1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đặc điểm tiếng anh chuyên ngành dược học trong sự đối chiếu với tiếng việt tt

27 156 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 330,75 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án: i Mục đích nghiên cứu: Luận án đặt ra hai mục đích nghiên cứu cơ bản sau: Thứ nhất, phân tích bản chất và đặc điểm để tìm ra những đặc điểm

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại:

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

Người hướng dẫn khoa học: GS TS Hoàng Văn Vân

Phản biện 1: GS.TS Lê Quang Thiêm

Phản biện 2: GS TS Nguyễn Quang

Phản biện 3: PGS.TS Nguyễn Văn Chính

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện họp tại Học viện Khoa học Xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội

Việt Nam, 477 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội

vào hồi…giờ….phút, ngày….tháng….năm 2019

Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:

- Thư viện Quốc gia Việt Nam

- Thư viện Học viện Khoa học Xã hội

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Dược học trước đây từng là một bộ phận trong ngành Y học Song với sự phát triển như vũ bão của khoa học kĩ thuật trong thế giới hiện đại, Dược học đã nhanh chóng tách ra thành một ngành độc lập nhưng vẫn còn giữ mối liên hệ chặt chẽ với Y học, các ngành khoa học cơ bản và khoa học ứng dụng khác (Lê Văn Truyền, 2014) Ngành dược chuyên về bào chế, sản xuất các loại thuốc (hay còn gọi là dược phẩm) cũng như thực hiện việc khám chữa bệnh, phân phối thuốc và có trách nhiệm đảm bảo an toàn, hiệu quả của các loại dược phẩm Vì vậy, khả năng sử dụng tiếng Anh chuyên ngành thành thạo sẽ giúp những người làm trong ngành Y Dược có thể tiếp cận với tri thức cũng như với những tiến bộ của ngành một cách nhanh nhất Bàn về vai trò của tiếng Anh khoa học, Robert Goldbort (2006) khẳng định: “Tiếng Anh khoa học có ý nghĩa vô cùng to lớn trong cộng đồng các nhà nghiên cứu khoa học” Trên thực tế, những tài liệu nghiên cứu hay những phát minh, ứng dụng mới về dược học trên thế giới hầu hết đều được công bố bằng tiếng Anh Các nhà nghiên cứu ngôn ngữ chuyên ngành (ví

dụ, Halliday et al.,1964; Widdowson, 1979; Johns & Dudley-Evans, 1991)

cho rằng hiểu biết được những đặc điểm ngôn ngữ và văn bản của ngôn ngữ chuyên ngành sẽ giúp quá trình đọc hiểu được nhanh hơn, viết các bài viết

về chuyên ngành có hiệu quả hơn và dịch chuyên ngành từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ kia một cách chính xác hơn và thoát ý hơn Hơn nữa, hiện nay ở Việt Nam cũng như trên thế giới vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào phân tích, đối chiếu những đặc điểm của VBCNDH tiếng Anh với tiếng Việt dựa trên quan điểm ngôn ngữ học chức năng hệ thống Thực tế trên

đây là động lực chủ yếu để chúng tôi triển khai đề tài ĐẶC ĐIỂM TIẾNG ANH CHUYÊN NGÀNH DƯỢC HỌC TRONG SỰ ĐỐI CHIẾU VỚI TIẾNG VIỆT

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án: (i) Mục đích

nghiên cứu: Luận án đặt ra hai mục đích nghiên cứu cơ bản sau: Thứ nhất,

phân tích bản chất và đặc điểm để tìm ra những đặc điểm ngôn ngữ nổi trội trong văn bản chuyên ngành dược học (VBCNDH) tiếng Anh và tiếng Việt từ quan điểm ngữ pháp chức năng hệ thống của Halliday về phương diện ngữ

vực (Register) Thứ hai, đối chiếu những điểm tương đồng và khác biệt về

đặc điểm ngôn ngữ trong hai loại văn bản trên để tìm ra những nét tương

Trang 4

đồng và khác biệt về phương diện Trường, Không khí, và Cách thức, cụ thể là

về đặc điểm: Hệ thống chuyển tác, Tham thể/Chủ ngữ, thuật ngữ, cấu

trúc/dạng, thức, tình thái, đề ngữ, quy chiếu và liên kết logic; (ii) Nhiệm vụ

nghiên cứu: (i) Tổng quan tình hình nghiên cứu về ngôn ngữ chuyên

ngành, ngôn ngữ trong văn bản chuyên ngành y dược tiếng Anh và tiếng Việt trên thế giới và ở Việt Nam; (ii) Tổng quan những đặc điểm cơ bản về

cơ sở lý thuyết của Ngôn ngữ học chức năng hệ thống để xây dựng khung lí thuyết cho luận án ngữ vực; (iii) Sử dụng khung lí thuyết đã được thiết lập

