1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu (BĐKH) đến các hệ sinh thái huyện đà bắc, tỉnh hòa bình và đề xuất các giải pháp ứng phó

20 136 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 854,88 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MẪU 14/KHCN Ban hành kèm theo Quyết định số 3839 /QĐ-ĐHQGHN ngày 24 tháng10 năm 2014 của Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KẾT QUẢ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI KH&CN CẤP Đ

Trang 1

MẪU 14/KHCN

(Ban hành kèm theo Quyết định số 3839 /QĐ-ĐHQGHN ngày 24 tháng10 năm 2014

của Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội)

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KẾT QUẢ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI KH&CN

CẤP ĐẠI HỌC QUỐC GIA

Tên đề tài: Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu (BĐKH) đến các hệ sinh thái huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình và đề xuất các giải pháp ứng phó

Mã số đề tài: QG.16.13

Chủ nhiệm đề tài: PGS TS Đoàn Hương Mai

Hà Nội, 2017

Trang 2

PHẦN I THÔNG TIN CHUNG

1.1 Tên đề tài: Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu (BĐKH) đến các hệ sinh thái huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình và đề xuất các giải pháp ứng phó

1.2 Mã số: QG.16.13

1.3 Danh sách chủ trì, thành viên tham gia thực hiện đề tài

TT Chức danh, học vị, họ và tên Đơn vị công tác Vai trò thực hiện đề tài

1 PGS.TS Đoàn Hương Mai ĐHKHTN, ĐHQGHN Chủ nhiệm,

Sinh thái học và BĐKH

2 TS Nguyễn Thị Lan Anh ĐHKHTN, ĐHQGHN Thư ký khoa học,

Động vật học

3 ThS Bùi Thị Hoa ĐHKHTN, ĐHQGHN Thành viên thực hiện chính, Sinh

học môi trường

4 TS Đỗ Thị Xuyến ĐHKHTN, ĐHQGHN Thành viên thực hiện chính, Thực

vật học

5 TS Nguyễn Khắc Long

Chi cục bảo vệ Môi trường, Sở TNMT Hòa

Bình

Thành viên thực hiện chính, Khoa

học Môi trường

6

Học viên Cao học 1

(Khóa 2016-2018)

ĐHKHTN, ĐHQGHN Thành viên, Sinh thái học

7

Học viên Cao học 2

(Khóa 2016-2018)

ĐHQGHN Thành viên, BĐKH

1.4 Đơn vị chủ trì: Trường Đại học Khoa học Tự nhiên

1.5 Thời gian thực hiện: 24 tháng

1.5.1 Theo hợp đồng: từ tháng 1 năm 2016 đến tháng 1 năm 2018

1.5.2 Gia hạn (nếu có): đến tháng… năm…

1.5.3 Thực hiện thực tế: từ tháng 1 năm 2016 đến tháng 1 năm 2018

1.6 Những thay đổi so với thuyết minh ban đầu (nếu có): không có

(Về mục tiêu, nội dung, phương pháp, kết quả nghiên cứu và tổ chức thực hiện; Nguyên nhân; Ý

kiến của Cơ quan quản lý)

Trang 3

1.7 Tổng kinh phí được phê duyệt của đề tài: 360 triệu đồng

PHẦN II TỔNG QUAN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Viết theo cấu trúc một bài báo khoa học tổng quan từ 6-15 trang (báo cáo này sẽ được đăng trên tạp chí khoa học ĐHQGHN sau khi đề tài được nghiệm thu), nội dung gồm các phần:

1 Đặt vấn đề:

Những bước đi đầu tiên của các nhà nghiên cứu là các đánh giá về nguy cơ của biến đổi khí hậu (BĐKH) gây ra bởi con người và đề ra các giải pháp ứng phó được xác định bằng sự ra đời của tổ chức IPCC do Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO) cùng với Chương trình Môi trường Liên hơp quốc (UNEP) đồng thành lập vào năm 1988

