1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm tiếng anh chuyên ngành dược học trong sự đối chiếu với tiếng việt

180 113 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 180
Dung lượng 1,49 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hai câu hỏi được đặt ra để trả lời cho mục đích nghiên cứu của luận án chính là: i Những đặc điểm ngôn ngữ nổi trội nào được các nhà dược học chuyên ngành sử dụng để kiến tạo VBCNDH tiế

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

VÕ THỊ BÊ

ĐẶC ĐIỂM TIẾNG ANH CHUYÊN NGÀNH DƯỢC HỌC

TRONG SỰ ĐỐI CHIẾU VỚI TIẾNG VIỆT

Ngành: Ngôn ngữ học so sánh, đối chiếu

Mã số: 9 22 20 24

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

GS.TS HOÀNG VĂN VÂN

HÀ NỘI – 2019

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ một công trình nào khác

Tác giả

Võ Thị Bê

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 12

1.1 Dẫn nhập 12

1.2 Tình hình nghiên cứu tiếng Anh chuyên ngành trên thế giới 12

1.3 Tình hình nghiên cứu tiếng Anh chuyên ngành ở Việt Nam 17

1.4 Tình hình nghiên cứu tiếng Anh chuyên ngành dược học trên thế giới và ở Việt Nam 21

1.5 Lý thuyết về diễn ngôn và phân tích thể loại diễn ngôn (genre analysis) 24

1.6 Khái quát về lý thuyết ngôn ngữ học chức năng hệ thống của Halliday 33

1.7 Lý thuyết về ngữ vực 54

1.8 Thuật ngữ khoa học 58

1.9 Lý thuyết ngôn ngữ so sánh đối chiếu 61

1.10 Tiểu kết 63

CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ TRONG VĂN BẢN CHUYÊN NGÀNH DƯỢC HỌC TIẾNG ANH 64

2.1 Dẫn nhập 64

2.2 Đặc điểm về Trường trong văn bản chuyên ngành dược học tiếng Anh 64

2.3 Đặc điểm về Không khí trong văn bản chuyên ngành dược học tiếng Anh 78

2.4 Đặc điểm về Cách thức trong văn bản chuyên ngành dược học tiếng Anh 82

2.5 Tiểu kết 92

CHƯƠNG 3 ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ TRONG VĂN BẢN CHUYÊN NGÀNH DƯỢC HỌC TIẾNG VIỆT 94

3.1 Dẫn nhập 94

3.2 Đặc điểm về Trường trong văn bản chuyên ngành dược học tiếng Việt 94

3.3 Đặc điểm về không khí trong văn bản chuyên ngành dược học tiếng Việt 106

3.4 Đặc điểm về Cách thức trong văn bản chuyên ngành dược học tiếng Việt 110

3.5 Tiểu kết 117

CHƯƠNG 4 ĐỐI CHIẾU ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ TRONG VĂN BẢN CHUYÊN NGÀNH DƯỢC HỌC TIẾNG ANH VỚI TIẾNG VIỆT 118

4.1 Dẫn nhập 118

Trang 4

4.2 Đối chiếu đặc điểm về Trường trong VBCNDH tiếng Anh với tiếng Việt 118 4.3 Đối chiếu đặc điểm về Không khí trong VBCNDH tiếng Anh với tiếng Việt 128 4.4 Đối chiếu đặc điểm về Cách thức trong VBCNDH tiếng Anh với tiếng Việt 131 4.5 Tiểu kết 145

KẾT LUẬN 147 DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 151 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 152

Trang 5

DANH MỤC QUY ƯỚC VIẾT TẮT

1 VBCNDH Văn bản chuyên ngành dược học

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1 Các kiểu quá trình, ý nghĩa, và các đặc điểm của tham thể 37

Bảng 1.2 Các thành phần của Đề ngữ đa 51

Bảng 1.3 Ngôn cảnh của tình huống, ngữ nghĩa và ngữ pháp- từ vựng: 57

Bảng 2.1 Số lượng cú và phân bố các kiểu quá trình trong VBCNDH tiếng Anh 64

Bảng 2.2 Số lượng cú có Chủ ngữ hiển ngôn và cú không có Chủ ngữ hiển ngôn trong VBCNDH tiếng Anh 69

Bảng 2.3 Chi tiết về thuật ngữ khoa học trong VBCNDH tiếng Anh 71

Bảng 2.4 Phương thức sử dụng “tiền tố”, “hậu tố” trong thuật ngữ dược học tiếng Anh 74

Bảng 2.5 Phân tích cấu trúc/dạng trong VBCNDH tiếng Anh 76

Bảng 2.6 Phân tích các kiểu Thức trong VBCNDH tiếng Anh 78

Bảng 2.7 Phân tích các kiểu Tình thái trong VBCNDH tiếng Anh 79

Bảng 2.8 Phân tích Đề ngữ trong VBCNDH tiếng Anh 83

Bảng 2.9 Tần số xuất hiện của quy chiếu ngôi và quy chiếu chỉ định trong VBCNDH tiếng Anh 85

Bảng 2.10 Số lượng liên kết logic trong VBCNDH tiếng Anh 89

Bảng 3.1 Số lượng cú và phân bố các kiểu quá trình trong VBCNDH tiếng Việt 94

Bảng 3.2 Số lượng cú có Chủ ngữ hiển ngôn và cú không có Chủ ngữ hiển ngôn trong VBCNDH tiếng Việt 99

Bảng 3.3 Chi tiết về thuật ngữ khoa học trong VBCNDH tiếng Việt 102

Bảng 3.4 Phương thức tạo thuật ngữ dược học tiếng Việt trên ngữ liệu vốn có 103

Bảng 3.5 Phân tích dạng chủ động, bị động trong VBCNDH tiếng Việt 105

Bảng 3.6 Phân tích các kiểu Thức trong VBCNDH tiếng Việt 106

Bảng 3.7 Phân tích các kiểu Tình thái trong VBCNDH tiếng Việt 108

Bảng 3.8 Phân tích Đề ngữ trong VBCNDH tiếng Việt 110

Bảng 3.9 Tần số xuất hiện của quy chiếu ngôi và quy chiếu chỉ định 113

Bảng 3.10 Số lượng liên kết logic trong VBCNDH tiếng Việt 115

Bảng 4.1 Đối chiếu các kiểu quá trình trong VBCNDH tiếng Anh với tiếng Việt119 Bảng 4.2 Đối chiếu Tình thái trong VBCNDH tiếng Anh với tiếng Việt 130