để mô tả, phân tích các đặc điểm ngôn ngữ trong VBCNDH tiếng Anh và tiếng Việt trên quan điểm của Ngôn ngữ học chức năng hệ thống về phương diện Trường, Không khí và Cách thức; (iv) Đối chiếu đặc điểm ngôn ngữ trong VBCNDH tiếng Anh với tiếng Việt theo các phương diện đã nêu, từ

đó thiết lập những nét tương đồng và khác biệt trong hai ngôn ngữ; và (v) Kết luận chung về những đặc điểm ngôn ngữ nổi trội về đặc điểm Trường, Không khí, Cách thức trong VBCNDH tiếng Anh và tiếng Việt

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án: (i) Phạm vi nghiên

cứu của luận án gồm những đặc trưng về Trường, Không khí và Cách thức trong VBCNDH tiếng Anh và tiếng Việt; (ii) Đối tượng nghiên cứu là đặc điểm ngôn ngữ trong VBCNDH tiếng Anh và tiếng Việt; (iii) Nguồn ngữ liệu là

VBCNDH được thu thập từ Tạp chí chuyên ngành dược, cụ thể là: Tiếng Anh:

British Journal of Pharmaceutical Research (Tạp chí nghiên cứu Dược học

Anh); Tiếng Việt: Tạp chí Dược học - Bộ Y tế Luận án lựa chọn 25

VBCNDH tiếng Anh và 25 VBCNDH tiếng Việt được xuất bản từ năm 2011 đến 2015 về các loại thuốc, dược chất, bệnh, hay hướng nghiên cứu kết hợp sử dụng các loại thuốc để miêu tả, phân tích và đối chiếu

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án: (i)

Phương pháp miêu tả: được sử dụng để giúp luận án miêu tả để tìm ra một

số đặc điểm ngôn trong VBCNDH tiếng Anh và tiếng Việt; (ii) Phương pháp phân tích diễn ngôn: được sử dụng để tìm hiểu ý nghĩa về đặc điểm của Trường, Không khí và Cách thức trong VBCNDH như thế nào; (iii) Phương pháp so sánh - đối chiếu được sử dụng để đối sánh các đặc điểm ngôn ngữ nổi trội của VBCNDH tiếng Anh và tiếng Việt nhằm tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt trong hai văn bản Khung lỳ thuyết luận án dùng để phân tích chủ yếu dựa trên lý thuyết ngữ pháp chức năng

hệ thống của Halliday về phương diện ngữ vực và một số nhà nghiên cứu khác như Halliday & Hassan (1976), Hoàng Văn Vân (2005) v.v và lý

Trang 5

thuyết nghiên cứu so sánh đối chiếu của Bùi Mạnh Hùng (2008) và có kết hợp một số nghiên cứu khác

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

Đóng góp mới về khoa học của luận án được thể hiện trước hết ở việc đã góp phần cung cấp cho lý luận ngôn ngữ một cách nhìn sâu sắc về đặc điểm ngôn ngữ văn bản dược học tiếng Anh và tiếng Việt, góp phần làm phong phú thêm một phương pháp phân tích diễn ngôn được sử dụng

để so sánh các văn bản chuyên ngành dược học trong hai ngôn ngữ - phương pháp phân tích diễn ngôn theo lí thuyết chức năng hệ thống, được phân tích theo ba phạm trù ngữ vực là Trường, Không khí, và Cách thức Những kết quả đạt được của công trình nghiên cứu này đã cho thấy phương pháp phân tích diễn ngôn được áp dụng để phân tích và so sánh văn bản chuyên ngành dược học là phù hợp và có hiệu quả

Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy ý nghĩa trải nghiệm, ý nghĩa liên nhân, ý nghĩa văn bản và mối quan hệ biện chứng giữa chúng rất quan trọng cho việc tìm hiểu và so sánh ý nghĩa của các văn bản chuyên ngành dược học trong hai ngôn ngữ

6 Ý nghĩa và cái mới của luận án: (I) Về lí luận: Thông qua nghiên

cứu đặc điểm tiếng Anh chuyên ngành dược học đối chiếu với tiếng Việt, luận

án sẽ góp phần cung cấp cho lý luận ngôn ngữ một số cứ liệu về đặc điểm ngôn ngữ văn bản dược học tiếng Anh Do đó, luận án góp phần làm phong phú thêm phương pháp phân tích diễn ngôn về các văn bản chuyên ngành khác

trong tiếng Anh và tiếng Việt; (ii) Về thực tiễn: Nghiên cứu có ý nghĩa thực

tiễn đóng góp vào việc nâng cao kĩ năng viết các ngôn bản khoa học liên quan đến chuyên ngành dược học, khả năng đọc hiểu nội dung các ngôn bản này trong hai ngôn ngữ nhanh hơn và thấu đáo hơn, và dịch các văn bản thuộc chuyên ngành dược học từ tiếng Anh sang tiếng Việt và ngược lại một cách hiệu quả