Các báo cáo của IPCC chính là các tiền đề, các cơ sở được sử dụng trong các hội nghị toàn cầu về BĐKH như Hội nghị các bên tham gia Công ước khung của Liên Hợp Quốc về BĐKH (UNFCCC), Hội nghị Thượng đỉnh của Liên hợp Quốc về Môi trường và Phát triển (Rio de Janeiro, 6/1992), … [2]

Kể từ đó cho đến nay, các đánh giá tác động của BĐKH được tập trung nghiên cứu bởi nhiều tổ chức quốc tế và các nhà khoa học trên thế giới với đối tượng nghiên cứu được chú trọng nhiều nhất chính là các khu vực, vùng lãnh thổ và quốc gia được dự báo là dễ bị tổn thương nhất do ảnh hưởng của BĐKH, trong đó có Việt Nam

Trong các nghiên cứu về tác động của BĐKH gây ra thì nghiên cứu về sự tổn thương của hệ sinh thái rất được quan tâm và chú ý Nguyên nhân là do các hệ sinh thái đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì chức năng và sự ổn định của môi trường, đồng thời chúng cũng cung cấp các sản phẩm hữu ích cho con người như: (i) thức ăn, năng lượng, dược liệu,…; (ii) chuyển hóa và dự trữ cácbon

và chất dinh dưỡng; (iii) đồng hóa chất thải; (iv) làm sạch nguồn nước, điều hóa dòng chảy; (v) tích

tụ đất và giảm sự xói mòn đất; (vi) tạo cơ hội cho phát triển các khu nghỉ dưỡng và du lịch; (vii) ngôi nhà của toàn bộ nguồn gen và sinh vật trên Trái đất

Hệ sinh thái chịu tác động bởi rất nhiều yếu tố Các nhân tố này là BĐKH, phân mảnh môi trường sống tự nhiên qua việc thay đổi mục đích sử dụng đất của con người, ô nhiễm môi trường, sự tác động của sinh vật ngoại lai xâm hại và các hệ quả sinh học của sự tăng nồng độ cacbon dioxide trong khí quyển Ảnh hưởng của những nhân tố này đến hệ sinh thái biểu hiện trong cả ngắn hạn và dài hạn Nếu xét về tác động ngắn hạn và trung hạn thì phân mảnh môi trường sống tự nhiên và sự xâm hại của sinh vật ngoại lai ảnh hưởng rõ rệt tới đa dạng sinh học Tuy nhiên trong tương lai 50 năm hoặc lâu hơn nữa thì ảnh hưởng của BĐKH đến hệ sinh thái sẽ trở nên mạnh mẽ hơn so với các nhân tố khác

Tác động sớm nhất của BĐKH lên hệ sinh thái có thể nhìn thấy là sự chuyển dịch về phân bố địa lý

Trang 4

của loài do sự chuyển dịch về nhiệt độ và độ ẩm hay chính là những nhân tố định ranh giới cho sự phân bố của loài Nhiệt độ cứ thay đổi 1°C thì làm các vùng sinh thái trên Trái đất dịch chuyển khoảng 160km để có thể tìm được chế độ khí hậu thích hợp Khả năng thích ứng của loài với BĐKH thì phụ thuộc rất nhiều vào khả năng biến đổi sinh lý và hành vi theo mùa (chẳng hạn thời kì

ra hoa hay giao phối) để thích nghi với các thay đổi trong điều kiện sống của môi trường mới so với môi trường cũ [8]

Trên thế giới, các nghiên cứu về ảnh hưởng của BĐKH tới các hệ sinh thái đã được thưc hiện khá nhiều Những nghiên cứu này cho thấy tác động của BĐKH tới các hệ sinh thái khác nhau cũng bằng những con đường khác nhau

Năm 1990, Hunsaker và các cộng sự công bố bài báo: “Đánh giá nguy cơ sinh thái trên phạm vi khu vực” Công trình này đưa ra một hướng mới trong đánh giá nguy cơ sinh thái ở cấp độ vùng thông qua kết hợp giữa các phương pháp đánh giá nguy cơ sinh thái vùng và lý thuyết cảnh quan sinh thái với hệ thống đánh giá đã xuất hiện trước đó [3]