Bảng 4.3 Đối chiếu Đề ngữ trong VBCNDH tiếng Anh với tiếng Việt 132

Trang 7

Bảng 4.4 Các phụ ngữ tình thái có chức năng như Đề ngữ liên nhân trong VBCNDH tiếng Anh 134 Bảng 4.5 Các phụ ngữ tình thái có chức năng như Đề ngữ liên nhân trong VBCNDH tiếng Việt 136 Bảng 4.6 Các phụ ngữ liên hợp có chức năng như Đề ngữ văn bản trong VBCNDH tiếng Anh 137 Bảng 4.7 Các Phụ ngữ liên hợp có chức năng như Đề ngữ văn bản trong VBCNDH tiếng Việt 139 Bảng 4.8 Sự kết hợp của Đề ngữ văn bản và Đề ngữ liên nhân trong VBCNDH tiếng Anh 141 Bảng 4.9 Sự kết hợp của Đề ngữ văn bản và Đề ngữ liên nhân trong VBCNDH tiếng Việt 141 Bảng 4.10 Đối chiếu sự kết hợp giữa các kiểu Đề ngữ trong VBCNDH tiếng Anh

và tiếng Việt 142 Bảng 4.11 Đối chiếu quy chiếu ngôi và quy chiếu chỉ định trong VBCNDH tiếng Anh với tiếng Việt 143 Bảng 4.12 Đối chiếu liên kết logic trong VBCNDH tiếng Anh với tiếng Việt 144

Trang 8

DANH MỤC HÌNH ẢNH

Hình 1.1 Quan hệ thể loại và ngữ vực trong ngôn ngữ 32

Hình 1.2 Ngữ pháp kinh nghiệm: các kiểu quá trình trong tiếng Anh 38

Hình 1.3 Hệ thống dạng 43

Hình 1.4 Hệ thống dạng trong tiếng Việt: chủ động và bị động 43

Hình 1.5 Hệ thống các kiểu tình thái 47

Hình 1.6 Mô hình ngôn ngữ học chức năng hệ thống 56

Hình 1.7 Mối quan hệ ngôn cảnh tình huống và văn bản 58

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Dược học trước đây từng là một bộ phận trong ngành Y học Song với sự phát triển như vũ bão của khoa học kĩ thuật trong thế giới hiện đại, Dược học đã nhanh chóng tách ra thành một ngành độc lập nhưng vẫn còn giữ mối liên hệ chặt chẽ với

Y học, các ngành khoa học cơ bản và khoa học ứng dụng khác [58, tr 3] Ngành dược chuyên về bào chế, sản xuất các loại thuốc (hay còn gọi là dược phẩm) cũng như thực hiện việc khám chữa bệnh, phân phối thuốc và có trách nhiệm đảm bảo an toàn, hiệu quả của các loại dược phẩm Vì vậy, khả năng sử dụng tiếng Anh chuyên ngành thành thạo sẽ giúp những người làm trong ngành Y Dược có thể tiếp cận với tri thức cũng như với những tiến bộ của ngành một cách nhanh nhất Tuy nhiên, thực tế cho thấy việc đào tạo tiếng Anh chuyên ngành (ESP) vốn gặp nhiều khó khăn và hiệu quả chưa cao [14, tr 4] Khái niệm ESP mới được biết đến vào những năm đầu thập kỉ 1990, nhưng cách hiểu và áp dụng còn quá sơ khai đến mức một số tài liệu hay giáo trình tiếng Anh chuyên ngành được biên soạn thuần túy là các bài đọc hiểu và bài tập ngữ pháp, từ vựng liên quan [14, tr 3] Bàn về vai trò của tiếng

Anh khoa học, Robert Goldbort [171, tr 3] đã khẳng định: “Tiếng Anh khoa học có

ý nghĩa vô cùng to lớn trong cộng đồng các nhà nghiên cứu khoa học” Trên thực

tế, những tài liệu nghiên cứu hay những phát minh, ứng dụng mới về dược học trên thế giới hầu hết đều được công bố bằng tiếng Anh và không phải tài liệu hay công trình nghiên cứu nào cũng được dịch sang tiếng Việt

Trước tình hình đa phần giáo viên dạy tiếng không được đào tạo về chuyên ngành, hoặc nếu tự học thì nói chung cũng không đủ kiến thức chuyên ngành để đảm bảo truyền đạt chính xác trong mọi trường hợp [12], [13] Hơn nữa, xét từ quan điểm giảng dạy và học tập tiếng Anh chuyên ngành, các giáo trình và tạp chí chuyên ngành dược học chưa được tìm hiểu một cách toàn diện cũng như nghiên cứu đối chiếu tiếng Anh với tiếng Việt từ trước tới nay Đồng thời thực tế cũng chỉ ra trình

độ tiếng Anh của nhiều sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh ngành dược vẫn chưa thể đọc hiểu được những tài liệu chuyên ngành dược học bằng tiếng Anh Trong khi nhu cầu tìm hiểu những phát triển mới về dược học như là một chuyên ngành khoa học ngày càng cao cũng như trong bối cảnh nước ta hội nhập ngày càng

Trang 10

sâu rộng vào nền kinh tế toàn cầu Do vậy, việc tiếp thu và ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật trên thế giới để phát triển ngành Dược Việt Nam có ý nghĩa và vị trí rất quan trọng Các nhà nghiên cứu ngôn ngữ chuyên ngành như Halliday et al [101]; Widdowson [188]; Johns & Dudley-Evans [91] và Hoàng Văn Vân [65] cho rằng hiểu biết được những đặc điểm ngôn ngữ và văn bản của ngôn ngữ chuyên ngành sẽ giúp quá trình đọc hiểu được nhanh hơn, viết các bài viết về chuyên ngành

có hiệu quả hơn và dịch chuyên ngành từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ kia một cách chính xác hơn và thoát ý hơn Chính vì vậy việc nghiên cứu đối chiếu tiếng Anh với tiếng Việt trong các lĩnh vực chuyên ngành là một đòi hỏi cấp thiết hiện nay, cho thấy những nỗ lực của các nhà Việt ngữ học cũng như ngoại ngữ học

Hơn nữa, hiện nay ở Việt Nam cũng như trên thế giới vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào phân tích, đối chiếu những đặc điểm của VBCNDH tiếng Anh với tiếng Việt dựa trên quan điểm ngôn ngữ học chức năng hệ thống