7 Bố cục luận án: Luận án gồm 4 chương: Chương 1: Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lí thuyết; Chương 2: Đặc điểm ngôn ngữ trong văn bản chuyên ngành dược học tiếng Anh; Chương 3: Đặc điểm ngôn ngữ trong văn bản chuyên ngành dược học tiếng Việt; Chương 4: Đối chiếu đặc điểm ngôn

ngữ trong văn bản chuyên ngành dược học tiếng Anh với tiếng Việt

Trang 6

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT

1.1 Tình hình nghiên cứu tiếng Anh chuyên ngành trên thế giới

Trên thế giới, có rất nhiều công trình nghiên cứu về ngôn ngữ chuyên ngành Tuy nhiên, một số nghiên cứu sau đây được cho là đại diện và phù hợp với nghiên cứu của luận án: (i) Nghiên cứu của Hutchison & Waters và một số nhà nghiên cứu khác; (ii) Nghiên cứu của Dudley-Evans; (iii) Nghiên cứu của Halliday và một số nhà nghiên cứu khác Theo hai nhà ngoại ngữ chuyên ngành nổi tiếng Hutchinson & Waters (1987), tiếng Anh chuyên ngành được phát triển từ thời gian đầu của những năm 1960 và được phát triển với tốc độ khác nhau ở những quốc gia khác khau Theo Dudley-Evans (1998), với công

trình Development in ESP đã khái quát một số vấn đề đa dạng về ngôn ngữ

trong tiếng Anh chuyên ngành, chủ yếu tập trung vào tiếng Anh chuyên ngành

y và tiếng Anh chuyên ngành kinh doanh Khi xem xét về đặc điểm của tiếng Anh chuyên ngành, ông đã chỉ ra một số đặc điểm cơ bản về ngữ pháp, từ vựng

và diễn ngôn Có thể thấy, tiếng Anh chuyên ngành tập trung theo một số hướng nghiên cứu: (i) Hướng nghiên cứu ngữ pháp trong tiếng Anh chuyên ngành; (ii) Hướng nghiên cứu từ vựng trong tiếng Anh chuyên ngành; và (iii) Hướng nghiên cứu ngữ nghĩa trong tiếng Anh chuyên ngành Bên cạnh những nghiên cứu về tiếng Anh chuyên ngành đã nêu và nhiều học giả khác, từ một nhìn khác giả khác, khi nghiên cứu về bản chất của các văn bản khoa học tiếng Anh, Halliday (1988) đã chỉ ra thuật ngữ “ngôn ngữ khoa học” là tên gọi cho một biến thể chức năng hay một kiểu ngữ vực được khái quát hóa trong một ngôn ngữ cụ thể Sự đa dạng về loại hình văn bản có thể được mô tả theo ba thông số của ngôn cảnh tình huống: Trường, Không khí, và Cách thức Tuy nhiên, ông đã khẳng định sự khác nhau về không gian và thời gian hoàn toàn không đủ để phân biệt các văn bản khoa học với các ngữ vực khác Theo ông, ngữ vực là một tập hợp các đặc điểm có liên quan xuất hiện cùng nhau trong những xác suất không giới hạn Bởi vậy, nghiên cứu bản chất của ngôn ngữ

khoa học trong Writing Science: Literacy and Discursive Power của Halliday

& Martin (1993) đã chỉ ra bảy điểm cơ bản có thể được sử dụng để minh họa cho các đặc điểm cơ bản của tiếng Anh khoa học như sau: (i) Các khái niệm đan xen nhau; (ii) Tính kỹ thuật; (iii) Cách diễn đạt đặc biệt; (iv) Mật độ từ vựng cao; (v) Sự tối nghĩa về mặt cú pháp; (vi) Ẩn dụ ngữ pháp; và (vii) Có tính không liên tục về ngữ nghĩa học

1.2 Tình hình nghiên cứu tiếng Anh chuyên ngành ở Việt Nam

Ở Việt Nam, nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ chuyên ngành đã đưa ra các khái niệm khác nhau về tiếng Anh chuyên ngành Phan Văn Hòa (2011) quan niệm tiếng Anh chuyên ngành là tiếng Anh vì/theo những mục đích cụ

