Tự chủ đại học university autonomy có thể được định nghĩa là mức độ độc lập cần thiết đối với các tác nhân can thiệp bên ngoài mà nhà trường cần có để có thể thực hiện được việc quản trị
Trang 10
MẪU 14/KHCN
(Ban hành kèm theo Quyết định số 3839 /QĐ-ĐHQGHN ngày 24 tháng10 năm 2014
của Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội)
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KẾT QUẢ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI KH&CN
CẤP ĐẠI HỌC QUỐC GIA
Tên đề tài: Đánh giá thực trạng tính tự chủ và trách nhiệm xã hội của các
trường ĐH thành viên thuộc ĐHQGHN đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản toàn diện giáo dục đại học
Mã số đề tài: QG.16.60
Chủ nhiệm đề tài: Phạm Thị Thanh Hải
Hà Nội, 2018
Trang 21
PHẦN I THÔNG TIN CHUNG
1.1 Tên đề tài: Đánh giá thực trạng tính tự chủ và trách nhiệm xã hội của các
trường ĐH thành viên thuộc ĐHQGHN đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản toàn
diện giáo dục đại học
1.2 Mã số: QG.16.60
1.3 Danh sách chủ trì, thành viên tham gia thực hiện đề tài
TT Chức danh, học vị, họ và tên Đơn vị công tác Vai trò thực hiện đề tài
1 TS Phạm Thị Thanh Hải Trường ĐHGD Chủ trì đề tài1,2,3
2 GS.TS Nguyễn Thị Mỹ
3 PGS.TS Lê Kim Long Trường ĐHGD Nội dung1,3
4 PGS.TS Trịnh Văn Minh Trường ĐHGD Nội dung1,3
5 TS Nguyễn Kiều Oanh ĐHQGHN Nội dung2,3
6 TS Đỗ Thị Thu Hằng Trường ĐHGD Nội dung1,2,3
7 TS Trần Thị Hoài Trường ĐHGD Thư kí đề tài1,2,3
1.4 Đơn vị chủ trì:
1.5 Thời gian thực hiện:
1.5.1 Theo hợp đồng: từ tháng 6 năm 2016 đến tháng 6 năm 2018
1.5.2 Gia hạn (nếu có): Không
1.5.3 Thực hiện thực tế: từ tháng 6 năm 2016 đến tháng 2 năm 2018
1.6 Những thay đổi so với thuyết minh ban đầu (nếu có):
(Về mục tiêu, nội dung, phương pháp, kết quả nghiên cứu và tổ chức thực hiện; Nguyên nhân; Ý kiến của Cơ quan quản lý)
- Thay đổi kết quả nghiên cứu: 01 bài báo công bố quốc tế chuyển thành
một cuốn chuyên khảo Lý do: Trong quá trình thực hiện, nhóm nghiên cứu nhận
thấy đề tài về tự của đại học có tính mới trong bối cảnh Việt Nam, có ít tài liệu
đã công bố ở Việt Nam về lĩnh vực này để tham khảo, trích dẫn Vì vậy, nhóm
đã chủ động đề xuất xuất bản chuyên khảo “Tự chủ đại học trong bối cảnh đổi mới giáo dục - Nghiên cứu trường hợp tại Đại học Quốc gia Hà Nội”
- Thay đổi kết quả nghiên cứu: Tăng thêm 03 bài báo cáo tại Hội thảo quốc
tế Bài báo Có 2 phản biện); đăng trên kỉ yếu hội thảo SEAAIR 2017 (ISSN
25917056) Lý do: Đây là diễn đàn chuyên về Giáo dục đại học Chủ đề năm
2017 phù hợp với mục tiêu nghiên cứu của đề tài: ASEAN Higher Education at the Crossroad: Chanllenges, Changese, Capacities and Capabilities
1.7 Tổng kinh phí được phê duyệt của đề tài: 200 triệu đồng
Trang 3tự chủ là quan trọng, các khía cạnh của tự chủ v.v đã được thảo luận, bàn bạc, biện giải, và phát triển thành một hệ thống lý luận tương đối hoàn chỉnh và vẫn còn tiếp tục được phát triển cho phù hợp với sự phát triển của thế giới
Trước hết cần hiểu đúng về khái niệm tự chủ đại học Tự chủ đại học (university autonomy) có thể được định nghĩa là mức độ độc lập cần thiết đối với các tác nhân can thiệp bên ngoài mà nhà trường cần có để có thể thực hiện được việc quản trị và tổ chức nội bộ, việc phân bổ các nguồn lực tài chính trong phạm
vi nhà trường, việc tạo ra và sử dụng các nguồn tài chính ngoài ngân sách công, việc tuyển dụng nhân sự, việc xây dựng các tiêu chuẩn cho học tập và nghiên cứu, và cuối cùng, là quyền tự do trong việc tổ chức thực hiện nghiên cứu và giảng dạy”
Báo cáo tổng quan về xu thế quản trị đại học trên thế giới của World Bank (2008) khái quát bốn mô hình quản trị đại học với các mức độ tự chủ khác nhau,
từ mô hình Nhà nước kiểm soát hoàn toàn (state control) như ở Malaysia, đến các mô hình bán tự chủ (semi - autonomous) như ở Pháp và New Zealand, mô hình bán độc lập (semi - independent) ở Singapore, và mô hình độc lập (independent) ở Anh, Úc Mặc dầu vậy, trong mô hình Nhà nước kiểm soát thì
cơ sở GDĐH vẫn được hưởng một mức độ tự chủ nhất định vì những lý do tài chính và thực tiễn, Nhà nước không thể kiểm soát được tất cả các hoạt động của
cơ sở GDĐH; bên cạnh đó, ngay trong mô hình độc lập thì vẫn có những mặc định ngầm về quyền của Nhà nước nắm giữ một số kiểm soát về mặt chiến lược
và có quyền yêu cầu tính giải trình cao ở các cơ sở GDĐH
