1 CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ GIÁO DỤC Ý THỨC CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO CỦA TỔ QUỐC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG .... Những yêu cầu cơ bản của vấn
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
VŨ THỊ SÁNG
GIÁO DỤC Ý THỨC CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO CỦA
TỔ QUỐC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH
SỬ LỚP 12 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM LỊCH SỬ
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
VŨ THỊ SÁNG
GIÁO DỤC Ý THỨC CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO CỦA
TỔ QUỐC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH
Trang 3Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Vũ Quang Hiển Thầy
đã vô cùng nhiệt tình hướng dẫn tôi làm luận văn Trong quá trình thực hiện
đề tài, thầy luôn động viên, định hướng, góp ý để tôi có thể hoàn thành tốt luận văn này
Đồng thời, tôi cũng xin cảm ơn Ban giám hiệu Trường trung học phổ thông Trần Hưng Đạo, các thầy cô và các em học sinh trong trường cũng đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong quá trình điều tra, khảo sát và tiến hành thực nghiệm
Cuối cùng, tôi rất muốn gửi lời cảm ơn sâu sắc đến gia đình, người thân
và bạn bè đã luôn động viên, hỗ trợ tôi trong quá trình thực hiện đề tài này
Mặc dù tôi đã có nhiều cố gắng hoàn thiện luận văn bằng tất cả sự nhiệt tình và năng lực của mình, tuy nhiên không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được những đóng góp quý báu của quý thầy cô và các bạn
Hà Nội, tháng 12 năm 2017
Tác giả
Vũ Thị Sáng
Trang 4DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Viết tắt
ĐC GD&ĐT
GV
HS PPDH SGK THPT
TN
Đọc là
Đối chứng Giáo dục và Đào tạo Giáo viên
Học sinh Phương pháp dạy học Sách giáo khoa
Trung học phổ thông Thực nghiệm
Trang 5DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Trang Biểu đồ 1.1.Các kênh thông tin HS sử dụng để tìm hiểu các kiến thức chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc 43 Biểu đồ 2.1 So sánh kết quả điểm kiểm tra giữa lớp TN và lớp ĐC 100
Trang 6DANH MỤC HÌNH ẢNH
Trang Hình 2.1 Máy bay B52 và máy bay 6A6 của Mĩ ngày đêm ném bom và thả
ngư lôi phong tỏa cửa sông, cảng biển ở nhiều tỉnh phía Bắc……… 62
Hình 2.2.Sơ đồ trận chiến theo mô tả trong sách Tài liệu Hải chiến Hoàng Sa của Vũ Hữu San và Trần Đỗ Cẩm 68
Hình 2.3 Bốn chiến hạm Việt Nam Cộng hòa tham gia trận chiến 70
Hình 2.4 Bia chủ quyền do Pháp dựng ở đảo Hoàng Sa năm 1938 71
Hình 2.5 Bia chủ quyền Việt Nam dựng trên đảo Trường Sa,quần Đảo Trường Sa (1961) 72
Hình 2.6 Đường Hồ Chí Minh trên biển 84
Hình 2.7 Vận chuyển hàng lên tàu không số 85
Hình 2.8 Đoàn tàu không số vận chuyển vũ khí trên Đường Hồ Chí Minh trên biển để chi viện cho chiến trường miền Nam 86
Hình 2.9 Bốc xếp gạo xuất khẩu tại cảng Sài Gòn 89
Hình 2.10 Tàu thuyền khai thác hải sản ở vùng biển đảo Lý Sơn 90
Hình 2.11 Khai thác dầu khí tại mỏ Bạch Hổ 91
Trang 7MỤC LỤC
Trang Lời cảm ơn
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các hình
Mục lục
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ GIÁO DỤC Ý THỨC CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO CỦA TỔ QUỐC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG 11
1.1 Cơ sở lí luận 11
1.1.1 Một số khái niệm 11
1.1.2 Mục tiêu của môn Lịch sử ở trường phổ thông 14
1.1.3 Những yêu cầu cơ bản của vấn đề giáo dục ý thức chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc cho học sinh trong dạy học Lịch sử ở trường phổ thông 16
1.1.4 Nội dung giáo dục ý thức chủ quyền biển, đảo của Tổ Quốc trong dạy học Lịch sử ở trường phổ thông 24
1.1.5 Vai trò, ý nghĩa của việc giáo dục ý thức chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc cho học sinh trong dạy học Lịch sử lớp ở trường phổ thông 36
1.2 Cơ sở thực tiễn 39
1.2.1 Thực trạng của việc giáo dục ý thức chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc cho học sinh trong dạy học Lịch sử lớp 12 trung học phổ thông 39
1.2.2 Những vấn đề đặt ra cần giải quyết 44
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 59
Trang 8CHƯƠNG 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC Ý THỨC VỀ CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO TỔ QUỐC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC
LỊCH SỬ LỚP 12 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 51
2.1 Mục tiêu, nội dung cơ bản của chương trình Lịch sử lớp 12 – chương trình chuẩn 51
2.1.1 Mục tiêu 51
2.1.2 Những nội dung cần khai thác trong chương trình Lịch sử lớp 12 THPT – Chương trình chuẩn để giáo dục ý thức chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc 53 2.2 Những yêu cầu cơ bản khi xác định các biện pháp giáo dục ý thứcchủ quyền biển, đảo Tổ quốc cho học sinh trong dạy học Lịch sử lớp 12 – chương trình chuẩn 59
2.2.1 Xác định đúng những kiến thức cơ bản cần dạy 59
2.2.2 Phù hợp với đặc điểm, tâm sinh lý lứa tuổi học sinh 60
2.2.3 Đảm bảo tính cụ thể, hình ảnh, giàu biểu tượng lịch sử 61
2.2.4 Đảm bảo tính sư phạm, tính khoa học, tính tư tưởng 63
2.2.5 Đảm bảo phát huy tính tích cực học tập, tính chủ động, sáng tạo 64
2.3 Một số biện pháp giáo dục ý thức về chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc cho học sinh lớp 12 trong dạy học lịch sử 65
2.3.1 Giáo dục ý thức về chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc cho học sinh trong giờ học nội khóa 66
2.3.2 Giáo dục ý thức về chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc cho học sinh thông qua hoạt động ngoại khóa 92
2.4 Thực nghiệm sư phạm 98
2.4.1 Mục đích, đối tượng thực nghiệm 98
2.4.2 Nội dung thực nghiệm 98
2.4.3 Kết quả thực nghiệm 99
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 103
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 104
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 107
PHỤ LỤC 112
Trang 9quy định: “Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn
diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với
lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”
Trên cơ sở quán triệt những chủ trương, chính sách của Đảng và dựa trên sự phân tích rõ ràng bối cảnh quốc tế cũng như trong nước, trong chiến lược phát triển giáo dục 2011 – 2020, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã nhận định
“Giáo dục nước ta trong thập kỉ tới phát triển trong bối cảnh thế giới có nhiều thay đổi nhanh và phức tạp Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế về giáo dục đã trở thành xu thế tất yếu Cách mạng khoa học công nghệ, công nghệ thông tin và truyền thông, kinh tế tri thức ngày càng phát triển mạnh mẽ, tác động trực tiếp đến sự phát triển của nền giáo dục trên thế giới” Do vậy,
Đảng và Nhà nước luôn khẳng định phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho sự phát triển; giáo dục vừa là mục tiêu vừa
là động lực để phát triển kinh tế - xã hội
Thế kỉ XXI là thế kỉ của đại dương Để tiếp tục phát huy các tiềm năng của biển trong thế kỉ XXI, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) đã thông qua nghị quyết số 09 – NQ/TW ngày 9/2/2007 về “ Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020”, trong đó xác định các quan điểm
về định hướng chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020: Một là, nước ta phải
Trang 10trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển trên cơ sở phát huy mọi tiềm năng từ biển, phát triển toàn diện các ngành, nghề biển với cơ cấu phong phú, hiện đại, tạo ra tốc độ phát triển nhanh, bền vững, hiệu quả cao với tầm nhìn dài hạn Hai là, kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với đảm bảo quốc phòng – an ninh, hợp tác quốc tế và bảo vệ môi trường, kết hợp giữa phát triển vùng biển, ven biển, hải đảo với phát triển vùng nội địa theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Ba là, khai thác mọi nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường biển trên tinh thần chủ động, tích cực mở cửa, phát huy đầy đủ và có hiệu quả các nguồn lực bên trong; tranh thủ hợp tác quốc tế, thu hút mạnh các nguồn lực bên ngoài theo nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước… [2 tr 7-8]
