫn khoa học đã nhiệt tình chỉ dạy, hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban Giám hiệu, các thầy cô giáo và các
em học sinh của trường THPT Gia Lộc II- Gia Lộc - Hải Dương đã ủng hộ, giúp đỡ tôi, tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành nhiệm vụ của mình
Qua đây, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, người thân và bạn bè đã dành cho tôi sự quan tâm, khích lệ, chia sẻ và động viên tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu
Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng trong quá trình tìm hiểu và nghiên cứu không tránh khỏi những sai sót, tôi rất mong nhận được sự góp ý chân thành từ phía thầy cô và các bạn đồng nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 11 năm 2017 Tác giả
Vũ Thị Yến
Trang 4Đối chứng Đại học sư phạm Đại học quốc gia Hà Nội Giáo Dục và Đào tạo Giáo viên
Học sinh
Kĩ năng sống KTDH
Kĩ thuật dạy học Nhà xuất bản Nghệ sĩ nhân dân Phương pháp dạy học Phương tiện dạy học Sách giáo khoa Sách giáo viên Trung học cơ sở Trung học phổ thông Thực nghiệm
Tài liệu tham khảo
Trang 5MỤC LỤC
Lời cảm ơn i
Danh mục các chữ viết tắt ii
Mục lục iii
Danh mục hình ảnh vi
Danh mục bảng biểu vii
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu 3
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 8
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
5 Phương pháp nghiên cứu 9
6 Đóng góp của luận văn 11
7 Cấu trúc của luận văn: 11
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 12
1.1 Lý thuyết liên văn bản 12
1.1.1 Nguồn gốc lý thuyết liên văn bản 12
1.1.2 Khái niệm liên văn bản 14
1.1.3 Đặc trưng của liên văn bản 23
1.1.4 Hình thức và nhiệm vụ liên văn bản 23
1.2 Tính khả thi, điều kiện và ý nghĩa của việc dạy học đọc hiểu văn bản văn học theo hướng tiếp cận liên văn bản trong chương trình ngữ văn THPT 25
1.2.1 Tính khả thi của việc dạy học đọc hiểu văn bản theo hướng tiếp cận liên văn bản trong chương trình ngữ văn THPT 25
1.2.2 Điều kiện để vận dụng có hiệu quả lý thuyết liên văn bản trong dạy học đọc hiểu văn bản trong chương trình Ngữ văn THPT 28
1.2.3 Ý nghĩa của việc vận dụng lý thuyết liên văn bản trong dạy học đọc hiểu văn bản trong chương trình ngữ văn THPT 32
1.3 Thực tế việc vận dụng lý thuyết liên văn bản trong dạy học đọc hiểu ở THPT hiện nay 36
1.3.1 Vận dụng không tự giác 36
1.3.2 Vận dụng tự giác trên cơ sở hiểu biết lý thuyết liên văn bản 38
Trang 61.3.3 Thành công và hạn chế trong việc vận dụng lý thuyết liên văn bản vào dạy học đọc hiểu văn bản văn học trong chương trình Ngữ văn lớp 12 40
1.4 Thực trạng dạy học đoạn trích “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” của Lưu
Quang Vũ (Ngữ văn 12, tập2) trong trường THPT hiện nay 44
1.4.1 Thực trạng dạy học Ngữ văn trong nhà trường THPT hiện nay 44 1.4.2 Thực trạng dạy học đoạn trích “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” của Lưu Quang Vũ (Ngữ văn 12, tập2) trong trường THPT hiện nay 47
Tiểu kết chương 1 49 CHƯƠNG 2 NHỮNG ĐỊNH HƯỚNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
DẠY HỌC ĐOẠN TRÍCH “HỒN TRƯƠNG BA DA HÀNG THỊT” CỦA LƯU QUANG VŨ (NGỮ VĂN 12, TẬP 2) THEO HƯỚNG TIẾP CẬN
LIÊN VĂN BẢN 51
2.1 Những định hướng tổ chức hoạt động dạy học đoạn trích “Hồn Trương Ba
da hàng thịt” trong chương trình Ngữ văn lớp 12 51 2.1.1 Dạy học đoạn trích “Hồn Trương Ba da hàng thịt” của Lưu Quang Vũ theo hướng tích hợp và tích cực 51 2.1.2 Dạy học đoạn trích “Hồn Trương Ba da hàng thịt” của Lưu Quang Vũ nhằm bồi dưỡng năng lực ngôn ngữ nghệ thuật cho học sinh lớp 12 52 2.1.3 Dạy học đoạn trích “Hồn Trương Ba da hàng thịt” của Lưu Quang Vũ nhằm bồi dưỡng nền tảng văn hóa, giáo dục đạo đức,và có cái nhìn mới về con người cho học sinh lớp 12 54
2.2 Nội dung vận dụng 56
2.2.1 Liên kết văn bản “Hồn Trương Ba da hàng thịt” của Lưu Quang Vũ với văn bản truyện dân gian 56 2.2.2 Liên kết văn bản “Hồn Trương Ba da hàng thịt” của Lưu Quang Vũ với các loại hình sáng tác khác 70 2.2.3 Liên kết văn bản “Hồn Trương Ba da hàng thịt” của Lưu Quang Vũ với các lĩnh vực khác trong đời sống, văn bản văn hóa 72
2.3 Phương pháp vận dụng 75
2.3.1 Ưu tiên sự liên kết giữa văn bản Hồn Trương Ba da hàng thịt” của Lưu Quang Vũ với các văn bản từng quen thuộc với học sinh 75 2.3.2 Phá bỏ độc quyền vận dụng lý thuyết liên văn bản của giáo viên 76 2.3.3 Xây dựng hệ thống câu hỏi sáng tạo mang tính liên văn bản 78
Trang 72.3.4 Tăng cường các bài tập liên hệ 79
Tiểu kết chương 2 83
CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM DẠY HỌC ĐOẠN TRÍCH “HỒN TRƯƠNG BA, DA HÀNG THỊT” CỦA LƯU QUANG VŨ ( NGỮ VĂN 12, TẬP 2) THEO HƯỚNG TIẾP CẬN LIÊN VĂN BẢN 85
3.1 Thực nghiệm thăm dò về tính khả thi và hiệu quả của việc vận dụng lý thuyết liên văn bản trong dạy học đọc – hiểu văn bản văn học ở trường trung học phổ thông 85
3.1.1 Mục đích thực nghiệm 85
3.1.2 Đối tượng, thời gian và địa bàn thực nghiệm 85
3.1.3 Nội dung thực nghiệm 85
3.1.4 Tiến trình và kết quả thực nghiệm 86
3.1.5 Thiết kế giáo án thực nghiệm “Hồn Trương Ba da hàng thịt” của Lưu Quang Vũ (tiết 5, Ngữ Văn 12, tập 2, ban cơ bản) theo hướng tiếp cận liên văn bản 91
Tiểu kết chương 3 108
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 109
TÀI LIỆU THAM KHẢO 111
PHỤ LỤC 116
Trang 8DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 3.1 Tranh học sinh tìm hiểu về tác giả Lưu Quang Vũ 94 Hình 3.2 Học sinh 12 I tìm hiểu về tác giả Lưu Quang Vũ 101 Hình 3.3 Học sinh tìm hiểu về nhân vật Trương Ba – kịch Lưu Quang Vũ so sánh với truyện cổ tích dân gian 101 Hình 3.4 Liên kết "Hồn Trương Ba, da hàng thịt" của Lưu Quang Vũ với nghệ thuật múa rối 105 Hình 3.5 Liên kết "Hồn Trương Ba, da hàng thịt" của Lưu Quang Vũ với nghệ thuật kịch hình thể 106
Trang 9DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1 Kết quả HS các lớp đối chứng : 89
Bảng 3.2: Kết quả các lớp dạy thực nghiệm 90
Bảng 3.3 Bảng so sánh kết quả lớp dạy thực nghiệm và lớp đối chứng 90
Biểu đồ 3.1.Kết quả học tập các lớp đối chứng 89
Biểu đồ 3.2 Kết quả học tập các lớp dạy thực nghiệm 90
Trang 10để các em có thể tự mình đọc và hiểu những văn bản khác Cùng với việc xác định lại mục tiêu của việc dạy học văn, vấn đề đổi mới phương pháp dạy học một lần nữa được nhắc đến Đó là đổi mới phương pháp dạy học theo những yêu cầu của quan điểm dạy học tích cực, tích hợp và tương tác của lí luận dạy học ngày nay Theo quan điểm dạy học tích cực, giáo án không còn là phương án trình diễn hoạt động giảng dạy của giáo viên, không còn là kịch bản độc diễn của người dạy để bằng cách đó giáo viên mang tới cho học sinh những kết luận có sẵn, mà là bản thiết kế các hoạt động dạy xuất phát từ nhiệm vụ học tập của học sinh, khơi dậy năng lực tự học và giúp các em có cơ hội tự mình chiếm lĩnh các tri thức, kĩ năng trong bài học
1.2 Từ tình hình đọc – hiểu văn bản văn học nói chung và vận dụng lý thuyết liên văn bản và dạy học đoạn trích “Hồn Trương Ba da hàng thịt” của Lưu Quang Vũ nói riêng
Sự ra đời của lý thuyết đọc hiểu trên thế giới và sự xâm nhập lý thuyết đó vào Việt Nam những năm gần đây đã ảnh hưởng nhiều đến phương hướng nghiên cứu, giảng dạy tác phẩm văn chương trong nước GS.TS Nguyễn Thanh Hùng cho rằng:
“Đọc-hiểu là một địa hạt mới, gợi ra nhiều vấn đề khoa học để phương pháp dạy học văn phát triển thêm về mặt lý luận và vận dụng thực tế Đọc hiểu cần tách ra khỏi vòng kiểm soát chật hẹp của phương pháp để trở thành nội dung tri thức chung
Trang 11gắn liền với lý thuyết tiếp nhận, lý thuyết giao tiếp, thi pháp học, lý luận dạy học ngữ văn”.[13]
Xác định rõ vai trò của đọc – hiểu như vậy nhưng trong nhà trường phổ thông Việt Nam hiện nay có một thực tế là không phải giáo viên nào cũng hiểu rõ bản chất của đọc hiểu và có những biện pháp đọc hiểu phù hợp Vấn đề này tưởng như là mâu thuẫn, bởi chương trình sách giáo khoa mới đã đi được chặng đường gần 10 năm
Ở phương diện lý luận, hiện nay các sách tham khảo, tài liệu chuẩn kiến thức – kĩ năng, các bài viết đăng trên tạp chí … đều đề cập đến đọc – hiểu Nhưng giữa các tác giả vẫn chưa có sự thống nhất với nhau về thuật ngữ này Có tài liệu ghi là
“đọc - hiểu”(Đọc - hiểu văn bản Ngữ văn (10, 11, 12) – Nguyễn Trọng Hoàn, Dạy học văn là dạy học sinh đọc – hiểu văn bản – Trần Đình Sử), nhưng cũng có tài liệu ghi “đọc hiểu” (Mấy suy nghĩ về đọc hiểu văn bản) – Quách Duy Bình, Dạy học đọc hiểu tác phẩm văn học nhằm hình thành khái niệm phong cách nhà văn cho học sinh – Đỗ Tiến Sĩ ) Ở đây không phải là sai sót trong cách viết hay lỗi kỹ
thuật đánh máy mà xuất phát từ quan niệm của người viết Như vậy, chúng ta thấy rằng ngay cả một thuật ngữ có thể nói là phổ biến hiện nay vẫn có những quan niệm, cách viết không giống nhau
Ở phương diện thực tiễn, có thể thấy rằng từ khi vấn đề đọc – hiểu được áp dụng vào dạy học văn đã xuất hiện nhiều mô hình đọc – hiểu khác nhau của những tác giả có uy tín, như mô hình của Vũ Dương Quỹ, Phan Trọng Luận, Nguyễn Trọng Hoàn…Mỗi mô hình đều có những đóng góp nhất định và trở thành nguồn tài liệu tham khảo phong phú cho giáo viên Và cũng không ít giáo viên đã vận dụng một trong những mô hình trên để soạn giảng Tuy nhiên, qua một số tiết dự giờ, tham khảo các thiết kế bài học, cũng như qua trao đổi với các đồng nghiệp trong các đợt tập huấn thay sách, chúng tôi thấy rằng vẫn còn không ít giáo viên chưa ý thức rõ về tinh thần đọc - hiểu nên còn lúng túng trong thiết kế và dạy học
