Bài tập:Câu 1: Tìm hiểu phân loại dự án đầu tư theo quy mô và tính chất. Tìm ví dụ và phân loại từng dự án mô tả dự án, chủ đầu tư, tổng mức đầu tư, thời gian đầu tư, nguồn vốn). Câu 2: Hình thức đầu tư hỗn hợp, hợp tác công tư PPP là như thế nào? Cho ví dụ các loại hợp tác công tư. Câu 3: Tìm dự án của Doanh nghiệp, trả lời 4 câu hỏi trong bài học.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA QUẢN TRỊ -o0o -
Trang 32019-Nhận xét của giảng viên hướng dẫn
Bài tập:
Trang 4Câu 1: Tìm hiểu phân loại dự án đầu tư theo quy mô và tính chất Tìm ví dụ và phân loại
từng dự án mô tả dự án, chủ đầu tư, tổng mức đầu tư, thời gian đầu tư, nguồn vốn)
Câu 2: Hình thức đầu tư hỗn hợp, hợp tác công tư PPP là như thế nào? Cho ví dụ các loại
hợp tác công tư
Câu 3: Tìm dự án của Doanh nghiệp, trả lời 4 câu hỏi trong bài học.
Đáp án:
Câu 1:
A Phân loại dự án đầu tư theo quy mô và tính chất:
- Nhóm A: Là những dự án thuộc thẩm quyền của Bộ kế hoạch đầu tư quyết định.
- Nhóm B: Là những dự án thuộc thẩm quyền của Bộ, cơ quan ngang Bộ quyết
định
- Nhóm C: Là những dự án thuộc thẩm quyền của Sở kế hoạch và đầu tư quyết định.
B Ví dụ và phân loại từng dự án mô tả dự án, chủ đầu tư, tổng mức đầu tư, thời gian
đầu tư, nguồn vốn:
Nhóm
dự án
mức đầu tư
Thời gian đầu tư
thu xếp nguồnvốn theo hìnhthức BT
Thành và đấu nối
Tổng công tyTruyền tảiđiện Quốc gia
Trang 51 Dự án tại địa bàn có di tích quốc gia đặc biệt.
2 Dự án tại địa bàn đặc biệt quan trọng đối với quốc gia về quốc phòng,
an ninh theo quy định của pháp luật về quốc phòng, an ninh
3 Dự án thuộc lĩnh vực bảo vệ quốc phòng, an ninh có tính chất bảo
mật quốc gia
4 Dự án sản xuất chất độc hại, chất nổ
5 Dự án hạ tầng khu công nghiệp, khu chế xuất
Không phânbiệt tổng mứcđầu tư
4 Hóa chất, phân bón, xi măng
5 Chế tạo máy, luyện kim
6 Khai thác, chế biến khoáng sản
7 Xây dựng khu nhà ở
Từ 2.300 tỷđồng trở lên
Trang 66 Hóa dược.
7 Sản xuất vật liệu, trừ các dự án quy định tại điểm 4 Mục I.2
8 Công trình cơ khí, trừ các dự án quy định tại điểm 5 Mục I.2
9 Bưu chính, viễn thông
I.4
1 Sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản
2 Vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên
3 Hạ tầng kỹ thuật khu đô thị mới
4 Công nghiệp, trừ các dự án thuộc lĩnh vực công nghiệp
Từ 1.000 tỷđồng trở lên
I.5
1 Y tế, văn hóa, giáo dục;
2 Nghiên cứu khoa học, tin học, phát thanh, truyền hình;
3 Kho tàng;
4 Du lịch, thể dục thể thao;
5 Xây dựng dân dụng, trừ xây dựng khu nhà ở quy định tại Mục II.2
Từ 800 tỷđồng trở lên
Trang 7Câu 2:
A HÌNH THỨC ĐẦU TƯ HỖN HỢP PPP:
Cho đến nay không có một khái niệm chính xác tuyệt đối về hình thức hợp tác công
tư Một cách hiểu chung nhất thì hợp tác công tư hay đối tác công tư (Public – Private nership, viết tắt là PPP) mô tả mối quan hệ giữa Nhà nước và tư nhân trong việc xây dựng,phát triển cơ sở hạ tầng và các dịch vụ công trong một quốc gia Trong đó, Nhà nước baogồm Chính phủ, cơ quan trực thuộc Chính phủ như Bộ ngành, thành phố, doanh nghiệp nhànước Tư nhân là doanh nghiệp trong nước hoặc nước ngoài, các nhà đầu tư trong nước hoặcnước ngoài (có thể là cá nhân, tổ chức có chuyên môn về kỹ thuật, tài chính)
Part-Theo định nghĩa tại nghị định số 15/2015/ND-CP ngày 14/2/2015 “ Đầu tư theo hình
thức đối tác công tư là hình thức đầu tư được thực hiện trên cơ sở hợp đồng giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án để thực hiện quản lý, vận hành
dự án kết cấu hạ tầng, cung cấp dịch vụ công”.
Như vậy, đúng như tên gọi, nguyên lý của PPP là sự hợp tác giữa chính quyền và cácđối tác tư nhân để thiết kế, tài trợ xây dựng, quản lý, khai thác hoặc bảo tồn một dự án côngích PPP đòi hỏi phải có sự chia sẻ trách nhiệm, sở hữu và lợi ích giữa nhà nước và khu vực
tư nhân, với nhiều cách thức hợp tác trong nhiều lĩnh vực liên quan tới độc quyền tự nhiênnhư: cấp nước sạch, thoát nước và xử lý nước thải, giao thông, viễn thông, năng lượng và cảmột số lĩnh vực liên quan đến giáo dục và đào tạo
Trang 8Việt Nam cho đến nay vẫn chưa có luật riêng cho PPP, tuy nhiên đây là lĩnh vực đượcnhà nước quan tâm, định hướng thúc đẩy trong quá trình hoàn thiện nền kinh tế thị trườngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.