Thực tế trên đây là động lực chủ yếu để chúng tôi triển khai đề tài ĐẶC ĐIỂM TIẾNG ANH CHUYÊN NGÀNH DƯỢC HỌC TRONG SỰ ĐỐI CHIẾU VỚI TIẾNG VIỆT

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

2.1 Mục đích nghiên cứu

Luận án đặt ra hai mục đích nghiên cứu cơ bản sau: Thứ nhất, phân tích bản

chất và đặc điểm để tìm ra những đặc điểm ngôn ngữ nổi trội trong VBCNDH tiếng Anh và tiếng Việt từ quan điểm ngữ pháp chức năng hệ thống của Halliday về

phương diện ngữ vực (Register) Thứ hai, đối chiếu những điểm tương đồng và khác

biệt về đặc điểm ngôn ngữ trong hai loại văn bản trên để tìm ra những nét tương đồng

và khác biệt về phương diện Trường, Không khí, và Cách thức, cụ thể là về đặc điểm:

Hệ thống chuyển tác, Tham thể/Chủ ngữ, thuật ngữ, cấu trúc/dạng, thức, tình thái, đề ngữ, quy chiếu và liên kết logic

Hai câu hỏi được đặt ra để trả lời cho mục đích nghiên cứu của luận án chính là:

(i) Những đặc điểm ngôn ngữ nổi trội nào được các nhà dược học chuyên

ngành sử dụng để kiến tạo VBCNDH tiếng Anh và tiếng Việt và chúng được sử dụng như thế nào?

(ii) Các VBCNDH tiếng Anh và tiếng Việt có những điểm tương đồng và

khác biệt nào liên quan đến những đặc điểm ngôn ngữ nổi trội đó?

Trang 11

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích đã đề ra ở trên, luận án đề xuất một số nhiệm vụ nghiên cứu dưới đây:

- Tổng quan tình hình nghiên cứu về ngôn ngữ chuyên ngành, ngôn ngữ trong văn bản chuyên ngành y dược tiếng Anh và tiếng Việt trên thế giới và ở Việt Nam

- Nghiên cứu những đặc điểm cơ bản về cơ sở lý thuyết của Ngôn ngữ học chức năng hệ thống về phương diện ngữ vực để xây dựng khung lí thuyết cho luận án

- Sử dụng khung lí thuyết đã được thiết lập để mô tả, phân tích các đặc điểm ngôn ngữ trong VBCNDH tiếng Anh và tiếng Việt trên quan điểm của Ngôn ngữ học chức năng hệ thống về phương diện Trường, Không khí và Cách thức

- Đối chiếu đặc điểm ngôn ngữ trong VBCNDH tiếng Anh với tiếng Việt theo các phương diện đã nêu, từ đó thiết lập những nét tương đồng và khác biệt trong hai ngôn ngữ

- Kết luận chung về những đặc điểm ngôn ngữ nổi trội về ngữ nghĩa, ngữ pháp – từ vựng trong VBCNDH tiếng Anh và tiếng Việt

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

Luận án sẽ tập trung vào việc nghiên cứu các đặc điểm ngữ nghĩa, ngữ pháp –

từ vựng và liên kết trong VBCNDH tiếng Anh và tiếng Việt Khung lý thuyết mà nghiên cứu dựa vào là ngôn ngữ học chức năng hệ thống (viết tắt là SFL) [113], [115] Từ quan điểm chức năng hệ thống, ngữ pháp sâu của một đơn vị, ví dụ, ngữ pháp sâu của cú được trình bày bằng các mạng lưới hệ thống với điểm xuất phát là

“cú” như THỨC, CHUYỂN TÁC, và ĐỀ NGỮ, LIÊN KẾT, v.v Do vậy, luận án sẽ tập trung vào mô tả, phân tích và so sánh các nội dung như THỨC, CHUYỂN TÁC,

ĐỀ NGỮ, và LIÊN KẾT và các đặc điểm nổi trội của văn bản chuyên ngành dược học trong hai ngôn ngữ như đã được các nhà nghiên cứu chỉ ra trên ngữ liệu của các văn bản đã chọn (được trình bày ở dưới)

Trong luận án, hai ngôn ngữ có liên quan là tiếng Anh và tiếng Việt Đối chiếu đặc điểm ngôn ngữ chuyên ngành dược học trong tiếng Anh với tiếng Việt, chúng tôi lấy tiếng Anh là ngôn ngữ cơ sở và tiếng Việt là ngôn ngữ đối chiếu

Tạp chí chuyên ngành được sử dụng cho nghiên cứu lần lượt như sau:

Trang 12

điều trị bệnh v.v Lý do luận án lựa chọn hai loại tạp chí này bởi vì: Thứ nhất, Tạp

chí Dược học là cơ quan ngôn luận của ngành Dược của Việt Nam nhằm thông tin tới bạn đọc trong và ngoài nước về đường lối, chính sách của Đảng, của Nhà nước

và Bộ Y tế với mục tiêu chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cộng đồng Tạp chí cũng là diễn đàn trao đổi thông tin về những quan điểm, kinh nghiệm và kỹ năng quản lý nhà nước về ngành Dược ở trong và ngoài nước trên các lĩnh vực quản lý, nghiên cứu cũng như sản xuất, kinh doanh và lưu thông phân phối thuốc Ngoài ra, tạp chí còn là nơi công bố các công trình nghiên cứu khoa học và làm cầu nối chuyển giao

công nghệ; Thứ hai, Tạp chí nghiên cứu Dược học Anh là tạp chí được các độc giả

trong giới đánh giá là tạp chí khoa học cống hiến cho công chúng những bài báo chất lượng cao trong mọi lĩnh vực khoa học dược học bao gồm thuốc dược phẩm, dược bệnh viện, dược hạt nhân, dược quân y, dược chẩn đoán, dược điều trị, dược động học, dược lâm sàng, dược tâm lý, phát triển thuốc cũng như an toàn trong thử

nghiệm thuốc v.v (http://www.sciencedomain.org/journal/14/about-journal)

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án

4.1 Phương pháp luận

Luận án sử dụng hai phương pháp nghiên cứu chính là phương pháp miêu tả

và phương pháp so sánh-đối chiếu

Phương pháp miêu tả giúp luận án phác họa một bức tranh toàn cảnh về diễn ngôn dược học tiếng Anh và tiếng Việt nói chung hiện đang được sử dụng tại Việt Nam Đồng thời cũng giúp luận án miêu tả đặc điểm ngôn ngữ của văn bản dược