Trong lịch sử chiều dài hàng ngàn năm lịch sử, Việt Nam luôn khẳng định là một quốc gia biển với quá trình khai phá lãnh thổ, mở mang bờ cõi hướng biển Việt Nam có quyền lợi sống còn đối với việc khẳng định chủ quyền ở biển Đông Biển Đông đóng một vai trò tối quan trọng, là một trong những yếu tố hàng đầu tạo nên vị thế của Việt Nam ở khu vực và trên thế giới Biển Đông không chỉ là lãnh thổ, chủ quyền quốc gia thiêng liêng của Việt Nam mà còn là nơi có tiềm năng kinh tế khổng lồ, nhất là dầu khí và nguồn thủy sản, giúp cho Việt Nam có thể khẳng định được sức mạnh kinh tế của mình ở khu vực Hơn thế nữa, biển Đông có một vị trí đặc biệt quan trọng đối với việc mở rộng giao lưu hợp tác quốc tế và an ninh quốc gia Việt Nam Tuy nhiên, hiện nay vấn đề bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển đang đứng trước nhiều khó khăn, thách thức, gần đây nhất là việc Trung Quốc hạ đặt dàn khoan trái phép, xâm phạm chủ quyền điển đảo nước ta Trước những diễn biến phức tạp của tình hình Biển Đông thì việc tuyên truyền, giáo dục ý thức
về chủ quyền biển đảo tổ quốc cho thế hệ trẻ là một nhiệm vụ cần thiết và mang tính chiến lược
Trang 11Như vậy, chúng ta thấy rằng cần thiết phải trang bị cho mỗi công dân những hiểu biết cơ bản về lãnh thổ, lãnh hải của nước mình, để mỗi người dân đều có ý thức bảo vệ Tổ quốc
Xuất phát từ những lý do trên, tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu “ Giáo dục ý thức chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc cho học sinh trong dạy học lịch sử lớp 12 trung học phổ thông” cho cho đề tài nghiên cứu của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Xung quanh vấn đề đổi mới phương pháp dạy học nói chung và vấn đề Giáo dục ý thức về chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc cho học sinh trong dạy học Lịch sử ở trường phổ thông nói riêng đã được rất nhiều nhà nghiên cứu khoa học quan tâm
2.1 Các công trình nghiên cứu về chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc
Chưa bao giờ đề tài biển đảo lại có sức hút và đón nhận được sự quan tâm của cả nước như hiện nay Đã có rất nhiều cuốn sách, tư liệu nghiên cứu
về biển đảo, về quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa như một lời khẳng định chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc, để mỗi người dân Việt Nam thêm tự hào trước sự hy sinh anh dũng của bao thế hệ cha anh đi trước trong công cuộc bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, hải đảo của Tổ quốc
Đầu tiên phải kể đến là cuốn “Dấu ấn Việt Nam trên Biển Đông” do
tiến sỹ Trần Công Trục, nguyên Trưởng ban Biên giới Chính phủ làm chủ biên Được xuất bản đúng thời điểm Luật Biển Việt Nam vừa được Quốc hội thông qua, cuốn sách góp phần tuyên truyền sâu rộng những thông tin chính xác đến với mọi tầng lớp nhân dân; đồng thời khẳng định những quan điểm đúng đắn, khách quan của Nhà nước Việt Nam đối với các vấn đề tranh chấp, trong quyết tâm bảo vệ chủ quyền, các quyền, lợi ích chính đáng của mình trên Biển Đông và trong việc thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của Nhà nước Việt Nam trước cộng đồng khu vực và quốc tế Bên cạnh đó, cuốn sách còn phân tích thực tiễn phân định và giải quyết tranh chấp về thềm lục địa của một số
Trang 12quốc gia trên thế giới thông qua các án lệ điển hình của cơ quan tài phán quốc
tế
Cuốn sách “Hoàng sa, trường sa là của Việt Nam” là tác phẩm của tập
thể nhiều tác giả do nhà xuất bản Trẻ phát hành năm 2008 Nội dung cuốn sách là tập hợp một số bài nghiên cứu, bài báo và những tư liệu mới của các nhà sử học và các nhà nghiên cứu, chứng minh chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, xét về mặt lịch sử và luật pháp quốc tế Cuốn sách cũng đề cập tới bối cảnh của cuộc tranh chấp hiện nay đối với hai quần đảo này nói riêng và Biển Đông nói chung, cũng như những ý kiến về một giải pháp cho cuộc tranh chấp phù hợp với luật pháp quốc tế Kèm theo đó là những tư liệu liên quan, chẳng hạn toàn văn bản Tuyên bố về các nguyên tắc ứng xử của các bên trên Biển Đông mà các nước ASEAN và Trung Quốc đã ký kết năm 2002
Ban tuyên giáo thành ủy Hà Nội cũng đã xuất bản tác phẩm “Tổ quốc
nơi đầu sóng qua các tác phẩm báo chí từ Thủ đô Hà Nội” Cuốn sách là tập
hợp các tư liệu, tác phẩm báo chí nhằm chuyển tải đến độc giả rộng rãi những quan điểm, lập trường và ý chí quyết tâm bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo Tổ quốc; khắc họa chân thực, sinh động về cuộc sống đời thường, kiên cường bám biển, tinh thần sẵn sàng chiến đấu, thực thi nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền biển đảo quê hương của các chiến sĩ hải quân, lực lượng cảnh sát biển, kiểm ngư, của các ngư dân và nhân dân ta phản ánh tình cảm sâu sắc và các hoạt động phong phú, thiết thực của nhân dân và báo chí Thủ đô với điển đảo quê hương
“Chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc” là cuốn sách của nhiều
tác giả, do Thiếu tá, nhà báo Trần Hoàng Tiến – phóng viên Báo Quân đội nhân dân biên soạn, thông qua các câu chuyện sinh động đã khắc họa về con người, sự kiện gắn liền với những phần lãnh hải cơ bản thiêng liêng của Tổ quốc từ thuở hồng hoang cha ông ta xuống biển” đến ngày nay Trong đó nổi bật là hình ảnh người chiến sĩ Hải quân nhân dân Việt Nam vững vàng nơi
Trang 13đầu sóng ngọn gió, ngày đêm canh giữ chủ quyền biển đảo thiêng liêng của
Tổ Quốc; cùng với đó là sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, của đất liền với quân dân trên các đảo; là niềm tin yêu son sắt qua những câu chuyện cảm động về tình quân dân cá nước
Nhằm giới thiệu về chủ quyền biển đảo tới đông đảo tầng lớp thanh niên tri thức của thế hệ ngày nay, Ban tuyên giáo trung ương cũng đã công bố
tác phẩm “100 câu hỏi – đáp về biển, đảo dành cho tuổi trẻ Việt Nam” Cuốn
sách gồm ba nội dung chính , đó là: Hỏi – đáp về vị trí, vai trò và tiềm năng của biển, đảo Việt Nam Hỏi – đáp về các vấn đề liên quan đến các quyền và bảo vệ các quyền của Việt Nam trên biển Đông Hỏi – đáp về xây dựng và phát triển các lĩnh vực liên quan đến biển, đảo Việt Nam Cuốn sách là cẩm nang cần thiết, giúp cho thế hệ trẻ Việt Nam nói chung, học sinh và sinh viên Việt Nam nói riêng có cái nhìn tổng quan về biển, đảo Việt Nam, từng bước nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của biển, đảo đối với sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc
Tiếp theo là cuốn “Việt Nam và tranh chấp Biển Đông của tập thể
nhiều tác giả do nhà xuất bản tri thức ấn hành Cuốn sách tập hợp nhiều bài
viết xung quanh vấn đề tranh chấp chủ quyền trên biển Đông, sự tranh chấp lớn nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc là tranh chấp chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa mà hiện tại chưa có giải pháp nào hợp lý Thông qua cuốn sách này, bạn đọc sẽ biết thêm những thông tin mới nhất về tình hình tranh chấp trên Biển Đông thông qua một tập hợp các bài viết của các thành viên trong Quỹ Nghiên cứu cứa Biển Đông, trong đó nhấn mạnh đến chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông, tham vọng của Trung Quốc và các quốc gia chung Biển Đông, đồng thời đề xuất một số giải pháp giải quyết tranh chấp
Trang 142.2 Các công trình nghiên cứu về giáo dục học và phương pháp dạy học
Các giáo trình nghiên cứu về phương pháp dạy học lịch sử như:
“Phương pháp dạy học lịch sử tập 1 do Phan Ngọc Liên (chủ biên), Trịnh
Đình Tùng và Nguyễn Thị Côi (2010) đã đề cập đến những vấn đề về hệ thống các phương pháp dạy học lịch sử ở trường THPT, qua đó cùng với việc dạy học lịch sử, giáo viên cần phải phát triển năng lực nhận thức và thực hành cho học sinh trong học tập lịch sử thông qua đó cũng hình thành cho học sinh
tư tưởng, tình cảm cách mạng
Bên cạnh đó là cuốn “Đổi mới việc dạy học lịch sử lấy học sinh làm
trung tâm” của Hội khoa học lịch sử Việt Nam do GS Phan Ngọc Liên chủ
biên đã đề cập đến phương hướng, biện pháp để nâng cao chất lượng dạy học lịch sử ở trường phổ thông hiện nay trong đó nhấn mạnh tới vấn đề phát huy năng lực tư duy của học sinh thông qua những công cụ hỗ trợ của giáo viên