Năm 2000, Guisan và Theurillat nghiên cứu đề tài: “Đánh giá sự tổn thương của thực vật dưới tác động của BĐKH: một góc độ mô hình” Trong nghiên cứu này, hai tác giả đã sử dụng mô hình phân

bố thực vật tĩnh để đưa ra sự đánh giá ảnh hưởng của BĐKH tại một vùng núi cao Mô hình được điều chỉnh theo sự có mặt/vắng mặt của loài Các nhân tố môi trường được đánh giá là nhiệt độ trung bình năm, độ dốc, vị trí địa hình, địa lý, lượng đá bao phủ, sự đóng băng vĩnh cửu và một vài chỉ số về bức xạ mặt trời và khoảng thời gian có tuyết [1]

Vào năm 2004, Norby và Luo nghiên cứu về: “Đánh giá hệ sinh thái thích ứng với nồng độ CO2 khí quyển tăng lên và sự ấm lên toàn cầu trong một thế giới đa nhân tố” Hai ông đã sử dụng mô hình kết hợp tương tác của CO2 và nhiệt độ trong đánh giá tác động của BĐKH tới hệ sinh thái Hướng

đi này giúp ta có được sự hiểu biết sâu sắc về các cơ chế hoạt động của các nhân tố riêng rẽ trong

mô hình và thông báo cho ta biết những tương tác có thể xảy ra [5]

Năm 2005, Nathalie Pettorelli và cộng sự đã nghiên cứu đề tài “Sử dụng chỉ số thực vật NDVI từ vệ tinh để đánh giá các đáp ứng sinh thái từ sự thay đổi môi trường” Trong nghiên cứu này, các nhà khoa học đã tổng hơp lại việc sử dụng chỉ số vật NDVI (Normalized difference vegetation index) trong những nghiên cứu về sinh thái học thời gian gần đây Nhóm tác giả chỉ ra rằng NVDI thực sự

là một công cụ hữu ích cho các nhà sinh thái học trên cạn để có thu thập các thông tin hữu ích về ảnh hưởng của động học và sự phân bố thực vật tới đa dạng sinh học, đặc trưng về quá trình sinh sống, sự di chuyển và động học của các quần thể động vật [6]

Năm 2007, Ramamasy và Baas xuất bản cuốn sách: “Sự dao động và BĐKH: thích ứng với hạn hán

ở Bangladesh” Cuốn sách cung cấp các thông tin hữu ích cho cán bộ khuyến nông, các nhóm chuyên làm việc về kỹ thuật, các nhóm quản lý thiên tai, đại diện cho cộng đồng và các chuyên gia

Trang 5

phát triển để ứng phó và thích ứng với những ảnh hưởng của BĐKH mang tới, đặc biệt là hiện tượng hạn hán xảy ra thường xuyên tại Bangladesh [7]

Vào năm 2009, Meinke và các đồng nghiệp công bố đề tài: “Khoa học thích nghi đối với nông nghiệp và quản lý tài nguyên thiên nhiên - tính cấp thiết và cơ sở lý luận” Trong bài báo này, các tác giả đã đưa ra một cái nhìn tổng quát về tính cấp thiết trong các hành động tăng cường sự thích ứng với BĐKH và cơ sở lý thuyết cho các hoạt động này Trên cơ sở đó, các nhà khoa học đã đề ra một chu trình thích ứng với các nguy cơ, hay có thể coi là một hệ thống lý luận nhiều cấp độ, nhằm liên kết khoa học với xã hội trong mỗi bước đi [4]

Walther (2010) đã tổng hợp kết quả từ các nghiên cứu về tác động của BĐKH thời gian gần đây, đồng thời thể hiện những giới hạn của phép ngoại suy từ những thích ứng với BĐKH của loài đối với các xu hướng và mức độ ảnh hưởng của BĐKH trong tương lai trong bài báo “Thích nghi của quần xã và hệ sinh thái đối với BĐKH thời gian gần đây” [9]