Do vậy trong rất nhiều giờ dạy mặc dù giáo viên khi thiết kế bài soạn là đọc hiểu, rồi lên lớp hướng dẫn học sinh đọc hiểu, nhưng việc làm này mới chỉ đơn thuần là thay đổi một thao tác chứ thực chất để hiểu rõ xem có những cách thức đọc hiểu nào và hướng dẫn học sinh đọc hiểu ra sao thì hầu hết giáo viên chưa hiểu rõ nguồn gốc của nó Do vậy đây mới chỉ là việc làm thay một chiếc bình mới còn
Trang 12rượu trong bình vẫn là rượu cũ Nói cách khác, chúng ta đang khoác lên mình môn Ngữ văn một chiếc áo mới của đọc – hiểu, còn các biện pháp sử dụng trong dạy học vẫn là của giảng văn và phân tích
Trong khi đó Bộ Giáo Dục và Đào tạo ngày càng đẩy mạnh quá trình phát triển giáo dục, vận dụng các phương pháp, kỹ thuật dạy học nhằm phát huy tính tích cực học tập, sáng tạo của học sinh Nhất là học sinh lớp 12 đang bước vào giai đoạn chuẩn bị cho các kì thi quan trọng và lựa chọn nghề nghiệp cho mình Để hiện thực hóa quan điểm dạy học tích hợp hiện nay một cách sống động, đạt hiệu quả cao thì việc vận dụng lý thuyết liên văn bản trong các giờ đọc hiểu văn bản văn học đã trở thành một đòi hỏi tất yếu Một số nhà giáo, nhà nghiên cứu đã quan tâm và nghiên cứu tìm hiểu đến vấn đề khá là thú vị và hấp dẫn, nhưng cũng không kém phần gai góc này trong các đề tài khác Tuy nhiên, còn rất nhiều khía cạnh của vấn đề cần bàn thảo, kỹ hơn và sâu hơn nhằm tạo thuận lợi cho giáo viên – với mục đích nâng cao chất lượng đọc hiểu văn bản văn học, một hoạt động trọng yếu của dạy học ngữ văn ở THPT nói chung và dạy học Ngữ văn với lớp 12 nói riêng
Từ những lí do trên, chúng tôi thấy rằng việc “Dạy học tác phẩm Hồn Trương Ba da hàng thịt của Lưu Quang Vũ (Ngữ văn 12, tập 2) theo
hướng tiếp cận liên văn bản” cho học sinh lớp12 là việc làm thiết thực, có ý nghĩa góp thêm tiếng nói về một trong những vấn đề có tính thời sự hiện nay
2 Lịch sử nghiên cứu
2.1 Những công trình nghiên cứu về lý thuyết liên văn bản
Trong hơn hai chục năm gần đây, lý thuyết liên văn bản đã từng bước được giới thiệu ở Việt Nam cùng với cấu trúc luận, giải cấu trúc và cấu trúc hiện đại Đã
có rất nhiều các công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu về vấn đề này Sau đây là một số công trình mà chúng tôi quan tâm:
Trước hết là bài viết của Hoàng Trinh tập tiểu luận Ký, hiệu, nghĩa và phê bình văn học (1993), tiếp đến là bài viết của Trần Đình Sử giới thiệu những cống
hiến của M.Bakhtin tính đối thoại và phức điệu trong tiểu thuyết (in trong tập tiểu
luận Lý luận và phê bình văn học.1996) Đỗ Đức Hiểu trong thi pháp hiện đại
(2000) đã đề cập khá trực tiếp về liên văn bản
Trang 13Những công trình dịch thuật về liên văn bản : Các khái niệm và thuật ngữ của các trường phái nghiên cứu văn học ở Tây Âu và Hoa Kỳ thế kỷ XX (I.PIlin và E.A
Tzurgaanova chủ biên) nhóm tác giả Đào Tuấn Anh - Trần Hồng Vân - Lại Nguyên
Ân dịch năm 2003, Bản mệnh của lý thuyết- văn chương và sự cảm nghĩ thông thường của Antoine Compagnon (Lê Hồng Sâm và Đăng Anh Đào dịch năm 2006), Liên văn bản- sự xuất hiện của khái niệm về lịch sử và lý thuyết của vấn đề của L.P Rjanskaya (Ngân Xuyên dịch, năm 2007), công trình thi pháp của chủ nghĩa hậu hiện đại của Liviu Petrescu (Lê Nguyên Cần dịch), Văn bản- liên văn bản- Lý thuyết liên văn bản của G.K Kosikov (Lã Nguyên dịch 2017)
Cụ thể và có hệ thống nhất là bài viết của Nguyễn Minh Quân như Liên văn bản- sự triển hạn đến vô cùng của tác phẩm văn học (2001); Nguyễn Nam Điểm
qua mấy hướng tiếp cận văn bản ở nước ngoài (2011); Nguyễn Nam (viện Harvard
– Yenching) có buổi thuyết trình về “Lý thuyết liên văn bản trong nghiên cứu văn học và Hán Nôm” tại khoa Văn học, Đại học KHXH & NV, 2009, hay Nguyễn Văn Thuấn với đề tài “Liên văn bản trong sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp” Luận án đã
nghiên cứu nguồn gốc của lý thuyết liên văn bản và định hướng những cách tiếp cận mới về sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp, 2013
Các bài nghiên cứu cụ thể và có hệ thống là các bài viết : Liên văn bản trong
Cây đàn ghi-ta của Lorca (Lê Huy Bắc), bài viết “Yếu tố liên văn bản trong tiểu thuyết lịch sử Giàn thiêu của Võ Thị Hảo" tạp chí khoa học – Đại học Huế Số 7, (2012), (Nguyễn Văn Hùng) Hay Phùng Phương Nga có bài viết “Liên văn bản và vấn đề đối thoại của tư tưởng trong văn xuôi đương đại” Văn nghệ trẻ số 3 (741)
và số 13 (754); Liên văn bản trong tiểu thuyết Chân dung cát của Inrasara (Nguyễn Thị Quỳnh Hương); các hình thức liên văn bản trong tiểu thuyết của Pau Auster (Nguyễn Thị Thanh Hiếu); Truyện ngắn Hồ Anh Thái từ góc nhìn liên văn bản của
Nguyễn Văn Thành (Luận văn thạc sĩ KHXH & NV tại đại học Đà Nẵng, năm
2013); luận văn thạc sĩ của Đỗ Thị Vui với đề tài "Dạy học văn học trung đại - Ngữ văn 10 theo hướng liên văn bản" (Trường đại học Giáo dục - Đại học quốc gia Hà Nội - 2013); luận văn thạc sĩ Nguyễn Thị Châm "Dạy học truyện ngắn sau năm
1975 theo hướng tiếp cận liên văn bản" (Trường đại học Giáo dục - Đại học QGHN,
2013); Vận dụng lý thuyết liên văn bản vào dạy học tác phẩm thơ mới chương trình
Trang 14Ngữ văn 11 - THPT của Phạm Thị Bích Phượng (Trường đại học Giáo dục - 2015),
Các bài nghiên cứu cùng các luận văn, luận án là minh chứng cho việc vận dụng lý thuyết liên văn bản để nghiên cứu về tác giả, tác phẩm đang thu hút mạnh
mẽ các nhà nghiên cứu và phê bình văn học đương đại trong những năm gần đây Tiếp cận liên văn bản từ lý thuyết liên văn bản đã mở ra một hướng tiếp cận mới, nó kích thích quá trình tìm hiểu khoa học và khám phá thế giới văn hóa của người đọc,
mở ra vỉa tầng giá trị mới cho tác phẩm văn chương
Các công trình nghiên cứu của tác giả đi trước là những gợi ý bổ ích cho đề tài của tôi và có đóng góp lớn vào việc chỉ ra những con đường, phương pháp để
dạy học đoạn trích “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” của Lưu Quang Vũ theo hướng
tiếp cận liên văn bản
2.2 Những công trình nghiên cứu về dạy học “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” của Lưu Quang Vũ
Kịch bản "Hồn Trương Ba, da hàng thịt" của tác giả Lưu Quang Vũ trong
sách giáo khoa Ngữ văn lớp 12 (chương trình chuẩn) là một tác phẩm mới được đưa vào giảng dạy năm học 2008-2009, song đã có nhiều bài viết định hướng phương pháp tiếp cận văn bản này Chúng tôi quan tâm đến những công trình sau:
2.2.1 Những ý kiến bình phẩm về kịch Lưu Quang Vũ
- Cuốn "Phân tích Ngữ văn 12" của tác giả Trần Nho Thìn, Nxb Giáo dục
(2009) định hướng phân tích đoạn trích "Hồn Trương Ba, da hàng thịt": "Đối với
một văn bản tác phẩm kịch thì cách phân tích thuận tiện hơn cả là phân tích đối thoại và xung đột giữa các nhân vật " Tác giả cho rằng sự tồn tại của nhân vật trong kịch là sự tồn tại thông qua các đối thoại Song tác giả bài viết chưa nói gì đến tính liên văn bản của đoạn trích mà chỉ nói đến ý nghĩa nội dung của vở kịch "Từ văn bản, các cuộc đối thoại giữa hồn Trương Ba và xác hàng thịt, với người thân và với Đế Thích, dễ nhận thấy có một triết lý quan trọng được quan tâm: hồn và xác là hai thực thể quan trọng làm nên nhân cách của con người Để là chính mình, để không giả dối và phân thân, cần có cuộc sống hài hòa của thân xác và tâm hồn"
- Trong cuốn "Phân tích bình giảng tác phẩm văn học 12", chương trình nâng cao, NXB Giáo dục (2008) tác giả Lê Quang Hưng định hướng phân tích kịch bản
Trang 15văn học "Hồn Trương Ba, da hàng thịt" có nói đến sáng tạo nghệ thuật của Lưu Quang
Vũ thông qua diễn biến của xung đột kịch và sự phân thân của nhân vật mà chưa hề đề cập đến vấn đề định hướng tiếp cận văn bản theo hướng tiếp cận liên văn bản
- Bài "Nhân đọc và xem "Hồn Trương Ba, da hàng thịt" của tác giả Phan
Trọng Thường nêu rõ: Vở kịch vừa mang ý nghĩa tự nó, vừa mang ý nghĩa cho nó
Nghĩa tự nó của "Hồn Trương Ba, da hàng thịt" là sự hòa hợp và ý thức đạo lý về
phần hồn và phần xác của con người Còn nghĩa cho nó là cuộc đấu tranh hoàn thiện nhân cách của con người Tác giả Phan Trọng Thường trong bài nghiên cứu của mình cũng có nói đến sáng tạo nghệ thuật của Lưu Quang Vũ khi xây dựng vở kịch:
Khai thác triết lý nhân sinh trong truyện cổ tích "Hồn Trương Ba,da hàng thịt" Từ
triết lý nhân sinh trong truyện cổ tích, Lưu Quang Vũ đã sáng tạo nên một tác phẩm
đa nghĩa
Các nhà nghiên cứu tập trung khai thác hai đề tài chính trong kịch của Lưu Quang Vũ là đề tài khai thác mô típ truyện cổ dân gian và đề tài hiện đại viết về cuộc sống mới để đưa ra những nhận xét đánh giá về tài năng nghệ thuật, cội nguồn sáng tạo nghệ thuật của Lưu Quang Vũ Đề tài hiện đại vẫn luôn là vấn đề cốt lõi, xuyên suốt các sáng tác của Lưu Quang Vũ cho dù nhà văn khai thác các yếu tố dân gian trong vở kịch Đạo diễn Phạm Thị Thành nhận xét: "Anh hay dùng câu chuyện huyền thoại cổ tích để viết lên tâm sự của con người ngày hôm nay" [33,tr.174] Tác