Trang 7

thể Tuy nhiên, về cơ bản, ESP được gọi chung là tiếng Anh chuyên ngành

ở Việt Nam (Lâm Quang Đông, 2014) Khi nghiên cứu về bản chất các văn bản khoa học trong mối quan hệ với dịch thuật, đi theo cách tiếp cận của Halliday (1993), Hoàng Văn Vân (2005, 2010) đã chỉ ra một số đặc điểm có thể khu biệt văn bản khoa học với các kiểu ngữ vực Ông đã phác thảo một bức tranh khái quát về ngữ vực trong ngôn ngữ khoa học Ông cũng cho thấy các văn bản khoa học trong tiếng Anh thường có những thuật ngữ bằng tiếng Latinh hay có nguồn gốc từ tiếng Latinh Như vậy, xét trên bình diện nghiên cứu diễn ngôn, Hoàng Văn Vân (1993, 2005, 2006) v.v và một số công trình nghiên cứu khác của ông đã có những đóng góp đáng kể vào nghiên cứu ngữ pháp, dịch thuật, phương pháp giảng dạy ngoại ngữ nói chung và đặc điểm ngôn ngữ chuyên ngành nói riêng Ngoài ra, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu so sánh đối chiếu các ngôn ngữ chuyên ngành, mặc dù những chuyên ngành này không gần với chuyên ngành dược học như công trình của Nguyễn Hòa (1999), Lê Hùng Tiến (1999), Nguyễn Xuân Thơm (2001), Đỗ Tuấn Minh (2001), Nguyễn Thị Thanh Hương (2003), Đỗ Kim Phương (2012), Trần Bình Tuyên (2017) v.v

Bên cạnh những công trình về tiếng Anh chuyên ngành, đã có nhiều nghiên cứu về tiếng Việt trên các bình diện khác nhau dựa trên các quan điểm lí thuyết khác nhau như Trần Ngọc Thêm (1985), Diệp Quang Ban (1989, 2005), Cao Xuân Hạo (1991, 2004), Hoàng Văn Vân (1997, 2002), Nguyễn Văn Hiệp (1999, 2007, 2008), Lâm Quang Đông (2007,

2011, 2014), Nguyễn Hồng Cổn (2000, 2004) và rất nhiều công trình nghiên cứu khác Trong các nghiên cứu trên, Cao Xuân Hạo là người đầu tiên áp dụng triệt để quan hệ Đề - Thuyết vào phân tích cú pháp câu tiếng Việt (dẫn theo Nguyễn Hồng Cổn, 2008) Ngoài ra, trong tiếng Việt, trên lĩnh vực nghiên cứu về thuật ngữ và hệ thống thuật ngữ tiếng Việt, cũng có rất nhiều công trình nghiên cứu nổi bật như Đỗ Hữu Châu (1962), Nguyễn Thiện Giáp (1978), Hoàng Văn Hành (1983), Nguyễn Đức Tồn (2002, 2010, 2016), Nguyễn Văn Khang (1999, 2007), Hà Quang Năng (2009, 2010) và nhiều nghiên cứu khác

1.3 Tình hình nghiên cứu tiếng Anh chuyên ngành dược học trên thế giới và ở Việt Nam

1.3.1 Các nghiên cứu về đặc điểm tiếng Anh chuyên ngành dược học trên thế giới:

Trên thế giới đã có một số công trình nghiên cứu về tiếng Anh chuyên ngành dược trên các bình diện và hình thức khác nhau Cụ thể là nghiên cứu của Boudemagh Wided (2010), Lukasz Grabowski (2013, 2015) v.v Những nghiên cứu này đã cho thấy một số phát hiện hữu ích không những về mặt sư

Trang 8

phạm cho cả giáo viên và học viên tiếng Anh chuyên ngành dược học mà còn

có thể mở rộng đối với những loại văn bản chuyên ngành khác

1.3.2 Các nghiên cứu về đặc điểm tiếng Anh chuyên ngành dược học ở Việt Nam

Về lĩnh vực khoa học ngành dược có công trình của Lâm Thị Thùy Linh (2011) Nghiên cứu đã chỉ ra sự tương đồng và khác biệt về đặc điểm ngôn ngữ của hai loại văn bản hướng dẫn sử dụng thuốc trong tiếng Anh và tiếng Việt Công trình đã có ý nghĩa to lớn đối với việc dạy học tiếng Anh chuyên ngành y dược cũng như trong việc dịch thuật tiếng Anh như là một ngoại ngữ Tiếp theo là công trình nghiên cứu về ẩn dụ ngữ pháp trong diễn ngôn dược học của Vũ Thị Mẫu (2012) Nghiên cứu đã cho thấy đặc điểm của ẩn dụ ngữ pháp trong các diễn ngôn dược học tiếng Anh và mối quan

hệ mật thiết giữa việc sử dụng ẩn dụ ngữ pháp và sự tạo thành của văn bản dược học Như vậy, có thể cho thấy ngôn ngữ chuyên ngành có thể được tiếp cận nghiên cứu từ nhiều góc độ và trên các bình diện của diễn ngôn chuyên ngành (Nguyễn Xuân Thơm, 2008)