Luật và chính sách cho hình thức Hợp tác công tư ở Việt Nam được bắt đầu với Nghịđịnh số 77/CP ngày 18/6/1997 của Chính phủ về ban hành quy chế đầu tư theo hình thứcHợp đồng BOT áp dụng cho đầu tư trong nước; Sau đó là một loạt nghị định cho các hìnhthức PPP khác, cũng như những điều chỉnh sửa đổi, bao gồm: Nghị định số 62/1998/NĐ-CPngày 15/8/1998 về ban hành quy chế đầu tư theo Hợp đồng BOT, Hợp đồng BTO và Hợpđồng BT áp dụng cho đầu tư nước ngoài tại Việt Nam; Nghị định số 02/1999/NĐ-CP ngày27/01/1999 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của quy chế đầu tư theo Hợpđồng BO, Hợp đồng BTO, Hợp đồng BT áp dụng cho đầu tư nước ngoài tại Việt Nam; Nghịđịnh số 78/2007/NĐ-CP ngày 11/5/2007 của Chính phủ về đầu tư theo hình thức Hợp đồngBOT, Hợp đồng BTO, Hợp đồng BT; Nghị định số 108/2009/NĐ-CP ngày 27/11/2009 củaChính phủ về đầu tư theo hình thức Hợp đồng BOT, Hợp đồng BTO, Hợp đồng BT
Sau một thời gian thực hiện theo phương thức vừa học vừa làm đối với các dự án PPPtheo quyết định 71, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 15/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015
về đầu tư theo hình thức đối tác công tư và Nghị định số 30/2015/NĐ-CP ngày 17/03/2015quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đấu thầu về lựa chọn nhà đầu tư đã có hiệulực Như vậy, sau một thời gian thí điểm thực hiện các dự án theo mô hình PPP, Nghị định15/2015 được xem là một quy định về luật tương đối toàn diện thay thế cho các quy địnhpháp lý hiện hành đưa ra một khuôn khổ pháp lý thống nhất và rõ ràng nhằm thúc đẩy đầu tưkhu vực tư nhân vào các dự án hạ tầng và dịch vụ công tại Việt Nam
Một trong những khác biệt lớn giữa Nghị định 15 với các quy định trước đó về đầu tưtheo hình thức hợp đồng BOT, BTO và BT, là việc Nghị định 15 đã mở rộng thêm nhiều lĩnhvực đầu tư dành cho PPP, không chỉ hạn chế trong hạ tầng giao thông vận tải, điện, nước, y
tế, môi trường, mà còn trong các lĩnh vực như:
thống thu gom, xử lý nước thải, chất thải, nhà ở xã hội, nhà ở tái định cư, nghĩa trang;
và các dịch vụ liên quan; trụ sở làm việc của cơ quan nhà nước;
Trang 9 Công trình kết cấu hạ tầng thương mại, khoa học và công nghệ, khí tượng thủyvăn, khu kinh tế, khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu công nghệ thông tin tập trung;ứng dụng công nghệ thông tin;
kết sản xuất gắn với chế biến, tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp; - Các lĩnh vực khác theo quyếtđịnh của Thủ tướng Chính phủ
Nghị định 15 cũng đã chính thức qui định các hình thức hợp đồng đầu tư dự án nhưBOT, BTO và BT là hình thức PPP, (trước đó được qui định tại các văn bản khác nhau, thậmchí được coi là những hình thức đầu tư riêng biệt so với hình thức PPP đang trong giai đoạnthí điểm), chịu sự điều chỉnh thống nhất của cùng một luật định, từ Nghị định 15
Cùng với quá trình hoàn thiện thể chế, trên thực tế các loại dự án PPP ở Việt Nam baogồm:
Hợp đồng xây dựng - vận hành - chuyển giao (BOT): Là hợp đồng mà theo đó, đối tác
tư nhân sẽ bỏ vốn đầu tư ban đầu để xây dựng cơ sở hạ tầng mới của dự án, đối tác tư nhân
sẽ sở hữu toàn bộ tài sản trong thời gian vận hành dự án Đến cuối thời hạn của hợp đồng,quyền sở hữu tài sản sẽ được chuyển giao toàn bộ cho Nhà nước Theo hợp đồng này, đối tác
tư nhân phải gánh chịu mức độ rủi ro cao vì phải bỏ vốn đầu tư ban đầu Tuy nhiên, để giảmthiểu rủi ro và gánh nặng nợ cho đối tác tư nhân thì Chính phủ sẽ mua sản lượng đầu ra (lớnhơn hoặc bằng sản lượng hòa vốn) để bù đắp chi phí tối thiểu Hợp đồng này thường được ápdụng trong lĩnh vực xây dựng cầu đường, công trình thủy lợi…
Hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao - kinh doanh (BTO) là hợp đồng được ký kết giữa
cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng, saukhi hoàn thành công trình, nhà đầu tư chuyển giao cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền vàđược quyền kinh doanh công trình đó trong một thời hạn nhất định
Hợp đồng Xây dựng chuyển giao (BT): là hợp đồng dược ký kết giữa cơ quan nhà
nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng kết cấu hạ tầng, nhà đầu tư chuyển giao côngtrình đó cho nhà nước có thẩm quyền và được thành toán bằng quỹ đất để thực hiện dự án
Hợp đồng Xây dựng - Sở hữu - Kinh doanh (BOO): là hợp đồng được ký kết giữa cơ
quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để xây dựng kết cấu hạ tầng, sau khi hoàn thànhcông trình nhà đầu tư sở hữu và được quyền kinh doanh công trình đó trong một thời giannhất định
Ngoài ra còn có các loại hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao - Thuê dịch vụ (BTL)
Trang 10Trước khi có quyết định 71/2010/QĐ-TTg của Chính phủ về việc ban hành Quy chếThí điểm đầu tư theo hình thức PPP, có hiệu lực từ ngày 15/1/2011, hay nghị định số15/2015/NĐ-CP về đầu tư theo hình thức đối tác công tư và Nghị định số 30/2015/NĐ-CPngày 17/03/2015, trên thực tế Việt Nam đã có khá nhiều dự án áp dụng một số hình thức củaPPP như: Mô hình xây dựng - vận hành - chuyển giao (BOT); Mô hình xây dựng - chuyểngiao - vận hành (BTO) và mô hình xây dựng - sở hữu - vận hành (BOO) Trong đó, mô hìnhBOT được áp dụng khá phổ biến tại ngành giao thông đường bộ, xây dựng cơ sở hạ tầng, xâylắp điện…
Vai trò của PPP trong phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam
Theo thống kê của Ngân hàng Thế giới, trong giai đoạn 1994-2009 đã có 32 dự ánđược thực hiện theo mô hình PPP với tổng mức vốn cam kết khoảng 6,7 tỉ USD Trong đó
mô hình BOT và BOO là chủ yếu Hai lĩnh vực đầu tư chiếm tỷ trọng lớn nhất là điện vàviễn thông Từ những năm 1990 đến nay có khoảng 26 dự án thực hiện theo hình thức BOTvới tổng mức đầu tư là 128 ngàn tỷ đồng như: BOT cầu Cỏ May, BOT cầu Phú Mỹ, điện Phú
Mỹ, và rất nhiều nhà máy điện nhỏ và vừa khác đang được thực hiện theo phương thứcBOO
Theo thống kê của Cục đầu tư nước ngoài Bộ Kế hoạch và Đầu tư, trong năm
2010 tổng số dự án cấp mới được đầu tư trực tiếp từ nước ngoài là 969 dự án, trong đó theo
mô hình đầu tư BOT, BT, BTO có 6 dự án chiếm 1% trên tổng số dự án cấp mới Nhưng sốlượng dự án cấp mới chiếm 55% so với số dự án đầu tư theo hình thức BOT, BTO, BT là 11
dự án, chiếm, tỷ trọng cao nhất trong số tất cả các hình thức đầu tư Có rất nhiều dự án ápdụng mô hình BOT đã đem lại hiệu quả đáng khích lệ, đáp ứng mục tiêu đầu tư và giảmgánh nặng ngân sách cho Nhà nước Đặc biệt, các công trình giao thông trọng yếu và có vốnđầu tư lớn, như mở rộng Quốc lộ 1 đoạn Thanh Hóa – Cần Thơ, với chiều dài 1.319km thì có
606 km áp dụng hình thức BOT (chiếm gần 50%); Ngành Điện cũng là ngành có vốn đầu tưlớn được nhiều nhà đầu tư quan tâm, chẳng hạn như mới đây Tập đoàn Toyo Ink (Malaysia)
và Tổng cục Năng lượng đã ký biên bản phát triển Dự án BOT Nhiệt điện sông Hậu 2 vớicông suất dự kiến 2.000 MW, tổng vốn đầu tư dự kiến khoảng 3,5 tỷ USD, được xây dựngtại huyện Châu Thành, Hậu Giang Ngoài ra, theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn,
cả nước hiện có khoảng 500 hệ thống cấp nước sạch nông thôn trong khuôn khổ hợp tácPPP, cấp nước cho hơn 500.000 người dân Bên cạnh đó, số lượng, quy mô và vốn đầu tư tạicác dự án của khu vực tư nhân đang ngày càng tăng lên, điển hình như tỉnh Hà Nam có 11
DN, Thái Bình có 17 DN đăng ký đầu tư với tổng số vốn 1.085 tỷ đồng…
Trang 11Trong lĩnh vực phát triển hạ tầng giao thông, nhu cầu về vốn đầu tư của Việt Nam đếnnăm 2020 là rất lớn, trung bình hàng năm cần nguồn vốn đầu tư trên 117.000 nghìn tỷ đồng,xấp xỉ 7,4 tỷ USD Nhu cầu là lớn như vậy, nhưng khả năng đáp ứng của các nguồn vốn hiện
có cho đầu tư hạ tầng GTVT như: Ngân sách, ODA, trái phiếu chính phủ… chỉ đáp ứngkhoảng 20 – 30% nhu cầu Đó là chưa kể các nguồn phát sinh cho chi phí vận hành, bảo trìhằng năm… Trong tương lai gần, với những thay đổi không ngừng trong cơ cấu kinh tế, baogồm cả quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa và hội nhập toàn cầu, nhu cầu về các dịch vụ