Nhìn chung, đánh giá tác động của BĐKH và tìm ra các giải pháp ứng phó đã trở thành một vấn đề mang tính toàn cầu và thu hút được sự chú ý của đông đảo các quốc gia, tổ chức và các nhà khoa học Tuy nhiên, hướng nghiên cứu này cần được khai thác nhiều hơn nữa để có thể tìm ra các giải pháp phù hợp, thật sự hiệu quả trong công cuộc ứng phó với BĐKH

Việt Nam được xếp nằm trong nhóm các quốc gia dễ chịu tổn thương nhất do ảnh hưởng của BĐKH và nước biển dâng Các thống kê bước đầu theo Thông báo quốc gia được CERDA tổng hợp cho thấy các biểu hiện BĐKH tại Việt nam như sau:

- Nhiệt độ trung bình năm tăng khoảng 0,1oC/thập kỷ Trong một số tháng hè nhiệt độ tăng khoảng 0,1-0,3oC/thập kỷ

- Mưa lớn thường xuyên gây lũ, đặc biệt lũ lớn

- Lượng mưa giảm về mùa khô và tăng trong mùa mưa

- Lũ đặc biệt lớn xảy ra thường xuyên ở miền Trung và miền Nam

- Đường đi của bão dịch chuyển về phía Nam và mùa bão dịch chuyển vào các tháng cuối năm

- ENSO ảnh hưởng mạnh hơn đến chế độ thời tiết và đặc trưng khí hậu của nhiều vùng ở Việt Nam

- Mực nước biển dâng từ 2,5-3,0cm/thập kỷ trong thể kỷ qua [10]

Tài liệu “Đánh giá tác động của BĐKH và xác định các giải pháp thích ứng” được Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường (IMHEN) xây dựng với sự tài trợ của Chương trình Phát triển của Liên Hợp Quốc (UNDP) nhằm hỗ trợ các địa phương về kỹ thuật, phương pháp đánh giá tác động của BĐKH và đề xuất các giải pháp ứng phó Tài liệu được biên soạn theo hướng dễ hiểu, dễ

Trang 6

áp dụng, phù hợp với thực tế nên sẽ đóng góp tốt vào việc giúp các địa phương trong quá trình xây dựng Kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH [16]

Tuy nhiên, hướng nghiên cứu về đánh giá và đề ra giải pháp ứng phó BĐKH ở Việt Nam còn chưa nhiều, chưa có sự đồng bộ hóa, cũng như các nghiên cứu còn rải rác, chưa mang tính kết nối cao để đưa vào thực tiễn Cần một chiến lược dài hơi, mang tính hệ thống trên cả nước để có thể liên kết hoạt động, kết quả các nghiên cứu lại nhằm tăng hiệu quả khi áp dụng vào thực tế, đặc biệt nhất, từng địa phương, vùng miền cũng cần phải có những chiến lược nghiên cứu nhằm ứng phó và giảm

thiểu tác động của BĐKH cụ thể tại khu vực đó

Hiện nay, đánh giá sự tổn thương của các hệ sinh thái trước BĐKH và đề xuất hệ thống các biện pháp giảm thiểu đang là yêu cầu bức thiết đối với Việt Nam như trong Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 2199/QĐ-Ttg ngày 5/12/2011 Tuy công tác đánh giá sự tổn thương của các hệ sinh thái và đề xuất các biện pháp giảm thiểu được thực hiện khá phổ biến ở các nước thì ở Việt Nam lại mới bắt đầu thực hiện đối với các hệ sinh thái biển ven bờ (rạn san hô, rừng ngập mặn, cỏ biển ) hoặc một vài hệ sinh thái cụ thể (hồ tự nhiên, cửa sông )

Với đối tượng nghiên cứu là các hệ sinh thái chịu ảnh hưởng của tác động BĐKH thì điểm nghiên cứu được lựa chọn làm hình mẫu rất quan trọng, mang tính điển hình