Trang 13

học Trên cơ sở miêu tả, luận án sẽ đưa ra các mô hình cấu trúc sử dụng ngôn ngữ dược học trong tiếng Anh và tiếng Việt

Luận án sử dụng phương pháp miêu tả vì trong so sánh đặc điểm ngôn ngữ chuyên ngành dược học tiếng Anh và tiếng Việt, luận án cần thiết phải đưa ra một khuôn khổ lý thuyết chung để mô tả một cách có hiệu quả

Phương pháp so sánh - đối chiếu được sử dụng để đối sánh các đặc điểm ngôn ngữ nổi trội của VBCNDH tiếng Anh với tiếng Việt, nhằm tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt trong hai văn bản, trong đó tiếng Anh là ngôn ngữ nguồn và tiếng Việt là ngôn ngữ đối chiếu

Khung lý thuyết chủ yếu dựa trên nghiên cứu của Bùi Mạnh Hùng [29] và có kết hợp một số nghiên cứu khác

Ngoài ra, luận án cũng sử dụng một số thủ pháp khác như phân tích và thống

kê để chỉ ra tần số xuất hiện của từng loại đặc điểm ngôn ngữ trong VBCNDH trong hai ngôn ngữ Từ đó làm cơ sở cho việc so sánh đối chiếu được thuyết phục hơn

4.2 Phương pháp thu thập ngữ liệu

4.2.1 Tiêu chí xây dựng khối liệu

Nguồn ngữ liệu thu thập được luận án chọn để nghiên cứu là các bài trong tạp chí chuyên ngành dược học trong tiếng Anh và tiếng Việt phải đáp ứng một số tiêu chí cơ bản sau:

(i) Tạp chí được chọn để nghiên cứu dựa trên uy tín của các tạp chí trong ngành dược;

(ii) Các bài báo được chọn đảm bảo tính cập nhật, tính thời sự;

(iii) Các bài báo có nội dung viết về cùng lĩnh vực (cùng về một loại dược liệu, bào chế một loại thuốc, đánh giá một loại thuốc đối với một bệnh nào đó v.v.);

(iv) Không giới hạn số lượng tác giả cho mỗi bài báo nghiên cứu Tác giả

là người đứng tên duy nhất hay là người đứng tên đầu tiên trong nhóm tác giả của bài báo

Trang 14

đối với mỗi thứ tiếng Các bài báo được chọn dùng làm khối liệu nằm trong các số phát hành định kỳ của mỗi tạp chí Vì ngôn ngữ khoa học trong tạp chí chuyên ngành dược học là một ngữ vực rộng lớn, che phủ nhiều môn học khác nhau như hóa sinh, hóa dược dược lý, dược lâm sàng, bào chế thuốc, kiểm nghiệm thuốc, thực vật dược, dược liệu, hóa phân tích, vật lý v.v và có liên quan nhiều đối với ngành

y Do vậy, đó là mối quan tâm chính của luận án và là cơ sở để luận án tiến hành thu thập khối liệu phù hợp Dựa vào các tiêu chí ở trên, luận án chọn ra được 25 bài báo tiếng Anh và 25 bài báo tiếng Việt được viết bởi các tác giả khác nhau Đồng thời nội dung của các bài báo đã chọn là những nghiên cứu mang tính thời sự và không trùng lặp nhau Phần khối liệu tiếng Anh được gán ký hiệu từ E01 đến E25, phần khối liệu tiếng Việt mang ký hiệu từ V01 đến V25 (chi tiết xin xem phần khối liệu)

4.2.3 Bối cảnh thu thập khối liệu

Như đã đề cập trong Mục 5.2, khối liệu được lựa chọn làm đối tượng để khảo sát là 25 bài báo tiếng Anh và 25 bài báo tiếng Việt Tuy nhiên, nếu xét đối với mỗi bài báo tiếng Anh thì có độ dài trung bình từ 8 trang đến 20 trang, bao gồm cả các bảng biểu và sơ đồ (chi tiết xin xem phần phụ lục) Mỗi bài báo chuyên ngành dược

học tiếng Anh bao gồm 3 phần cơ bản: (i) phần mở đầu (gồm phần tóm tắt - abstract

và phần giới thiệu - introduction); (ii) phần thân bài và (iii) phần kết luận Các bài

báo luận án nghiên cứu là những báo cáo thể hiện kết quả của một thí nghiệm Theo quan điểm của Bhatia [71], thể loại chính trong các bài báo luận án nghiên cứu được viết bằng “ngôn ngữ khoa học” và thuộc thể loại ‘báo cáo’ Các báo cáo này thể hiện kết quả của một thí nghiệm hay những cuộc điều tra, khảo sát về lĩnh vực dược học Chúng cung cấp một nguồn đáng giá về các công trình nghiên cứu khoa học ngành dược ở Việt Nam và trên thế giới Xét về cách thức tổ chức, mỗi bài báo tiếng Anh trong luận án nghiên cứu được cấu trúc chi tiết như sau

(i) Phần mở đầu: gồm phần tóm tắt - abstract và phần giới thiệu –

introduction Phần tóm tắt là phần có chức năng là một diễn ngôn độc lập Phần này có chức năng cung cấp những vấn đề cụ thể và chính xác nội dung của toàn văn bài báo Phần giới thiệu là một diễn ngôn khác dài hơn và có chứa trung bình khoảng 24 cú/1 bài báo

(iii) Phần thân bài: hầu hết phần thân bài báo đều bao gồm ba phần cơ

bản: (1) Material and methods (Tư liệu và phương pháp nghiên cứu);

Trang 15

(2) Result (kết quả nghiên cứu); (3) Discussion (thảo luận kết quả nghiên cứu) Tuy nhiên, trong phần Tư liệu và phương pháp nghiên cứu của các bài báo, các nhà dược học đã chia nhỏ ra nhiều tiểu mục nhỏ hơn để mô tả tiết như các mẫu nguyên liệu, quy trình chuẩn bị các

tư liệu sử dụng cho nghiêm cứu, phương pháp nghiên cứu Phần Kết quả của các bài báo nghiên cứu đặc trưng bởi các số liệu và bảng biểu

vì đây là phần các tác giả trình bày các kết quả thu được từ nghiên cứu Phần này rất dài vì bao gồm các phân tích thống kê, so sánh các

số liệu ở các bảng và biểu đồ Phần Thảo luận của các bài báo rất dài,

độ dài của phần thảo luận không theo một chuẩn cụ thể, trong các bài báo khác nhau thì độ dài của phần thảo luận cũng khác nhau