1.4 Lý thuyết về diễn ngôn và phân tích thể loại diễn ngôn (genre analysis)

1.4.1 Khái niệm diễn ngôn: Trên thế giới, khái niệm diễn ngôn đã

được rất nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ đưa ra những quan điểm khác nhau Khái niệm diễn ngôn lần đầu được Z Harris (1952) cho rằng diễn ngôn là văn bản liên kết ở cấp độ cao hơn câu Nó là một đơn vị mở, có khả năng phân tích Sau này Halliday và Hassan (1976) cũng nhận định diễn ngôn gắn với chức năng giao tiếp của nó khi nó nhấn mạnh văn bản hay diễn ngôn là đơn vị ngôn ngữ chức năng giao tiếp Ở Việt Nam, đi theo khuynh hướng về quan điểm diễn ngôn của Halliday và Hassan, Hoàng Văn Vân (2006) đã khẳng định ngôn bản hay diễn ngôn là ngôn ngữ trong sử dụng Chính vì vậy, trong luận án này, chúng tôi sử dụng thuật ngữ diễn ngôn và văn bản thay thế cho nhau để mô tả đặc điểm văn bản chuyên ngành dược học tiếng Anh và tiếng Việt

1.4.2 Khái niệm phân tích diễn ngôn: Cho đến nay đã có nhiều

quan điểm về phân tích diễn ngôn Halliday (1994) đã có quan điểm khái

quát hơn về phân tích diễn ngôn Ông cho rằng: “Phân tích diễn ngôn phải được xây dựng trên việc nghiên cứu hệ thống của một ngôn ngữ Đồng thời,

lý do chủ yếu cho việc nghiên cứu hệ thống là nhằm làm sáng tỏ ngôn bản – điều mà người ta nói và viết, nghe và đọc Cả hệ thống và ngôn bản đều phải nằm trong tiêu điểm của sự chú ý Nếu không thì sẽ không có cách nào

để so sánh ngôn bản này với ngôn bản kia, hay với cái mà chính nó có thể

đã là như vậy nhưng trong thực tế thì nó lại không phải là thế Và, có thể

Trang 9

quan trọng nhất là chỉ qua việc bắt đầu từ hệ thống thì chúng ta mới có thể xem xét được ngôn bản trong bình diện của nó như là một quá trình”

1.4.3 Khái niệm thể loại

Theo Swales (1990), khái niệm thể loại là một diễn ngôn đặc biệt, có thể là diễn ngôn viết hoặc nói Thể loại bao gồm một lớp các sự kiện giao tiếp và những thành viên cùng sử dụng một thể loại diễn ngôn có cùng mục đích giao tiếp Thuật ngữ “thể loại” đã được biết đến trong nhiều năm qua Khái niệm về thể loại đã được đưa ra trên hai quan điểm cơ bản là: (i) Quan điểm của Swales (quan điểm Tiếng Anh cho mục đích chuyên ngành) và (ii) Quan điểm chức năng-hệ thống (systemic –fuctional) Mặc dù mỗi quan điểm đều chỉ ra những đặc thù riêng về thể loại, nhưng đặc điểm chung cho

cả hai quan điểm này đều coi mục đích giao tiếp là yếu tố trung tâm

1.5 Khái quát về lý thuyết ngôn ngữ học chức năng hệ thống của Halliday

Ngôn ngữ học chức năng hệ thống mô tả ngôn cảnh tình huống cụ thể hóa ngôn cảnh văn hóa và chính ngôn cảnh tình huống lại là một kiến trúc lí thuyến (theoretical construct) bao gồm ba bình diện: (i) hoạt động xã hội đang diễn ra; (ii) các mối quan hệ theo vai diễn; và (iii) các kênh tượng trưng hay tu từ Ngôn ngữ học chức năng hệ thống gọi ba bình diện này lần lượt là Trường (Field), Không khí (Tenor), và Cách thức (Mode) Ngoài ra, ông cũng chỉ ra ở cấp độ ngữ nghĩa, ngôn ngữ được dùng để diễn đạt một trong ba loại nghĩa khái quát Ba loại nghĩa này thực chất là ba siêu chức năng (metafunctions) của ngôn ngữ

1.5.1 Lý thuyết về chức năng kinh nghiệm: Halliday (1994) chỉ ra

hệ thống chuyển tác là hệ thống ngữ pháp qua đó phương thức phản ánh được thể hiện Hệ thống chuyển tác phân thế giới kinh nghiệm thành một tập hợp CÁC KIỂU QUÁ TRÌNH (PROCESS TYPES) có thể xử lý được Ông cũng chỉ ra khung giải thích này có thể phổ quát cho mọi ngôn ngữ và