Cuốn “Tài liệu tập huấn dạy học và kiểm tra, đánh giá kết quả học tập
theo định hướng phát triển năng lực học sinh môn Lịch sử cấp THCS” của Bộ
Giáo dục và Đào tạo đã nêu nên việc đổi mới đồng bộ phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá trong giáo dục trung học cơ sở theo định hướng tiếp cận năng lực Các tác giả cũng đã xác định được các năng lực chung cốt lõi của học sinh và năng lực chuyên biệt của môn lịch sử, ngoài ra cũng chỉ ra các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học theo định hướng phát triển năng lực môn lịch sử
Cuối cùng là cuốn “Tài liệu tập huấn dạy học và kiểm tra, đánh giá kết
quả học tập theo định hướng phát triển năng lực học sinh môn Lịch sử cấp THCS” của Bộ giáo dục và đào tạo đã nêu nên việc đổi mới đồng bộ phương
pháp dạy học, kiểm tra đánh giá trong giáo dục trung học cơ sở theo định hướng tiếp cận năng lực Tác phẩm cũng đã xác định được các năng lực chung cốt lõi của học sinh và năng lực chuyên biệt của môn lịch sử, ngoài ra
Trang 15cũng chỉ ra các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học theo định hướng phát triển năng lực môn lịch sử
2.3 Các bài báo cáo khoa học, bài biết cho tạp chí và luận văn
Trước hết phải kể đến là bài viết có tựa đề “Giáo dục ý thức chủ quyền biển đảo cho học sinh trung học phổ thông qua môn lịch sử” của tác giả Đặng Hoàng Sang in trên kỷ yếu hội thảo khoa học năm 2015 của trường Đại học Cần Thơ Bài viết đã chỉ ra được vấn đề chủ quyền biển đảo trong nhà trường phổ thông chưa được chú trọng đề cập theo hướng tương xứng với tầm quan trọng của nó Việc chưa đưa nội dung giáo dục chủ quyền biển đảo vào chương trình sách giáo khoa lịch sử ở trường phổ thông để giảng dạy rất cần một định hướng hoàn thiện và mang tính lâu dài
Thạc sĩ Nguyễn Đức Toàn đã có bài viết với tiêu đề “Sử dụng tư liệu gốc để giáo dục chủ quyền biển, đảo cho học sinh ở trường trung học phổ thông (qua chương trình chuẩn sách giáo khoa lịch sử 10)” trong kỷ yếu hội thảo khoa học năm 2015 của trường Đại học Cần Thơ Tác giả đã nêu ra được những khái niệm cơ bản về chủ quyền biển đảo và tư liệu gốc Qua đó cũng
đề xuất một số biện pháp sử dụng tư liệu gốc trong việc giáo dục chủ quyền biển, đảo ở trường THPT qua bài học nội khóa Cuối cùng đi đến khẳng định: Bên cạnh sách giáo khoa, tư liệu lịch sử nói chung và tư liệu gốc nói riêng góp phần quan trọng vào việc khôi phục và tái hiện hình ảnh của quá khứ Bởi
tư liệu gốc chính là hiện thân của quá khứ để HS có thể dựa vào đó nhìn nhận, đánh giá sự phát triển của lịch sử
Ngoài các bài viết trên báo, tạp chí còn có luận văn nghiên cứu về vấn
đề chủ quyền biển, đảo như: Luận văn thạc sĩ của tác giả Đậu Thị Hải Vân với đề tài “Giáo dục ý thức về chủ quyền biển, đảo Tổ quốc cho học sinh trong dạy học lịch sử Việt Nam lớp 10, trung học phổ thông (chương trình chuẩn) năm 2012 Hay luận văn của tác giả Đặng Thị Huế với đề tài “Sử dụng
Trang 16tư liệu về chủ quyền biển đảo Tổ quốc trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông” năm 2015
Do đó, trên cơ sở thành tựu của các công trình nghiên cứu, được sự hướng dẫn và giúp đỡ của thầy PGS.TS Vũ Quang Hiển, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu, sưu tầm, khai thác tài liệu để tổ chức dạy học lịch sử nhằm giáo dục ý thức về chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc cho học sinh lớp 12 trung học phổ thông
3 Đối tƣợng nghiên cứu
Nội dung và biện pháp giáo dục ý thức về chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc cho học sinh trong dạy học Lịch sử lớp 12, trung học phổ thông
4 Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung
Đề tài tập trung nghiên cứu việc giáo dục ý thức chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc cho học sinh trong dạy học Lịch sử lớp 12 trung học phổ thông
Về hình thức: Bài dạy nội khóa và ngoại khóa
Về địa bàn khảo sát, thực nghiệm: Tiến hành khảo sát tại trường THPT
Trần Hưng Đạo, Hà Đông – Hà Nội
5 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Mục đích
Góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục ý thức chủ quyền biển, đảo của
Tổ quốc cho học sinh Trung học phổ thông trong dạy học lịch sử nói riêng mà còn góp phần nâng cao chất lượng giáo dục Lịch sử ở trường phổ thông nói chung
5.2 Nhiệm vụ
Nghiên cứu cơ sở lý luận liên quan đến chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc và việc giáo dục ý thức cho học sinh về chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc
Nghiên cứu thực trạng việc giáo dục ý thức về chủ quyền biển, đảo của
Tổ quốc cho học sinh trung học phổ thông trong dạy học lịch sử
Trang 17Xác định vị trí, vai trò, mục tiêu, nội dung của chương trình Lịch sử lớp
12 (chương trình chuẩn), qua đó xác định nội dung kiến thức giáo dục ý thức chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc cho học sinh trung học phổ thông trong dạy học lịch sử
Đề xuất một số biện pháp, hình thức giáo dục ý thức chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc cho học sinh trong dạy học lịch sử
Tiến hành khảo sát, thực nghiệm sư phạm để khẳng định tính khả thi của đề tài nghiên cứu
6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
6.1 Cơ sở phương pháp luận
Dựa trên các quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước về Giáo dục
và Đào tạo, những thành tựu nghiên cứu mới về lí luận giáo dục, tâm lý học, phương pháp dạy học lịch sử của các nhà nghiên cứu khoa học , giáo dục lịch
sử, nghiên cứu lịch sử
6.2 Phương pháp nghiên cứu
6.2.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết được sử dụng để
Nghiên cứu các nghị quyết của Đảng, Nhà nước, các văn bản của bộ GD&ĐT, của các cấp ngành có liên quan đến đề tài Các công trình của các tài liệu từ các nguồn: sách, báo, tạp chí, internet…về các vấn đề có liên quan đến giáo dục ý thức chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc cho HS
6.2.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Quan sát, điều tra thu thập thông tin về vấn đề giáo dục ý thức chủ quyền biển, đảo cho học sinh Trung học phổ thông trong dạy học lịch sử: điều tra bằng phiếu đối với giáo viên và học sinh ở trường Trung học phổ thông Trần Hưng Đạo, Hà Đông - Hà Nội
- Sưu tầm các tàu liệu có liên quan đến đề tài
Trang 18- Thực nghiệm sư phạm các biện pháp và hình thức giáo dục ý thức chủ quyền biên, đảo của Tổ quốc cho học sinh trong dạy học lịch sử lớp 12 để minh chứng cho tính đúng đắn, khả thi của các biện pháp sư phạm đã đề ra
7 Giả thuyết khoa học
Trong quá trình dạy học lịch sử lớp 12, việc giáo dục ý thức chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc cho học sinh đảm bảo tính khoa học, thực tiễn và vận dụng linh hoạt, sáng tạo các phương pháp dạy học lịch sử, phù hợp với điều kiện thực tế tại các trường THPT thì sẽ nâng cao chất lượng dạy học bộ môn
8 Ý nghĩa của luận văn
8.1 Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu đề tài góp phần làm phong phú về mặt lí luận, khẳng định vai trò, ý nghĩa của giáo dục ý thức chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc cho học sinh Trung học phổ thông trong dạy học Lịch sử Đồng thời, đề tài đề xuất những phương pháp tổ chức các hoạt động dạy học lịch sử cho học sinh lớp 12 nhằm giáo dục ý thức chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc hiệu quả, nâng cao chất lượng dạy và học
8.2 Ý nghĩa thực tiễn
Nghiên cứu của đề tài là tài liệu tham khảo đối với các đồng nghiệp, đặc biệt đối với giáo viên dạy bộ môn Lịch sử ở các trường trung học phổ thông nói chung, ở Hà Nội nói riêng
9 Cấu trúc của luận văn
Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Khuyến nghị, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung luận văn được trình bày trong 2 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề giáo dục ý thức chủ quyền
biển, đảo của Tổ quốc cho học sinh trong dạy học lịch sử lớp 12 trung học
phổ thông
Chương 2: Các biện pháp giáo dục ý thức chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc cho học sinh trong dạy học lịch sử lớp 12 trung học phổ thông