(iv) Phần kết luận: Đây là phần tóm tắt lại kết quả nghiên cứu đạt được và

nêu ứng dụng hoặc những ý nghĩa của nghiên cứu Đồng thời nó còn đưa ra những gợi ý cho nghiên cứu tiếp theo Độ dài của phần kết luận cho thấy đây là phần rất nhỏ, chỉ bao gồm trung bình 5 cú/1 bài báo

Mỗi bài báo tiếng Việt cũng gồm 3 phần chính: (i) Phần mở đầu (gồm phần tóm tắt và Đặt vấn đề); (ii) phần thân bài báo và (iii) phần kết luận (gồm kết luận

và tài liệu tham khảo) Mỗi bài báo tiếng Việt thì có độ dài trung bình từ 3 trang đến

6 trang (chi tiết xin xem phần phụ lục) Mỗi bài báo tiếng Việt trong luận án nghiên cứu được cấu trúc chi tiết như sau

(i) Phần mở đầu: gồm phần tóm tắt và phần đặt vấn đề Phần tóm tắt

cũng là một diễn ngôn độc lập Phần này cung cấp cụ thể nội dung của toàn văn bài báo Phần đặt vấn đề là một diễn ngôn khác dài hơn và có trung bình là 9 cú/1 bài báo

(ii) Phần thân bài: gồm ba phần cơ bản: (1) Tư liệu và phương pháp

nghiên cứu; (2) Kết quả nghiên cứu và (3) Bàn luận Xét phần tư liệu

và phương pháp nghiên cứu, nhìn chung các bài báo đều trình bày về

tư liệu và hóa chất; thiết bị máy móc; phương pháp nghiên cứu, xử lý

số liệu v.v Phần kết quả của các bài báo bao gồm nhiều bảng và biểu

đồ minh họa Phần bàn luận là phần rất dài, độ dài của phần này thay đổi ở các bài báo Ở phần này, là nội dung phân tích và thảo luận những kết quả thu được từ nghiên cứu Xét phần kết luận, đây là phần

Trang 16

tóm tắt lại kết quả nghiên cứu đạt được với ý nghĩa của nghiên cứu Bên cạnh đó, phần kết luận còn đưa ra những gợi ý cho nghiên cứu tiếp theo

(iii) Phần kết luận: bao gồm hai phần nhỏ hơn là kết luận và tài liệu tham

khảo Phần kết luận tóm tắt lại kết quả nghiên cứu đạt được với ý nghĩa của nghiên cứu Bên cạnh đó, phần kết luận còn đưa ra những gợi ý cho nghiên cứu tiếp theo Phần tài liệu tham khảo phụ thuộc vào lượng tham khảo của các nhà dược học tiếng Việt

Thực tế này đòi hỏi luận án phải giới hạn việc thu thập dữ liệu trong khuôn khổ của luận án Do đó luận án chọn toàn bộ phần mở đầu, một phần lớn của phần thân bài có liên quan đến việc trình bày những nội dung nghiên cứu của các nhà dược học, và toàn bộ phần kết luận của mỗi bài báo trong mỗi ngôn ngữ Như vậy, phần khối liệu tiếng Anh mà luận án nghiên cứu bao gồm 2.101 cú Trong đó có

602 cú phần mở đầu, 1.360 cú phần thân bài, và 139 cú phần kết luận Đối với tiếng Việt, tổng số cú phần khối liệu luận án nghiên cứu là 1.161 cú, bao gồm 239 cú phần mở đầu, 793 cú phần thân bài, và 129 cú phần kết luận

4.3 Phạm vi phân tích

Trong lý thuyết ngôn ngữ học chức năng hệ thống của Halliday, ông đã cho thấy mỗi đặc điểm của văn bản có thể được liên hệ với toàn bộ hệ thống Ông cũng nhận định sự phân tích bao gồm: (i) Các bình diện của cú (bao gồm chức năng ngôn bản, chức năng liên nhân, và chức năng tư tưởng); (ii) Các lớp từ cơ bản của cụm từ

và tiểu cú; (iii) Cú phức; (iv) Liên kết; (v) Ẩn dụ ngữ pháp; và (vi) Các đặc điểm khẩu ngữ Tuy nhiên, do phạm vi của một luận án và trên khối liệu khảo sát như đã

đề cập ở Mục 5.3 Vì vậy, việc khảo sát các đặc điểm ngôn ngữ của khối liệu chủ yếu tập trung vào các đặc điểm về Trường, Không khí và Cách thức Do đó, luận án giới hạn khảo sát các phương diện dưới đây:

(i) Phân tích để tìm ra số lượng, tỷ lệ phần trăm, và đặc điểm của các

kiểu quá trình được sử dụng trong phần mở đầu, phân thân bài, phần kết luận và trong khối liệu;

(ii) Phân tích để tìm ra số lượng, tỷ lệ phần trăm và đặc điểm của các

Tham thể làm Chủ ngữ ở bình diện liên nhân được sử dụng trong phần

mở đầu, phần thân bài, phần kết luận và trong khối liệu;

Trang 17

(iii) Phân tích mật độ thuật ngữ khoa học trong vai trò làm Tham thể làm

chủ ngữ được sử dụng trong phần mở đầu, phần thân bài, phần kết luận và trong khối liệu;

(iv) Phân tích dạng chủ động và bị động được sử dụng trong phần mở đầu,

phần thân bài, phần kết luận và trong khối liệu;

(v) Phân tích số lượng và tỷ lệ các kiểu thức được sử dụng trong phần mở

đầu, phần thân bài, phần kết luận và trong khối liệu;

(vi) Phân tích số lượng và tỷ lệ các kiểu tình thái (modality) được sử dụng

trong phần mở đầu, phần thân bài, phần kết luận và trong toàn khối liệu; (vii) Phân tích số lượng và tỷ lệ các kiểu Đề ngữ được sử dụng trong phần

mở đầu, phần thân bài, phần kết luận và trong toàn khối liệu;

(viii) Phân tích số lượng và tần số xuất hiện của quy chiếu ngôi, quy chiếu chỉ

định và liên kết logic được sử dụng trong phần mở đầu, phần thân, phần kết luận, và trong toàn khối liệu