ở hình thức khái quát nhất, nó gồm có ba thành phần: (i) chính quá trình, (ii) các tham thể tham gia vào quá trình, và (iii) các chu cảnh liên quan đến quá trình Ông cũng nhận định các khái niệm quá trình, tham thể và chu cảnh là những phạm trù ngữ nghĩa giải thích một cách khái quát nhất các hiện tượng của thế giới hiện thực được thể hiện trong các cấu trúc ngôn ngữ Trong tiếng Việt, Hoàng Văn Vân (2002) cũng đã nhận định các kiểu quá trình được Halliday đề xuất cũng tồn tại giống như tiếng Anh

1.5.2 Lý thuyết chức năng liên nhân

Trang 10

tuyên bố (declarative) hoặc là thức nghi vấn có cực (kiểu cú yêu cầu trả lời có/không) hoặc thức nghi vấn có nội dung Thành phần của THỨC gồm hai tiểu thành phần: (1) Chủ ngữ (Subject) và (ii) Tác tử hữu định (Finite) Trong tiếng Việt, theo Hoàng Văn Vân (2017), hệ thống thức được tổ chức như là một sự kiện tương tác bao gồm người nói hay người viết, và khán giả hay cử tọa nó phân các vai diễn tương tác ra thành các cặp như người nói/ viết – người nghe/ đọc, thức khẳng định được hiện thực hóa điển hình bằng mẫu thức ‘+Chủ ngữ +Vị ngữ’ Xét theo quan điểm ngữ pháp ngữ nghĩa, Nguyễn Văn Hiệp (2008) chỉ ra thức là một phạm trù ngữ pháp của động từ biểu thị giá trị tình thái của câu Thức là cách biểu thị đã được ngữ pháp hóa

và “usuality” (sự thường lệ) Trong khi Biến thái lại liên quan đến các cấp

độ chỉ “obligation” (bổn phận) hay nghĩa vụ và ý muốn Trong tiếng Việt,

Nguyễn Văn Hiệp (2008) phân biệt thành hai phương tiện biểu thị tình thái

trong tiếng Việt gồm: (i) các vị từ tình thái như: nên, cần, phải, có thể, tất, v.v.; và (ii) các vị từ tình thái tính Như vậy, sự phân tích và nhận diện đặc

điểm tình thái trong VBCNDH tiếng Anh và tiếng Việt sẽ chủ yếu dựa vào khung lý thuyết phân tích tình thái của Halliday và có tham khảo một số các nghiên cứu về tình thái của Nguyễn Văn Hiệp (2012) và một số nhà nghiên

cứu tiếng Việt khác

1.5.3 Lý thuyết về chức năng văn bản

1.5.3.1 Lý thuyết về Đề ngữ và Thuyết ngữ

Halliday (1994) chỉ ra trong tất cả các cấu trúc khác nhau mà khi hòa nhập lại làm thành nên đơn vị cú, thì Đề ngữ là thành phần được dùng làm xuất phát điểm của thông điệp, nó là thành phần mà cú liên quan đến Phần còn lại của thông điệp, thành phần mà Đề ngữ được phát triển, được gọi theo thuật ngữ

của trường phái Praha là Thuyết ngữ (Rehme)

1.5.3.2 Lý thuyết về liên kết và ngôn bản

Halliday chỉ ra Liên kết cũng là thành phần “ngôn bản” trong ngữ pháp tiếng Anh Để tạo ngôn bản, cần phải có khả năng thiết lập các mối quan hệ bổ sung trong ngôn bản không lệ thuộc vào những hạn chế này Ông nhấn mạnh bốn phương thức liên kết được tạo ra trong tiếng Anh: (i) quy chiếu, (ii) Tỉnh lược, (iii) Liên hợp, và (iv) Liên kết từ vựng Trong

Trang 11

tiếng Việt, Trần Ngọc Thêm (1999) cho rằng cũng có các phương tiện liên kết tương tự trong tiếng Anh Nguyễn Văn Hiệp (2008) đã cho thấy cấp độ của các chỉ tố liên kết văn bản Như vậy, đặc trưng về Cách thức trong VBCNDH tiếng Anh được tiến hành tìm hiểu các loại cấu trúc đề thuyết, các cách thức tổ chức diễn ngôn cả ở phương tiện quy chiếu cũng như liên kết logic sẽ được dựa chủ yếu vào khung lý thuyết ngữ pháp chức năng hệ thống của Halliday cũng tham khảo lý thuyết của nhà ngôn ngữ Nguyễn Văn Hiệp và một số nhà Việt ngữ học khác trong tiếng Việt