Trang 19CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ GIÁO DỤC Ý THỨC CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO CỦA TỔ QUỐC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ
Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG 1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Một số khái niệm
1.1.1.1 Khái niệm “ý thức” và “giáo dục ý thức”
Ý thức theo định nghĩa của triết học Mác – Lênin là một phạm trù song
song với phạm trù vật chất, theo đó ý thức là sự phản ánh thế giới vật
chất khách quan vào bộ óc con người và có sự cải biến và sáng tạo Ý thức có
mối quan hệ hữu cơ với vật chất
Giáo dục là khái niệm cơ bản, quan trọng nhất của giáo dục học
Về bản chất: giáo dục là quá trình truyền đạt và tiếp thu những kinh
nghiệm lịch sử xã hội của các thế hệ loài người
Về hoạt động: giáo dục là quá trình tác động đến các đối tượng giáo
dục để hình thành cho họ những phẩm chất nhân cách
Về mặt phạm vi: giáo dục được hiểu là quá trình sư phạm Quá trình sư
phạm là quá trình tác động có kế hoạch, có nội dung và bằng phương pháp khoa học của các nhà sư phạm trong nhà trường tới học sinh nhằm giúp học sinh nhận thức, phát triển trí tuệ và hình thành những phẩm chất nhân cách.[16.tr.12]
Như vậy, “giáo dục ý thức là sự phản ánh của hiện thực khách quan,
hình thức thông qua quá trình giáo dục ý thức con người Như ý thức về chủ quyền lãnh thổ Tổ quốc, ý thức về chủ quyền biển đảo Tổ Quốc Giáo dục ý thức chính là quá trình giáo dục làm khơi dậy sự phản ánh của hiện thực khách quan cho con người” [34.tr 38-43]
Trang 201.1.1.2 Khái niệm “chủ quyền biển, đảo”
Chủ quyền là “Quyền cao nhất của một dân tộc, một quốc gia độc lập,
tự mình làm chủ đất đai, tài sản, tự mình quyết định vận mệnh của mình Những nội dung này được khẳng định trong pháp luật mỗi nước, trong văn bản pháp lí quốc tế, là nguyên tắc cơ bản cần tuân theo”[15]
Theo hiến pháp 1992 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam:
“Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nước độc lập có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, các hải đảo, vùng biển và vùng trời”
Khái niệm chủ quyền biển, đảo nằm trong khái niệm chủ quyền lãnh thổ quốc gia
Vì vậy, “Chủ quyền lãnh thổ quốc gia” là quyền tối cao tuyệt đối, hoàn toàn và riêng biệt của quốc gia đối với lãnh thổ và trên lãnh thổ của mình Quyền tối cao của quốc gia đối với lãnh thổ là quyền quyết định mọi vấn đề của quốc gia đối với lãnh thổ, đó là quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm Mỗi quốc gia có quyền đặt ra quy chế pháp lí đối với lãnh thổ Với tư cách là chủ sở hữu, Nhà nước có quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối với lãnh thổ thông qua hoạt động của các cơ quan nhà nước như hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp
Một số khái niệm nằm trong khái niệm chủ quyền biển, đảo tổ quốc
Nội thủy: “Theo quy định của khoản 1 Điều 8 Công ước Luật Biển
1982, nội thủy là “các vùng nước ở phía bên trong đường cơ sở, dùng để tính chiều rộng lãnh hải” Nội thủy là một bộ phận lãnh thổ của quốc gia ven biển,
có quy chế pháp lý như vùng nước hồ, ao, sông ngòi trong lục địa và thuộc chủ quyền hoàn toàn, tuyệt đối của quốc gia ven biển” [1.tr.87]
Lãnh hải: “là vùng biển nằm giữa nội thủy và vùng biển thuộc quyền
chủ quyền (vùng tiếp giáp) và có chiều rộng là ≤ 12 hải lý tính từ đường cơ sở Ranh giới bên trong của lãnh hải là đường cơ sở của quốc gia ven biển, còn ranh giới ngoài của lãnh hải là đường song song với đường cơ sở và có chiều
Trang 21rộng bằng chiều rộng lãnh hải của quốc gia này đã được chính thức công bố Đây là đường biên giới quốc gia trên biển, có ý nghĩa giới hạn chủ quyền của quốc gia ven biển”.[1.tr.101]
Lãnh hải rộng 12 hải lý, ở phía ngoài đường cơ sở nối liền các điểm nhô ra nhất của bờ biển và các điểm ngoài cùng của các đảo ven bờ của Việt Nam Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện chủ quyền đầy đủ
và toàn vẹn đối với lãnh hải của mình cũng như đối với vùng trời, đáy biển và
lòng đất dưới đáy biển của lãnh hãi
Vùng tiếp giáp lãnh hải: là vùng biển tiếp liền phía ngoài lãnh hải Việt
Nam có chiều rộng là 12 hải lý hợp với lãnh hải Việt Nam thành một vùng biển rộng 24 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện sự kiểm soát cần thiết trong vùng tiếp giáp lãnh hải của mình, nhằm bảo vệ an ninh, bảo vệ các quyền lợi về hải quan, thuế khóa, đảm bảo sự tôn trọng các quy định về y tế, về di cư, nhập cư trên lãnh thổ hoặc trong lãnh hải Việt Nam
Vùng đặc quyền kinh tế: là một vùng biển rộng 200 hải lý kể từ đường
cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có chủ quyền hoàn toàn về việc thăm dò, khai thác, bảo vệ và quản lý tất cả các tài nguyên thiên nhiên, sinh vật và không sinh vật ở vùng nước, ở đáy biển và trong lòng đất dưới đáy biển của vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam; có quyền và thẩm quyền riêng biệt về các hoạt động khác phục vụ cho việc thăm dò và khai thác vùng đặc quyền kinh tế; có thẩm quyền riêng biệt về nghiên cứu khoa học trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có thẩm quyền bảo vệ môi trường, chống ô nhiễm trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam
Thềm lục địa: bao gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển thuộc phần
kéo dài tự nhiên của lục địa Việt Nam mở rộng ra ngoài lãnh hải Việt Nam cho đến bờ ngoài của rìa lục địa Nếu nơi nào bờ ngoài của rìa lục địa cách
Trang 22đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam không đến 200 hải lý thì thềm lục địa nơi ấy mở rộng ra 200 hải lý kể từ đường cơ sở đó Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có chủ quyền hoàn toàn về thăm dò, khai thác, bảo vệ và quản lý tất cả các tài nguyên thiên nhiên ở thềm lục địa Việt Nam bao gồm tài nguyên khoáng sản, tài nguyên không sinh vật và tài nguyên sinh vật thuộc loại định cư ở thềm lục địa Việt Nam
Bảo vệ “chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc” chính là bảo vệ sự toàn vẹn
lãnh thổ, bảo vệ những quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm của Tổ quốc
Như vậy, “giáo dục ý thức chủ quyền biển, đảo” là giáo dục ý thức về
chủ quyền biển đảo Tổ Quốc và giáo dục cho các em ý thức cần phải bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc trong thời đại hiện nay
1.1.2 Mục tiêu của môn Lịch sử ở trường Phổ thông
Mục tiêu của chương trình Lịch sử THPT nói chung và của chương trình Lịch sử lớp 12 nói riêng được xác định dựa trên mục tiêu của giáo dục phổ thông đã được quy định trong luật Giáo dục nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2005) Theo đó, khoản 4, điều 27 quy định: “Giáo dục trung học phổ thông nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn phổ thông và có những hiểu biết thông thường về kĩ thật và hướng nghiệp, có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động…”
Môn Lịch sử có ý nghĩa quan trọng góp phần hoàn thiện nhân cách cá nhân, do vậy, cũng như các nước trên thế giới, Việt Nam coi Lịch sử là một trong những môn học cơ bản trong nhà trường phổ thông Mục tiêu chung của môn học này là nhằm trang bị cho học sinh những kiến thức cơ bản, cần thiết về lịch sử dân tộc và lịch sử thế giới Trên cơ sở đó, giúp hình thành thế giơi quan, nhân sinh quan khoa học cho các em; giáo dục lòng yêu quê hương, đất nước, truyền thống dân tộc, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành các năng lực tư duy hành động, có thái độ ứng xử đúng đắn trong
Trang 23đời sống xã hội, có hoài bão góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Cụ thể mục tiêu của môn Lịch sử THPT được xác định là:
Về kiến thức: Cung cấp những kiến thức cơ bản, có hệ thống về lịch sử
phát triển hợp quy luật của dân tộc và xã hội loài người trên cơ sở củng cố, phát triển nội dung kiến thức lịch sử đã học ở bậc THCS
Khác với hệ thống tri thức ở bậc THCS, ở bậc THPT, kiến thức lịch sử Việt Nam vẫn được ưu tiên dành nhiều thời lượng hơn nhưng vẫn đảm bảo được hệ thống tri thức lịch sử thế giới (từ thời công xã nguyên thủy đến thời hiện đại) để các em học sinh có thể hình dung một cách toàn diện, sâu sắc hơn
về lịch sử quốc tế và lịch sử dân tộc