Trường đại học là nơi sản sinh ra các tri thức mới Giảng viên là người sáng tạo ra tri thức và ở khía cạnh này, quyền tự do học thuật là một quyền tự do tuyệt đối Các giảng viên phải là người tự do tiến hành các đề tài nghiên cứu, tự
do xuất bản, giảng dạy và thảo luận; tự do phê bình trước những ràng buộc, kiểm duyệt, qui định của nhà trường Theo Shils1, quyền tự do học thuật là tự thân, có
sự đan xen với mục tiêu nền tảng của trường ĐH, tự do tìm kiếm và truyền bá sự thật Yếu tố “sự thật” được đặt ra như là nguyên tắc bắt buộc, nhưng không là rào cản tự do học thuật
Canada (AUCC) đã liệt kê một danh sách tự chủ đại học gồm các quyền
1 Trích theo Callahan M 1995 Academic Freedom, Autonomy and Accountability Largely abstracted from:
OCUA, Some Perspectives on Academic Freedom, Autonomy and Accountability Task Force on Resource
Allocation, Ontario Council on University Affairs Địa chỉ truy cập:
<http://cclp.mior.ca/Compex/AcFree_Account-Aut_MSgp.pdf>
Trang 43
lựa chọn và bổ nhiệm cán bộ; lựa chọn, xét tuyển và kỉ luật sinh viên; thiết lập
và kiểm soát chương trình đào tạo; ban hành các quy định tổ chức để triển khai hoạt động khoa bảng; xây dựng chương trình và nguồn tài nguyên bổ trợ trực tiếp; xác nhận hoàn tất chương trình và cấp phát văn bằng Có vẻ như khái niệm này có quá nhiều khía cạnh mà mỗi người ở một góc nhìn khác nhau lại có một
sự nhấn mạnh khác nhau Điều này đã được khẳng định trong phát biểu sau của
Ủy ban Châu Âu (European Commission): “cần thiết phải diễn giải khái niệm tự chủ trong trường ĐH bao gồm những gì trong xã hội hiện đại, xét về nội hàm (pháp lý, tài chính) của khái niệm này cũng như xét về các bộ phận và tác nhân
có liên quan”2 Theo Anderson và Johnson, khái niệm tự chủ đại học bao gồm 7 thành phần hay lĩnh vực hoạt động sau:
1 Cán bộ: tuyển dụng, thăng tiến, tư cách cán bộ giảng dạy và cán bộ hành chính cấp cao;
2 Sinh viên: tuyển sinh, tiến trình học tập, kỷ luật;
3 Chương trình đào tạo và hoạt động giảng dạy: phương pháp, thi/kiểm tra, nội dung, giáo trình;
4 Các tiêu chuẩn chuyên môn: tiêu chuẩn bằng cấp, tiêu chuẩn đánh giá chất lượng và kiểm định;
5 Nghiên cứu và xuất bản: đào tạo sau đại học, ưu tiên cho đề tài nghiên cứu, tự do xuất bản;
6 Điều hành: các hội đồng, phòng ban, hội sinh viên;
7 Hành chính và tài chính: ngân quỹ, chi phí vận hành, chi phí thiết bị vật
tư, công việc thời vụ, nguồn quỹ ngoài ngân sách, các quy định trách nhiệm
Khi so sánh trong phạm vi của một quốc gia, có thể thấy mức độ tự chủ đối với các lĩnh vực này thường không giống nhau Ở các nước có độ tự chủ cao,
sự kiểm soát của chính phủ chỉ tồn tại ở các lĩnh vực 4 (các tiêu chuẩn chuyên môn) và 7 (hành chính và tài chính) Tại các nước có độ tự chủ trung bình, sự kiểm soát của chính phủ có thể tăng thêm ở các lĩnh vực 3 (chương trình đào tạo
và hoạt động giảng dạy) và 6 (điều hành) Trong khi đó, ở các nước có độ tự chủ thấp, chính phủ có quyền can thiệp vào tất cả các lĩnh vực hoạt động của trường
ĐH3
Trong giáo dục ĐH, một trong những vấn đề then chốt về mặt trách nhiệm, đó là trách nhiệm đối với những thành phần bên trong nhà trường (giảng viên và đội ngũ công chức, sinh viên…) mà còn đối với thành viên bên ngoài Nhà trường phải có trách nhiệm với sinh viên, với phụ huynh, với doanh nghiệp
và rộng hơn là trách nhiệm đối với cộng đồng
2 Autonomy captures the extent to which institutions are free to manage their resources and to shape their
activities “ it is necessary to elaborate on what the autonomy of higher education institutions in the modern
society includes”, in terms of content (legal, financial, etc.) as well as in terms of bodies and actors’ (Kohler and
Huber 2006) Accountable systems provide incentives by allocating resources on a performance basis and by
evaluating outcomes
3 Nguồn: The OECD (2007) has developed a series of indicators bases in its surveys of its member countries measuring autonomy (financial autonomy, staff policy autonomy with respect to hiring/firing and wages, student selection and course content) and accountability (evaluation mechanisms and funding rules) A summary of these indicators in presented in Table 16
Trang 54
Trường đại học đang trong sự thay đổi liên tục, chịu ảnh hưởng của công nghệ, môi trường cạnh tranh, các yêu cầu điều chỉnh và hợp pháp và sứ mệnh của giáo dục đại học là để đáp ứng các nhu cầu cụ thể của giáo dục và đào tạo chuyên môn của các cá nhân, cũng như nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của cả