giả Cao Minh cũng có chung nhận xét khi viết về kịch "Hồn Trương Ba, da hàng thịt": Từ một câu truyện cổ dân gian mang tính triết lý cao Lưu Quang Vũ đã sáng tác vở kịch "Hồn Trương Ba, da hàng thịt" Vở kịch đi thẳng vào người xem về vấn
đề muôn thuở của con người cũng là vấn đề cấp bách của cuộc sống hiện tại"
[38,tr.322] Nhà phê bình Lý Hoài Thu chỉ rõ trong vở kịch "Hồn Trương Ba, da hàng thịt" của Lưu Quang Vũ không lệ thuộc vào nội dung câu chuyện, đã tìm tòi,
vừa mở rộng kích thước tự sự, vừa khơi sâu vào giá trị tư tưởng để tạo vở kịch nổi tiếng mà "hạt cơ bản" là giá trị nhân văn sâu sắc là giá trị nhân văn sâu sắc về lẽ tử sinh" [39, tr.117] Những ý kiến đánh giá về kịch Lưu Quang Vũ đều có chung nhận xét: tác giả Lưu Quang Vũ là một tài năng lao động nghệ thuật, sức sáng tạo đặc biệt, đề tài kịch Lưu Quang Vũ rất đa dạng đặc biệt bắt nhịp với cuộc sống mới,
Trang 16chất lượng kịch của Lưu Quang Vũ hấp dẫn lôi cuốn ở cách tổ chức xung đột kịch, ở ngôn ngữ và nghệ thuật xây dựng nhân vật
Ngoài ra còn một số luận án và luận văn đã nghiên cứu một cách hệ thống về
kịch của Lưu Quang Vũ và tác phẩm "Hồn Trương Ba, da hàng thịt" mà chúng tôi quan tâm như: Đặc điểm kịch của Lưu Quang Vũ, Mảng kịch dựa trên tích truyện dân gian của Lưu Quang Vũ, Thế giới nhân vật trong kịch Lưu Quang vũ,
2.2.2 Những tài liệu hướng dẫn giảng dạy đoạn trích "Hồn Trương Ba, da hàng thịt" của Lưu Quang Vũ
2.2.2.1 Sách giáo viên
- Sách giáo viên chương trình chuẩn do GS Phan Trọng Luận làm tổng chủ
biên, đã định hướng tìm hiểu đoạn trích "Hồn Trương Ba, da hàng thịt" như sau:
+ Về nội dụng: Sách giáo viên hướng dẫn tìm hiểu trên 3 nội dung:
Thứ nhất: Hoàn cảnh trớ trêu của nhân vật hồn Trương Ba: phải trú ngụ trong xác hàng thịt, sống vay mượn, tạm bợ và trái tự nhiên, khiến tâm hồn nhân hậu, thanh cao bị nhiễm độc và tha hóa bởi sự lấn át của thể xác thô lỗ, phàm tục
Thứ hai: Về quan niệm con người là một thể thống nhất giữa hồn và xác, hồn
và xác phải hài hòa, sống thực cho ra con người quá không đơn giản
Thứ ba: Vẻ đẹp tâm hồn của người lao động trong cuộc đấu tranh chống lại
sự giả tạo và dung tục, bảo vệ quyền được sống và khát vọng hoàn thiện nhân cách
+ Về phương pháp: Giáo viên định hướng học sinh tìm hiểu văn bản dựa trên các câu hỏi ở mục "hướng dẫn học bài" trong sách giáo khoa
- Sách giáo viên chương trình nâng cao do GS Trần Đình Sử làm tổng chủ biên định hướng khai thác như sau:
+ Về nội dung:
Phân tích tình huống kịch qua các đối thoại để làm nổi bật triết lý về hạnh phúc, về lẽ sống chết: con người là một thể thống nhất giữa linh hồn và thể xác Sống nhờ, sống gửi, sống chắp vá, sống không được là chính mình thì cuộc sống đó thật vô nghĩa
Phê phán thói chạy theo ham muốn tầm thường về vật chất, những kẻ lấy cớ tâm hồn đáng quý mà chẳng chăm lo đến đời sống vật chất, không phấn đấu vì hạnh phúc toàn vẹn
Trang 17+ Về phương pháp:
Sách giáo viên cũng định hướng cho giáo viên giúp học sinh tìm hiểu văn bản dựa trên 7 câu hỏi trong phần "hướng dẫn học bài" của sách giáo khoa
2.2.2.2 Sách tham khảo
- Cuốn thiết kế bài học Ngữ văn của TS Hoàng Hữu Bội, Nxb Giáo dục
(2008) định hướng tiếp cận đoạn trích "Hồn Trương Ba, da hàng thịt" ở các nội
dung sau:
+ Hướng dẫn tìm hiểu 3 xung đột miru tả trong đoạn trích
+ Về phương pháp: mỗi một xung đột cần tìm hiểu theo các chặng Xây dựng
hệ thống câu hỏi phù hợp với nội dung bài học
- Cuốn thiết kế bài giảng Ngữ văn 12, tập 2 của tác giả Nguyễn Văn Đường chủ biên, Nxb Hà Nội (2008) đã đưa ra hướng tiếp cận vở kịch:
+ Nội dung: Phân tích ba cuộc đối thoại trong vở kich, từ đó khám phá ra ý nghĩa triết lý về lẽ sống của con người và ý nghĩa phê phán của vở kịch
+ Về phương pháp: Tác giả đưa ra 13 câu hỏi để tìm hiểu các cuộc đối thoại Nhìn chung các công trình và bài viết đều định hướng đi tìm hiểu đoạn trích
"Hồn Trương Ba, da hàng thịt" của Lưu Quang Vũ theo đặc trưng thể loại kịch Song chưa có công trình bài viết nào quan tâm đến việc dạy học đoạn trích "Hồn Trương Ba, da hàng thịt" của Lưu Quang Vũ theo hướng tiếp cận liên văn bản
Những đề xuất và gợi ý của các nhà nghiên cứu đi trước là những đóng góp đáng kể
cho việc dạy học văn bản kịch "Hồn Trương Ba, da hàng thịt" trong chương trình
Ngữ văn 12 Những thành tựu nghiên cứu khoa học đó là những tài liệu tham khảo quý báu cho chúng tôi khi giải quyết và nghiên cứu đề tài này
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Ngữ văn cho học sinh THPT nói riêng và tác phẩm “Hồn Trương Ba da hàng thịt”
của Lưu Quang Vũ nói riêng Từ việc tìm ra tính liên văn bản trong đoạn trích
Trang 18" Hồn Trương Ba, da hàng thịt" của Lưu Quang Vũ sẽ có những đánh giá sâu sắc về giá trị nội dung tư tưởng, tầng sâu văn hóa, tinh thần dân chủ trong sáng tác
kịch "Hồn Trương Ba, da hàng thịt" của Lưu Quang Vũ Qua đó khẳng định tài
năng nghệ thuật, vị tí tiên phong, vai trò khơi mở, tầm tư tưởng lớn của nhà viết kịch đồng thời cũng là nhà văn hóa lớn Lưu Quang Vũ - một nhà văn, nhà viết kịch xuất sắc thời kỳ đổi mới
3.2 Nghiên cứu phạm vi, nội dung và phương pháp vận dụng lý thuyết liên văn bản trong dạy học tác phẩm “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” của Lưu Quang
Vũ trong chương trình Ngữ văn lớp 12
3.3 Tiến hành thực nghiệm để khẳng định khả năng vận dụng lý thuyết liên văn bản nhằm nâng cao chất lượng dạy học đoạn trích “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” của Lưu Quang Vũ cho sinh lớp 12
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là Dạy học đoạn trích “Hồn Trương Ba
da hàng thịt” của Lưu Quang Vũ (Ngữ Văn 12, tập 2) theo hướng tiếp cận liên văn bản
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Vận dụng lý thuyết liên văn bản trong giờ Ngữ văn ở lớp 12 nói chung và giờ
dạy học đoạn trích “Hồn Trương Ba da hàng thịt” của Lưu Quang Vũ (Ngữ văn 12,
tập 2) nói riêng
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu thuộc hai nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết và nghiên cứu thực tiễn:
- Phương pháp lịch sử xã hội: Tìm hiểu lý thuyết liên văn bản trong các tiến trình lịch sử và hình thành bối cảnh xã hội Châu Âu Từ đó lược giản những vấn đề cốt lõi nhất của lý thuyết liên văn bản, ứng dụng khía cạnh của lý thuyết phù hợp để
phân tích tác phẩm "Hồn Trương Ba, da hàng thịt" của Lưu Quang Vũ trong bối
cảnh xã hội Việt Nam Người viết khi ứng dụng lý thuyết liên văn bản vào dạy học
đoạn trích "Hồn Trương Ba, da hàng thịt" của Lưu Quang Vũ sẽ đặt tác phẩm vào
tiến trình vận động của văn học Việt Nam suốt chặng đường từ năm 1945 đến hết
Trang 19thế kỉ XX Soi xét bối cảnh văn hóa xã hội, đặc biệt là xã hội Việt Nam những năm
80 của thời kì đổi mới, những yếu tố khách quan lẫn chủ quan có ảnh hưởng và tác
động mạnh mẽ đến sáng tác kịch của Lưu Quang Vũ nói chung và tác phẩm "Hồn Trương Ba, da hàng thịt" nói riêng Căn cứ vào bối cảnh xã hội có thể nhận xét
đúng đắn về vị trí và vai trò của nhà văn và tác phẩm
- Phương pháp loại hình: Xem xét và phân tích tác phẩm từ lí thuyết loại hình (kịch) người viết sẽ chú ý đến xung đột kịch, hành động kịch, nhân vật kịch, ngôn ngữ
kịch để nghiên cứu cụ thể Tuy nhiên đề tài của luận văn là dạy học đoạn trích "Hồn Trương Ba, da hàng thịt" theo hướng tiếp cận liên văn bản nên khi xem xét tác phẩm kịch "Hồn Trương Ba, da hàng thịt" của Lưu Quang Vũ sẽ không đi sâu vào loại hình
kịch mà nhường chỗ cho thuật ngữ liên văn bản mà người viết sẽ sử dụng
- Phương pháp phân tích, tổng hợp lý thuyết: luận văn sẽ phân tích đoạn trích
"Hồn Trương Ba, da hàng thịt" của Lưu Quang Vũ theo tiêu chí nhất định Có thể
theo đề tài, theo chủ đề, theo kiểu nhân vật, Trên cơ sở đó sử dụng phương pháp phân tích sâu một số nhân vật, hoặc tình tiết quan trọng của tác phẩm Trên cơ sở phân tích sẽ có những đánh giá mang tính tổng hợp, khái quát
- Phương pháp phân loại cấu trúc, hệ thống hóa lý thuyết: Người viết sẽ xem xét cấu trúc của tác phẩm, mối quan hệ giữa tác giả, tác phẩm, người đọc, người xem Tìm hiểu sự vận động về nhận thức, tình cảm của nhà văn và nhân vật trong quá trình sáng tác Qua việc xem xét cấu trúc bên ngoài và bên trong của tác phẩm Người viết sẽ hệ thống theo cách diễn giải của thuật ngữ liên văn bản thành chương mục cụ thể
- Phương pháp mô hình hóa, quan sát, điều tra, thực nghiệm: để nắm bắt được những khó khăn của học sinh và giáo viên khi dạy và học thể loại kịch nói chung và
cảm thụ đoạn trích "Hồn Trương Ba, da hàng thịt" của Lưu Quang Vũ nói riêng chúng tôi đã phát phiếu khảo sát thực trạng dạy và học đoạn trích "Hồn Trương Ba,
da hàng thịt" cho giáo viên dạy Ngữ văn và học sinh lớp 12 ở trường THPT Gia Lộc
II ( Thị trấn Gia Lộc - Gia Lộc - Hải Dương) để làm cơ sở cho đề tài nghiên cứu làm cho việc nghiên cứu đề tài được sát thực, góp phần nâng cao hiệu quả trong dạyhocj
đoạn trích "Hồn Trương Ba, da hàng thịt" của Lưu Quang Vũ theo hướng tiếp cận
liên văn bản
Trang 20Ngoài ra chúng tôi còn tiến hành thực nghiệm sư phạm bằng cách soạn giáo
án và giảng dạy đoạn trích "Hồn Trương Ba, da hàng thịt" của Lưu Quang Vũ theo