cơ sở hạ tầng tại các lĩnh vực trọng yếu như giao thông vận tải ở Việt Nam sẽ tăng mạnh… Theo ước tính của Bộ GTVT thì tổng nhu cầu vốn đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giaothông Việt Nam giai đoạn 2016 - 2020 là khoảng 1.015.000 tỷ đồng (khoảng 48 tỷ USD).Trong đó, vốn đầu tư phân theo các lĩnh vực lần lượt là: Đường bộ khoảng 651.000 tỷ đồng,đường sắt khoảng 119.000 tỷ đồng, hàng không khoảng 101.000 tỷ đồng, hàng hải 68.000 tỷđồng và đường thủy nội địa hơn 33.000 tỷ đồng
Trong khi đó, khả năng đáp ứng nhu cầu từ nguồn ngân sách dự kiến của Bộ GTVTkhoảng 28%; còn theo hướng dẫn xây dựng Kế hoạch đầu tư công giai đoạn 2016 - 2020 của
Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH&ĐT) thì khả năng ngân sách đáp ứng chỉ khoảng 7% nhu cầu(66 nghìn tỷ đồng) Như vậy, theo ước tính của Bộ GTVT, khoảng hơn 300.000 tỷ đồng (14
tỷ USD) sẽ phải huy động từ nguồn ngoài ngân sách, đặc biệt là vốn đầu tư từ nước ngoàitheo cơ chế PPP
Theo thông tin của Vụ Đầu tư, Bộ Tài chính (tháng 12/2016) nhu cầu đầu tư của ViệtNam trong thời gian tới là khá lớn, giai đoạn 2016 -2020 vào khoảng 480 tỷ USD Trong đó,đầu tư vào 11 dự án nhà máy điện theo hình thức BOT, với công suất 13.200 MW, số vốnđầu tư khoảng 40 tỷ USD; khoảng 1.380 km đường bộ cao tốc với khoảng 11 tỷ USD; các dự
án về môi trường, y tế, giáo dục khoảng 29 tỷ USD
Trong bối cảnh kinh tế Việt Nam trong những năm qua đã có sự tăng trưởng cao sovới các nước trong cùng khu vực, thu nhập bình quân đầu người tăng lên… điều đó đồngnghĩa nguồn vốn vay ưu đãi ODA cho phát triển cơ sở hạ tầng, giao thông sẽ giảm đi Rõràng thúc đẩy PPP trong phát triển kinh tế xã hội nói chung và trong lĩnh vực hạ tầng giaothông là hết sức quan trọng
Một số rào cản trong hợp tác công tư ở Việt Nam
Trải qua hơn 20 năm triển khai PPP đã có được những đóng góp nhất định, tuy nhiêntrong thực tiễn triển khai cho thấy còn nhiều thách thức, nhiều rào cản cần vượt qua để nângcao hiệu quả và phát triển các hình thức PPP cho giai đoạn tới:
Trang 12Thứ nhất, còn nhiều rủi ro trong việc thực hiện các dự án PPP
Một trong những vấn đề phức tạp nhất của các dự án công - tư (PPP) là rủi ro và chia
sẻ rủi ro Rủi ro có nhiều loại không chỉ rủi ro về chính sách, thể chế, chính trị tỷ giá hốiđoái, rủi ro trong quá trình xây dựng Các dự án PPP trong giao thông và xây dựng cơ sở hạtầng về cơ bản là rất phức tạp, có sự tham gia của nhiều bên, tính rủi ro cao, thời gian kéodài, chi phí lớn…Vì vậy, việc các doanh nghiệp lựa chọn đầu tư dự án PPP hay không phụthuộc rất nhiều vào việc doanh nghiệp đó có khả năng đánh giá hiệu quả đầu tư, dự báo cácrủi ro trong quá trình thực hiện dự án để tối ưu hóa quản lý rủi ro, giảm thiểu rủi ro
Nghiên cứu về tình hình triển khai dự án PPP tại Việt Nam và các nước trong khu vựcĐông Nam Á, một số chuyên gia của OECD cho biết, thực tế cho thấy, nhà đầu tư tư nhânvẫn chưa thực sự mặn mà với dự án PPP Nguyên nhân là do có độ rủi ro cao, sự thay đổi vềchính sách, pháp luật… Phân loại rủi ro cấp quốc gia của OECD đối với các nước khu vựcĐông Nam Á, ông Knut Gummert - chuyên gia phân tích chính trị Ban Đông Nam Á củaOECD cho biết, Việt Nam ở mức rủi ro cao (mức 5), chỉ đứng trước Lào (mức 7) và Cam-puchia (mức 6) Trong khi đó, Singapore ở mức thấp nhất – mức 0, Brunei và Malaysia ởmức 2, mức 3 là các nước còn lại (Indonesia, Philippines, Thái Lan)
Bên cạnh đó, nếu thực hiện đầu tư các tuyến đường cao tốc bằng hình thức BOT thìnhà đầu tư cũng sẽ đối diện với nhiều yếu tố rủi ro như: chi phí đầu tư xây dựng cao, mức độtăng trưởng lưu lượng giao thông không ổn định (một phần do mức phí giao thông trên cáctuyến đường cao tốc hiện nay tương đối cao, các phương tiện lưu thông có thể phải cân nhắckhi lựa chọn lộ trình lưu thông) dẫn đến thời gian thu phí hoàn vốn kéo dài, hoặc không cókhả năng thu hồi vốn Với các dự án BT, hiện nay, phương án hoàn vốn đầu tư thông quaviệc trả bằng tiền ngân sách nhà nước không còn được phép áp dụng; chỉ được áp dụng hìnhthức hoàn vốn thông qua việc hoàn trả bằng quyền sử dụng đất để thực hiện dự án khác
Thứ hai, khó khăn lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án: Không chỉ về vấn đề hoàn