xã hội Theo tầm nhìn phát triển bền vững, thực hiện một Hệ thống quản lý chịu trách nhiệm xã hội (SAMS) trong giáo dục đại học là một trong những giải pháp khả thi để giải quyết các vấn đề hiện tại của xã hội Việc thực hiện hiệu quả SAMS trong giáo dục đại học nghĩa là tiếp cận sinh viên như là một thành viên tích cực trong quá trình giáo dục, các giáo viên như người huấn luyện viên, nhà quản lý và lãnh đạo, đơn vị giáo dục với vai trò của mô hình hóa nguồn nhân lực
có trách nhiệm xã hội
Giáo dục là điều cần thiết cho phát triển bền vững Việc chịu trách nhiệm
xã hội phải được xem xét trong chính trường đại học (thiết kế mục tiêu, chuyên môn và giáo trình đại học, phương pháp giảng dạy và các mối quan hệ với các sinh viên, các hoạt động ngoài trường đại học và tương tự), nhưng đặc biệt là chịu trách nhiệm xã hội của giáo dục bên ngoài trường Đại học (tương quan giáo dục với thị trường lao động và có sinh viên tốt nghiệp có việc làm, và tiếp tục học tập)
Đối với một trường đại học để thành chịu trách nhiệm xã hội thì điều cần thiết để hiểu được nhu cầu và mong đợi của các bên liên quan bằng cách tập trung vào sự hài lòng của khách hàng và định hướng đến chất lượng, môi trường
và phát triển an toàn công việc và sức khỏe Việc xác định chính xác của khách hàng và đối tác (nội bộ và bên ngoài của các trường đại học) là một yếu tố thành công trong việc thực hiện một hệ thống quản lý trách nhiệm xã hội
Trách nhiệm xã hội4 (accountability) được hiểu là “trách nhiệm, trách nhiệm giải thích” Theo các tài liệu về giáo dục ĐH, thuật ngữ trách nhiệm xã hội được giải thích như: (i) liên quan trước hết tới những người có thẩm quyền
và quy định họ cần thực thi nhiệm vụ của mình như thế nào; (ii) là sự sẵn sàng giải thích các quyết định có kèm theo minh chứng khi sinh viên, đồng nghiệp hoặc bất kỳ cá nhân nào hỏi Trong trường đại học, trách nhiệm xã hội có nghĩa
là những người được giao quyền lực phải chịu trách nhiệm trước một cá nhân hoặc một nhóm người nào đó Ví dụ: Giảng viên phải chịu trách nhiệm trước Ban chủ nhiệm khoa về lĩnh vực chuyên môn giảng dạy, Chủ nhiệm khoa phải chịu trách nhiệm trước Hiệu trưởng về quản lý điều hành cấp khoa, Hiệu trưởng phải chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị hoặc Hội đồng trường ĐH về điều hành nhà trường
Tính trách nhiệm không chỉ giới hạn ở chỗ được xem như là thông tin tài chính dùng để chứng minh rằng công quỹ đã được chi tiêu một cách có trách nhiệm mà còn bao hàm cả việc chứng minh rằng đã đạt được các mục tiêu đặt ra của nhà trường một cách hiệu quả nhất, nhà trường phải chứng minh được quan
hệ giữa kết quả đầu ra và sử dụng nguồn lực là một quan hệ tỉ lệ thuận tối ưu Thực hiện một hệ thống quản lý trách nhiệm xã hội theo SA 8000 Trách nhiệm
xã hội (Trách nhiệm Xã hội Quốc tế, 2008) chuẩn, nghĩa là có quyết định chiến lược trong công tác quản lý của tổ chức đại diện cho cả nền văn hóa kinh doanh
4 Theo Từ điển Anh – Việt (1975)
Trang 65
bao gồm các quy tắc ứng xử và đạo đức, môi trường công nghệ thân thiện, đối
xử công bằng với lao động, mối quan hệ minh bạch với các cơ quan chức năng, đạo đức liêm chính, đầu tư cộng đồng.5
Tính trách nhiệm xã hội là thách thức cho giáo dục đại học Các nhà hoạch định chính sách mong đợi đạt được nhiều thứ hơn từ các trường đại học như chi phí, mục tiêu cạnh tranh Ví dụ: tuyển sinh cần phải đa dạng hơn, đảm bảo tiêu chuẩn học thuật cao, sinh viên tốt nghiệp phải sắn sàngđáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động và nghiên cứu phải được ứng dụng cho thực tiễn sản xuất Nhưng cùng lúc, các nhà hoạch định chính sách không tạo cơ hội tăng thêm tài trợ cho đại học trong thập kỷ qua.6
Ở một số Bang của Mỹ, Báo cáo Chịu trách nhiệm của trường đại học (Accountability Report) được tiến hành định kì gồm cam kết và thực hiện sứ mệnh của cơ sở giáo dục đối với cộng đồng Ví dụ, Báo cáo “Chịu trách nhiệm”
sẽ minh họa cho tác động của trường ĐH California ở khu vực bằng cách mô tả
cụ thể các vai trò của trường trong: (i) giáo dục đại học, sau đại học và khoa học sức khỏe của sinh viên và y tế cho nhân dân; (ii) là một trong những nhà tuyển dụng lớn nhất trong bang; (iii) tiến hành nghiên cứu để đưa ra những kết quả có ích cho bang và để giáo dục học sinh;(iv) là bệnh viện thực hành lớn nhất California giảng dạy các chương trình khoa học y học, chăm sóc sức khỏe cho người dân California một cách chuyên nghiệp hiện tại và trong tương lai; (v) là một nhà lãnh đạo trong phát triển bền vững.7