hướng tiếp cận liên văn bản bằng những đề xuất của luận văn
- Phương pháp so sánh đối chiếu: Đối với đề tài ứng dụng vận dụng lý thuyết liên văn bản trong một tác giả, tác phẩm cụ thể luôn phải dùng đến phương pháp so sánh đối chiếu Người viết sẽ đói chiếu với các văn bản ra đời trước đó Đặc biệt đối
chiếu kịch bản "Hồn Trương Ba, da hàng thịt" của Lưu Quang Vũ với truyện cổ tích
dân gian cùng tên để tìm ra sự tương đồng và khác biệt, chỉ ra những sáng tạo của nhà văn khi sử dụng liên văn bản So sánh đối chiếu để thấy được những đặc sắc trong nghệ thuật và cả tính sáng tạo, khả năng khơi mở những sáng tạo của nhà văn
Ngoài ra, người viết có thể dùng phương pháp thống kê phân loại, phương pháp liên hóa văn hóa - văn học, văn học và sân khấu Tất cả các phương pháp sẽ
mở ra những tiếp cận thú vị cho sự sản sinh vô tận "tính năng sản" của văn bản- một thuộc tính cơ bản của tính liên văn bản
6 Đóng góp của luận văn
6.1 Với đề tài Dạy học đoạn trích “Hồn Trương Ba da hàng thịt” của Lưu
Quang Vũ ( Ngữ văn 12, tập 2) theo hướng tiếp cận liên văn bản, người viết cố gắng
hệ thống hóa những kinh nghiệm vận dụng lý thuyết liên văn bản trong dạy đọc
hiểu văn bản văn học ở THPT
6.2 Đồng thời, đề xuất những biện pháp khả thi nhằm vận dụng lý thuyết liên
văn bản vào dạy học tác phẩm “Hồn Trương Ba da hàng thịt” của Lưu Quang Vũ
trong chương trình Ngữ văn lớp 12, nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của việc dạy Ngữ văn ở nhà trường THPT hiện nay
7 Cấu trúc của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
- Chương 2: Phạm vi, nội dung và phương pháp dạy học đoạn trích “Hồn
Trương Ba da hàng thịt” của Lưu Quang Vũ (Ngữ Văn 12, tập 2) theo hướng tiếp
cận liên văn bản
- Chương 3: Thực nghiệm sư phạm: Dạy học đoạn trích “Hồn Trương Ba da
hàng thịt” của Lưu Quang Vũ (Ngữ văn 12, tập 2) theo hướng tiếp cận liên văn bản
Trang 21CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Lý thuyết liên văn bản
1.1.1 Nguồn gốc lý thuyết liên văn bản
“Thuật ngữ liên văn bản (intertextuality) lần đầu tiên xuất hiện do J.Kristeva
sử dụng trong một tham luận về sáng tác của M.M Bakhtin đọc tại Xeemina do R.Barthes chủ trì vào mùa thu năm 1966 Mùa thu năm 1967, tham luận được công
bố dưới dạng một bài báo có nhan đề : Bakhtin, lời nói, đối thoại và tiểu thuyết Và
ngoài ra còn hàng loạt các công trình của J Kristeva liên quan trực tiếp đến bài báo
này, ví như “Lời nói đầu” viết cho bản dịch sang tiếng Pháp cuốn Những vấn đề thi pháp Dostoevski (Một nền thi pháp học sụp đổ, 1970), hoặc tuyển tập Semeiotikē Những công trình nghiên cứu lí thuyết biểu nghĩa (1969) và cuốn Văn bản tiểu thuyết (1970)
Dù nhận được sự ủng hộ nhiệt tình của nhóm “Tel Quel” đứng đầu
là Philippe Sollers, lí thuyết liên văn bản của Kristeva, một cô gái Bungaria mới 25 tuổi, được giới trí thức Pháp ở Paris thời ấy tiếp nhận hết sức dè dặt Sau này, phải nhờ vào uy tín của R Barthes, người hết lòng ủng hộ và phát triển một cách độc đáo
– trong cuốn S/Z (1970), và những bài báo, tiểu luận, ví như Từ tác phẩm đến văn bản (1971), Văn bản (lí luận văn bản) (1973), Khoái cảm văn bản (1973) của ông –
những luận điểm cơ bản của lí thuyết liên văn bản mới được cấp “quyền công dân”, nhập vào đời sống khoa học, trở thành đối tượng phân tích và giải thích rộng rãi Trước tiên, phải nhấn mạnh, việc phân tích và diễn giải nguyên tắc “đối thoại” của Bakhtin được Kristeva thực hiện dưới ánh sáng “triết học đa bội” của chủ nghĩa hậu cấu trúc (J Derrida, G Deleuze…), cho nên cần chỉ ra sự tương đồng và khác biệt giữa triết học này và triết học của M Bakhtin.”
Liên văn bản là một trong những thuật ngữ được sử dụng nhiều nhất nhưng đồng thời cũng là một trong những thuật ngữ khó xác định nhất trong lý thuyết văn học nửa sau thế kỷ XX Kể từ khi được gọi tên bởi nhà nghiên cứu trẻ người Pháp gốc Bulgaria, Julia Kristeva vào khoảng những năm 1966-1967, lý thuyết về tính liên văn bản cho đến nay đã có một lịch sử gần nửa thế kỷ Trong quá trình hình
Trang 22thành và phát triển, lý thuyết này đã được sử dụng với nhiều tên gọi khác nhau: Đối thoại, liên ý thức, tiếp xúc văn bản, ngữ cảnh, Đồng thời cách tiếp cận lý thuyết liên văn bản của mỗi nhà nghiên cứu: triết học, mỹ học và lý luận, phê bình văn học,…lại có những lập trường và lý giải tương đối khác biệt
M.Bakhtin và N Voloshilov sử dụng liên văn bản để nghiên cứu trong các công trình nghiên cứu ngôn ngữ và văn học, thi pháp học và phương pháp luận xã hội, chống hình thức chủ nghĩa và ngữ nghĩa học mĩ học Thuật ngữ liên văn bản lần đầu tiên được J.Kristeva sử dụng (1967) trên cơ sở phân tích quan niệm "tiểu thuyết đa thanh" của M.Bakhtin [1]
Liên văn bản theo nghĩa nguyên khởi của thuật ngữ là cơ chế vận hành hiện thực được văn bản hóa, nằm ngoài ý muốn của tác giả văn bản lại do tâm thức của thế kỉ
XX sinh ra Chính trong thế kỉ này liên văn bản đã trở thành quan niệm trung tâm về một bức tranh thế giới xác định, cụ thể là quan niệm thế giới như một văn bản, điều này được thể hiện trong nhiều tác phẩm văn học hiện đại Chính khái niệm liên văn bản đã làm thay đổi cả cách nhìn về tính điển phạm, dẫn đến việc lật đổ các hệ thống giá trị
cũ, mở ngỏ cho sự lên ngôi của nhiều luồng văn học vốn trước đó bị xem là ngoài lề, thậm chí hoàn toàn bị quên lãng
Tiếp cận liên văn bản xem mỗi sự sinh thành của văn bản là một hiện tượng quan hệ, một quá trình kết nối, tương tác, đối thoại của văn bản trong mạng lưới diễn ngôn xã hội Văn bản có những mối quan hệ liên văn bản trong mạng lưới từ cấp độ vi
mô đến vĩ mô: kí ức ngôn ngữ, sự biến tấu và tái sinh các thủ pháp, mô-típ, hình tượng, sự mô phỏng, nhại, vay mượn, trích dẫn, chuyển thể, chuyển dịch, biến đổi, ảnh hưởng, đọc sai, ám chỉ, đạo văn, pha trộn thể loạiTrong cách tiếp cận này, bất cứ một văn bản nào cũng có tiềm năng trở thành chất liệu của một văn bản khác ra đời sau nó, bất
cứ một văn bản nào cũng được giả thiết là sự đối thoại, chồng xếp, đồng quy vô số văn bản khác nhau Tiếp cận liên văn bản đòi hỏi người nghiên cứu tiến dẫn văn bản vào mạng lưới văn bản xã hội, diễn ngôn ý thức hệ và diễn ngôn tập thể, trong đó bất
kì văn bản nghệ thuật nào cũng là kết quả của thực tiễn thương thỏa nghệ thuật, nơi
mà những gì biệt lập, cô lập đều bất khả và không có tương lai
Trang 231.1.2 Khái niệm liên văn bản
1.1.2.1 Sơ lược về lý thuyết liên văn bản
Liên văn bản là một khái niệm được sử dụng rộng rãi nhất trong giới, phê bình văn học thế giới nửa cuối thể kỉ XX và những năm đầu thế kỉ XXI Có thể nói việc phát hiện ra liên văn bản đã tạo nên một cuộc "cách mạng" trong tư duy văn học, thay đổi một cách mạnh mẽ các quan niệm về văn chương Định nghĩa một cách khái quát và tương đối, người ta chia ra hai loại liên văn bản: Kinh Điển và Hậu hiện đại
Liên văn bản theo quan niệm kinh điển, biểu hiện bởi sự liên hệ trực tiếp giữa văn bản này và những văn bản khác Khái niệm liên văn bản gắn liền với ba tên tuổi Jacques Derrida, Roland Barthes và Julia Kristeva - những lý thuyết gia tiên phong trong trào lưu giải cấu trúc và phê bình hậu hiện đại Nếu Jacques Derrida là người đầu tiên khởi động ý tưởng "không có gì ngoài văn bản" để manh nha những ý thức
phôi thai về vai trò của liên văn bản (intertextuality) thì Roland Barthes mới là kẻ đi
đầu trong sự cổ xuý và quảng bá tư tưởng này như một bước đột phá lớn - đưa văn học
từ điểm nhìn gò bó và tù hãm dựa trên hệ lý thuyết cấu trúc luận (structualism) sang một cách nhìn rộng hơn, sâu hơn và nhiều tự do hơn của lý thuyết giải cấu trúc (deconstruction) Chính văn bản mới là động lực hướng dẫn sự hành ngôn chứ không phải chủ thể của hành động hành ngôn - một khi đã bắt đầu, tính chất liên văn bản sẽ khởi động một động hướng có tính cách dây chuyền để làm bộc lộ càng lúc càng nhiều thêm những văn bản khác Kết quả, người đọc (và cả người viết) sẽ có một cuộc
du hành kỳ thú qua nhiều chặng đường lịch sử, xã hội, tâm lý hay trải nghiệm sự tương tác giữa các nền văn hoá khác nhau
Khái niệm liên văn bản nảy sinh từ tư tưởng cơ bản của chủ nghĩa hậu hiện đại về vai trò tích cực của môi trường văn hóa - xã hội trong quá trình khám phá và tri nhận thế giới Khái niệm liên văn bản nhắc nhở cho người đọc nhận biết một cách có ý thức rằng mỗi văn bản tồn tại trong sự liên hệ với văn bản khác, có thể xuất hiện trước hoặc cùng thời Thực tế văn bản lệ thuộc vào những văn bản khác còn nhiều hơn vào chính người tạo ra nó Tính chất này đã được Michel Foucault, cha đẻ của một trong những trường phái Tân Lịch Sử (New Historicism) thuộc trào lưu hậu hiện đại nhấn
mạnh: "Những biên thuỳ của một cuốn sách không bao giờ rõ ràng, bên kia trang bìa ghi ra tựa đề cuốn sách bắt đầu từ những dòng đầu tiên cho đến khi cuốn sách ngưng
Trang 24lại ở dấu chấm cuối cùng, vượt ra ngoài cấu trúc nội tại và hình thức tự thân của cuốn sách ấy" [58, tr 23]
Khái niệm liên văn bản trong trào lưu hậu hiện đại đã tạo nên một lối đọc mới,