vốn, công tác lựa chọn nhà đầu tư cũng gặp phải một số khó khăn đối với cơ quan nhà nước
có thẩm quyền Đó là phải bố trí nguồn vốn để lập dự án đầu tư, lập hồ sơ mời thầu lựa chọnnhà đầu tư, chi phí tổ chức lựa chọn nhà đầu tư… Bên cạnh đó, hiện nay công tác lập hồ sơmời thầu lựa chọn nhà đầu tư cũng chưa có hướng dẫn và quy định cụ thể về các tiêu chí đểlựa chọn nhà đầu tư phù hợp về năng lực, kinh nghiệm cũng như có nhiều thế mạnh đặc thùđối với tính chất của mỗi dự án… Do đó, trên thực tế, cơ quan nhà nước có thẩm quyền cũngđang lúng túng trong việc xây dựng các tiêu chí lựa chọn nhà đầu tư khi lập hồ sơ mời thầu
Trang 13Hiện nay, khi xem xét năng lực tài chính để lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án, cơquan quản lý nhà nước thường xem xét việc đáp ứng nguồn vốn chủ sở hữu của nhà đầu tư,trong đó thực hiện việc đối chiếu, so sánh tổng nguồn vốn chủ sở hữu mà nhà đầu tư đang có(thể hiện trên báo cáo tài chính đã được kiểm toán) phải đáp ứng nguồn vốn chủ sở hữu đượcphân bổ vào các dự án đang và sẽ triển khai thực hiện Tuy nhiên, các nhà đầu tư thường chỉchuẩn bị nguồn vốn chủ sở hữu để đáp ứng thực hiện các dự án đang triển khai, rất ít nhà đầu
tư chuẩn bị sẵn nguồn vốn chủ sở hữu “để chờ” được thực hiện đầu tư các dự án tiếp theo.Việc chứng minh vốn chủ sở hữu do vậy gặp rất nhiều trở ngại
Ngoài ra, thẩm quyền thực hiện công tác thẩm tra, thẩm định và phê duyệt đối với cácbước thực hiện dự án có nhiều thay đổi và chưa được quy định thật sự rõ ràng Do đó cũnggây ra một số khó khăn, lúng túng trong việc tổ chức thực hiện của các nhà đầu tư cũng như
cơ quan nhà nước có thẩm quyền, đặc biệt đối với các dự án có thời gian thực hiện kéo dài,
dự án phải xử lý chuyển tiếp…
Ngoài ra, quy định về công tác giám sát nhà nước đối với các dự án BT, BOT đã được
đề cập tại Điều 47 và Điều 48 của Nghị định số 15/2015/NĐ-CP, tuy nhiên vẫn chưa rõ ràng
và cụ thể, dễ gây “dẫm chân” với công tác giám sát chất lượng công trình (do đơn vị tư vấngiám sát của nhà đầu tư thực hiện) Bên cạnh đó, định mức chi phí tổ chức thực hiện công tácgiám sát nhà nước chưa được ban hành, gây khó khăn khi tổ chức thực hiện
Thứ ba, khó khăn trong hoàn vốn đầu tư bằng thu phí giao thông: Đối với các dự án
giao thông, việc thu phí và đặt các trạm thu phí chưa hợp lý, gây búc xức trong dư luận xãhội như giai đoạn hiện nay
Thực tế hiện nay Chính phủ chưa có khung pháp lý nào điều chỉnh phí đường cao tốc,quy định phí và phương thức thu phí hoàn vốn cho đường thủy nội địa, hàng hải, hàngkhông, đường sắt, trong khi vẫn kêu gọi nhà đầu tư bỏ tiền vào các dự án đang thiếu vốn.Đây cũng chính là vấn đề được nhà đầu tư quan tâm hàng đầu bởi không có lời giải cụ thể vềviệc này thì hiệu quả kinh tế của dự án coi như không tính được, nhất là trong điều kiện cácrủi ro về pháp lý vẫn hiện hữu Hiện nay, mức phí các dự án PPP, trong đó chủ yếu là dướihình thức BOT, đều ràng buộc theo các hợp đồng riêng, dựa trên tính toán, đàm phán củaNhà nước với nhà đầu tư chứ chưa có một khung chuẩn nào cả Đối với doanh nghiệp đầu tư,mức phí là chỉ tiêu trọng yếu trong phương án tài chính của một dự án hạ tầng Thiếu nókhông có cơ sở để tính được các bài toán tiếp theo như lãi suất trên vốn, thời gian hoànvốn… Trong khi đó, theo quy định hiện hành, mặc dù mức phí đã có trong hợp đồng nhưnglại không có tính chất ràng buộc để thực hiện Mỗi khi điều chỉnh mức phí, doanh nghiệp
Trang 14phải trình Bộ Tài chính hoặc UBND tỉnh mà việc chấp thuận hay không nằm ngoài tầm kiểmsoát của doanh nghiệp, có thể dẫn đến đảo lộn vòng quay tài chính dự án
Thứ tư, thu hút đầu tư nước ngoài dưới hình thức PPP còn thấp, kém hiệu quả: trong