Ở khu vực Châu á, việc chuyển đổi từ quản lí giáo dục đại học theo hình thức tập trung sang hình thức giáo dục đại học đáp ứng theo yêu cầu của thị trường thường qua trung gian là các tổ chức giáo dục đại học Nhiều nước trong khu vực thực hiện việc này theo cách “chính phủ chuyển giao một phần quyền hạn và trách nhiệm của mình để các tổ chức giáo dục đại học theo hình thức tăng quyền tự chủ Điều này dẫn đến một sự thay đổi từ mô hình nhà nước kiểm soát đến một nhà nước mô hình giám sát của quản lý giáo dục đại học”8 Những cải cách này đã dẫn đến những thay đổi đáng kể trong cách hoạt động được tổ chức
và quản lý trong các cơ sở giáo dục đại học Cơ cấu quản trị tại các hệ thống và
tổ chức các cấp đã được điều chỉnh để đáp ứng với những thay đổi ở cấp quốc gia Điều này có có ảnh hưởng rộng rãi về sự phân công tương đối về trách nhiệm quản lý hệ thống giáo dục đại học
Quyền tự chủ và trách nhiệm xã hô ̣i là hai mặt thống nhất trong mọi hoạt động của một nhà trường , tự chủ chủ yếu để đảm bảo hiệu quả và hiệu suất cao ; còn trách nhiệm xã hô ̣i chủ yếu là để đảm bảo chất lượng và công bằng xã hội trong giáo du ̣c Quyền tự chủ phải gắn liền với nghĩa vụ và trách nhiệm trước nhà nước, trước xã hội và trước người học cũng như đối với chính bản thân đội ngũ cán bộ tham gia GDĐH
5 Ecaterina-Alina Sandua* & others(2014) Considerations on implementation of a social accountability
management system model in higher education
6
William Zumeta, (1998), Public University Accountability to the State in the Late Twentieth Century: Time for
a Rethinking? in Policy Studies Review 15 (4) (Winter 1998), 5-22
7 UC Annual Accountability Report 2014
8 OECD, 2003; 22 Governance reforms in higher education van Vught, 1994
Trang 76
Tự chủ và chịu trách nhiệm xã hội là xu thế tất yếu khách quan trong tiến trình phát triển của xã hội nói chung và giáo dục đại học nói riêng Tự chủ và chịu trách nhiệm xã hội là một yêu cầu hàng đầu trong quá trình đổi mới giáo dục đại học trên toàn thế giới hiện nay, là một công cụ quan trọng trong việc tạo nguồn lực cho sự vận hành của một trường ĐH để thực hiện sứ mạng cam kết đối với xã hội
Giáo dục đại học không chỉ có ý nghĩa đào tạo ra nguồn nhân lực có chất lượng cao mà còn có ý nghĩa quyết định trong việc phát minh ra những thành tựu khoa học mới Trường đại học không chỉ là nơi đào tạo mà còn là những trung tâm nghiên cứu để hình thành hệ thống tri thức mới, phát triển và chuyển giao công nghệ hiện đại cũng như góp phần quan trọng trong việc phát triển kinh tế -
xã hội bền vững
Luâ ̣t Giáo du ̣c (2005) Điều 60 nói về quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của các trường trung cấp , cao đẳng và đại học ghi rõ Trường trung cấp, trường cao đẳng, trường đại học được quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật và theo điều lệ nhà trường trong các hoạt động đào tạo, tuyển sinh, tổ chức bộ máy nhà trường, tài chính9
Luật GDĐH (2012) Điều 32 nêu rõ cơ sở giáo dục đại học tự chủ trong các hoạt động chủ yếu thuộc các lĩnh vực tổ chức và nhân sự, tài chính và tài sản, đào tạo, khoa học và công nghệ, hợp tác quốc tế, bảo đảm chất lượng giáo dục đại học Cơ sở giáo dục đại học thực hiện quyền tự chủ ở mức độ cao hơn phù hợp với năng lực, kết quả xếp hạng và kết quả kiểm định chất lượng giáo dục. 10
Luật GDĐH nêu rõ trường ĐH được tự quyết định chương trình, tuyển sinh, in và cấp bằng Là một bước tiến trong tư duy quản trị ĐH nhưng Luật GDĐH chưa phải một bước ngoặt, vì Nhà nước vẫn đóng vai trò kiểm soát rất lớn về sứ mạng, vị trí, quyền tự chủ của trường ĐH, phân tầng cố định theo Luật, Chính phủ/Bộ xếp hạng các trường ĐH-CĐ; Cơ quan chủ quản quyết định thành lập, chia tách, sát nhập, giải thể trường, bổ nhiệm hiệu trưởng, quyết định biên chế, lương Hội đồng Trường công đóng vai trò hình thức, hoạt động không thường xuyên; Nhà nước kiểm soát về tài chính; Việc mở ngành vẫn theo cơ chế xin - cho…
Điều lệ trường đại học (2014), Điều 5 Nhiệm vụ, quyền hạn, quyền tự chủ