lạ và mang tính chất cách mạng khi tiếp cận một văn bản, để thưởng thức đối với người thuần tuý biết đọc hay để thẩm định, phân tích dưới quan điểm của một nhà phê bình Sẽ không còn biên giới của văn bản, của thể loại, sẽ không còn có bất cứ nghi vấn nào về trong hay ngoài văn bản, ngay cả sự phân biệt giữa văn bản và ngữ cảnh (context) cũng dần dần biến mất khi ứng dụng lý thuyết liên văn bản Một kịch bản chuyển thể từ tác phẩm văn học sang phim ảnh là một ví dụ minh hoạ điển hình cho sự xoá đi các biên cương của văn bản, hay ngược lại một cuốn sách được viết sau khi một
bộ phim đã trình chiếu Những lý thuyết gia hậu hiện đại còn cho rằng: văn bản trong
bất cứ môi trường nào, không nhất thiết phải là văn bản điện tử (hypertextualtext), đều
chứa đựng một đặc tính tương tự; một kịch bản có thể liên hệ đến nhiều văn bản văn học, lịch sử, văn hoá, xã hội hoặc ngược lại
Khái niệm liên văn bản về cơ bản có thể hiểu: Chiều ngang (chủ thể - người nhận) và chiều dọc (văn bản - văn cảnh) cùng hiện diện làm sáng tỏ một thực tế quan trọng Mỗi từ (văn bản) là một giao tuyến của từ (các văn bản) nơi mà ít nhất một từ khác (văn bản khác) có thể đọc được Kristeva quy cho văn bản trong giới hạn của hai trục: trục ngang kết nối giữa tác giả và người đọc văn bản, trục dọc kết nối giữa văn bản với các văn bản khác [58, tr.6-9]
Mọi văn bản đều là liên văn bản ở những cấp độ khác nhau, trong hình thức được nhận biết ít hay nhiều, bao giờ cũng hiện diện những văn bản khác những văn bản của văn hoá trước đó và những văn bản của văn hoá bao bọc xung quanh Theo
nghĩa rộng nhất khái niệm này có thể được xác định là "sự tương tác của các văn bản",
nhưng tùy thuộc vào các lập trường triết học và nghiên cứu của nhà khoa học mà
nội dung cụ thể của nó có thể biến đổi Chúng tôi đưa ra quan niệm "Liên văn bản là
sự đồng hiện của hai hay nhiều văn bản (ra đời trước đó hay cùng thời) trong một văn bản (cùng thời hoặc sau đó) được tác giả tạo lập bằng ý thức hoặc vô thức Người đọc tiếp nhận trong thực tiễn giao tiếp nghệ thuật bằng vốn sống, trải nghiệm, tri thức của bản thân họ Từ đó các giá trị văn hóa sẽ không ngừng nảy sinh từ văn bản
Trang 251.1.2.2 Liên văn bản như là một thuộc tính của văn bản
Từ khái niệm liên văn bản mà J Kristeva đã nêu ra, Roland Barthes đã tạo
cho nó một cái tên ngắn gọn và mạnh mẽ hơn: văn bản Barthes nhấn mạnh, về mặt
thuật ngữ, “văn bản” có nghĩa là “tấm dệt”, “mạng lưới”, “tấm vải”, và nếu vào những năm 1970, nguyên mẫu của văn bản của Barthes thường là “thiên hà của Gutenbeg”, hoặc “thư viện” của Borges, thì ngày nay, hình ảnh thích hợp nhất với
nó là “siêu văn bản” máy tính - một “tấm dệt”, “mạng lưới toàn thế giới”
Vào năm 1970, trong cuốn S/Z, Barthes đã mô tả văn bản dưới dạng mở rộng như là tính “đa bội đắc thắng”: “một văn bản lý tưởng như thế nào đầy ắp vô lối đi giao cắt nhau ở bên trong, không áp chế lẫn nhau, nó là mạng lưới của những cái biểu đạt, chứ không phải là cấu trúc của những của những cái được biểu đạt, nó không có mở đầu, nó không mang tính khả hồi, có thể thâm nhập vào đó qua vô khối cửa ngõ, nhưng không một lối nào được coi là chính đạo, chuỗi mã do nó khởi động đã biến mất ở đâu đó trong cõi xa xăm vô tận, chúng “bất khả giải”, cho nên mọi sự giải quyết mang tính ngẫu nhiên, nhiều hệ thống ngữ nghĩa khác nhau có khả năng sở đắc cái văn bản cực kì đa bội ấy, nhưng phạm vi của chúng không khép kín, bởi vì mực thước của những hệ thống như vậy là tính vô tận của bản thân ngôn ngữ” [55, tr14 -15]
Có những đặc điểm chính yếu được Barthes đề cập đến trong khái niệm văn bản (liên văn bản, siêu văn bản) : “Liên văn bản được hiểu như là thuộc tính bản thể của mọi văn bản, “bất kỳ văn bản nào cũng là liên văn bản”[58, tr 444-445] - tức là được nhận định như là sự xóa nhòa ranh giới giữa các văn bản của các tác giả riêng
rẽ, giữa văn bản văn học cá nhân và văn bản vĩ mô của truyền thống, giữa các văn bản thuộc các thể loại và loại hình khác nhau (không nhất thiết là mang tính nghệ thuật) giữa văn bản và độc giả và cuối cùng, giữa các văn bản và hiện thực Như vậy, liên văn bản mô tả không phải các hiện tượng văn học, mà một quy luật khách
quan nào đấy của sự tồn tại của loại người nói chung (theo L.P.Rjanskaya - Liên văn bản - sự xuất hiện của khái niệm về lịch sử và lý thuyết của vấn đề)
Chính đây là cách diễn dịch gốc “từ ruột mà ra” của thuật ngữ liên văn bản -
lần đầu tiên xuất hiện trong công trình của J.Kristeva Bakhtine, ngôn từ, đối thoại và tiểu thuyết Về sau, khái niệm liên văn bản được các nhà Hậu cấu trúc luận Pháp
Trang 26(R.Barthes, J.Derrida) triển khai, vay mượn với ý nghĩa gần như nghĩa gốc Theo quan niệm của họ, thế giới hiện ra với chủ thể trong ngôn ngữ: cả thế giới, cả tâm lý của chủ thể đều được cấu trúc theo các quy luật ngôn ngữ, ngôn ngữ bị mất đi chức năng biểu hiện và không còn là cái biểu đạt siêu nghiệm, và như vậy, ý nghĩa nảy sinh không phải trong sự mô phỏng mà trong ký hiệu, tức là trong trò chơi tự do với nghĩa của các văn bản văn hóa - trò chơi ngôn ngữ
Như R Barthes viết: “mỗi văn bản đều là liên văn bản đối với một văn bản khác”[18, tr.344] nhưng không nên hiểu tính liên văn bản này theo kiểu là văn bản
có một nguồn gốc nào đó; mọi sự tìm kiếm “cội nguồn” và “ảnh hưởng” là phù hợp với huyền thoại về quan hệ huyết thống của tác phẩm, văn bản thì lại được tạo nên
từ những trích đoạn vô danh, không nắm bắt được nhưng đồng thời lại đã từng được đọc - những trích đoạn không để trong ngoặc kép Tức là theo R.Barthes, bất kỳ văn bản nào cũng được hiểu như một không gian đa chiều, nơi có rất nhiều văn bản va đập và xáo trộn vào nhau mà không một cái nào là gốc cả Vào nửa sau thập niên
80, các nhà Giải cấu trúc luận Mỹ - như M.Fucault - đã phát triển khái niệm liên văn bản bao trùm “các kiểu thực hành diễn ngôn” trong tất cả các lĩnh vực tri thức: tôn giáo, sử học, xã hội học
Theo các nhà nghiên cứu quốc tế, phát hiện về tính liên văn bản vào giữa thập niên 60 được đánh giá như vụ nổ khai thiên (Big Bang) trong lĩnh vực ngôn ngữ học: nó phá vỡ khái niệm văn bản truyền thống và làm cho hai khái niệm văn bản và liên văn bản trở thành đồng nghĩa; nó còn làm thay đổi hẳn trọng tâm của phê bình
và nghiên cứu văn học Nó cũng làm thay đổi mối quan hệ giữa tác giả, tác phẩm và người đọc
Trước hết, ta cần chú ý là: việc phát hiện ra tính liên văn bản đã làm thay đổi hẳn khái niệm văn bản đã khá thông dụng trước đó Để làm nổi bật các đặc điểm của văn bản (như một liên văn bản), R.Barthes đã so sánh khái niệm văn bản (text) với khái niệm tác phẩm (work) theo ông, trong khi tác phẩm là một cái gì cụ thể, đã hoàn tất, chiếm một không gian nhất định trong thế giới sách vở - thì văn bản lại chỉ
là một lĩnh vực mang tính phương pháp luận; tác phẩm là những gì được phô bày ra, văn bản lại là tiến trình hiện thực hóa việc phô bày ấy bằng ngôn ngữ Nếu văn học
là thế giới của các kí hiệu, tác phẩm gần với những cái biểu đạt, vốn tương đối dễ
Trang 27diễn dịch thì văn bản lại là chuỗi dài của những cái được biểu đạt Những cái được biểu đạt này liên hệ đến những cái được biểu đạt khác, kết quả là văn bản chỉ có thể tồn tại trong một động thái sản xuất, hình thành từ sự dao động miên man giữa sự có mặt và vắng mặt của những cái được biểu đạt khác nhau Những sự có mặt và vắng mặt này vốn vô tận Do đó, động thái sản xuất cũng kéo dài liên tục - và cũng do đó, văn bản tất yếu mang tính đa nguyên, nó không giới hạn trong một ý nghĩa nhất định
và cố định nào cả; nó luôn luôn dẫn đến một cái gì khác, ngoài nó
Tác phẩm và văn bản liên quan tới hai dạng khác nhau của ý thức con người Tác phẩm gắn với ý thức cá nhân của chủ thể ý chí (tác giả) còn văn bản - như đã nêu trên - gắn với ký ức vô thức của văn hóa Văn bản có sự phong phú ngữ nghĩa
vô hạn, còn phạm vi đọc và kinh nghiệm văn hóa được ý thức nói chung của mỗi tác giả là có giới hạn, nó chỉ giành lại cho hoạt động liên văn bản của anh ta một lãnh địa rất hẹp (bắt chước, mô phỏng, nhại, trích dẫn kín đáo hay công nhiên, dùng điển, hồi tưởng theo kiểu mơ hồ, hỗn độn) Chính vì thế, phía sau mỗi tác phẩm bao giờ cũng thấy nổi lên khối văn bản khổng lồ, trong đó cái “được nói” bao giờ cũng lớn gấp bội so với điều bản thân tác phẩm “muốn nói”, vì văn bản không chỉ ghi nhớ nền văn hóa trước và cùng thời với tác giả, mà còn ghi nhớ cả nền văn hóa của tương lai Theo Barthes, tác phẩm bao giờ cũng nghèo hơn gấp bội so với văn bản của mình, và chính cảm giác về sự khiếm khuyết ngữ nghĩa của mình sẽ trở thành động lực khêu gợi ý thức tác giả (cũng như ý thức người đọc) khát vọng vượt qua bản thân và những giới hạn của mình Tác giả cần phải “quên mình”, quên “cái tôi”
cá nhân và tác phẩm của mình, “vui vẻ chết như cày xong thửa ruộng” hân hoan chết đi trong văn bản và khi ấy ký ức của văn bản, ký ức chứa vào bản thân “tất cả”,
sẽ tự nói lên ở trong đó Từ đây, Barthes đi đến một kết luận quan trọng: tác giả không còn là nguồn cung cấp và bảo chứng cho ý nghĩa của tác phẩm nữa Thậm chí, tác phẩm cũng không thể được xem như sự phát ngôn của tác giả: đó chỉ là nơi ngôn ngữ hành động và trình diễn Barthes đã có một cách diễn tả độc đáo và gây ấn