Cụ thể, bộ môn Lịch sử ở trường THPT có nhiệm vụ cung cấp cho học sinh những kiến thức cơ bản, hiện đại của khoa học Lịch sử, bao gồm: các sự kiện lịch sử, các khái niệm, thuật ngữ, niên đại, tên người, tên đất,…của lịch
sử dâ tộc và lịch sử thế giới; những quy luật lịch sử, các quan điểm lý luận sơ giản để nhận thức lịch sử, hình thành nhân sinh quan, thế giới quan đúng đắn cho các em
Về kĩ năng: rèn luyện năng lực tư duy và các năng lực thực hành cho
học sinh theo hướng tăng các nội dung khái quát hóa, nội dung suy luận giúp học sinh hiểu sâu sắc hơn lịch sử Dạy học lịch sử ở trường phổ thông phải rèn luyện cho học sinh những kĩ năng cần thiết cho học tập Lịch sử, từ việc có quan điểm lịch sử như xem xét sự kiện và nhân vật, làm việc với sách giáo khoa và các nguồn sử liệu, biết phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát…, có năng lực tự học, phát hiện, đề xuất, giải quyết vấn đề, học sinh nâng cao hơn năng lực tư duy và thực hành Vận dụng các kiến thức lịch sử đã học vào cuộc sống hiện đại
Các nội dung được thiết kế cho chương trình Lịch sử THPT đảm bảo tính phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý, sự phát triển trí tuệ của học sinh ở giai
Trang 24đoạn này Các câu hỏi không chỉ dừng lại ở việc liệt kê, trình bày mà đi đến yêu cầu phân tích, đánh giá, đưa ra nhận định về một sự kiện, hiện tượng lịch
sử hơn nữa, trong bối cảnh đẩy mạnh đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh thì học sinh sẽ làm việc nhiều hơn là giáo viên trình bay bài giảng Như vậy, sau khi hoàn thành chương trình học, học sinh sẽ được phát triển nhiều kĩ năng cần thiết cho việc tự học, tự nghiên cứu và nhiều kĩ năng khác phục vụ cho cuộc sống sau này
Về thái độ: Giáo dục lòng yêu nước, tự hào dân tộc, lý tưởng độc lập
dân tộc và chủ nghĩa xã hội; tinh thần đoàn kết quốc tế, tình hữu nghị với các dân tộc đấu tranh cho độc lập, tự do, văn mình, tiến bộ xã hội, hòa bình, dân chủ Thông qua kiến thức lịch sử giáo dục cho các em lòng biết ơn, noi gương theo các thế hệ cha anh, phấn đấu trong học tập và lao động có ý thức làm nghĩa vụ công dân, nghĩa vụ quốc tế…Bồi dưỡng phẩm chất đạo đức, tinh thần đoàn kết quốc tế, tình hữu nghị với các dân tộc đấu tranh cho độc lập dân tộc, tự do, văn minh, tiến bộ xã hội, hòa bình, dân chủ; hình thành những phẩm chất cần thiết trong cuộc sống cộng đồng…
Như vậy, mục tiêu bộ môn lịch sử ở trường trung học phổ thông là cung cấp kiến thức cơ bản, có hệ thống về lịch sử phát triển hợp quy luật của dân tộc và xã hội loài người, rèn kĩ năng tư duy và thực hành qua học tập bộ môn Trên cơ sở đó, giáo dục thái độ, tình cảm đúng đắn với các sự kiện, nhân vật lịch sử, bồi dưỡng lòng yêu nước, tự hào dân tộc, lí tưởng độc lập dân tộc
và chủ nghĩa xã hội
1.1.3 Những yêu cầu cơ bản của vấn đề giáo dục ý thức chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc cho học sinh trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông
1.1.3.1 Xác định rõ mục tiêu
Bất cứ hoạt động giáo dục nào cũng phải có những mục tiêu nhất định
để làm định hướng cho hoạt động giáo dục được thể hiện có hiệu quả Trước khi thực hiện tổ chức dạy học các nội dung về chủ quyền biển, đảo của Tổ
Trang 25quốc cho học sinh, giáo viên cũng phải xác định rõ mục tiêu hướng đến của công việc đó là gì Từ đó, xác định phương pháp, hình thức, nội dung để tổ chức dạy học cho phù hợp, hiệu quả
Việc giáo dục ý thức về chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc trong dạy học lịch sử ở trường THPT là thực sự cần thiết Qua các biện pháp giáo dục ý thức chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc trong dạy học lịch sử sẽ trang bị cho học sinh những kiến thức chính xác, cụ thể về chủ quyền quyền biển, đảo của Tổ quốc, qua đó giúp các em nhận thức sâu sắc vai trò, giá trị của biển, đảo đối với nhiệm vụ phát triển đất nước trong lịch sử cũng như trong hiện tại và tương lai Nắm vững kiến thức về chủ quyền biển, đảo là cơ sở để học sinh tự hào về truyền thống yêu nước, bảo vệ chủ quyền đất nước của nhân dân ta, học sinh ý thức được trách nhiệm công dân trong việc bảo vệ sự toàn vẹn các lãnh thổ Tổ quốc
1.1.3.2 Xác định đúng kiến thức cơ bản
Thể hiện ở hai yếu tố: nội dung và mức độ kiến thức cần cung cấp Kiến thức cơ bản là những cái then chốt cần phải có, là cái có ý nghĩa nhất, có tác dụng nhất đối với sự phát triển nhân cách của học sinh Do vậy, kiến thức
cơ bản thường là những kiến thức đã được đề cập trong sách giáo khoa nhưng những gì phù hợp, cần thiết cho việc giáo dục học sinh thì cũng cần đưa vào bài học Việc dạy học các nội dung về chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ đất nước cũng là những kiến thức như vậy
Để làm rõ điều này, giáo viên phải xác định rõ mục tiêu và những ưu tiên khi tổ chức dạy học Việc xác định đúng những kiến thức trong bài sẽ giúp bài giảng được cô đọng, súc tích và nâng cao chất lượng bài giảng Bám sát đặc điểm đối tượng học sinh, những yêu cầu và nội dung cơ bản được đề cập trong chương trình môn học sẽ giúp giáo viên xác định đúng cần dạy cái
gì, từ đó biết được phải dạy như thế nào Nhờ vậy, giáo viên đưa học sinh đến được mục tiêu đã đặt ra
Trang 261.1.3.3 Phương pháp tổ chức dạy học phải phát huy tính chủ động tích cực của học sinh
“Đổi mới phương pháp dạy và học theo hướng tích cực chính là phát huy được tính tích cực nhận thức của học sinh Nói cách khác là “Dạy học lấy hoạt động của người học làm trung tâm”[5.tr 29]
Trong dạy và học tích cực, dưới sự thiết kế, tổ chức, định hướng của giáo viên, người học được tham gia vào quá trình hoạt động học tập từ khâu phát hiện vấn đề, tìm giải pháp cho vấn đề đặt ra, thực hiện các giải pháp và rút ra kết luận Quá trình đó giúp người học lĩnh hội nội dung học tập đồng thời phát triển năng lực sáng tạo
Trong dạy học tích cực, học sinh là chủ thể hoạt động, gió viên đóng vai trò người tổ chức hướng dẫn, đòi hỏi giáo viên phải có kiến thức sâu, rộng,
có kĩ năng sư phạm, đặc biệt phải có tình cảm nghề nghiệp thì việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực mới đạt hiệu quả
Phương pháp dạy học nói chung và phương pháp dạy học Lịch sử nói riêng luôn là lĩnh vực đòi hỏi sự sáng tạo nhiều nhất Trong điều kiện lịch sử mới, nhất là sự phát triển của khoa học hiện đại, đặc biệt là công nghệ - thông tin, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước đã đòi hỏi và tạo điều kiện cho sự đổi mới công nghệ và phương pháp dạy học Xu thế dạy học hiện nay đó là thực hiện quan điểm “lấy người học làm trung tâm” Theo đó, toàn
bộ quá trình dạy học phải hướng vào người học, phương pháp dạy học phải dựa trên đặc điểm của người học, để khai thác tối đa tiềm năng trí tuệ, tính tích cực và sáng tạo của học sinh và tập thể học sinh với mục tiêu là làm phát triển tối đa năng lực của người học; rèn luyện cho học sinh thói quen, năng lực tự học, tự nghiên cứu để có thể học thường xuyên và suốt đời
Tích cực đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của HS, tăng cường rèn luyện năng lực tự học của HS Quan điểm và định hướng đổi mới phương pháp dạy học các môn, trong đó
có môn Lịch sử, cần được tuân thủ nghiêm túc, sáng tạo đối với mọi GV Đối
Trang 27với GV lịch sử cần phải thực hiện tốt đi đầu trong việc thay đổi lối dạy học truyền thụ một chiều sang dạy học theo phương pháp dạy học tích cực, HS phải được hướng dẫn tìm tòi, khám phá, phát hiện, luyện tập, khái quát và xử
lý thông tin lịch sử, đặc biệt chú ý đến rèn luyện năng lực tự học
1.1.3.4 Sử dụng đa dạng các hình thức tổ chức dạy học
Tùy thuộc vào điều kiện, mục tiêu và chương trình giáo dục, giáo viên
có thể lựa chọn nhiều hình thức tổ chức dạy học khác nhau Mỗi hình thức tổ chức dạy học lại có những ưu và nhược điểm riêng
Phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy học Lịch sử
Phương pháp trực quan là hệ thống cách thức, biện pháp giáo viên sử dụng đồ dùng hoặc phương tiện trực quan nhằm huy động các giác quan của học sinh tham gia vào quá trình nhận thức, làm cho việc tiếp thu kiến thức trở nên dễ dàng và rèn luyện các kĩ năng cho học sinh