và trách nhiệm xã hội của trường đại học nêu rõ (i) quyền tự chủ của trường đại học thực hiện theo quy định tại Điều 32 của Luật Giáo đục đại học và một số quy định cụ thể về quyết định mục tiêu, chiến lược và kế hoạch phát triển của nhà trường, quyết định thành lập bộ máy tổ chức,tự chủ về thu chi tài chính, đảm bảo chất lượng, đào tạo, nghiên cứu khoa học; (ii) Trách nhiệm xã hội của trường đại học thể hiện ở các hoạt động: Báo cáo, công khai và giải trình với cơ quan quản lý nhà nước và các bên liên quan về các hoạt động của nhà trường theo quy định của pháp luật, cam kết với cơ quan quản lý nhà nước và chịu trách nhiệm về mọi hoạt động để đạt được các cam kết; không để bất kỳ cá nhân hoặc
9 Luâ ̣t Giáo dục (2005)
10 Luật GDĐH (2012)
Trang 8và (v) Đầu tư mua sắm 12
Chủ trương đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế phù hợp trong giai đoạn hiện nay Việt Nam đã phát triển theo nền kinh tế thị trường Trường ĐH là một loại doanh nghiệp đặc biệt (WTO go ̣i là di ̣ch vu ̣ ), sản xuất ra loại hàng hóa đặc biệt Sản phẩm của nhà trường chính là sinh viên tốt nghiệp Hoạt động "sản xuất nguồn nhân lực" trong nền kinh tế thị trường cũng như mọi hoạt động doanh nghiệp khác phải được tự chủ trong "sản xuất" và phải chịu trách nhiệm về "sản phẩm" của mình
Báo cáo về “GDĐH Việt Nam - khủng hoảng và trách nhiệm” tháng 11-
2008 của chương trình châu Á - Trường Harvard Kennedy, thông qua kinh nghiệm hợp tác từ Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright tại Thành phố Hồ Chí Minh (TPHCM), đã nêu lên các vấn đề gốc rễ trong khủng hoảng GDĐH ở Việt Nam và tầm quan trọng của việc đổi mới thể chế, trong đó vấn đề tự chủ và trách nhiệm được nêu ra như là yếu tố cơ bản Báo cáo cũng đề cập cơ chế trả lương cho viên chức giảng dạy.13 Trong “Cải cách quản trị đại học: Khả năng tự chủ nhiều hơn?”14, Tom Christensen bàn về những xu hướng cải cách quản lí công trong giáo dục qua các giai đoạn khác nhau Tự chủ đại học hiện nay được chuyển từ tự chủ hình thức ở cấp độ thấp sang tự chủ thực sự ở mức cao hơn Vấn đề này dựa trên hai yếu tố, một là thay đổi những quan điểm về tổ chức, văn hóa và môi trường nội tại, hai là phác thảo xu hướng cải cách nhà trường Nhiều trường đại học đã chủ động tìm cách khai thác các nguồn tài chính thay vì phụ thuộc vào sự bảo trợ từ tài chính công như trước đây
Báo cáo “GDĐH: Bài học kinh nghiệm” (1994),15 đã trình bày kinh nghiệm qua nghiên cứu GDĐH ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, về quản trị đại học ở cả cấp hệ thống và cấp trường; chỉ ra chìa khóa thành công cho các chương trình cải cách GDĐH là xác định lại vai trò của Chính phủ, tăng cường quyền tự chủ và trách nhiệm của các trường đại học công Trong báo
11 Điều lệ trường đại học (2014)
12 Nghị quyết 77/NQ-CP ngày 24 tháng 10 năm 2014
13 http://www.hks.harvard.edu/innovations/asia/Documents/HigherEducationOverview 112008.pdf
14 Tom Christensen (2011), University governance reforms: potential problems of more autonomy?,
Springerlink.com
15 http://www.worldbanw.org/edu/htlm/extdr/educ/postbasc.htm
Trang 98
cáo “Phát huy hiệu quả của GDĐH”,16 Ngân hàng Thế giới khu vực châu Á Thái Bình Dương (2012) đã đề cập vấn đề quản lí GDĐH công lập qua lăng kính của vấn đề tự chủ và đảm bảo trách nhiệm trong xu thế GDĐH thế giới chuyển hướng sang mô hình thị trường Báo cáo cũng nói về phạm vi tự chủ với hai khái niệm là tự chủ thực chất và tự chủ thủ tục Tự chủ thực chất là tự chủ về thiết kế chương trình, chính sách nghiên cứu, tiêu chuẩn tuyển sinh, bổ nhiệm cán bộ
giảng dạy, trao bằng; và tự chủ thủ tục là tự chủ về ngân sách, quản lí tài chính,
bổ nhiệm viên chức hành chính, mua sắm, kí kết hợp đồng
Nhằm hoàn thiện mô hình về tổ chức quản lý, chương trình, nội dung phương pháp, tài chính và khẳng định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các trường đại học, cao đẳng trong chiến lược đổi mới hệ thống giáo dục Việt Nam đáp ứng nhu cầu phát triển đất nước thời kỳ hội nhập Trường Đại học Sư phạm
Tp Hồ Chí Minh, thay mặt Ban Liên lạc các trường Đại học và Cao đẳng Việt Nam (VUN) tổ chức Hội thảo khoa học: “Vấn đề tự chủ - tự chịu trách nhiệm ở các trường đại học và cao đẳng Việt Nam - 2009” Kỉ yếu Hội thảo bao gồm
nhiều báo cáo của các tác giả với các nội dung chính: (i) Cơ sở lý luận và thực
tiễn khẳng định vai trò về việc thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các trường đại học, cao đẳng ở Việt Nam; (ii) Những kinh nghiệm của các nước trong việc thực hiện quyền tự chủ ở các trường và vấn đề tự chủ, tự chịu trách nhiệm ở các trường đại học, cao đẳng Việt Nam thời gian qua trong các lĩnh vực:
Tổ chức quản lý bộ máy, cán bộ, sinh viên, các chương trình, nội dung đào tạo, các chuẩn mực khoa học, nghiên cứu khoa học và công bố, hợp tác quốc tế trong đào tạo và nghiên cứu khoa học, quản trị, tài chính và hành chính trong quản lý.v.v…17
Tăng cường quyền tự quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội là xu thế chính của các trường ĐH trên thế giới đáp ứng quy luật phát triển của xã hội Trong xu thế hội nhập và phát triển ở Việt Nam, các trường ĐH đang chuyển từ quản lí tập trung, bao cấp sang kiểu quản lý phân cấp, tăng cường quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội cho các trường ĐH để phù hợp với mục tiêu của giai đoạn đổi mới
và hội nhập Quá trình chuyển đổi đó trước hết diễn ra trong các ĐH đa ngành,
đa lĩnh vực, là các ĐH hoa tiêu, được Nhà nước trao cho quyền tự chủ và trách nhiệm cao trong các hoạt động của mình
Điều lệ đại học (Điều 5) quy định nhiệm vụ, quyền hạn, quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của trường đại học Quyền tự chủ của trường ĐH thực hiện theo quy định của Luật GDĐH và nội số nội dung cụ thể như quyết định chiến lược và kế hoạch phát triển của nhà trường, tổ chức phát triển đội ngũ, thu chi tài chính, tuyển sinh và phát triển chương trình đào tạo, tổ chức triển khai các hoạt động KHCN Trách nhiệm xã hội của trường đại học thể hiện ở các hoạt động: Báo cáo, công khai và giải trình với cơ quan quản lí nhà nước và các bên liên quan về hoạt động của nhà trường theo quy định của pháp luật; cam kết với vơ
16
Ngân hàng Thế giới khu vực Đông Á Thái Bình Dương (2012), Phát huy hiệu quả
của giáo dục đại học, Ngân hàng Thế giới, Washington D.C
17 Ban Liên lạc các trường Đại học và Cao đẳng Việt Nam (VUN) tổ chức Hội thảo khoa học: “Vấn đề tự chủ- tự chịu trách nhiệm ở các trường đại học và cao đăng Việt Nam”
Trang 10GDĐH theo hướng tăng quyền tự chủ, nâng cao trách nhiệm xã hội và thúc đẩy
năng lực cạnh tranh của từng trường ĐH và của toàn bộ hệ thống Phân định rõ chức năng, nhiệm vụ quản lí nhà nước về giáo dục, đồng thời đổi mới quản lí ở cấp trường đại học (ĐH) theo hướng: trường ĐH được quyền tự chủ về đào tạo, nghiên cứu khoa học, tổ chức, nhân sự, tài chính, hợp tác quốc tế; tập trung phần lớn thẩm quyền ra quyết định cho cấp trường nhằm nâng cao trách nhiệm xã hội của trường ĐH
Quyền tự chủ được tái khẳng định trong Luật Giáo dục đại học (GDĐH) năm 2012: “Cơ sở giáo dục đại học tự chủ trong các hoạt động chủ yếu thuộc các lĩnh vực tổ chức và nhân sự, tài chính và tài sản, đào tạo, KH&CN, hợp tác quốc
tế, bảo đảm chất lượng giáo dục đại học.”18 Về học thuật, lần đầu tiên các trường được tưu chủ xây dựng , thẩm định, ban hành chương trình đào tạo trình độ cao đẳng, đại học, thạc sĩ, tiến sĩ; tự chủ xác định chỉ tiêu tuyển sinh; tự in phôi bằng, cấp bằng cho tất cả các trình độ mà trường đào tạo
Đây là một bước tiến trong tư duy quản trị đại học Tuy nhiên, nó vẫn chưa phải là một bước ngoặt có khả năng tạo ra sự đột phá, vì theo quy định của Luật, Nhà nước vẫn đóng vai trò kiểm soát rất lớn Có thể nêu lên một số nhận
Đối với trường đại học, việc xác định sứ mạng đóng vai trò rất quan trọng vì đó
là lý do tồn tại, quyết định hướng phát triển và khả năng cạnh tranh của mỗi trường
Đại học Quốc gia Hà Nội được thành lập theo Nghị quyết số NQ/HNTW Hội nghị lần thứ tư BCH Trung ương Đảng (Khóa VII) ngày 14 tháng 1 năm 1993 về “Xây dựng một số trường đại học trọng điểm quốc gia” Nghị định 97/CP ngày 10/12/1993 ra đời nêu rõ ĐHQG được trao quyền chủ động cao trong GDĐH, tạo điều kiện thuận lợi cho ĐHQG phát triển với cơ chế được mở rộng quyền tự chủ Đại học Quốc gia Hà Nội hoạt động theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm cao, dưới sự quản lý trực tiếp của Thủ tướng Chính phủ Các trường ĐH và các viện nghiên cứu thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội là các cơ
04-sở đào tạo, nghiên cứu khoa học có tư cách pháp nhân và quyền tự chủ như các trường đại học, viện nghiên cứu khác được quy định trong Luật Giáo dục và Luật Khoa học - Công nghệ Trong nền kinh tế thị trường, sản phẩm của các trường ĐH thuộc ĐHQGHN cần được khẳng định bởi chất lượng đào tạo thông qua trang bị cho sinh viên tri thức khoa học, kiến thức và kĩ năng nghề nghiệp, năng lực thích ứng sự thay đổi đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc
Trang 1110
và Đào tạo, của các bộ, ngành khác và Ủy ban nhân dân các cấp nơi đại học quốc gia đặt địa điểm, trong phạm vi chức năng theo quy định của Chính phủ và phù hợp với pháp luật.”