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

Đóng gớp mới về khoa học của luận án được thể hiện trước hết ở việc đã góp phần cung cấp cho lý luận ngôn ngữ một cách nhìn sâu sắc về đặc điểm ngôn ngữ văn bản dược học tiếng Anh và tiếng Việt, góp phần làm phong phú thêm một phương pháp phân tích diễn ngôn được sử dụng để so sánh các văn bản chuyên ngành dược học trong hai ngôn ngữ - phương pháp phân tích diễn ngôn theo lí thuyết chức năng hệ thống, được phân tích theo ba phạm trù ngữ vực là Trường, Không khí, và Cách thức Những kết quả đạt được của công trình nghiên cứu này đã cho thấy phương pháp phân tích diễn ngôn được áp dụng để phân tích và so sánh văn bản chuyên ngành dược học là phù hợp và có hiệu quả Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy ý nghĩa trải nghiệm, ý nghĩa liên nhân, ý nghĩa văn bản và mối quan hệ biện chứng giữa chúng rất quan trọng cho việc tìm hiểu và

so sánh ý nghĩa của các văn bản chuyên ngành dược học trong hai ngôn ngữ

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

Luận án là một nghiên cứu tiếp thu trên đường hướng nghiên cứu ngôn ngữ học hiện đại ở Việt Nam cũng như trên thế giới vào việc phân tích và mô tả đặc điểm của ngôn ngữ trong VBCNDH tiếng Anh đối chiếu với tiếng Việt Đây là công trình nghiên cứu đầu tiên và toàn diện về diễn ngôn dược học tiếng Anh và tiếng Việt

Trang 18

6.1 Về lí luận

Thông qua nghiên cứu đặc điểm tiếng Anh chuyên ngành dược học đối chiếu với tiếng Việt, luận án sẽ góp phần cung cấp cho lý luận ngôn ngữ một số cứ liệu về đặc điểm ngôn ngữ văn bản dược học tiếng Anh Do đó, luận án góp phần làm phong phú thêm phương pháp phân tích diễn ngôn về các văn bản chuyên ngành khác trong tiếng Anh và tiếng Việt

6.2 Về thực tiễn

Nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn đóng góp vào việc nâng cao kỹ năng viết các ngôn bản khoa học liên quan đến chuyên ngành dược học, khả năng đọc hiểu nội dung các ngôn bản này trong hai ngôn ngữ nhanh hơn và thấu đáo hơn, và dịch các văn bản thuộc chuyên ngành dược học từ tiếng Anh sang tiếng Việt và ngược lại một cách hiệu quả

Kết quả nghiên cứu của luận án còn có thể được áp dụng để giảng dạy tiếng

Anh chuyên ngành trong các trường cao đẳng và đại học dược ở Việt Nam hiện nay

7 Cấu trúc cục luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, thư mục tham khảo và phụ lục kèm theo, luận

án gồm 4 chương như sau:

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lí thuyết Trong chương này,

luận án tổng quan về tình hình nghiên cứu tiếng Anh chuyên ngành nói chung cũng như tiếng Anh chuyên ngành y dược nói riêng và Ngôn ngữ học chức năng hệ thống trên thế giới và ở Việt Nam Ngoài ra, luận án cũng trình bày lý thuyết về phân tích diễn ngôn, lý thuyết liên quan đến VBCNDH, lý thuyết Ngôn ngữ học chức năng hệ thống Cụ thể, là lý thuyết liên quan đến các đặc điểm về Trường, Không khí và Cách thức thông qua các phương diện biểu đạt nghĩa kinh nghiệm, nghĩa liên nhân

và nghĩa văn bản Bên cạnh đó, luận án cũng trình bày về lý thuyết ngôn ngữ so sánh đối chiếu nhằm tạo cơ sở cho việc đối chiếu đặc điểm ngôn ngữ trong hai văn bản được thuyết phục hơn

Chương 2: Đặc điểm ngôn ngữ trong văn bản chuyên ngành dược học tiếng

Anh Chương này luận án tập trung phân tích, miêu tả các đặc trưng về Trường, Không khí và Cách thức dựa trên cơ sở lý thuyết Ngôn ngữ học chức năng hệ thống của Halliday về ngữ vực Cụ thể, luận án đi sâu phân tích, miêu tả hệ thống chuyển tác

và dạng, các Tham thể làm chủ ngữ và các thuật ngữ trong vai trò Tham thể làm chủ

Trang 19

ngữ để làm rõ đặc trưng về Trường Đặc trưng về Không khí được luận án tập trung phân tích, miêu tả sự thể hiện của các kiểu thức và tình thái Để làm rõ đặc trưng về Cách thức, luận án đi sâu miêu tả hệ thống Đề ngữ, quy chiếu và Liên kết logic

Chương 3: Đặc điểm ngôn ngữ trong văn bản chuyên ngành dược học tiếng

Việt Chương 3 luận án cũng với cách thức phân tích, miêu tả đặc trưng ngôn ngữ trên phương diện Trường, Không khí và Cách thức để tìm ra những đặc điểm ngôn ngữ nổi trội trong VBCNDH tiếng Việt

Chương 4: Đối chiếu đặc điểm ngôn ngữ trong văn bản chuyên ngành dược

học tiếng Anh với tiếng Việt Trên cơ sở phân tích, miêu tả để tìm ra những đặc điểm ngôn ngữ nổi trội trong hai văn bản ở chương 2 và chương 3, chương này luận

án đối chiếu để tìm ra những đặc điểm tương đồng và khác biệt về đăc trưng Trường, Không khí và Cách thức trong VBCNDH tiếng Anh và tiếng Việt

Trang 20

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT

1.1 Dẫn nhập

Để cho việc khảo sát các đặc điểm ngôn ngữ một cách rõ ràng, chương này

sẽ giải quyết ba vấn đề cơ bản Thứ nhất, tổng quan tình hình những nghiên cứu văn

bản chuyên ngành nói chung, văn bản chuyên ngành dược học và những nghiên cứu

có liên quan trên thế giới cũng như ở Việt Nam trong tiếng Anh và tiếng Việt Thứ hai, trình bày một số quan điểm cơ bản về ngữ pháp chức năng hệ thống của