Đồ dùng trực quan được chia thành 3 nhóm chính: nhóm đồ dùng trực quan hiện vật, đồ dùng trực quan tạo hình và đồ dùng trực quan quy ước
Nhóm đồ dùng trực quan hiện vật gồm: những di tích lịch sử, cách
mạng, những di vật khảo cổ và di vật của các thời kì lịch sử Đây là một loại tài liệu gốc rất có giá trị, được lưu giữ trong các trung tâm lưu trữ, viện bảo tàng hoặc ở tại các di tích Vì vậy trong điều kiện thuận lợi giáo viên nên tổ chức dạy học lịch sử ở các địa điểm trên
Nhóm đồ dùng trực quan tạo hình gồm: mô hình, sa bàn và các loại đồ
phục chế khác; Hình vẽ, tranh ảnh, phim tư liệu lịch sử lấy chủ đề về lịch sử
Các loại đồ dùng trực quan tạo hình có khả năng khôi phục lại hình ảnh của con người, đồ vật, sự kiện lịch sử một cách cụ thể, sinh động và khá xác thực
Nhóm đồ dùng trực quan quy ước gồm: Bản đồ lịch sử, niên biểu, đồ thị,
sơ đồ
Trang 28- Bảng viết là phương tiện được sử dụng phổ biến nhất Bảng viết gồm
có hai loại chủ yếu: bảng viết phấn (màu đen hoặc xanh), bảng viết bằng bút
dạ
- Các phương tiện kĩ thuật gồm: máy chiếu hắt (Overhead), rađiô, máy
ghi âm, video, tivi, máy tính
Dạy học nêu vấn đề (dạy học nêu và giải quyết vấn đề)
Vấn đề này được nhiều nhà giáo dục học, giáo dục các bộ môn quan tâm nghiên cứu Dựa vào ý kiến của các nhà khoa học chúng ta có thể rút ra những điểm chủ yếu về dạy học nêu vấn đề
Dạy học nêu vấn đề không phải là một phương pháp cụ thể mà là các tư tưởng, nguyên tắc chỉ đạo việc tiến hành nhiều phương pháp dạy học Nó được vận dụng trong tất cả các khâu của giờ học và là một kiểu dạy học dựa trên những quy luật của sự lĩnh hội tri thức và cách thức hoạt động một cách sáng tạo, có những nét cơ bản của sự tìm tòi khoa học Bản chất của nó là tạo nên các tình huống có vấn đề và điều khiển người học giải quyết những vấn
đề học tập đó Nhờ vậy, nó đảm bảo cho người học lĩnh hội vững chắc kiến thức mới, kỹ năng mới hoặc thái độ tích cực
Dạy học nêu vấn đề bao gồm các thành tố, trình bày nêu vấn đề, tình huống có vấn đề và bài tập nêu vấn đề (bài tập nhận thức)
Tình huống có vấn đề hay tình huống học tập là trạng thái tâm lý xuất hiện khi con người gặp phải tình huống khó khăn giải quyết bằng tri thức đã
có, bằng cách thức đã biết không thể được mà đòi hỏi phải lĩnh hội tri thức mới và cách thức hành động mới Có những loại tình huống có vấn đề sau:
Tình huống nghịch lý là tình huống vấn đề xuất hiện đứng trước một sự
lựa chọn rất khó khăn giữa hai hay nhiều phương án giải quyết
Tình huống bác bỏ là tình huống vấn đề đòi hỏi phải bác bỏ một luận
điểm kết luận sai lầm Để đạt được điều đó người học phải tìm ra được chỗ yếu, chỗ sai, chỗ thiếu chính xác của luận điểm hoặc kêt luận đó và chứng minh tính chất sai lầm của chúng
Trang 29Tình huống tại sao là tình huống phổ biến trong nghiên cứu khoa học
và trong dạy học
Các tình huống này đòi hỏi người học phải vận dụng kiến thức và kĩ năng vốn có để giải quyết vấn đề đặt ra Người học phải tìm ra được các mối liên hệ đặc biệt là mối liên hệ nhân quả Tìm ra được nguyên nhân dẫn đén kết quả đó
Dạy học theo dự án: là một hình thức (phương pháp nghĩa rộng) dạy
học, trong đó người học thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp, có sự kết hợp giữa lí thuyết và thực hành, thực tiễn Nhiệm vụ này được người học thực hiện với tính tự lực cao trong toàn bộ quá trình học tập, từ xác định mục đích, lập kế hoạch đến việc thực hiện dự án, thu thập thông tin, phân tích dữ liệu, kiểm tra, điều chỉnh, đánh giá quá trình và kết quả…Làm việc nhóm là dạng
tổ chức hoạt động chủ yếu của dạy học dự án
Dạy học theo dự án có các đặc điểm: định hướng thực tiễn, định hướng
HS (hối thúc hành động), định hướng sản phẩm
Có thể tổ chức dạy học theo dự án với trình tự sau:
+ Lựa chọn đề tài và xác định mục đích của dự án Đây là công đoạn đầu tiên rất quan trọng Trong giai đoạn này, giáo viên và học sinh cùng nhau
đề xuất, xác định đề tài và mục đích của dự án
+ Xây dựng kế hoạch thực hiện Dưới sự hướng dẫn của giáo viên, học sinh xây dựng kế hoạch thực hiện dự án, trong đó cần xác định những công việc cần làn, thời gian dự kiến, vật liệu, kinh phí, phương pháp tiến hành và phân công công việc trong nhóm
+ Thực hiện dự án: Các thành viên thực hiện kế hoạch đề ra, trong đó học sinh cần kết hợp các hoạt động trí tuệ với hoạt động thực tiễn, thực hành như thu thập thông tin qua báo chí, Internet, thư viện, thực nghiệm, quan sát;
xử lí thông tin, thảo luận trong nhóm, trao đổi, xin ý kiến giáo viên
Trang 30+ Thu thập kết quả và công bố sản phẩm: học sinh cần tập hợp tất cả các kết quả thành một sản phẩm cuối cùng Kết quả dự án có thể trình bày bằng nhiều hình thức khác nhau như báo cáo, thu hoạch, đóng kịch…
+ Đánh giá dự án
Giáo viên và học sinh đánh giá quá trình thực hiện và kết quả đạt được,
từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm
Dạy học theo dự án góp phần gắn lí thuyết với thực tiễn, tư duy và hành động, nhà trường và xã hội, kích thích động cơ và hứng thú của người học Đồng thời dạy học theo dự án còn góp phần phát huy tính tích cực, tính trách nhiệm sáng tạo, bền bỉ kiên nhẫn trong công việc của học sinh Song để vận dụng dạy học theo dự án trong môn học GV cần lựa chọn nội dung phù hợp
và hướng dẫn học sinh chuẩn bị chu đáo [6.tr.52]
1.1.3.5 Kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động và tổ chức rút kinh nghiệm
Trước yêu cầu đổi mới căn bản toàn diện giáo dục Việt Nam hiện nay
“đổi mới kiểm tra, đánh giá được xác định là khâu đột phá trong đổi mới giáo dục” Thực tế, từ trước đến nay trong mục tiêu của mỗi bài học đều bao gồm đầy đủ yêu cầu về kiến thức, kĩ năng, thái độ, nhưng trong quá trình dạy - học giáo viên chỉ chú trọng mục tiêu về kiến thức vì thi cử chủ yếu thiên về kiểm tra kiến thức sách vở, hàn lâm, không chú ý đến kiểm tra, đánh giá năng lực của học sinh, không kiểm tra xem các em đã đạt được kĩ năng gì trong quá trình học tập cũng như năng lực ứng dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn cuộc sống ra sao Học sinh cũng không có cơ hội được bày tỏ chính kiến, quan điểm, tình cảm cũng như thái độ của mình trước những vấn đề nảy sinh trong học tập cũng như trong cuộc sống thực tiễn Cách kiểm tra, đánh giá như vậy kéo dài ảnh hưởng không nhỏ đến cách dạy, cách học và chất lượng giáo dục Vì vậy, phương án đổi mới kiểm tra, đánh giá chú trọng đến năng lực của học sinh triển khai sẽ là bước đột phá để khắc phục những hạn chế này Đồng thời, sẽ giúp cho việc dạy học gắn với cuộc sống thực tiễn hơn Xu
Trang 31hướng đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh tập trung vào các hướng sau:
Một là chuyển từ chủ yếu đánh giá kết quả học tập cuối môn học, khóa
học (đánh giá tổng kết) nhằm mục đích xếp hạng, phân loại sang sử dụng các loại hình thức đánh giá thường xuyên, đánh giá định kỳ sau từng chủ đề, từng chương nhằm mục đích phản hồi điều chỉnh quá trình dạy học (đánh giá quá trình);
Hai là chuyển từ chủ yếu đánh giá kiến thức, kỹ năng sang đánh giá
năng lực của người học Tức là chuyển trọng tâm đánh giá chủ yếu từ ghi nhớ, hiểu kiến thức sang đánh giá năng lực vận dụng, giải quyết những vấn đề của thực tiễn, đặc biệt chú trọng đánh giá các năng lực tư duy bậc cao như tư duy sáng tạo
Ba là chuyển đánh giá từ một hoạt động gần như độc lập với quá trình
dạy học sang việc tích hợp đánh giá vào quá trình dạy học, xem đánh giá như
là một phương pháp dạy học
Bốn là tăng cường sử dụng công nghệ thông tin trong kiểm tra, đánh
giá: sử dụng các phần mềm thẩm định các đặc tính đo lường của công cụ (độ tin cậy, độ khó, độ phân biệt, độ giá trị) và sử dụng các mô hình thống kê vào
xử lý phân tích, lý giải kết quả đánh giá
Với những xu hướng trên, đánh giá kết quả học tập các môn học, hoạt động giáo dục của học sinh ở mỗi lớp và sau cấp học trong bối cảnh hiện nay cần phải:
- Dựa vào cứ vào chuẩn kiến thức, kĩ năng (theo định hướng tiếp cận năng lực) từng môn học, hoạt động giáo dục từng môn, từng lớp; yêu cầu cơ bản cần đạt về kiến thức, kĩ năng, thái độ (theo định hướng tiếp cận năng lực) của học sinh của cấp học
Trang 32- Phối hợp giữa đánh giá thường xuyên và đánh giá định kì, giữa đánh giá của giáo viên và tự đánh giá của học sinh, giữa đánh giá của nhà trường và đánh giá của gia đình, cộng đồng