thời gian qua mô hình PPP đã thu hút được một số các nhà đầu tư lớn quan tâm tìm hiểu,song các ưu đãi, thỏa thuận giá đầu vào, lợi ích các bên chưa được làm rõ, mục tiêu dự áncòn chung chung dẫn đến khó triển khai dự án… Chính vì vậy, tỷ lệ các nhà đầu tư nướcngoài tìm hiểu rồi rời bỏ là khá cao như: Dự án nước sạch tại TP HCM do nhà đầu tưMalaysia hay dự án nhiệt điện từ than cám của nhà đầu tư Mỹ Hay như dự án phát triển điệngió Trong khi giá thành mỗi kw/h của điện gió vào khoảng 13 cent thì Chính phủ chỉ chấpnhận mua của các nhà đầu tư là 7 cent, cùng lắm cộng thêm 1 cent thành 8 cent… Trong giaiđoạn tới đây khi Việt Nam tham gia vào Cộng đồng kinh tế ASEAN và các Hiệp định tự dohóa thương mại thế hệ mới như FTA với EU và TPP, đang mở ra những triển vọng cho việcthúc đẩy PPP có sự tham gia của các nhà đầu tư nước ngoài
Thứ năm, việc huy động vốn cho các dự án PPP gặp nhiều khó khăn: Các nhà đầu tư
tham gia các dự án giao thông chủ yếu là các nhà đầu tư trong nước có năng lực tài chínhchưa mạnh, vay vốn chủ yếu trong nước nên có chỉ số tín nhiệm thấp Trong khi đó, để thựchiện các dự án đầu tư trong lĩnh vực hạ tầng giao thông đòi hỏi phải có nguồn vốn dài hạnbởi thời gian thu hồi vốn của các dự án này thường dài hơn so với các dự án khác Do vậy,đây là một khó khăn không nhỏ đối với các nhà đầu tư tư nhân
Việc huy động vốn dài hạn đang là một thách thức đối với nhà đầu tư trong nước và
cả ngân sách nhà nước Để có nguồn vốn dài hạn, trong điều kiện thị trường chứng khoánchưa phát triển, các nhà đầu tư tư nhân chủ yếu phải vay vốn của các ngân hàng thương mại,song thực tế ngân hàng thương mại Việt Nam lại rất hạn chế đối với những khoản vay dàihạn này, đặc biệt trong giai đoạn chính sách thắt chặt tiền tệ được áp dụng.Nếu có ngân hàngđều đòi hỏi điều kiện đảm bảo khoản vay rất chặt chẽ như bảo lãnh chính phủ Tuy nhiênhiện nay theo quy định của Chính phủ, Nhà nước không bảo lãnh các khoản vay thương mạitrong nước của doanh nghiệp Kênh huy động vốn dài hạn đặc biệt dành cho các nhà đầu tư
tư nhân trong lĩnh vực hạ tầng giao thông vẫn còn hạn chế
Bên cạnh đó, các nhà đầu tư trong nước cũng ít có kinh nghiệm đầu tư, quản lý, khaithác các dự án hợp tác công - tư (PPP), chưa am hiểu về đầu tư hợp tác công - tư (PPP), chưađánh giá được rủi ro nên triển khai còn vướng mắc Trong khi đó, các nhà đầu tư nước ngoàichưa tham gia các dự án này do một số quy định chưa phù hợp với thông lệ quốc tế
Trang 15Ngoài ra, sự thiếu thống nhất và chưa rõ ràng của hệ thống hành lang pháp lý cũng làmột hạn chế đối với việc thu hút vốn đầu tư ngoài ngân sách cho các dự án hạ tầng giaothông.
Cuối cùng, còn tồn tại một số vấn đề bất cập về chính sách, khuôn khổ luật trong triển khai thực hiện các dự án PPP:
Các hướng dẫn thực hiện được ban hành quá chậm Một số quy định chưa rõ như việcxác định lợi nhuận của nhà đầu tư, việc cụ thể hóa các chỉ tiêu tài chính khác, điều kiệnthanh toán dự án…
Quy trình, thủ tục thực hiện công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng và tái định tưcòn thiếu tính đồng bộ, thiếu phối hợp
Quy trình, thủ tục giao đất để thực hiện dự án còn rườm rà, mất rất nhiều thời gian,nhà đầu tư phải tự liên hệ và làm việc với rất nhiều Cơ quan nhà nước có liên quan
Việc kêu gọi đầu tư thực hiện theo hình thức BT trả bằng đất gặp khá nhiều khó khăn
do địa phương không có quỹ đất sạch dự trữ
Việc kêu gọi đầu tư thực hiện theo hình thức BT trả bằng tiền tạo thêm gánh nặng chongân sách địa phương
Chưa có "Đơn vị PPP" trung ương hoặc cơ quan trung ương có thẩm quyền để giảithích về tình trạng của các dự án ưu tiên và làm giảm bớt sự phức tạp của dự án với nhiều
“cửa” cấp phép và nhiều thời gian cần thiết để phát triển dự án
Bảo lãnh của chính phủ chưa rõ ràng, thời hạn chuyển giao các dự án BOT chưa đượcxác định, điều kiện chuyển giao quyền sở hữu khi kết thúc thời hạn của loại hình BOT
Mâu thuẫn giữa các văn bản pháp luật hiện hành (ví dụ như Nghị định về BOT, LuậtĐầu tư chung, Luật Thuế thu nhập Doanh nghiệp, Vai trò tương quan không rõ ràng của Luậtpháp Việt Nam và Quốc tế khi giải quyết tranh chấp, Thủ tục mua sắm phức tạp và lắt léo,bao gồm cả việc ký kết những hợp đồng qua thương lượng với các doanh nghiệp được ưutiên thay vì một hệ thống đấu thầu cạnh tranh công bằng và minh bạch
Tóm lại, từ lý luận và thực tiễn về phát triển các hình thức PPP cho thấy đây là