1.6 Lý thuyết về ngữ vực

Halliday & Hassan (1989) mô tả như sau: (i) Trường của ngôn bản là chỉ ra cái gì đang xảy ra, bản chất của hành động xã hội đang diễn ra (ii) Không khí của ngôn bản là chỉ ra việc ai đang tham gia vào, bản chất của những người tham gia, các vai diễn và vị thế của họ; (iii) Cách thức của ngôn bản là chỉ ra vai trò của ngôn ngữ đang đóng, cái mà những người tham gia đang chờ đợi ngôn ngữ thực hiện cho họ trong tình huống đó là gì Như vậy, trong phạm vi luận án, nghiên cứu đặc điểm của ngôn ngữ chuyên ngành dược học trên các phương diện ngữ vực theo quan điểm ngữ pháp chức năng

hệ thống của Halliday chính là nghiên cứu các đặc điểm về Trường, Không khí và Cách thức được thực hiện hóa qua các bình diện về kinh nghiệm, liên

nhân và văn bản

1.7 Lý thuyết ngôn ngữ so sánh đối chiếu

Luận án áp dụng lý thuyết ngôn ngữ học đối chiếu của Bùi Mạnh

Hùng (2008) Bước một, mô tả (luận án mô tả các đặc điểm ngữ nghĩa, ngữ

pháp – từ vựng, văn bản sử dụng chủ yếu khung ngữ pháp chức năng hệ

thống của Halliday và tham khảo một số nhà nghiên cứu khác Bước hai,

xác định những thông số để so sánh đối chiếu (dựa vào những đặc điểm ngôn ngữ qua mô tả chúng tôi sẽ chọn các đặc điểm ngôn ngữ điển hình của văn bản chuyên ngành dược học trong tiếng Anh và tiếng Việt để so sánh

đối chiếu) Bước ba, đối chiếu

1.8 Tiểu kết

Chương này luận án đã điểm lại tình hình nghiên cứu tiếng Anh chuyên ngành nói chung cũng như ngôn ngữ chuyên ngành dược trong tiếng Anh và tiếng Việt trên thế giới và Việt Nam Hơn nữa, luận án đã trình bày một số đặc điểm quan trọng nhất của lí thuyết ngữ pháp chức năng hệ thống về phương diện ngữ vực và lí thuyết ngôn ngữ học so sánh đối chiếu Như vậy, những quan điểm của Halliday về lý thuyết ngữ vực và các siêu chức năng của ngôn ngữ sẽ là công cụ để luận án tiến hành phân tích VBCNDH

tiếng Anh và tiếng Việt trên các đặc trưng về Trường, Không khí và Cách thức

Trang 12

CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ TRONG VĂN BẢN CHUYÊN NGÀNH

DƯỢC HỌC TIẾNG ANH

2.1 Đặc điểm về Trường trong văn bản chuyên ngành dược học tiếng Anh

2.1.1 Kết quả phân tích các kiểu quá trình

Thứ nhất, tỉ lệ của quá trình vật chất và quá trình quan hệ được sử dụng nhiều nhất trong VBCNDH tiếng Anh nằm trong dự đoán Thứ hai, quá trình phát ngôn xuất hiện với tần số trung bình Thứ ba, quá trình tinh thần và quá trình hiện hữu ở vị trí thấp trong VBCNDH tiếng Anh cũng là điều tất yếu Thứ

tư, sự thiếu vắng gần như hoàn toàn quá trình hành vi trong VBCNDH tiếng

Anh có thể dự đoán được văn bản thuộc ngữ vực khoa học Kết quả này cũng

có thể khẳng định các kết quả nghiên cứu khoa học ngành dược và cập nhật

thông tin về lĩnh vực dược học, nó chỉ có thể tồn tại hay hoạt động, hay “Nó không thể ứng xử như các thực thể có tư duy” (Hoàng Văn Vân, 2016)

2.1.2 Kết quả phân tích Tham thể/ Chủ ngữ

Thứ nhất, VBCNDH tiếng Anh sử dụng các cú có Chủ ngữ hiển ngôn

cao vượt trội so với các cú không có Tham thể/Chủ ngữ hiển ngôn Ngoài

ra, tỷ lệ các cú có Tham thể/Chủ ngữ phân bố tương đối đồng đều trong

phần mở đầu, phần thân bài, và phần kết luận Thứ hai, các cú không có

Tham thể/Chủ ngữ hiển ngôn khi được tái hiện lại thì phần lớn không phải

là người mà là các sự vật liên quan đến các hóa dược, dược chất, dược liệu, bệnh hoặc một loại thuốc nào đó v.v