Đề tài lựa chọn huyện Đà Bắc là huyện vùng cao của tỉnh Hòa Bình, nằm trọn trong lưu vực sông

Đà, có những điều kiện tự nhiên tương đối đặc thù: có địa hình đồi, núi, sông, suối xen kẽ tạo thành nhiều dải hẹp bị cắt phá mạnh mẽ nên đất có độ dốc lớn, mặc dù có diện tích đất tự nhiên lớn nhất

so với các huyện trong tỉnh nhưng đất nông nghiệp chiếm tỷ lệ rất ít, chủ yếu là đất rừng

Xuất phát điểm nền kinh tế của huyện vào loại thấp trong tỉnh, đời sống ở các khu vực dân cư có nhưng chênh lệch lớn Khu vực thành thị có mức sống ổn định tương đối đồng đều nhưng tỷ lệ không cao, không có các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh lớn, khu vực nông thôn có mức sống thấp còn nhiều hộ nghèo, việc xoá đói giảm nghèo hết sức khó khăn, các hộ nghèo chủ yếu ở nông thôn sản xuất theo dạng tự cung tự cấp, chưa có thói quen tạo ra sản phẩm hàng hoá có chất lượng

để trao đổi theo nhu cầu thị trường Nền kinh tế của huyện chủ yếu dựa vào phát triển lâm nghiệp và nông nghiệp Tuy thế, huyện Đà Bắc lại nằm trong vùng khí hậu á nhiệt đới gió mùa, hầu hết các xã trong huyện đều ít nhiều chịu ảnh hưởng của gió tây khô nóng, còn vào mùa mưa, ở huyện thường xảy ra những đợt lũ quét phá hoại đường sá, hoa màu và diện tích ruộng lúa nước

Gần đây nhất: thực hiện kế hoạch sản xuất vụ chiêm - xuân năm 2015, hiện trên địa bàn tỉnh Hòa Bình, nhiều địa phương đã cơ bản cấy xong lúa Tuy nhiên, tại huyện Đà Bắc, toàn huyện mới cấy được gần 50% diện tích Nguyên nhân chủ yếu do các bai, hồ, đập thiếu nước Vì vậy, khả năng hàng nghìn ha đất lúa và cây màu có nguy cơ hạn hán Đây chính là biểu hiện của hiện tượng biến

Trang 7

đổi khí hậu đã và đang gây ra cho Hòa Bình nói chung và Đà Bắc nói riêng nên rất cần thiết phải đánh giá sự tổn thương của các hệ sinh thái của huyện Đà Bắc do biến đổi khí hậu để từ đó đề xuất các định hướng ứng phó, giảm thiểu tổn thương thấp nhất có thể

Ngoài ra, Đà Bắc còn là nơi tiếp giáp giữa các vùng Tây Bắc và Đông Bắc của Tổ quốc, Đà Bắc có

sự giao thoa của nhiều luồng văn hoá khác nhau, tạo nên sự đặc sắc, quyến rũ cho mảnh đất này Tại đây, có những danh lam thắng cảnh như hồ sông Đà, động Thác Bờ là địa điểm du lịch sinh thái có sức thu hút du khách cả trong và ngoài nước Qua đó, việc thực hiện đề tài là vô cùng cần thiết để có chiến lược lâu dài gìn giữ và bảo vệ những danh lam thắng cảnh nơi đây

- Tài liệu nước ngoài

1 Guisan, A & Theurillat, J., (2000), Assessing alpine plant vulnerability to climate change: a modeling perspective Integrated Assessment, (1), pp.307–320

2 JT Houghton, Filho, LG Meira, J Bruce, H Lee, BA Callander, E Haites, N Harris, K Maskell (Eds.), Climate Change 1994: Radiative forcing of climate change and an evaluation of the IPCC IS92 emission scenarios, New York, 1995

3 Hunsaker, C., Graham, R & Suter, G., (1990) Assessing ecological risk on a regional scale Environmental Management, 14(3), pp.325–332