tượng thật mạnh: “Tác giả đã chết” Từ năm 1968, Barthes đã nhạy bén chỉ ra “sự
cáo chung vai trò chủ quyền của tác giả - cũng là “sự ra đời” của người đọc và vận mệnh văn bản không phải tùy thuộc vào xuất xứ mà được xác định bởi đích đến của nó: “Người đọc” Ta có thể hiểu một cách dung dị là: tính chất liên kết từ văn bản
Trang 28này đến văn bản khác không phải chỉ hàm chứa hành động chủ ý của tác giả mà thực
ra, ở nhiều trường hợp, ý nghĩa của văn bản nằm ngoài mọi hành động ý thức của người viết, thay vào đó, nó được phát hiện bởi người đọc - người đọc và chỉ có người đọc đã tạo nên tên tuổi của tác giả văn bản Như thế, sự phát hiện ra tính liên văn bản cũng đồng thời là sự phát hiện ra người đọc
Đây là một trong những phát hiện quan trọng nhất trong sinh hoạt phê bình văn học thế giới ở thế kỷ XX
Trước đây, trong thời kỳ văn học Cổ đại và Trung đại, chiếm vị trí trung tâm trong tư tưởng văn học với các nhà cổ điển phương Tây là hiện thực và bản tính con người, với các nhà cổ điển Trung Hoa và Việt Nam là “đạo”, “chí”, “khí” hay “lý” Mối quan tâm chính của họ không phải là các yếu tố tác giả, văn bản hay người đọc
mà là vấn đề bản chất, chức năng và thể loại của văn học
Song đến khi, tập trung vào các vấn đề bản chất, chức năng và thể loại văn học người ta đều phải đề cập đến quan hệ giữa con người với con người, với vũ trụ nên các học giả phương Tây cũng như phương Đông không thể không nói đến vai trò của người đọc (như Hàn Dũ nói đến “văn dĩ minh đạo”, Chu Đôn Di nói đến “văn dĩ tải đạo”; hay khi Platon đòi đuổi các nhà thơ ra khỏi vương quốc Cộng hòa, Aristotle nói đến chức năng thanh tẩy cảm xúc của bi kịch ) Họ chỉ nghĩ đến vậy thôi chứ không
hề công nhận một vai trò nào của người đọc Vị trí của người đọc vẫn ở bên lề (Dẫn theo Nguyễn Hưng Quốc [33, tr 260-263])
Từ cuối thế kỷ XVIII, với các nhà lãng mạn chủ nghĩa, yếu tố tác giả đã đánh bật các yếu tố khác để chiếm vị trí trung tâm trong lĩnh vực phê bình, nghiên cứu văn học Trên sân khấu văn học, một mình tác giả hiện ra như những thiên tài với sự nhạy bén và khả năng tưởng tượng phi thường đến mức trở thành cô đơn, lạc lõng
giữa cuộc đời phàm tục, nói như Xuân Diệu Ta là Một, là Riêng, là Thứ Nhất, hay
nói như Vũ Hoàng Chương - như những kẻ “đầu thai lầm thế kỷ” Và như thế, người đọc bị đẩy lùi vào quên lãng Một thời gian dài, người ta xem mục tiêu của việc đọc thơ văn là để tìm tòi những bí ẩn giấu kín trong tâm hồn của những thiên tài Dấu vết của cách nhìn này vẫn tồn tại dai dẳng đến nay: đó là cảm giác sùng bái đối với khái niệm “độc đáo”, “sáng tạo” và “cảm hứng”, ám ảnh về “cái tôi” của người nghệ
Trang 29sĩ, sự nhấn mạnh quá đáng vào yếu tố cảm xúc - quan niệm cho việc đọc, trước hết
là để tìm hiểu tâm tình của một nhà văn hay một nhà thơ
Từ đầu thế kỷ XX, đã có nhiều cuộc “đảo chính” nổ ra nhằm lật đổ “ngai vàng” của tác giả Cả hình thức luận lẫn phê bình mới đều cho rằng những dòng chữ trên giấy có giá trị hơn hẳn các yếu tố ngoài văn bản như tiểu sử, ý đồ của tác giả hay bối cảnh lịch sử và ý thức hệ trong đó tác phẩm được hình thành - cả hai đều chủ trương truất phế tác giả như là một đối tượng nghiên cứu chính và cả hai hệ phái
ấy đều loại trừ người đọc: các nhà hình thức luận không hề quan tâm đến những hồi
âm của người đọc, còn các nhà phê bình mới thì tuyên bố việc phê bình dựa trên những ấn tượng của người đọc chỉ là một thứ ngụy luận Các nhà cấu trúc luận, trên nguyên tắc, cũng không thừa nhận vai trò của người đọc trong lĩnh vực nghiên cứu văn học
Sang nửa sau thế kỷ XX, khi đi tìm cấu trúc làm nảy sinh ra ý nghĩa, người ta dần dần khám phá ra tính liên văn bản, và từ tính liên văn bản, mới khám phá ra người đọc Từ đây, khuynh hướng phê bình căn cứ trên những hồi âm của người đọc được ra đời và thay thế khuynh hướng phê bình chỉ dựa trên văn bản Quá trình khám phá này cũng chính là quá trình tiếp biến từ cấu trúc luận thành Hậu cấu trúc luận và sau đó là Giải cấu trúc
1.1.2.3 Vấn đề liên văn bản từ những góc nhìn khác nhau
Quan niệm về tính liên văn bản - một thành quả, phát hiện sáng chói của J.Kristeva - nhanh chóng nhận được sự đồng tình ủng hộ của nhiều lý thuyết gia lớn trên thế giới; những người sẽ khai triển tính liên văn bản theo nhiều chiều hướng khác nhau,
từ những góc nhìn khác nhau, mở rộng nội hàm của nó; biến nó thành một thuật ngữ vừa được phổ biến rộng rãi, có tính thời thượng, lại vừa phức tạp - thậm chí, chứa đầy nghịch
lý Sau đây, chúng tôi lược thuật những ý kiến, quan điểm của các lý thuyết gia ấy để
có thêm cái nhìn đa chiều về khái niệm liên văn bản
Trước hết là M.Riffaterre - một nhà lý luận có vai trò trọng yếu trong việc phát triển lý thuyết liên văn bản
Ông đặc biệt quan tâm đến phương diện quan trọng nhất của liên văn bản - sự tiếp nhận của độc giả như nguồn cội của các liên văn bản; ông tin tưởng vào sự tồn tại của một liên văn bản cụ thể và vào khả năng nhận ra được đúng nó Riffaterre chỉ
Trang 30ra sự tương tác giữa người đọc và văn bản là nguồn gốc biện chứng của ý nghĩa Văn bản và người đọc tạo nên sự thống nhất cần thiết trong hành động đọc, sự thống nhất mà ông gọi là “hồi đáp có tính cưỡng bách của người đọc” và “lực dẫn liên văn bản” Tiến trình liên văn bản được miêu tả đồng thời như sự hữu lý hóa và dẫn lực Hữu lý hóa là phần diễn giải, đi từ một ma trận còn thiếu của ý nghĩa và tính bất hợp ngữ pháp đến một thông điệp hợp ngữ pháp và có tổ chức trong tiến trình hồi cố của diễn giải Trong cơ cấu của hành động đọc có sự hiện diện vô thức của liên văn bản như dẫn lực của người đọc đến một văn bản ngoại lai Sự hiện diện này có sẵn trong văn bản như phần thiếu vắng hay bổ nghĩa Người đọc đối diện với một thể hiện có rào cản, và mong muốn tìm được phần ma trận không thể hiện ấy Ông ví phần văn bản mà người đọc có được như chiếc bánh rán khuyên tròn: trong khi tiêu thụ phần bánh, người đọc vẫn cảm thấy chưa đủ vì sự hiện diện của khoảng tròn trống không
ở giữa Chính sự khát thèm phần thiếu vắng này mà tiến trình liên văn bản nảy sinh Phần thiếu vắng của một văn bản, được gọi là “liên văn bản”, tựa như một lời chú gắn lên người đọc, buộc họ phải hồi đáp vì nhu cầu hoàn thiện tinh nguyên
Michel Foucault thì chủ trương “biên giới của một cuốn sách không bao giờ thực rõ ràng: vượt ra ngoài nhan đề, dòng chữ đầu tiên và dấu chấm cuối cùng, vượt ra ngoài cấu trúc nội tại và hình thức mang tính tự trị của nó, nó bị bắt gặp quả tang là đang hòa lẫn vào một hệ thống quy chiếu đến các cuốn sách khác, các văn bản khác, các câu văn khác: nó chỉ là cái gút trong một mạng lưới lớn Cuốn sách không phải là một vật thể chúng ta cầm trên tay Sự thống nhất của nó thường biến dạng và rất tương đối”.[58, tr.23]
Ứng dụng vào lĩnh vực thi pháp học trong khuôn khổ của cấu trúc luận,
G.Genette biến khái niệm tính liên văn bản thành tính xuyên văn bản, một khái niệm khá rộng: thâu tóm cả năm khái niệm khác, nhỏ hơn - liên văn bản, bàng văn bản, siêu văn bản, cực đại văn bản và cổ văn bản Chính G.Genette là người chủ xướng
lý thuyết tự sự học về phân loại các kiểu tương tác văn bản
Harold Bloom tiếp cận khái niệm tính liên văn bản từ cả góc độ tu từ học lẫn phân tâm học Theo ông, tất cả mọi văn bản đều là liên văn bản, và liên văn bản lại
là sản phẩm của “sự lo lắng về ảnh hưởng”
Trang 31Song, lý thuyết gia có nhiều đóng góp hơn cả trong việc khai triển khái niệm
tính liên văn bản không ai khác hơn là Roland Barthes Trong bài viết Cái chết của tác giả hoàn tất hai năm sau bài viết của Kristeva, R.Barthes cho văn bản không
phải là chuỗi từ ngữ toát ra một ý nghĩa duy nhất, cố định mà ngược lại, nó thực chất là một không gian đa kích thước: ở đó, tụ hội vô số các văn bản đến từ vô số các nền văn hóa khác nhau - tất cả đều tan loãng vào nhau và không có cái nào thực
sự là độc sáng cả Ý nghĩa của một văn bản không hoàn toàn nằm bên trong bản thân nó mà tồn tại trong mối tương tác với các văn bản khác, nghĩa là: giữa các văn
bản khác nhau Cả Kristeva lẫn Barthes đều nhấn mạnh đến tính ở giữa của văn bản
Tìm ý nghĩa của một văn bản, dù muốn hay không; trong lúc phải đi sâu vào văn bản với những từ, những vần, những nhịp, những hình ảnh và cấu trúc câu, đoạn; người ta cũng phải đồng thời đi ra ngoài văn bản ấy Việc đi ra ngoài văn bản như thế mở rộng khả tính của ý nghĩa, làm cho ý nghĩa luôn luôn thuộc số nhiều và không bao giờ thực sự ổn định, đừng nói gì là cố định
Ngày nay ai cũng phải thừa nhận rằng, văn bản không phải chỉ là công cụ được sử dụng để làm chất liệu kiến tạo nên một văn bản khác, văn bản còn là nền tảng căn bản để tạo nên kinh nghiệm sống của hầu hết các thành viên trong xã hội Đơn giản thôi, phần lớn những gì chúng ta biết về thế giới chung quanh, về lịch sử,
về văn hóa, về cuộc sống của loài người là nhờ vào sách, báo, tạp chí Chúng ta thu nhận kiến thức không chỉ bằng cách đến trường qua sách vở mà còn từ phim ảnh, truyền hình, truyền thanh rồi máy vi tính nối mạng internet Một thế giới mới hiện
ra trước chúng ta khiến ta không thể không tự hỏi mình “Thế giới này đây, nhân loại trẻ hay già?”