- Kết hợp giữa hình thức đánh giá bằng trắc nghiệm khách quan và tự luận nhằm phát huy những ưu điểm của mỗi hình thức đánh giá này
- Có công cụ đánh giá thích hợp nhằm đánh giá toàn diện, công bằng, trung thực, có khả năng phân loại, giúp giáo viên và học sinh điều chỉnh kịp thời việc dạy và học
Việc đổi mới công tác đánh giá kết quả học tập môn học của giáo viên được thể hiện qua một số đặc trưng cơ bản sau:
- Xác định được mục đích chủ yếu của đánh giá kết quả học tập là so sánh năng lực của học sinh với mức độ yêu cầu của chuẩn kiến thức và kĩ năng (năng lực) môn học ở từng chủ đề, từng lớp học, để từ đó cải thiện kịp thời hoạt động dạy và hoạt động học
- Tiến hành đánh giá kết quả học tập môn học theo ba công đoạn cơ bản
là thu thập thông tin, phân tích và xử lý thông tin, xác nhận kết quả học tập và
ra quyết định điều chỉnh hoạt động dạy, hoạt động học
Cần sử dụng phối hợp các hình thức, phương pháp kiểm tra, đánh giá khác nhau Kết hợp giữa kiểm tra miệng, kiểm tra viết và bài tập thực hành Kết hợp giữa trắc nghiệm tự luận và trắc nghiệm khách quan Hiện nay ở Việt Nam có xu hướng chọn hình thức trắc nghiệm khách quan cho các kỳ thi tốt nghiệp hay thi tuyển đại học Trắc nghiệm khách quan có những ưu điểm riêng cho các kỳ thi này Tuy nhiên trong đào tạo thì không được lạm dụng hình thức này Vì nhược điểm cơ bản của trắc nghiệm khách quan là khó đánh giá được khả năng sáng tạo cũng như năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp
1.1.4 Nội dung giáo dục ý thức chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc trong dạy học Lịch sử ở trường phổ thông
Nhận thức được tầm quan trọng biển, đảo của Tổ quốc đối với lịch sử dân tộc và thời đại ngày nay, với chức năng và nhiệm vụ giáo dục của nhà
Trang 33trường phổ thông nói chung và bộ môn Lịch sử nói riêng góp phần quan trọng trong việc giáo dục ý thức chủ quyền biển đảo cho học sinh với những nội dung chủ yếu sau:
1.1.4.1 Bằng chứng lịch sử, cơ sở pháp lý khẳng định chủ quyền biển, đảo của Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa giai đoạn 1956 –
1975
Biển Đông đối với Việt Nam có một tầm quan trọng về an ninh quốc phòng, phát triển kinh tế và vận tải biển Khu vực Biển Đông và các hải đảo bao quanh bờ biển Việt Nam chạy dài từ Móng Cái đến tận mũi Cà Mau và đến Hà Tiên trong khu vực vịnh Thái Lan tạo thành một vành đai bảo vệ cho dải đất Việt Nam cong cong hình chữ S, mà có người cho rằng cứ như thể đất
mẹ Việt Nam phải oằn lưng chịu đựng gánh nặng suốt nhiều ngàn năm của người hàng xóm khổng lồ Trung Quốc
Xét riêng hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Việt Nam có nhiều bằng chứng lịch sử chứng minh việc thực thi chủ quyền liên tục nhiều thế kỉ trong quá khứ Tuy nhiên, Trung Quốc lại viện nhiều lý lẽ, tiến tới thực hiện chiến lược hải dương của họ, nhằm thỏa mãn tham vọng chiếm phần lớn Biển Đông để khai thác tài nguyên và thao diễn quân sự Tham vọng của Trung Quốc đe dọa đến an ninh không những Việt Nam mà còn của các nước khác trong vùng Những lý lẽ hiển nhiên khẳng định chủ quyền của Việt Nam, tuy vậy, vẫn còn chưa được quảng bá rộng khắp của nhân dân Việt Nam và nhân dân thế giới so với tốc độ và khối lượng những lý lẽ ngụy biện mà các giới ở Trung Quốc vẫn đang từng ngày từng giờ đưa ra thế giới
Từ khi kí với triều đình nhà Nguyễn Hiệp ước 6.6.1884, Pháp đại diện quyền lợi của Việt Nam trong quan hệ đối ngoại cũng như việc bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam Trong khuôn khổ sự cam kết chung
đó, Pháp tiếp tục thực hiện chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
Trang 34Các pháp hạm của Pháp thường xuyên tiến hành tuần tiễu trong vùng Biển Đông, kể cả Hoàng Sa và Trường Sa
Năm 1899 toàn quyền Đông Dương Paul Doumer đề nghị với Paris xây tại đảo Hoàng Sa trong quần đảo Hoàng Sa một cây đèn biển để hướng dẫn các tàu biển qua lại vùng này, nhưng kế hoạch không thực hiện được vì thiếu ngân sách
Từ năm 1920, Viện Hải dương học Nha Trang cử tàu De Lanessan ra khảo sát ở quần đảo Hoàng Sa về hải dương học Ngoài A.Krempf, Giám đốc Viện Hải dương học, còn có các nhà khoa học khác như Delacour, Jabouille nghiên cứu về địa chất, về sinh vật v.v
Cũng trong năm 1925, ngày 3 tháng 3, Thượng thư Bộ Binh của Triều đình Huế Thân Trọng Huề lại khẳng định Hoàng Sa là lãnh thổ Việt Nam
Năm 1927 tàu De Lanessan ra khảo sát khoa học quần đảo Trường Sa Năm 1929 phái đoàn Perrier – De Rouville đề nghị đặt 4 cây đèn biển ở
4 góc của quần đảo Hoàng Sa
Từ 13.4.1930, đến 12.4.1993, chính phủ Pháp đã cử các đơn vị hải quân lần lượt ra đóng các đảo chính trong quần đảo Trường Sa: Trường Sa, An Bang, Itu Aba, nhóm Song Tử, Loại Ta và Thị Tứ
Năm 1937, nhà đương cục Pháp cử kĩ sư công chính Gauthier ra quần đảo Hoàng Sa nghiên cứu chỗ xây dựng đèn biển, lập bãi thủy phi cơ
Ngày 29.3.1938, vua Bảo Đại ký Dụ tách quần đảo Hoàng Sa khỏi địa hạt tỉnh Nam Nghĩa đặt vào tỉnh Thừa Thiên
Ngày 15.6.1938 toàn quyền Đông Dương Jules Brévié ký Nghị định thành lập một đơn vị hành chính tại quần đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Thừa Thiên
Năm 1938, Pháp dựng bia chủ quyền, xây dựng xong đèn biển, trạm khí tượng, đài vô tuyến điện ở đảo Hoàng Sa, trong quần đảo Hoàng Sa, xây dựng trạm khí tượng, đài vô tuyến điện ở đảo Itu Aba trong quần đảo Trường
Sa
Trang 35Suốt trong thời gian đại diện Việt Nam về mặt đối ngoại, Pháp luôn luôn khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và phản kháng những hành động xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam ở hai quần đảo đó như:
Ngày 4.12.1931 và ngày 24.4.1932, Pháp phản kháng chính phủ Trung Quốc về việc chính quyền Quảng Đông lúc đó có ý định cho đấu thầu khai thác phân chim trên quần đảo Hoàng Sa
Ngày 24.7.1933, Pháp thông báo cho Nhật việc Pháp đưa quân ra đóng các đảo chính trong quần đảo Trường Sa
Ngày 4.4.1939, Pháp phản kháng Nhật đặt một số đảo trong quần đảo Trường Sa thuộc quyền tài phán của Nhật [22.tr 26-30]
Trong hoàn cảnh lịch sử cuối năm 1946 đầu năm 1947, mặc dù Việt Nam đã tuyên bố độc lập ngày 2/9/1945, không còn ràng buộc vào hiệp Định Patenotre 1884, song Pháp cho rằng theo Hiệp định sơ bộ ngày 6/3/1946, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa còn nằm trong khối Liên hiệp Pháp, về ngoại giao vẫn thuộc Pháp, nên Pháp có nhiệm vụ thực thi quyền đại diện Việt Nam trong vấn đề chống lại mọi xâm phạm chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa
Theo Hiệp định ngày 8/3/1949, Pháp dựng nên chính quyền thân pháp, gọi là Quốc gia Việt Nam do Bảo Đại đứng đầu; tuy nhiên, trong thực tế quân đội Pháp vẫn làm chủ Biển Đông, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
Ngày 20/7/1954, Hiệp Định Genève được ký kết đã công nhận một nước có nền độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và thống nhất Điều 1 của Hiệp định đã quy định lấy sông Bến Hải (vĩ tuyến 17) làm giới tuyến tạm thời
để phân chia quyền quản lý lãnh thổ giữa 2 miền Nam-Bắc Việt Nam Giới tuyến tạm thời này cũng được kéo dài bằng một đường thẳng từ bờ biển ra
Trang 36ngoài khơi (Điều 4) Quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa nằm dưới vỹ tuyến 17 nên thuộc quyền quản lý của chính quyền miền Nam Việt Nam
Tháng 4/1956, khi quân đội viễn chinh pháp rút khỏi Đông Dương, Quân đội Quốc gia Việt Nam, về sau là Việt Nam Công hòa, đã ra tiếp quản nhóm phía Tây quần đảo Hoàng Sa
Trước những hành động xâm chiếm một số đảo ở quần đảo Hoàng Sa
và Trường Sa do Trung Quốc và Philippines tiến hành vào thời điểm giao thời này, Chính phủ Viêt Nam Cộng hòa lên tiếng phản đối Ngày 24/5 và ngày 8/6/1956, Việt Nam Cộng hòa ra Thông cáo nhấn mạnh quần đảo Hoàng Sa cùng với quần đảo Trường Sa “luôn luôn là một phần của Việt Nam” và tuyên
bố khẳng định chủ quyền từ lâu đời của Việt Nam Ngày 22/8/1956, tàu
HQ-04 của Hải quân Việt Nam Cộng hòa ra quần đảo Trường Sa cắm bia chủ quyền, dựng cờ, bảo vệ quần đảo trước hành động xâm chiếm trái phép, vi phạm chủ quyền Việt Nam của Đài Loan và Philippines Ngày 20/10/1956, bằng Sắc lệnh 143/VN, Việt Nam Cộng hòa đặt quần đảo Trường Sa trực thuộc tỉnh Phước Tuy Năm 1960, Việt Nam Cộng hòa bổ nhiệm ông Nguyễn