phương thức khá gần gũi với triết lý phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa của Việt Nam Trước hết là mục tiêu, đặt con người vào trung tâm của phát triển,hưởng thụ các dịch vụ tốt nhất về hạ tầng giao thông, năng lượng, môi trường, y tế, giáodục, đồng thời nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế, tạo tiền đề cho phát triển kinh
tế tư nhân và thu hút các nguồn lực từ bên ngoài Thứ hai, là việc sở hữu vẫn duy trì được
Trang 16sở hữu toàn dân hay công hữu, việc huy động tư nhân tham gia là để nâng cao hiệu quả củadịch vụ công cũng như hiệu quả của các nguồn lực mà không phải đặt ra vấn đề chuyển đổi
sở hữu Tiếp nữa, nhà nước đóng vai trò hết sức quan trọng trong dẫn dắt cuộc chơi, địnhhướng phát triển, mở rộng lĩnh vực phát triển, chia sẻ rủi ro nhằm đảm bảo hài hòa cả lợiích cộng đồng và lợi ích doanh nghiệp Đồng thời thông qua cơ chế này có thể tạo ra môitrường kinh doanh thuận lợi, phát huy vai trò của một chính phủ kiến tạo, góp phần pháttriển các doanh nghiệp tư nhân mạnh
Thực tiễn triển khai dự án PPP cho thấy đây là một quá trình vẫn đang tiếp tục vừatriển khai và vừa điều chỉnh, hoàn thiện, một bài toán có nhiều biến số, chịu nhiều tác động,
mà điều kiện thành công đòi hỏi phải có sự đồng thuận về chính trị xã hội cao, phải thực sựđưa dịch vụ công phục vụ lợi ích của người dân Về mặt kinh tế, đây cũng được xem nhưphải thực hiện đầy đủ các nguyên tắc của thị trường, có cạnh tranh, có chia sẻ lợi ích, giữamột bên là nhà nước, một bên là doanh nghiệp, và sự phức tạp là do sở hữu vẫn thuộc về nhànước, nhưng phải có lợi nhuận cho doanh nghiệp thì mới có thể triển khai được Trongtrường hợp không có sự công khai minh bạch và đánh giá giám sát chặt chẽ của pháp luật vàthể chế, thì đây lại là lĩnh vực rất dễ xảy ra tham nhũng, lợi ích nhóm
Các điều kiện tiên quyết để PPP thành công là phải tuân thủ nguyên tắc cạnh tranhcủa thị trường, phải có thiết kế thể chế và luật pháp phù hợp, trong đó giải quyết vai trò vừa
là chủ sở hữu vừa là một bên tham gia, có sự chia sẻ rủi ro giữa nhà nước và doanh nghiệp,đồng thời vì lợi ích người dân, có sự giám sát của xã hội
B CÁC VÍ DỤ VỀ HỢP TÁC CÔNG TƯ:
1) Hợp đồng xây dựng - vận hành - chuyển giao (BOT):
Nhà máy điện tuốc bin khí hỗn hợp có công suất 716,8 MW gần thị trấn Phú Mỹ đượcxây dựng theo mô hình BOT giữa Bộ Công nghiệp và công ty BOT Phú Mỹ 3, một công tyđược thành lập tại Việt Nam bởi các công ty BP Holdings BV (một đơn vị trực thuộc củahãng BP plc), SembCorpUtilities Private Limited, và tập đoàn gồmKyushuElectric PowerCo., Inc và Nissho Iwai Corporation Tổng công ty Điện lực Việt Nam sẽ mua điện do nhàmáy điện mới sản xuất theo một hợp đồng 20 năm Khi hợp đồng BOT chấm dứt, nhà máy sẽđược chuyển giao lại cho Chính phủ Việt Nam Trong hơn một thập kỉ qua, nhu cầu điện ởViệt Nam đã tăng tốc với tốc độ 14%/năm Nguồn cung cấp điện hiện nay của Việt Nam chủyếu dựa vào thủy điện, rất phụ thuộc vào thời tiết Vì vậy, cần có thêm nguồn từ các nhà máynhiệt điện khác như tuốc bin khí, Diesel để cung cấp nguồn điện và đảm bảo nhu cầu ngàycàng tăng Dự án này là một giải pháp thích hợp cho môi trường để giải quyết vấn dề cung
Trang 17cấp điện Nó sẽ cung cấp cho điện lưới quốc gia, cung như các khu vực sản xuất công nghiệp
và khu dân cư ở TPHCM (theo lời ông KurumiFu) trưởng ban dự án hỗ trợ của ngân hàngChâu á - ADB Như vậy, những khu vực được dự án cung cấp điện sẽ trở lên hấp dẫn hơnđối với các nhà đầu tư, từ đó kích thích tăng trưởng kinh tế và giúp giảm nghèo Đây là mộttrong những dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn nhất từ trước tới nay tại Việt nam với tổngchi phí dự án là 412 triệu USD (được bảo lãnh rủi ro chính trị từ hãng bảo hiểm Đầu tư vàXuất khẩu Nippon Export ) được đánh giá là sẽ mang lại nhiều lợi ích phát triển cho Việtnam, tạo công ăn việc làm và mua sắm hầu hết vật liệu xây dựng trong nước, đồng thời nhờ
có nguồn cung cấp điện tin cậy sẽ giúp thu hút thêm nguồn vốn đầu tư tư nhân để phát triển
cơ sở hạ tầng ở Việt Nam