4 Meinke, H et al., (2009), Adaptation science for agriculture and natural resource management - urgency and theoretical basis Current Opinion in Environmental Sustainability, 1(1), pp.69–76

5 Norby, R.J & Luo, Y., (2004), Evaluating ecosystem responses to rising atmospheric CO2 and global warming in a multi-factor world New Phytologist, 162(2), pp.281–293

6 Pettorelli, N et al., (2005), Using the satellite-derived NDVI to assess ecological responses

to environmental change Trends in Ecology and Evolution, 20(9), pp.503–510

7 Ramamasy S & S Baas (2007), Climate variability and change: adaptation to drought in Bangladesh A resource book and training guide Asian Disaster Preparedness Center Food and Agriculture Organization of the Unided Nations, 66 pp

8 Thuiller, W., (2007), Climate change and the ecologist Nature, 448(August), pp.550–552

9 Walther, G.-R., (2010), Community and ecosystem responses to recent climate change Philosophical transactions of the Royal Society of London Series B, Biological sciences, 365(1549), pp.2019–2024

- Tài liệu trong nước

10 Centre of research & development in upland areas (CERDA) (2010), Biến đổi khí hậu và REDD

Trang 8

11 Lê Văn Thăng (2004), Ảnh hưởng của BĐKH toàn cầu lên tỉnh Thừa Thiên Huế, Tạp chí khoa học, Đại học Huế, 9tr

12 Phạm Văn Thiện (2013), Tác động của BĐKH đến Đầm phá Tam Giang - Những thách thức đối với cộng đồng vạn đò định cư, http://huecssh.org.vn/

13 Tổng cục Môi trường (2011), Điều tra, đánh giá và cảnh báo biến động của các yếu tố khí tượng thủy văn và sự dâng cao mực nước biển do BĐKH có nguy cơ gây tổn thương tài nguyên - thiên nhiên vùng biển và dải biển Việt Nam, đề xuất các giải pháp phòng tránh và ứng phó

14 Trung tâm nghiên cứu phát triển nông lâm nghiệp miền núi (2014), Xác định và sử dụng kiến thức bản địa trong thích ứng với BĐKH dựa vào cộng đồng, 36tr

15 Lê Anh Tuấn (2009), Tổng quan về nghiên cứu BĐKH và các hoạt động thích ứng ở miền Nam Việt Nam, Kỷ yếu hội thảo “Cùng nỗ lực để thích ứng BĐKH” tại TP Huế, Viện Nghiên cứu BĐKH, Đại học Cần Thơ, 10tr

16 Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường (2011), Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu và xác định các giải pháp thích ứng, Nhà Xuất bản Tài nguyên – Môi trường và Bản

đồ Việt Nam, 88 tr

2 Mục tiêu

- Mục tiêu dài hạn: đề xuất được các giải pháp thích ứng nhằm giảm nhẹ tác động của BĐKH đối

với các hệ sinh thái của huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình

- Mục tiêu cụ thể:

• Mục tiêu 1: Đánh giá được hiện trạng hệ sinh thái của khu vực nghiên cứu

• Mục tiêu 2: Đánh giá được tác động của BĐKH đến các hệ sinh thái tại khu vực nghiên cứu đồng thời xem xét những hệ lụy của BĐKH đến quá trình thực hiện phát triển bền vững của địa phương

• Mục tiêu 3: Đề xuất các biện pháp giảm thiểu và ứng phó với BĐKH cho địa phương

3 Phương pháp nghiên cứu

3.1 Phương pháp thu thập, phân tích và tổng hợp số liệu (số liệu thứ cấp)

Thu thập các số liệu thứ cấp: bao gồm các tài liệu đã công bố, các tài liệu, dữ liệu cơ bản về khí hậu, các kịch bản về BĐKH, các chính sách và chương trình của Nhà nước liên quan đến BĐKH như Chương trình mục tiêu quốc gia về ứng phó với BĐKH, Chiến lược quốc gia về Phòng tránh Thiên tai, các hiện tượng thời tiết cực đoan đến năm 2020 và Kế hoạch thực hiện, Kịch bản về nước biển dâng và BĐKH của Việt Nam, Sách, báo, các báo cáo Hội nghị khoa học v.v… Các báo cáo