Thực sự đời sống được kiến tạo và xây dựng nên từ văn bản ở một mức độ vô cùng lớn lao và sâu rộng, nó đã trở nên tự động hóa trên chính đối tượng tiếp nhận như chúng ta thường lãng quên Có lẽ chính khái niệm Liên văn bản sẽ kéo chúng ta
về với hiện thực, trong đó “chúng ta đang sống trong một xã hội, nơi mà những tri thức, quan niệm trừu tượng của con người đã được biểu hiện như một hiện thực cuộc sống, chứ không phải chúng ta thu nhận tri thức ấy qua cuộc sống
Trang 32Liên văn bản, không những xóa nhòa đi ranh giới giữa những văn bản (ở nhiều thể loại khác nhau) mà còn làm biến mất sự phân chia giữa văn bản và thế giới của kinh nghiệm” (Dẫn theo Nguyễn Minh Quân [32, tr 150-163])
1.1.3 Đặc trưng của liên văn bản
Đứng ở một đầu là các tác giả hiểu liên văn bản như một thủ pháp văn học xác định (trích dẫn, ám chỉ, bình giải, nhại, bắt chước, vay mượn) cách hiểu như thế đòi hỏi sự hiện diện của văn bản gốc đã có trước và xu hướng của tác giả sử dụng văn bản gốc đó Trong cách tiếp cận này không có gì mới ngoài thuật ngữ được dùng để biểu thị các hiện tượng văn học vốn cũng cổ xưa như chính văn học
Ở đầu bên kia liên văn bản được hiểu như là thuộc tính bản thể của mọi văn bản ("bất kỳ văn bản nào cũng là liên văn bản", R Barthes) tức là được nhận định như sự xóa nhòa ranh giới giữa các văn bản của các tác giả riêng rẽ, giữa văn bản văn học cá nhân và văn bản vĩ mô của truyền thống, giữa các văn bản thuộc các thể loại và loại hình khác nhau (không nhất thiết là mang tính nghệ thuật), giữa văn bản và độc giả, giữa các văn bản và hiện thực Như vậy liên văn bản mô tả không phải hiện tượng văn học, mà là một quy luật khách quan nào đấy về sự tồn tại của loài người nói chung
Như R Barthes viết, "mọi văn bản đều là liên văn bản đối với một văn bản khác"
[18, tr.344] nhưng không nên hiểu tính liên văn bản này theo kiểu là văn bản có một nguồn gốc nào đó Nếu liên văn bản như một thủ pháp văn học, như sự tương tác của các văn bản có tác giả bao giờ cũng tồn tại chỉ kiểu loại và những quy luật tương tác
là thay đổi tùy thuộc vào các mã văn học của các thời đại, thì liên văn bản theo nghĩa nguyên khởi của thuật ngữ - như là cơ chế vận hành của hiện thực được văn bản hóa, nằm ngoài ý muốn của các tác giả văn bản - lại do tâm thức của thế kỷ XX sinh ra Chính trong thế kỷ này liên văn bản đã trở thành quan niệm trung tâm về một bức tranh thế giới xác định, cụ thể là quan niệm thế giới như một văn bản, điều này được thể hiện trong nhiều tác phẩm văn học hiện đại Quan niệm về liên văn bản nhắc chúng ta mỗi văn bản luôn tồn tại trong mối quan hệ với những văn bản khác, với người đọc và tác giả
1.1.4 Hình thức và nhiệm vụ liên văn bản
1.1.4.1 Các hình thức liên văn bản
Với tham vọng thay thế khái niệm tính liên văn bản do Kristeva đưa ra, Genette
đã đưa ra năm hình thức liên văn bản theo hệ thống phân loại những kiểu tác động
Trang 33qua lại giữa các văn bản : liên văn bản (intertextuality) là "mối quan hệ cùng hiện diện giữa hai văn bản hay một vài văn bản trong một văn bản cụ thể" Cận văn bản
(paratextuality) là quan hệ của văn bản với bộ phận của nó (đầu đề, tiêu đề các
chương, tựa, các ghi chú, đề từ) Cận văn bản biểu thị những yếu tố nằm trên
ngưỡng cửa của sự diễn giải văn bản, chúng trực tiếp trợ lực và điều khiển sự tiếp
nhận của độc giả đối với phần chính của văn bản Ngoa dụ văn bản là thuật ngữ
Genette dùng để chỉ hiện tượng một văn bản B nào đó (được ông gọi là hypertext) được biến đổi từ một văn bản A nào đó đã tồn tại trước đó (được gọi là hypotext) mà nó
không hẳn là chỉ bình luận Thuật ngữ kiến trúc văn bản của Genette có thể hiểu là mối quan hệ về mặt thể loại của các văn bản Kiến trúc văn bản không chỉ liên quan
đến "tầm đón đợi" về mặt thể loại của độc giả khi tiếp xúc với văn bản mà còn liên quan đến hành vi sáng tạo văn bản của nhà văn Tất nhiên, chính Genette cũng lưu ý
chúng ta là bản thân kiến trúc văn bản không phải là những "phạm trù riêng biệt và
thuần túy" mà là "sự va chạm, tương tác và chồng lấn lên nhau" giữa các thể loại
Loại cuối cùng là siêu văn bản Khái niệm này đề cập đến việc một văn bản bình luận
rõ ràng hoặc không rõ ràng về một văn bản khác Nhìn chung, Genette tuy trung thành với những tư tưởng cấu trúc luận nhưng đã có những cách nhìn mới
1.1.4.2 Các nhiệm vụ liên văn bản
Có ba nhiệm vụ đang được đặt ra khi nghiên cứu lí thuyết liên văn bản
- Thứ nhất, giới hạn chính đối tượng của lí thuyết liên văn bản, lí thuyết không cần phát hiện sự gọi tên theo kiểu liên tưởng, chủ quan các ý nghĩa mà cần phát hiện các mối liên hệ trực tiếp, hiển nhiên và có thể chứng minh giữa các văn bản, tức là giữa các trường hợp có sự dịch chuyển ít hay nhiều một văn bản này sang văn bản khác
- Thứ hai, nghiên cứu bình diện quan hệ của lí thuyết liên văn bản đó là "tổng thể các quan hệ với những văn bản khác được tìm thấy bên trong văn bản" (vấn đề văn bản trong văn bản)
- Thứ ba, đưa chiều kích sáng tạo "chuyển đổi" liên văn bản lên bình diện thứ nhất: mệnh đề "tổng hoà các quan hệ với những văn bản khác" trong trường hợp này sẽ không có nghĩa là sự cộng gộp hay đặt cạnh nhau một cách cơ học, mà là sự xử lí, tinh chế tích cực Tác phẩm liên văn bản sẽ kéo toàn bộ tập hợp các văn bản được nó hấp thụ vào một đầu mối ý nghĩa thống nhất Một mặt, chúng không triệt tiêu lẫn nhau, mặt
Trang 34khác tác phẩm sẽ trở thành một chỉnh thể cấu trúc không bị rã ra: "Liên văn bản không phải là sự tích tụ những tác động khác nhau một cách hỗn loạn và vô nghĩa lí,
mà là hoạt động biến đổi và đồng hoá vô số văn bản do văn bản - hạt nhân trung tâm - loại văn bản luôn dành về phía mình vai trò ngữ nghĩa " [21,tr.355-391]
1.2 Tính khả thi, điều kiện và ý nghĩa của việc dạy học đọc hiểu văn bản văn học theo hướng tiếp cận liên văn bản trong chương trình ngữ văn THPT
1.2.1 Tính khả thi của việc dạy học đọc hiểu văn bản theo hướng tiếp cận liên văn bản trong chương trình ngữ văn THPT
1.2.1.1 Tính khả thi của việc vận dụng lý thuyết liên văn bản vào dạy học tác phẩm văn học
- Do đặc tính của văn bản tạo nên
Trong dạy học Ngữ văn ở trường phổ thông, hoạt động cơ bản nhất là đọc hiểu văn bản Để đọc một văn bản cả giáo viên và học sinh đều phải thực hiện một
sự nối kết: nối kết văn bản này với những văn bản khác; không chỉ văn bản văn học
mà còn bao gồm những “văn bản” khác của hoạt động ngôn ngữ, của tập quán xã hội, của tinh thần dân tộc và thời đại Việc làm này được thực hiện tuân theo một logic tất yếu, phù hợp với bản chất và đòi hỏi của văn bản được đọc Đó chính là đọc văn bản như một liên văn bản và nếu được thực thi với mức độ tự giác cao thì
có thể nói đó là đọc văn bản theo tinh thần của Lý thuyết liên văn bản Hơn nữa, văn bản còn được đặt trong mối quan hệ với người đọc với các văn bản khác để cùng suy ngẫm về cuộc sống, về con người, về những điều đang xảy ra, đang được chứng kiến, đang va đập vào chúng ta Vận dụng lý thuyết liên văn bản không chỉ giúp chúng ta hiểu sâu đặc tính của văn bản nói chung mà còn tạo điều kiện để ta tìm ra cách tiếp cận phù hợp, đáng tin cậy đối với những tác phẩm mang tâm thức của thời đại mới và chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa hậu hiện đại đã xuất hiện ngày càng nhiều trong đời sống văn học cũng như trong chương trình - sách giáo khoa ngữ văn phổ thông hiện nay
Chính vì thế mà ta có thể khẳng định: do đặc tính của văn bản - theo nghĩa liên văn bản - việc vận dụng lý thuyết liên văn bản vào dạy học đọc hiểu văn bản văn học ở THPT là hoàn toàn mang tính khả thi
- Do đặc trưng hoạt động đọc làm chỗ dựa
Trang 35Sự đọc liên văn bản đối với văn bản mang đặc điểm phá vỡ mọi công thức, gò
bó mang tính hình thức để nhằm phát huy cao độ khả năng liên tưởng, tưởng tượng
và năng lực nhạy bén, xử lý các vấn đề của người dạy, người học khi đối diện với văn bản Lối đọc này mang tính cách mạng khi tiếp cận một văn bản, giúp người đọc (giáo viên, học sinh) không chỉ biết cảm nhận, thưởng thức mà còn biết phân tích, thẩm định một văn bản dưới con mắt của nhà phê bình Lý thuyết của việc đọc mới - theo Nguyễn Minh Quân - cần chú ý đến những khía cạnh sau đây:
Tính tự giác: thường thì một văn bản được viết theo lối liên văn bản một cách
có ý thức sẽ làm cho văn bản đó vượt hẳn ra ngoài chủ định của người viết Tác động của ngôn ngữ làm cho văn bản đi ra ngoài tầm nhận thức của chính tác giả - người viết Còn với văn bản được viết theo bản năng tự phát - bằng lối đọc liên văn bản, ta có thể khám phá ra những động hướng ẩn tàng bên trong văn bản song khó
có thể triển hạn thật xa văn bản đó
Tính biến đổi: tính chất biến đổi một sự kiện, một tư liệu, một văn bản gốc bằng chính ý thức của người viết (bằng cách bắt chước, châm biếm, xoáy vặn hoặc sắp xếp lại những chất liệu sẵn có) càng tinh tế bao nhiêu, ý thức về liên văn bản của người viết càng sâu sắc bấy nhiêu
Tính minh bạch: nói đến những nguồn tư liệu lịch sử và văn học được sử dụng để lịch sử hóa một tác phẩm văn học và văn học hóa một sự kiện lịch sử
Tính phê bình trong sự nhận thức: quá trình đọc với một văn bản viết theo lối liên văn bản cần được tiến hành theo bốn giai đoạn: phân tích, phá vỡ, kiến tạo
và diễn dịch
Mức độ tiếp nhận và hợp nhất: người đọc nên ý thức về kỹ năng tiếp nhận, đan xen và hợp nhất các chất liệu từ các nguồn khác nhau vào trong một văn bản bởi nhiều khi, sự kết hợp khéo đến mức chúng ta khó nhận ra tính tương liên của những tầng ý nghĩa trong việc xếp đặt đó
Tính vượt thoát cấu trúc: người đọc tìm hiểu xem văn bản được trình bày như thế nào trong một bối cảnh lớn về thể loại, hoàn cảnh hay ngôn ngữ để có thể phân tích và diễn dịch - mà đầu tiên là cần phá bỏ trung tâm cấu trúc để giải phóng mọi thành tố và tạo cho chúng một sự hoạt tác tự do - đây cũng là nơi thể hiện tài năng của người đọc [32, tr 150- 163]
Trang 36- Do yêu cầu của mục tiêu dạy học
Dạy học ngữ văn - cụ thể là dạy đọc hiểu văn bản - ở trường phổ thông không phải là nghiên cứu phê bình văn học song lại có mối liên hệ tất yếu với nó Trước khi nói đến các mục tiêu dạy học - đương nhiên người dạy, người học phải có được
ý niệm đúng và có nhận thức sâu sắc về những văn bản văn học được dạy học trong nhà trường Người giáo viên dạy văn không thể không tiếp cận các lý thuyết nghiên cứu phê bình văn học “mới” (trong đó có Lý thuyết liên văn bản) để tự mình tìm hiểu, khám phá, kiến tạo và từ đó, hướng dẫn học sinh cùng tìm hiểu, khám phá,
kiến tạo ý nghĩa những văn bản văn học được quy định dạy học trong nhà trường
Trong mục tiêu dạy học cần phải đạt tới của giờ học, cần xác định rõ trật tự