Qua các dự án này cho thấy, hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản - yếu tốquyết định đến sự thành công trong việc thu hút vốn đầu tư tư nhân để bổ sung,
hỗ trợ cho sự thiếu hụt của vốn ngân sách, tăng tích lũy cơ bản, từ đó thúc đẩynền kinh tế phát triển đã từng bước được nâng cao, tạo ra môi trường đầu tư hấp dẫn
2) Hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao - kinh doanh (BTO):
Các nhà máy Thủy điện hiện nay đang được đầu tư chủ yếu theo hình thức này
3) Hợp đồng Xây dựng chuyển giao (BT):
Danh mục Dự án BT
STT Tên dựán của dự ánMục tiêu
Địa điểm
dự kiếnthực hiện
dự án
Tóm tắt các thông
số kỹ thuật chủyếu
Tổngvốn đầu
tư dựkiếnthựchiện dựán
Thông tin liên lạc với cơquan nhà nước có thẩm
“Di dời các trụ sở các bộngành ra khỏi khu vực nội đô
về các khu vực Tây Hồ Tây và Mễ
Khu Đô thị mớiTây
Hồ Tây – Thành phố
Hà nội
- Diện tích đất khoảng 2 ha đến 3ha;
- Diện tích sàn xây dựng khoảng 40.000m2;
- Số tầng cao từ 5-12 tầng; 1-2 tầng hầm;
- Chiều cao công
Tạm tính đến … 1.000 tỷ
Ban quản lý dự án Đầu
tư xây dựng Bảo tàng Lịch sử Quốc gia:
- Địa chỉ: Tầng 5, số 389 Đội Cấn - Quận Ba Đình
- Hà nội
- Số điện thoại: (04)22.958.731
- Số Fax: (04)62.733.530
Trang 18- Đường nội bộ
và các công trình phụ trợ
4) Hợp đồng Xây dựng - Sở hữu - Kinh doanh (BOO):
Trang 19Câu 3: DỰ ÁN THỰC TẾ PHÂN TÍCH DỰ ÁN XÂY DỰNG CĂN HỘ
I THÔNG TIN PHÁP LÝ KHU ĐẤT VÀ DỰ ÁN:
a Vị trí dự án
An, Thành phố Hải Phòng
-Khu đất có 2 mặt tiền đường Nguyễn Bỉnh Khiêm và đường Lê Hồng Phong
b Pháp lý Khu Đất
ngã 05 sân bay Cát Bi quản lý theo quyết định số 130/QĐ-TTg ngày 21/02/2000 của ThủTướng Chính Phủ với nội dung Khu Đất như sau:
Vị trí khu đất: Lô 01/8B, ………
ngày 10/04/2009 về việc thu hồi đất của Ban Quản lý Dự án Đầu tư phát triển hạ tầng kỹthuật Khu Đô thị mới ngã 05 sân bay Cát Bi giao cho Công ty C để thực hiện đầu tư xâydựng Dự án Khu Trung Tâm thương Mại Đa Chức Năng
c Hiện trạng Khu Đất
Trang 20-Về hiện trạng tài sản trên đất: Khu Đất đã được Công ty C nhận bàn giao từ Sở Tài
Nguyên và Môi Trường
-Về việc cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất: Hiện tiền sử dụng đất đã được Công ty
thực hiện đầy đủ nhưng vẫn chưa được cấp giấy Chứng nhận Quyền sử dụng đất
d Thông tin quy hoạch Dự án:
Căn cứ theo quyết định số 803/UBND-XD ngày 25/02/2009 và văn bản số
2588/UBND-XD ngày 03/06/2009 về việc thỏa thuận phương án quy hoạch kiến trúc và mặt bằng quyhoạch tổng thể trung tâm thương mại đa chức năng thì các thông số quy hoạch của Dự ánnhư sau:
Dự án đã được UBND Thành phố Hải Phòng cấp Giấy chứng nhận đầu tư lần đầu số
02121000054 ngày 16/4/2007, cấp đổi lần 1 ngày 18/01/2012, cấp đổi lần 2 ngày04/10/2013 bổ sung thêm chức năng căn hộ ở và thời hạn thuê đất từ 50 năm lên đến 70năm
f Pháp lý Dự án:
-Dự án đã được UBND Thành phố Hải Phòng cấp Giấy chứng nhận đầu tư lần đầu số
02121000054 ngày 16/4/2007, cấp đổi lần 1 ngày 18/01/2012, cấp đổi lần 2 ngày04/10/2013
-Dự án đã được cấp Giấy phép xây dựng số 28/GPXD ngày 19/04/2011 Giấy phép xây dựng
chỉ có thời hạn trong vòng 01 năm
g Các công tác đã thực hiện:
-Thực hiện và hoàn thành gói thầu khoan khảo sát địa chất công trình khu vực xây dựng dự
án với Trung tâm thí nghiệm kiểm định xây dựng LAS – XD 496 vào tháng 10/2009, lấy
dữ liệu phục vụ cho việc tư vấn thiết kế công trình;
-Đã tiến hành thực hiện gói thầu Tư vấn thiết kế công trình TTTM đa chức năng với Liên
danh Công ty CP tư vấn đầu tư và Xây dựng HUD – CIC & Công ty TNHH thiết kế toàncầu RDC – Singapore; đã hoàn thành hồ sơ thiết kế cơ sở công trình dự án vào tháng04/2010, tiến hành thẩm định Hồ sơ tại Sở Xây dựng Hải Phòng và đã được Sở Xây dựngHải Phòng có văn bản số 152/SXD – GĐKT ngày 12/11/2010 trả lời kết quả xem xét dự
án đầu tư xây dựng công trình;
-Đã được Phòng Cảnh sát PCCC – Công an thành phố Hải Phòng có văn bản chấp thuận địa
điểm đầu tư xây dựng công trình số 739/PC23 – KT ngày 26 /10/2009; đồng thời PhòngCảnh sát PCCC cũng đã đồng ý với phương án PCCC hạng mục kiến trúc của công trìnhTTTM đa chức năng tại công văn số 255/PC46 (KT) ngày 09/04/2012;