2.1.3 Kết quả phân tích thuật ngữ khoa học

Thứ nhất, tần số xuất hiện thuật ngữ khoa học trong một cú bao gồm

cả cú có Chủ ngữ hiển ngôn và cú không có Chủ ngữ hiển ngôn rất cao Đây cũng là một trong những đặc điểm cơ bản của ngôn ngữ khoa học, người ta sẽ không thể tạo được một ngôn bản khoa học nếu thiếu đặc điểm

này mà Halliday đã chỉ ra trong công trình Writing science (1993) (ví dụ:

(thuật ngữ được gạch chân, Tham thể/Chủ ngữ được in đậm) Peptic Ulcer

Disease (PUD) encompassing gastric and duodenal ulcer is the most

prevalent gastrointestinal disorder) Thứ hai, các thuật ngữ có trong Tham

thể chủ ngữ hiển ngôn chủ yếu tập trung trong các cú vật chất và cú quan hệ

và trong các cú phóng chiếu thông qua các cú tinh thần và cú phát ngôn

Thứ ba, các thuật ngữ chuyên ngành dược học tiếng Anh là những thuật

ngữ: (i) sử dụng nguyên dạng của thuật ngữ Latinh và tiếng Hi Lạp, (ii) tiếp nhận thuật ngữ nước ngoài; (iii) phương thức sử dụng “tiền tố”, “hậu tố”; (iv) phương thức ghép; (v) phương thức kết hợp “tiền tố”, “hậu tố” và

Trang 13

phương pháp ghép; (vi) phương thức viết tắt Thứ tư, thuật ngữ dược học

tiếng Anh đều là các từ loại mở, bao gồm danh từ, tính từ, động từ, và có thể

có cả trạng từ (dẫn theo Vương Thị Thu Minh, 2005)

2.1.4 Kết quả phân tích cấu trúc/dạng

Thứ nhất, dạng bị động được sử dụng cao trong VBCNDH tiếng Anh

(chiếm 31%), đặc biệt là ở phần thân bài Kết quả này cũng minh chứng cho quan điểm khi phân tích ngữ vực của tiếng Anh khoa học của Ewer &

Latorre’s đã được Tom Hutchinson & Alan Waters chỉ ra “There was little that was distinctive in the sentence grammar of Science English beyond a tendency to favour particular forms such as the present simple tense, the passive voice, and nominal compounds” (1987) Thứ hai, dạng bị động trong VBCNDH tiếng Anh thường có dạng: Chủ ngữ + be + Quá trình ở mẫu phân từ quá khứ + by Tuy nhiên vẫn tồn tại một số cú dạng bị động bị lược bỏ quá trình be Thứ ba, một số phụ ngữ chỉ sự đánh giá hay tần suất

được đứng trước các quá trình trong nhiều cú dạng bị động

2.2 Đặc điểm về Không khí trong văn bản chuyên ngành dược học tiếng Anh

2.2.1 Kết quả phân tích Thức

Kiểu thức được sử dụng duy nhất trong VBCNDH tiếng Anh đó là thức tuyên bố Trong đó, thức tuyên bố khẳng định chiếm tỷ lệ đa số Bên cạnh đó, một số thức tuyên bố phủ định cũng được sử dụng để khẳng định những kết quả của người viết diễn ngôn đã đưa ra Kết quả này hoàn toàn phù hợp với nghiên cứu của Derewianka (2011)

2.2.2 Kết quả phân tích tình thái

Thứ nhất, việc sử dụng các động từ tình thái đặc biệt như may, might, could với tần số cao để chỉ mức độ khả năng chắc chắn của một tuyên bố trong

VBCNDH tiếng Anh Kết quả này đã chứng tỏ đây là đặc điểm yêu cầu trong một văn bản khoa học (Tony Dudley-Evan, 1998) Ngoài ra, tần số sử dụng

động từ tình thái cao vượt trội trong VBCNDH tiếng Anh cũng cho thấy “Dạng ngôn ngữ chung được tìm thấy trong văn bản khoa học đó là các động từ đặc biệt, ví dụ như động từ tình thái” (Hutchíon & Waters, 1984) Thứ hai, Phụ

ngữ tình thái xuất hiện không đáng kể trong VBCNDH tiéng Anh Như vậy, với cách kiến tạo của các động từ tình thái và Phụ ngữ tình thái chỉ ra tình thái trong VBCNDH tiếng Anh phù hợp với khung cảnh của khoa học hiện đại, đó là một khung cảnh trong đó phần nhiều kiến thức được khám phá chỉ

mang “tính sác xuất” (Probability) hay “tính không chắc chắn” (uncertainty)

(Halliday, 1993) và Moss (2000)

Ngày đăng: 13/10/2019, 09:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w