Trang 9

hàng năm về kinh tế - xã hội của chính quyền các cấp, số liệu thủy văn, điều kiện tự nhiên của địa phương

Đây là phương pháp khá phổ biến và mang lại hiệu quả cao trong quá trình nghiên cứu Trong nghiên cứu này, thông qua việc tiếp xúc, làm việc với các cơ quan chức năng để thu thập các tài liệu, số liệu liên quan đến nội dung của đề tài Tất cả các số liệu, tài liệu sau khi thu thập được thống kê và tổng hợp để đưa ra bức tranh tổng quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội cũng như những tác động của BĐKH lên khu vực nghiên cứu

3.2 Phương pháp điều tra khảo sát thực địa (thu thập số liệu sơ cấp)

Thực hiện các chuyến đi thực địa xuống các xã của huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình nhằm khảo sát khu vực nghiên cứu, thu thập thông tin và tư liệu ảnh, phỏng vấn một số cán bộ làm việc tại UBND huyện và xã, Phòng Tài nguyên huyện và các xã, Ban Quản lý khu du lịch cũng như đối chiếu những số liệu sẵn có với thực tế khu vực nghiên cứu

3.3 Phương pháp phân tích không gian

- Phương pháp viễn thám: Sử dụng các tư liệu viễn thám để nghiên cứu, đánh giá tổng quát những vùng lãnh thổ rộng lớn trong mối tương tác của các hợp phần bao gồm cả tự nhiên và kinh tế xã hội, đồng thời xác định ranh giới các HST trong vùng nghiên cứu

- Phương pháp giải đoán ảnh vệ tinh bằng mắt: Trong việc xử lý thông tin viễn thám thì giải đoán bằng mắt (visual interpretation) là công việc đầu tiên Cơ sở để giải đoán bằng mắt dựa trên các dấu hiệu đoán đọc trực tiếp hoặc gián tiếp và chìa khóa giải đoán Đề tài sẽ áp dụng phương pháp này để giải đoán ảnh vệ tinh của huyện Đà Bắc hỗ trợ cho phân loại HST

- Phương pháp GIS: Hệ thông tin địa lý với vai trò không chỉ tích hợp các bản đồ lại với nhau mà còn là công cụ tích hợp nhiều nguồn thông tin [Đinh Thị Bảo Hoa, 2006] Sử dụng phần mềm MapInfo để số hóa sau khi đã giải đoán xong ảnh vệ tinh và xây dựng bản đồ hiện trạng các HST

- Phương pháp lập bản đồ chỉ số tổn thương HST: dựa vào mô hình ý niệm, chỉ số tổn thương được xây dựng dựa trên 4 tham số theo mô hình của Allison (Allison et al., 2009)

3.4 Phương pháp phân loại hệ sinh thái

Các hệ sinh thái trên Trái đất cùng với muôn loài là nguồn giá trị kinh tế, môi trường và văn hóa của loài người BĐKH sẽ làm dịch chuyển các vùng khí hậu và tác động khác nhau tới các hệ sinh thái khác nhau BĐKH tác động đến hệ sinh thái trước hết là sẽ trực tiếp tác động đến các yếu tố sinh thái làm thay đổi chúng, phá vỡ sự cân bằng vốn là đặc điểm đặc thù của hệ sinh thái

Ví dụ, hệ sinh thái nông nghiệp là đối tượng chịu tác động trực tiếp của khí hậu, mà quan trọng nhất

là bức xạ mặt trời Thông qua quá trình quang hợp thì năng suất của cây trồng là một hàm đồng biến với bức xạ mặt trời Trái đất nóng dần lên dẫn đến thay đổi cấu trúc mùa màng như rút ngắn mùa