Bá Thược, cán bộ hành chính hạng I tại Tam Kỳ, Quảng Nam, giữ chức Phái viên hành chính Hoàng Sa Ngày 13/7/1971, tại Hội nghị ASOEC Manila, Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Cộng hòa Trần Văn Lắm đã tuyên bố khẳng định quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam…
Từ 17/1 dến 20/1/1974, Trung quốc huy động lực lượng quân sự đánh chiếm nhóm phía Tây quần đảo Hoàng Sa Mặc dù đã chiến đấu quả cảm, song Quân lực việt Nam Cộng hòa đã không cảm phá được hành động xâm lược của Trung Quốc Cũng trong thời gian này, Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam đã tuyên bố nêu rõ lập trường của mình trước sự kiện này Ngày 14/2/1975, Việt Nam Cộng hòa tuyên bố Sách trắng
về chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường
Sa
Trang 37Ngày 5/4/1975, bộ Tư lệnh Hải quân nhân dân Việt Nam đã triển khai
kế hoạch tiếp quản quần đảo Trường Sa theo chủ trương của Bộ chính trị và chỉ thị của Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam Từ ngày 13 đến 28/4/1975, các lực lượng quân đội nhân dân Việt Nam đã tiếp quản các đảo có Quân đội nhân dân Việt Nam Cộng hòa đóng giữ, đồng thời triển khai lực lượng đóng giữ các đảo, một số vị trí khác trọng quần đảo Trường Sa
Ngày 5/6/1975, Người phát ngôn Bộ Ngoại giáo chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam tuyên bố khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa [27.tr.39-42]
1.1.4.2 Một số vấn đề tranh chấp chủ quyền biển, đảo trên biển Đông giữa Việt Nam và các quốc gia khác trong khu vực
Biển Việt Nam là một bộ phận không tách rời và chiếm vị trí trọng yếu trong bình đồ Biển Đông - một khu vực địa lý giàu tài nguyên thiên nhiên, nhưng cũng chứa đựng nhiều mâu thuẫn lợi ích liên quan đến các tranh chấp chủ quyền biển, đảo phức tạp và kép dài trong lịch sử
Trung Quốc
Đối với quần đảo Hoàng Sa, Trung Quốc đã nhảy vào tranh chấp chủ quyền lãnh thổ với Việt Nam vào đầu thế kỷ thứ XX (năm 1909), mở đầu là
sự kiện Đô đốc Lý Chuẩn chỉ huy 3 pháo thuyền ra khu vực quần đảo Hoàng
Sa của Việt Nam, đổ bộ chớp nhoáng lên đảo Phú Lâm, sau đó phải rút lui vì
sự hiện diện của Quân đội viễn chinh Pháp với tư cách là lực lượng được chính quyền Pháp, đại diện cho nhà nước Việt Nam, giao nhiệm vụ bảo vệ, quản lý quần đảo này
Năm 1946, lợi dụng việc giải giáp quân đội Nhật Bản thua trận, chính quyền Trung Hoa Dân quốc đưa lực lượng ra chiếm đóng nhóm phía Đông Hoàng Sa Khi Trung Hoa Dân quốc bị đuổi khỏi Hoa lục, họ phải rút luôn số quân đang chiếm đóng ở quần đảo Hoàng Sa
Trang 38Năm 1956, lợi dụng tình hình quân đội Pháp rút khỏi Đông dương theo quy định của Hiệp định Genève và trong khi chính quyền nam Việt Nam chưa kịp tiếp quản quần đảo Hoàng Sa, Cộng hòa nhân dân Trung Hoa đã đưa quân
ra chiếm đóng nhóm phía Đông Hoàng Sa
Năm 1947, lợi dụng Quân đội Việt Nam Cộng hòa đang trên đà sụp đổ, quân viễn chinh Mỹ buộc phải rút khỏi miền Nam Việt Nam, Cộng hòa nhân dân Trung Hoa lại huy động lực lượng quân đội ra xâm chiếm nhóm phía Tây Hoàng Sa đang do quân đội Việt Nam Cộng hòa nắm giữ
Đối với quần đâỏ Trường Sa, phía Trung Quốc đã nhảy vào tranh chấp chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa từ những năm 30 của thế kỷ trước, mở đầu bằng một công hàm của Công sứ Trung Quốc ở Paris gửi cho bộ Ngoại giao Pháp khẳng định “các đảo Nam Sa là bộ phận lãnh thổ Trung Quốc”
Năm 1946, quân đội Trung Hoa Dân quốc xấm chiếm đảo Ba Bình Năm 1956, quân đội Đài Loan chiếm đảo Ba Bình
Năm 1988, Cộng hòa nhân dân Trung Hoa huy động lực lượng đánh chiếm 6 vị trí, là những bãi cạn nằm về phía Tây Bắc Trường Sa, ra sức xây dựng, nâng cấp, biến các bãi cạn này thành các điểm đóng quân kiên cố, như những pháo đài trên biển
Như vậy, tổng số đảo, đá, bãi cạn mà phía Trung Quốc (kể cả Đài Loan) đã dùng sức mạnh để đánh chiếm ở quần đảo Trường Sa cho đến nay là
9 vị trí Trung Quốc chiếm đóng 7 thực thể địa lý; tất cả đều là rạn san hô Đài Loan chiếm đóng đảo Ba Bình là đảo lớn nhất của quần đảo Trường Sa và mở rộng thêm 1 bãi cạn rạn san hô
Philippines
Philippines bắt đầu tranh chấp chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa bằng sự kiện Tổng thống Quirino tuyên bố rằng quần đảo Trường Sa phải thuộc về Philippines vì nó ở gần Philippines Từ năm 1971 đến năm 1973, Philippines đưa quân chiếm đóng 5 đảo, năm 1977 – 1978, chiếm thêm 2 đảo; năm 1979, công bố Sắc lệnh của Tổng thống Marcos ký ngày 11/6/1979 gộp
Trang 39toàn bộ quần đảo Trường Sa, trừ đảo Trường Sa, vào một đơn vị hành chính, gọi là Kalayaan thuộc lãnh thổ Philippines Năm 1980, Philippines chiếm đóng thêm một đảo nữa nằm về phía Nam Trường Sa, đó là đảo Công Đo… Đến nay, Philippines đã chiếm đóng 10 vị trí trong quần đảo này, gồm 7 đảo,
đá san hô và 3 bãi cạn, rạn san hô
Malaysia
Malaysia mở đầu bằng sự việc Sứ quán Malaysia ở Sài Gòn, ngày 03/02/1971, gửi Công hàm cho bộ ngoại giao Việt Nam Cộng hòa hỏi rằng quần đảo Trường Sa hiện thời thuộc nước Cộng hòa Morac Songhrati Mead
có thuộc lãnh thổ Việt Nam Cộng hòa hay Việt Nam cộng hòa có yêu sách đối với quần đảo đó không? Ngày 20/4/1971, Việt Nam Cộng hòa trả lời rằng quần đảo Trường Sa thuộc lãnh thổ Việt Nam, mọi xâm phạm chủ quyền Việt Nam ở quần đảo này đều bị coi là vi phạm pháp luật quốc tế Tháng 12/1979, chính phủ Malaysia xuất bản bản đồ gộp vào lãnh thổ Malaysia khu vực phía Nam Trường Sa, bao gồm đảo an Bang và Thuyền Chài đã từng do quân đội Việt Nam Cộng hòa đóng giữ Năm 1983 – 1984, Malaysia cho quân chiếm đóng 3 bãi đá ngầm ở phía Nam Trường Sa là Hoa Lau, Kiệu Ngựa, Kỳ Vân Năm 1988, họ đóng thêm 2 bãi ngầm nữa là Én Đất và Thám Hiểm Đến nay,
số điểm đóng quân của Malaysia lên đến 7 điểm nằm ở phía Nam Trường Sa, tất cả đều là những rạn san hô
Brunei
Brunei tuy được coi là một bên tranh chấp liên quan đến khu vực quần đảo Trường Sa, nhưng trong thực tế Brunei chưa chiếm đóng một vị trí cụ thể nào Yêu sách của họ là ranh giới vùng biển và thềm lục địa được thể hiện
trên bản đồ có phần chồng lấn lên khu vực phía Nam Trường Sa[27.tr.44-46]
Anh và Nhật trước chiến tranh thế giới thứ II
Trang 40Tuy Anh và Nhật hiện nay không phải là các bên tranh chấp hai quần đảo, nhưng trước chiến tranh thế giới thứ II các nước này có dính líu đến hai quần đảo
Nước Anh: Có quan tâm ít nhiều đến quần đảo Trường Sa Sau đó, Chính phủ Anh đã quyết định từ bỏ yêu sách của họ trên các đảo này do chúng chỉ dựa trên cơ sở hành động mang tính cá nhân và nước Anh không có một hành động sử dụng thực tế nào ở một trong hai đảo nhỏ (Trường Sa, An Bang)
Nước Nhật: Sau khi Pháp chiếm Trường Sa năm 1933, Chính phủ Nhật phản kháng Chính phủ Pháp Các cuộc trao đổi về yêu sách của Nhật Bản đã được tiến hành Trong quá trình trao đổi ở Paris giữa ông Sato, Đại sứ Nhật
và phía Pháp tháng 8/1934 thể hiện rõ là Chính phủ Nhật không khăng khăng giữ thái độ của mình và vụ việc có thể coi như đã được giải quyết
Ngày 30/3/1939, để xây dựng các căn cứ cho chiến tranh, Nhật Bản chiếm các đảo “nằm ngoài khơi Đông Dương” và đặt chúng dưới quyền quản
lý hành chính của Kao Hùng (Đài Loan), lãnh thổ của Vương quốc mặt trời mọc Và việc sáp nhập các đảo và địa hạt Kao Hùng (Đài Loan) là phi pháp ngày từ gốc, và chúng không thể trở thành lãnh thổ của Trung Quốc Việc Trung Quốc viện dẫn hành động sáp nhập để yêu cầu quần đảo là không có cơ
sở trong luật pháp quốc tế [28]
1.1.4.3 Giáo dục cho học sinh ý thức về những giá trị, tiềm năng kinh tế - xã hội của biển, đảo đối với công cuộc xây dựng và phát triển đất nước
Biển gắn bó với bao thế hệ người Việt, là không gian sinh tồn và phát triển của dân tộc ta, là chỗ dựa sinh kế cho hàng triệu người dân Việt Nam từ xưa đến nay Trong vùng “biển bạc”, mỗi hòn đảo không chỉ như những thòi
“vàng xanh” mà còn là một “cột mốc chủ quyền” tự nhiên của quốc gia Biển thiêng liêng là vậy, vì thế bảo vệ và phát triển vì sự trường tồn của biển, đảo quê hương là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn Quân và toàn Dân ta