ưu tiên: các tri thức về phương pháp, tri thức về cách đọc là quan trọng hơn và phải đứng ở vị trí hàng đầu so với tri thức cụ thể về một văn bản cụ thể (bởi vì, tri thức
cụ thể kia rõ ràng sẽ bị/ được thay đổi qua từng lần đọc, qua từng trường hợp đọc) Đưa tinh thần lý thuyết liên văn bản vào dạy học đọc hiểu văn bản, chúng ta sẽ nhận
ra những bất cập của kiểu “tổng kết” bài học lâu nay, của cách thiết kế nội dung cho
mục Yêu cầu cần đạt hay mục Ghi nhớ trong sách giáo khoa Ngữ văn hiện hành
Chính mục tiêu dạy học mới yêu cầu việc vận dụng lý thuyết liên văn bản trong dạy học đọc hiểu văn bản văn học ở THPT hiện nay
1.2.1.2 Tính khả thi của việc vận dụng lý thuyết liên văn bản vào dạy học tác phẩm “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” của Lưu Quang Vũ (Ngữ văn 12, tập 2)
Trong chương trình Ngữ văn Trung học phổ thông việc dạy văn bản kịch có
tỷ lệ nhỏ so với các văn bản của các thể loại khác Tài liệu viết về kịch không nhiều Kịch bản là tác phẩm văn học, có đầy đủ tính chất đặc điểm của nghệ thuật ngôn từ Nhưng mặt khác, kịch bản viết ra để là để biểu diễn nên cũng mang đậm chất sân khấu Khi giảng dạy kịch bản văn học một mặt phải xem xét nó như một tác phẩm văn học, mặt khác không thể tách rời nghệ thuật sân khấu Vì thế, việc dạy đọc - hiểu một văn bản kịch đòi hỏi nhiều công phu từ phía giáo viên
Luật giáo dục, điều 28.2, đã ghi: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm,
Trang 37rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”
Được sự quan tâm, chỉ đạo của các cấp, Sở GD&ĐT Hải Dương mấy năm gần đây đã tổ chức cho giáo viên cũng như các tổ trưởng chuyên môn được tiếp cận, cập nhật những nội dung chương trình mới, những hướng tiếp cận bài mới để giáo viên trong tỉnh có cơ hội trao đổi kinh nghiệm, học tập và trau dồi kiến thức để cùng nhau tiến bộ, vận dụng hiệu quả các phương pháp mới vào dạy học Đặc biệt, chương trình Ngữ văn lớp 12 không chỉ giúp các em hình thành tri thức mà còn định hướng giáo dục kỹ năng sống cho các em chuẩn bị hành trang bước vào đời Một trong những văn bản có dung lượng số tiết phân phối chương trình khá lớn đó là dạy
học đoạn trích “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” của Lưu Quang Vũ Theo phân phối
chương trình Ngữ văn lớp 12 của Sở GD & ĐT Hải Dương năm học 2016 – 2017 thì
dạy học đoạn trích “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” của Lưu Quang Vũ trong 2 tiết
Đó là một trong những điều kiện để vận dụng lý thuyết liên văn bản vào dạy học đoạn trích có hiệu quả
Đoạn trích “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” của Lưu Quang Vũ (Ngữ văn 12,
tập 2) được mượn từ tích truyện cổ dân gian cùng tên Vì vậy, khi giáo viên dạy học
đoạn trích “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” của Lưu Quang Vũ theo hướng tiếp cận liên
văn bản là hoàn toàn khả thi, sẽ kích thích sự hứng thú và chủ động tiếp nhận kiến thức
của học sinh, đồng thời làm giàu vốn hiểu biết cho các em học sinh lớp 12
1.2.2 Điều kiện để vận dụng có hiệu quả lý thuyết liên văn bản trong dạy học đọc hiểu văn bản trong chương trình Ngữ văn THPT
1.2.2.1 Điều kiện để vận dụng có hiệu quả tính liên văn bản trong chương trình Ngữ văn 12
- Cần phải có vốn kiến thức văn học sâu rộng và khả năng liên tưởng tốt:
Dạy văn, học văn đều cần thiết phải có vốn kiến thức văn học và năng lực liên tưởng, tưởng tượng
Dạy đọc hiểu văn bản, văn học theo tinh thần vận dụng lý thuyết liên văn bản càng cần phải có một phông văn hóa và khả năng liên tưởng mạnh mẽ
Như phần trên đã chỉ rõ, muốn hiểu văn bản này phải đặt nó trong mối liên hệ với các văn bản khác, chứ không phải trong những mối quan hệ với những “nghĩa
Trang 38đen” hay sự thật tuyệt đối, một quy phạm nào đó, phải đặt mọi thứ vào trường diễn ngôn của văn học
Lý thuyết liên văn bản mở ra cho văn bản văn học nói chung và văn bản văn học hậu hiện đại nói riêng một “kích thước mới” Theo Nguyễn Hưng Quốc thì trong một tác phẩm hậu hiện đại; bất kỳ chữ nào cũng có hai mối quan hệ, một là mối quan hệ nội tại với những chữ khác trong văn bản (để tạo ý nghĩa) và hai là mối quan hệ ngoại tại với những chữ khác trong các văn bản khác Vì thế, nó là một quần thể giả định của các văn bản khác, là sự đan dệt của rất nhiều các mảng màu của những nền văn hóa khác nhau, trong đó mọi việc đã được nói đến vào một lúc nào đó, trong một ngữ cảnh nào đó, một văn bản nào đó Các yếu tố trong văn bản đều ít nhiều có quan hệ với một hệ thống liên văn bản rộng lớn vượt ra ngoài tầm kiểm soát của tác giả Một hệ quả tất yếu được sinh ra từ mệnh đề này là sự lên ngôi
- sự tự do của người đọc [33, tr.261-263]
Vì thế, để vận dụng có hiệu quả lý thuyết liên văn bản vào dạy đọc hiểu văn bản văn học ở THPT, rất cần phải có vốn kiến thức văn học sâu rộng; năng lực nắm bắt và giải mã các ký hiệu, những kiến thức thu nhận trong quá trình sống, trong môi trường văn hóa của mình và cả những tiếp nhận từ bên ngoài Từ đó, người đọc (giáo viên - học sinh) chọn lựa cho mình một cách đọc thích hợp, kiến giải tác phẩm theo quan điểm riêng của mình, tìm những kết luận cho tác phẩm và đặc biệt là mở rộng thêm chiều kích cho các văn bản đó
Cùng với đó là yêu cầu đòi hỏi người đọc phải có một khả năng liên tưởng mạnh mẽ để có thể nối kết những thành tố của hình tượng nghệ thuật, những giá trị văn chương ẩn tàng trong và ngoài tác phẩm Đặc biệt, đối với các tác giả kịch lớn như Lưu Quang Vũ – người không chỉ mang đến cho làng kịch Việt Nam với nghệ
thuật viết kịch độc đáo mà còn thông qua tác phẩm “Hồn Trương Ba, da hàng thịt”
muốn gửi gắm đến người đọc những triết lý nhân sinh vô cùng sâu sắc, năng lực liên tưởng mạnh mẽ của “người đọc” không chỉ giúp họ trở thành “tri âm - tri kỷ” với văn bản văn học mà còn khám phá thêm những chân trời mới, những ý tưởng thâm thúy ẩn tàng sau văn bản mà thường khi tác giả của nó không ngờ tới
- Cần có tầm bao quát rộng rãi đối với các loại hình sáng tác không thuộc phạm trù văn học
Trang 39Ngày nay, xu hướng mở rộng khái niệm “văn bản” (liên văn bản) đã dung nạp hầu như toàn bộ các phương thức thể hiện mà không nhất thiết phải dựa trên phương tiện văn tự ghi ký (như văn bản văn học chẳng hạn) Như thế, một tác phẩm hội họa, điện ảnh hay quảng cáo đã trở thành văn bản và được “đọc” bằng nhiều phương thức khác nhau Văn bản có thể được tạo nên từ nhiều nguyên tắc khác nhau ở phạm
vi ngữ cảnh rộng lớn, trong đó: lịch sử, xã hội và văn hóa trở thành những nguồn cung cấp chất liệu Liên văn bản không những đã kết hợp, hòa trộn mà còn xóa đi tất
cả những ranh giới giữa các thể loại Một tác phẩm có thể bắt đầu từ một mẩu quảng cáo, liên kết với những dòng tin báo chí có thực và rồi xen kẽ những tưởng tượng,
hư cấu của người viết Nhưng ngay cả trong những hư câu ấy, người ta vẫn tìm ra dấu vết của những ảnh hưởng về văn hóa, xã hội, môi trường sống, kiến thức, tôn giáo đã tồn tại một cách tiềm tàng trong bản thân người viết
Chính vì vậy mà điều kiện để vận dụng lý thuyết liên văn bản có hiệu quả trong dạy học Ngữ văn là cần phải có một “phông văn hóa” - như đã nói ở phần trước - không chỉ về vốn kiến thức văn học mà còn phải có tầm bao quát rộng rãi đối với các loại hình sáng tác không thuộc phạm trù văn học như: hội họa, điện ảnh, âm nhạc , những tri thức về lịch sử, địa lý, dân tộc, xã hội, tôn giáo tóm lại là một vốn văn hóa - vốn sống càng đầy dặn, phong phú bao nhiêu càng hiệu quả bấy nhiêu
- Phải nắm được những quyền lực văn hóa chi phối hoạt động sáng tạo của nhà văn
Đây là nội dung cơ bản của việc vận dụng lý thuyết liên văn bản trong dạy học đọc hiểu văn bản song lại ít được chú ý trong dạy học ngữ văn ở THPT hiện nay Lâu nay, nhiều giáo viên đã thực hiện khá suôn sẻ những thao tác như: phân tích bối cảnh lịch sử - thời đại của tác phẩm, tìm hiểu điều kiện, hoàn cảnh sống của tác giả Chí ít, cũng có thể xem đó là tiền đề lịch sử của phạm trù “khảo sát tính liên văn bản của văn bản” Song những điều đó chưa thể được xem là căn cứ xác đáng để nói rằng giáo viên Ngữ văn đã có ý thức (dù tự phát) về vấn đề liên văn bản như một quan niệm học thuật mang tính đột phá
Bởi vì quá trình tạo lập văn bản của nhà văn không chịu sự chi phối của các
sự kiện xã hội, sự kiện đời sống cá nhân theo kiểu trực tiếp mà theo kiểu gián tiếp, qua khâu trung gian là muôn trùng văn bản, muôn trùng quyền lực diễn ngôn vây
Trang 40bọc quanh ta Nhưng suy cho cùng, không thể có sự tồn tại khách quan tuyệt đối của các sự kiện thực tế Tất cả chúng đều được văn bản hóa bởi những diễn giải đa dạng, đầy khác biệt và mâu thuẫn Tư tưởng này chưa có dịp được truyền bá trong nhà trường hiện nay khi “phản ánh luận” Macxit còn chi phối trong tư duy nghiên cứu - phê bình văn học của đội ngũ giáo viên (Theo Phan Huy Dũng [6])
Áp lực của đời sống lên một thành viên xã hội (Cơm áo không đùa với khách thơ) và áp lực nghệ thuật lên một nhà văn - người viết (khi họ chấp nhận cuộc chơi
văn bản - liên văn bản) thuộc về hai phạm trù khác nhau, có mối liên hệ với nhau nhưng không phải là một Không nhận rõ điều này, sự lý giải của ta đối với tác phẩm văn học sẽ hời hợt, vừa không thoát khỏi cái nhìn của quyết định luận xã hội học vừa bỏ quên những quy luật riêng của sáng tạo văn học
Theo cách nhìn của lý thuyết liên văn bản, nhà văn không phải bao giờ cũng được tự do tung hoành trong “cõi sáng tạo” của mình (dường như “cõi sáng tạo” mang tính độc lập hoàn toàn kia chỉ là một sản phẩm tưởng tượng của tâm thức lãng mạn chủ nghĩa trong sáng tác cũng như trong phê bình
Tựu trung, việc chỉ ra những quyền lực văn hóa chi phối hoạt động sáng tạo của nhà văn có ý nghĩa quan trong dạy học đọc hiểu văn bản ở THPT theo hướng tiếp cận liên văn bản Công việc này về bản chất - khác với công việc dẫn giải về bối cảnh xã hội - lịch sử, hoàn cảnh ra đời của sáng tác mà trước nay ta vẫn quen làm
1.2.2.2 Điều kiện của việc vận dụng lý thuyết liên văn bản vào dạy học tác phẩm“Hồn Trương Ba, da hàng thịt” của Lưu Quang Vũ (Ngữ văn 12, tập 2)
Khi dạy văn bản kịch trong nhà trường phổ thông, giáo viên gặp không ít khó khăn so với những văn bản thuộc các thể loại khác Nhất là người dạy cần phải bám sát đặc trưng của kịch bản văn học như: lời thoại nhân vật, hành động kịch…ngoài
ra còn cần mở rộng kiến thức liên môn cho học sinh, tài liệu giảng dạy thể loại chưa nhiều Chương trình cũng như nội dung bài học có sự thay đổi về thời lượng tiết
dạy, cách ghi bảng, hướng tiếp cận bài dạy Riêng dạy học đoạn trích “Hồn Trương
Ba, da hàng thịt” của Lưu Quang Vũ (Ngữ văn 12, tập 2) theo hướng tiếp cận liên
văn bản thân người giáo viên có vai trò rất lớn Bởi đây là một trong những phương pháp tiếp cận văn bản rất mới và chưa được vận dụng đưa vào giảng dạy một cách