Trang 10

lạnh, kéo dài hay rút ngắn mùa mưa Tất cả các yếu tố này sẽ tác động đến thời vụ, sâu bệnh, năng suất - sản lượng Nhìn chung, hệ sinh thái nông nghiệp là hệ sinh thái bị tác động mạnh nhất của BĐKH

BĐKH với sự tăng nhiệt độ, thay đổi lượng mưa sẽ ảnh hưởng đến thảm thực vật rừng theo nhiều chiều hướng khác nhau Nhiệt độ cao kết hợp với ánh sáng dồi dào sẽ thúc đẩy quá trình quang hợp dẫn đến tăng cường quá trình đồng hóa của cây xanh Đặc biệt, hàm lượng CO2 tăng sẽ góp phần làm tăng sự phát triển hệ sinh thái rừng, nhưng do độ bốc thoát hơi tăng làm độ ẩm đất giảm, kết quả là chỉ số tăng trưởng sinh khí của cây rừng có thể sẽ giảm đi Nguy cơ diệt chủng của động vật

và thực vật gia tăng, một số loài thực vật quan trọng như: trầm hương, hoàng đàn, pơmu, gỗ đỏ, lát hoa, gụ mật… sẽ có thể bị suy kiệt Nhiệt độ và mức độ khô hạn gia tăng sẽ làm tăng nguy cơ cháy rừng, phát triển sâu bệnh, dịch bệnh phá hoại cây trồng

Sử dụng tài liệu: “Hệ sinh thái (ecosystem): định nghĩa, tính chất và các kiểu hệ sinh thái ở Việt Nam” của Mai Đình Yên, 2011 với vai trò là khóa phân loại để phân loại và chỉ ra các kiểu hệ sinh

thái ở khu vực nghiên cứu (tác giả Mai Đình Yên là người đầu tiên phân loại các kiểu HST có mặt ở Việt Nam dựa theo A.G Tansley, 1935 và một loạt các tài liệu “Classification of Ecosystems” đã công bố

3.5 Phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia (PRA)

Nghiên cứu tại thực địa áp dụng phương pháp Đánh giá Nông thôn có sự tham gia (PRA) nhằm thu thập các thông tin định tính cũng như định lượng để qua đó có thể hiểu rõ hơn những tổn thất và thiệt hại do BĐKH gây ra mà cộng đồng người dân đã phải hứng chịu, cũng như hiểu được các hành động của dân địa phương nhằm đối phó với hoàn cảnh Một loạt các công cụ của phương pháp PRA đã được sử dụng như phỏng vấn qua bảng hỏi, lịch mùa vụ, ma trận xếp thứ hạng, quan sát,

thảo luận nhóm (Phụ lục 2 của Sản phẩm Dẫn liệu về đặc điểm khí hậu, đánh giá sự tổn thương của các HST do BĐKH gây ra)

Trước khi tiến hành điều tra, phỏng vấn và thảo luận nhóm tại các thôn xã nhóm nghiên cứu sẽ có một buổi làm việc với lãnh đạo và đại diện các ban ngành của huyện và xã Trong các buổi làm việc, các thông tin cơ bản về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và một số biểu hiện của sự tác động BĐKH, khả năng của địa phương sẽ được tìm hiểu và thu thập Các thành viên đề tài sẽ tiến hành thảo luận với các lãnh đạo huyện và xã về các vấn đề liên quan đến hoạt động ứng phó với BĐKH Tại các buổi thảo luận với lãnh đạo và các ban ngành liên quan, đề tài sẽ lựa chọn ra các hộ đại diện

để tiến hành điều tra, phỏng vấn tại các xã Phương pháp phỏng vấn bán định hướng được sử dụng trong quá trình trao đổi và thu thập thông tin Các thành viên đề tài, học viên cao học và sinh viên cùng với cộng tác viên tiến hành điều tra, khảo sát Hộ gia đình được phỏng vấn sẽ kể những câu chuyện về việc thiên tai, các hiện tượng thời tiết cực đoan xảy ra như thế nào, các hiện tượng khí

Ngày đăng: 13/10/2019, 23:41

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w