ĐHQGHN cần được tự chủ để (i) đáp ứng các qui luật giá trị và qui luật cạnh tranh của nền kinh tế thị trường; (ii) có sản phẩm đa dạng, có phổ chất
lượng phù hợp, nhằm đáp ứng với mọi yêu cầu của thị trường lao động trong nền
kinh tế thị trường Trường ĐH cần phải tự chủ để liên tục nâng cao chất lượng, hiệu quả và hiệu suất lao động
ĐHQGHN phải có trách nhiệm xã hô ̣i vì (i) yêu cầu của dân chủ hóa, xã
hội hóa giáo dục; (ii) yêu cầu của các nhà tài trợ nguồn lực cho nhà trường (nhà nước, các công ty, các phụ huynh ); (iii) Phải đáp ứng qui luật giá trị và qui luật cạnh tranh trong kinh tế thị trường Đó chính là phải chịu trách nhiệm về chất lượng sản phẩm giáo du ̣c của mình để đáp ứng các qui luật này
Tác giả Phùng Xuân Nhạ và cộng sự cho rằng, vấn đề cải cách giáo dục đại học Việt Nam đang là vấn đề nóng bỏng, được xã hội đặc biệt quan tâm Một trong những vấn đề cốt lõi của cải cách giáo dục đại học được bàn cãi nhiều thời
gian qua đó là làm thế nào để tăng tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các
trường đại học và cao đẳng Việt Nam để tạo nên sự cải biến thực sự Vấn đề tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các trường đại học đối với giáo dục đại học thế giới
là một vấn đề tất yếu và đương nhiên để thúc đẩy giáo dục đại học theo hướng chất lượng và đẳng cấp quốc tế.19
Theo Hoàng Thị Xuân Hoa, thực hiện quyền tự chủ được Nhà nước giao, ĐHQGHN đã thực hiện phân cấp quản lý theo hướng tăng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm xã hội cao trong các lĩnh vực hoạt động của các đơn vị thành viên và các đơn vị trực thuộc, bằng việc ban hành các văn bản hướng dẫn phù hợp với năng lực, điều kiện và hiệu quả hoạt động của từng đơn vị đồng thời đảm bảo sự chỉ đạo, điều phối, thống nhất và kiểm tra giám sát của ĐHQGHN và thúc đẩy liên thông, liên kết toàn diện giữa các đơn vị, sử dụng hiệu quả các nguồn lực chung, tạo thêm giá trị gia tăng để nâng cao chất lượng, hiệu quả mọi hoạt động Quản trị trong ĐHQGHN được thực hiện theo cách tiếp cận quản lý sản phẩm đầu ra, thực hiện việc tăng quyền tự chủ gắn với việc nâng cao tự chịu trách nhiệm của các đơn vị; chất lượng kết quả/sản phẩm được giám sát chặt chẽ dựa vào các tiêu chí định lượng.20
Tác giả Lê Đức Ngọc với “Bàn về quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của các cơ sở giáo dục đại học” nêu lên triết lí về “Quyền tự chủ và Trách nhiệm xã hội”, các mô hình quản lý giáo dục đại học, điều kiện và giải phảp thực hiện quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội trong giáo dục ở nước ta.21
Đề tài nghiên cứu ”Nghiên cứu đổi mới cơ chế tài chính tại ĐHQGHN giai đoạn 2015-2020, tầm nhìn 2030”22 của tác giả Phạm Xuân Hoan cho thấy
19 Kiểm định chất lượng giáo dục vơi vấn đề tự chủ - tự chịu trách nhiệm của các trường đại học và cao đẳng Việt
Nam – PGS.TS Phùng Xuân Nhạ, ThS Nguyễn Viết Lộc, ThS Đỗ Thị Ngọc Quyên
20 Hoàng Xuân Hoa, http://vnu.edu.vn/btdhqghn/?C2145/N12636/Tu-chu-dai-hoc:-Xu-the-cua-phat-trien.htm
21 Tr 80, Ban Liên lạc các trường Đại học và Cao đẳng Việt Nam (VUN) tổ chức Hội thảo khoa học: “Vấn đề tự chủ- tự chịu trách nhiệm ở các trường đại học và cao đăng Việt Nam”
22 Phạm Xuân Hoan, QGTĐ.13.28, cứu ”Nghiên cứu đổi mới cơ chế tài chính tại ĐHQGHN giai đoạn
2015-2020, tầm nhìn 2030
Trang 1211
luận cứ về quá trình đổi mới cơ chế tài chính tại ĐHQGHN bắt đầu từ năm 2002, ĐHQGHN đã xây dựng và được phê duyệt “Đề án tự chủ tài chính” và trở thành một trong số ít đơn vị sớm triển khai cơ chế tự chủ tài chính đối với đơn vị sự nghiệp có thu theo Nghị định 10/2002/NĐ-CP của Chính phủ Mục tiêu của ĐHQGHN triển khai đề án này là (i) Tăng cường phân cấp quản lý để nâng cao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của ĐHQGHN và các đơn vị; (ii) đổi mới phương thức giao nhiệm vụ và phân bổ kinh phí để tăng hiệu quả sử dụng nguồn kinh phí từ NSNN cấp… Từ năm 2002 đến nay, ĐHQGHN liên tục đổi mới cơ chế tài chính để phù hợp với các mục tiêu của đề án và để phù hợp với xu hướng phát triển của GDĐH nhằm tăng cường tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong giáo dục đại học Tuy nhiên, đề tài này tập trung đi sâu nghiên cứu về đổi mới cơ chế tài chính tại ĐHQGHN
Báo cáo của tác giả Phạm Văn Thuần về quản lý đội ngũ giảng viên trong đại học đa ngành theo quan điểm tự chủ và chịu trách nghiệm xã hội phân tích sự cần thiết quản lí đội ngũ theo quan điểm tự chủ và tác giả đề xuất nhóm giải pháp cho vấn đề nghiên cứu này Báo cáo này đề cấp đến lĩnh vực quản lý đội ngũ giảng viên theo quan điểm tự chủ và chịu trách nhiệm
Một số các nghiên cứu về tự chủ và chịu trách nhiệm xã hội trong và ngoài ĐHQGHN bàn về mô hình quản trị GDĐH theo hướng tự chủ và chịu trách nhiệm, hoặc tập trung theo từng lĩnh vực cụ thể như tự chủ tài chính, quản lý đội ngũ giảng viên trong đại học đa ngành theo quan điểm tự chủ và chịu trách nghiệm xã hội Nghiên cứu của tác giả Hoàng Thị Xuân Hoa mới dừng lại ở kết quả chứng minh tính phù hợp của cơ cấu tổ chức quản trị trong ĐHQGHN phù hợp với việc phân cấp quản lý theo hướng tăng cường tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm xã hội trong các lĩnh vực hoạt động của các đơn vị thành viên Để đề xuất một giải pháp tổng thể cho quản trị đại học theo hướng tự chủ và chịu trách nhiệm xã hội cho ĐHQGHN, cần có một nghiên cứu đánh giá về thực trạng tính
tự chủ và trách nhiệm xã hội theo các lĩnh vực cụ thể như hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học, tổ chức cán bộ và tài chính
Vì vậy, vấn đề về “Đánh giá thực trạng tính tự chủ và trách nhiệm xã hội của các trường ĐH thành viên thuộc ĐHQGHN đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản toàn diện giáo dục đại học” là một nội dung cần thiết được thực hiện nghiên cứu một cách khoa học, kịp thời tại ĐHQGHN
2 Mục tiêu
Nghiên cứu cơ sở lí luận về tự chủ và trách nhiệm xã hội của một số cơ sở đào tạo đại học trên thế giới và Việt Nam, thực tiễn tại ĐHQG Hà Nội, đánh giá thực trạng về tự chủ và trách nhiệm xã hội tại ĐHQG Hà Nội Từ đó, đề xuất một số khuyến nghị về tính tự chủ và trách nhiệm xã hội của các trường ĐH thành viên thuộc ĐHQGHN đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản toàn diện giáo dục đại học
3 Phương pháp nghiên cứu
3.1 Cách tiếp cận
Mục tiêu của đề tài là đánh giá thực trạng tính tự chủ và chịu trách nhiệm của các trường đại học thuộc ĐHQGHN Nghiên cứu này phù hợp với tiếp cận từ
Trang 1312
thực tiễn tại các trường đại học thuộc ĐHQGHN;
Sử dụng cách tiếp cận nội dung đưa ra một bức tranh chung của thực trạng vấn đề nghiên cứu đối với một số lĩnh vực cụ thể về đào tạo, nghiên cứu khoa học, tổ chức cán bộ, tài chính và cơ sở vật chất;
Tiếp cận định lượng sử dụng các đại lượng đo lường và quan sát, triển khai điều tra khảo sát và thu thập số liệu bằng các công cụ xác định trước (bảng hỏi) để mang lại các số liệu thống kê về tính tự chủ trong hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học, tổ chức cán bộ và tài chính
Tiếp cận định tính được sử dụng để tìm hiểu thông tin, các quan điểm về vấn đề nghiên cứu;
Tiếp cận theo các phương pháp kết hợp để tiến hành tổng hợp, phân tích điểm mạnh điểm yếu của việc thực hiện chủ trương tự chủ và chịu trách nhiệm của các trường đại học; Đề xuất và khuyến nghị đối với các cấp nhằm thực hiện tốt chủ trương giao quyền tự chủ đại học
3.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật sử dụng:
Tổng quan tư liệu
- Đọc, tổng hợp và phân tích các vấn đề lí luận về quản lý giáo dục đại học, chủ trương, chính sách đổi mới giáo dục đại học, vấn đề tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với các lĩnh vực đào tạo đại học, nghiên cứu khoa học, tổ chức cán bộ, tài chính và cơ sở vật chất trong giáo dục đại học;
- Xem xét các văn bản pháp lí về chính sách giáo dục đại học liên quan;
- Phân tích các nghiên cứu và kết quả công bố trước đây để xem xét vấn đề
tự chủ đại học được nghiên cứu như thế nào;
- Tập hợp các bài viết từ các nguồn về vấn đề tự chủ đại học
Phân tích và so sánh
- Tự chủ và chịu trách nhiệm trong giáo dục đại học; Thực tiễn về tự chủ và chịu trách nhiệm của các trường ĐH thuộc ĐHQGHN được thực hiện như thế nào;
- Những điểm mạnh và hạn chế của tự chủ và chịu trách nhiệm của các trường ĐH thành viên thuộc ĐHQGHN
Đề tài sẽ sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu như phân tích các chính sách quản trị giáo dục đại học đối với các lĩnh vực đào tạo, nghiên cứu khoa học,
tổ chức nhân sự, tài chính và cơ sở vật chất, khảo sát, phỏng vấn và quan sát:
- Khảo sát được tiến hành đối với các nhà lãnh đạo, cán bộ, giảng viên, nghiên cứu viên trường đại học thuộc ĐHQGHN đảm bảo để số liệu và thông tin khảo sát chỉ ra được: thực trạng tự chủ và trách nhiệm xã hội của các lĩnh vực đào tạo, nghiên cứu khoa học, tổ chức nhân sự, tài chính, cơ sở vật chất tại các trường đại học thuộc ĐHQGHN Khảo sát thực hiện trên những đối tượng và số lượng mẫu: 256 cán bộ, giảng viên thuộc ĐHQGHN
- Phỏng vấn: Phỏng vấn được thực hiện với lãnh đạo ĐHQGHN, lãnh đạo