Halliday về ngôn ngữ trên phương diện ngữ vực (register) và một số lí thuyết về

tiếng Việt có liên quan đến luận án Thứ ba, khái quát về quan điểm lí thuyết ngôn

ngữ học đối chiếu

1.2 Tình hình nghiên cứu tiếng Anh chuyên ngành trên thế giới

Trên thế giới, có rất nhiều công trình nghiên cứu về ngôn ngữ chuyên ngành Tuy nhiên, một số nghiên cứu sau đây được cho là đại diện và phù hợp với nghiên cứu của luận án: (i) Nghiên cứu của Hutchison & Waters và một số nhà nghiên cứu khác [136], [137], [138], [139], [166]; (ii) Nghiên cứu của Dudley-Evans; (iii) Nghiên cứu của Halliday và một số nhà nghiên cứu khác

Theo hai nhà ngoại ngữ chuyên ngành nổi tiếng Hutchinson & Waters [139], tiếng Anh chuyên ngành được phát triển từ thời gian đầu của những năm 1960 Đồng thời nó cũng là kết quả của sự ảnh hưởng của nền kinh tế thế giới trong những năm 1950 và 1960 Cụ thể là sự phát triển của khoa học và công nghệ, sử dụng tiếng Anh tăng nhanh như ngôn ngữ khoa học quốc tế, công nghệ và kinh doanh, quyền lực kinh tế ngày càng tăng đối với những quốc gia có mỏ dầu và sự gia tăng của lượng sinh viên quốc tế tham gia học tập ở Anh, Mỹ và Úc Nghiên cứu của hai tác giả cũng chỉ ra tiếng Anh chuyên ngành được phát triển qua ba giai đoạn và được phát triển với tốc độ khác nhau ở những quốc gia khác khau Hutchinson & Waters (Ibid.) quan niệm: “Tiếng Anh chuyên ngành là một đường hướng, không phải là

một thành phẩm” (English for specific purpose must be seen as an approach not as

a product) Theo quan niệm này, Hutchinson & Waterscho rằng tiếng Anh chuyên

ngành không phải là một thể loại ngôn ngữ đặc biệt, cần đến phương pháp tài liệu giảng dạy đặc biệt, nằm ngoài ngôn ngữ Hoặc McDonough’s [166] đã cho rằng:

Trang 21

“Tiếng Anh chuyên ngành mô tả các chương trình ngôn ngữ thiết kế cho các nhóm hoặc cá nhân, những người đang học tập và có những mục đích và nhu cầu cụ thể,

rõ ràng” Ngoài ra, Hutchinson & Waters [139], Robinson [172], Dudley-Evans

[92] cho rằng tiếng Anh chuyên ngành về cơ bản là phục vụ mục đích, nhu cầu rõ ràng, cụ thể của người học Khi nghiên cứu về đặc điểm của tiếng Anh chuyên ngành, Hutchinson & Waters [139] cũng khẳng định được kết quả của Swales [178] cho rằng trong thực tế tiếng Anh khoa học và công nghệ chính là sự minh họa cho

sự phát triển của tiếng Anh chuyên ngành Khi nghiên cứu về kết quả của Ewer & Latorre [94], ông cũng hé lộ rằng có một chút khác biệt trong cấu trúc ngữ pháp trong tiếng Anh khoa học với tiếng Anh thông thường như sự khác nhau về sử dụng thì hiện tại đơn giản, dạng bị động và từ ghép Trong quá trình nghiên cứu, ông cũng chỉ ra kết luận nghiên cứu của Ewer & Hughes-Davies [95] cho thấy ngôn ngữ trong các văn bản khoa học có sự xuất hiện của nhiều danh từ ghép, dạng bị động, câu điều kiện, động từ tình thái hơn so với các văn bản thông thường

Theo Dudley-Evans [92], nghiên cứu ngôn ngữ chuyên ngành đã có từ lâu Một vài ý kiến cho rằng nó có từ thời Đế chế La Mã và Đế chế Hy Lạp Tuy nhiên,

từ những năm 1960, tiếng Anh chuyên ngành đã trở thành một lĩnh vực đổi mới và quan trọng trong quá trình giảng dạy tiếng Anh như là một ngoại ngữ Gần đây, tiếng Anh chuyên ngành đã được chiếm ưu thế bởi việc dạy tiếng Anh với mục đích hàn lâm (EAP), hầu hết các tài liệu, việc học tập và nghiên cứu để được thực hiện trong lĩnh vực tiếng Anh với mục đích hàn lâm Khi nghiên cứu về tiếng Anh chuyên ngành, Dudley-Evans cũng cho rằng tiếng Anh chuyên ngành là một phần của sự phát triển của việc giảng dạy ngôn ngữ khoa học Với công trình

Development in ESP [92, tr 4-79], Tony Dudley-Evans đã khái quát một số vấn đề

đa dạng về ngôn ngữ trong tiếng Anh chuyên ngành, chủ yếu tập trung vào tiếng Anh chuyên ngành y và tiếng Anh chuyên ngành kinh doanh Khi xem xét về đặc điểm của tiếng Anh chuyên ngành, ông đã chỉ ra một số đặc điểm cơ bản về ngữ pháp, từ vựng và diễn ngôn Có thể thấy, tiếng Anh chuyên ngành tập trung theo một số hướng nghiên cứu dưới đây:

Hướng nghiên cứu ngữ pháp trong tiếng Anh chuyên ngành: một số nghiên

cứu tiếng Anh chuyên ngành với dạng ngữ pháp cơ bản Việc phân tích ngữ vực đã chỉ ra “thì” và “dạng” động từ được chiếm ưu thế trong tiếng Anh khoa học và công

Trang 22

nghệ Nghiên cứu của Tony Dudley-Evans đã chỉ ra những kết luận cơ bản mà chính những kết luận này cũng đã được Barber chỉ ra: “thì” (tense) của tiếng Anh với mục đích hàn lâm thường tập trung sử dụng thì hiện tại đơn giản, dạng chủ động, bị động và động từ tình thái (dẫn theo Swales [179]) Ngoài ra, những nghiên cứu gần đây của Tony Dudley-Evans cũng đã nhận định trên quan điểm của Swales [179] nhìn các văn bản khoa học từ góc độ thể loại thì việc sử dụng của thì hiện tại hoàn thành trong tiếng Anh có lẽ cũng rất quan trọng trong các bài báo hàn lâm khoa học Việc sử dụng thì của động từ trong các bài báo hàn lâm khoa học được Tony Dudley-Evans thể hiện như sau:

Thì hiện tại đơn (dạng chủ động và bị động), hiện tại hoàn thành thường được sử dụng trong phần dẫn luận Tuy nhiên, dạng bị động chỉ được sử dụng để

mô tả các phương pháp nghiên cứu Phần thảo luận hay phần kết luận trong các bài báo hàn lâm khoa học thường hay sử dụng thì quá khứ Trong khi đó, thì hiện tại thường hay được sử dụng trong các phần bình luận hay chú giải trong các bài báo hàn lâm

Ở dạng bị động của tiếng Anh chuyên ngành, Tony Dudley-Evans [92] cũng chỉ ra kết quả của Wingard [189] cho rằng trong các văn bản y học, có tới 60% động từ được sử dụng ở dạng chủ động và gần 40% được sử dụng ở dạng bị động

Xu hướng sử dụng dạng chủ động để mô tả sự lựa chọn các thủ tục; tuy nhiên dạng

bị động được sử dụng khi các tiến trình thủ tục được miêu tả Ngoài ra nghiên cứu còn chỉ ra rằng kết quả nghiên cứu của Tarone và cộng sự, họ cho rằng xu hướng sử dụng dạng chủ động đối với những nghiên cứu của bản thân người nghiên cứu, nhưng dạng bị động được sử dụng để đề cập đến những nghiên cứu trước đó [182]

Với động từ tình thái trong tiếng Anh chuyên ngành, nghiên cứu của Tony

Dudley-Evans về tiếng Anh chuyên ngành cũng chỉ ra động từ tình thái đặc biệt là

may, might, could, would dùng để chỉ mức độ chắc chắn của một tuyên bố hay một

yêu cầu trong văn bản khoa học [92] Nếu tuyên bố đưa ra sự tương phản trong kết

quả, may được sử dụng để nói đến những vấn đề không chắc chắn và những tuyên

bố cảnh báo Tuy nhiên, nếu tuyên bố đưa ra sự tương phản trong kết quả, could

được sử dụng để nói những vấn đề không chắc chắn, thậm chí là những tuyên bố cao hơn mức độ cảnh báo

Trang 23

Trên phương diện liên kết logic của tiếng Anh chuyên ngành, Tony

Dudley-Evans [92] cũng chỉ ra liên kết logic trong văn bản khoa học, ví dụ như moreover, however, therefore luôn xuất hiện cao trong các diễn ngôn y học Nó được xem là chìa

khóa để hiểu mối quan hệ logic ngữ nghĩa trong diễn ngôn khoa học

Hướng nghiên cứu từ vựng trong tiếng Anh chuyên ngành: Khi nghiên cứu

về từ vựng trong tiếng Anh chuyên ngành, đặc biệt là từ vựng bán kỹ thuật và từ vựng kinh doanh, nghiên cứu của Tony Dudley-Evans cũng thống nhất với kết quả nghiên cứu của Baker [69] với 6 đặc điểm của từ vựng có liên quan đến tiếng Anh với mục đích hàn lâm: (i) Loại từ vựng diễn tả các khái niệm phổ biến trong tất cả các bài nghiên cứu khoa học; (ii) Loại từ vựng trong ngôn ngữ thông thường có nghĩa đặc biệt trong các bài nghiên cứu khoa học; (iii) Loại từ đặc biệt có nghĩa khác nhau trong các bài nghiên cứu khoa học khác nhau; (iv) Loại từ vựng trong ngôn ngữ thông thường có nghĩa hạn chế trong các bài nghiên cứu khoa học; (v) Loại từ vựng trong ngôn ngữ thông thường được sử dụng để mô tả hoặc đưa ra các lời chú giải đối với chức năng hoặc các tiến trình kỹ thuật hơn là các phần khác với

nghĩa tương tự Ví dụ, người ta dùng “occur” hơn là “happen”; và (vi) Loại từ vựng

thường được sử dụng để đánh dấu sự quan tâm hay đánh giá tài liệu được thực hiện

Trong nghiên cứu, Dudley-Evans cũng đã chỉ ra sáu loại từ vựng này có thể được xem chồng lấp lên nhau và dường như được chia làm hai lĩnh vực: (i) lĩnh vực

từ vựng được sử dụng trong ngôn ngữ thông thường nhưng có ảnh hưởng lớn hơn trong ngôn ngữ khoa học kỹ thuật; (ii) loại từ vựng có nghĩa đặc biệt trong các bài báo chuyên ngành cụ thể và có thể nó có sự đa dạng về nghĩa trong các chuyên ngành khác nhau

Hướng nghiên cứu ngữ nghĩa trong tiếng Anh chuyên ngành: Bên cạnh

những nhà nghiên cứu về tiếng Anh chuyên ngành đã nêu ở trên, còn có nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ chuyên ngành như Lenneberg [153], Herbert [126], Kelly [146], Jones [145], Herbolich [127], Chitravelu [77], Hullen [135], Coffey [79], Kennedy & Bolitho [147], Maher [158], Dudley Evans [90], Robinson [172],

Martin [159], Strevens [177], Hyland [140], [141], và nhiều học giả khác Tuy

nhiên, từ một góc nhìn khác, khi nghiên cứu về bản chất của các văn bản khoa học tiếng Anh, nhà ngôn ngữ học nổi tiếng người Anh Michael Halliday đã chỉ ra thuật ngữ “ngôn ngữ khoa học” là tên gọi cho một biến thể chức năng hay một kiểu ngữ

Trang 24

vực được khái quát hóa trong một ngôn ngữ cụ thể Sự đa dạng về loại hình văn bản

có thể được mô tả theo ba thông số của ngôn cảnh tình huống: Trường, Không khí,

và Cách thức Về đặc điểm Trường, các văn bản khoa học mở rộng, truyền bá hay khám phá kiến thức về các ngành khoa học tự nhiên như toán, lý, hóa, sinh, các ngành khoa học xã hội và nhân văn như kinh tế, tài chính, văn học, giáo dục v.v Về đặc điểm Không khí, chúng được nói và viết ra để các nhà chuyên môn, học sinh và sinh viên, hoặc thậm chí cả những người bình thường nghe/đọc dưới các hình thức

Về đặc điểm Cách thức, chúng có thể là các kênh âm thanh hay văn tự Ngôn ngữ khoa học có sự đa dạng về chức năng hùng biện - phân tích, giải thích, tranh luận, tổng hợp, tưởng tượng v.v Tuy nhiên, Halliday đã khẳng định sự khác nhau về không gian và thời gian hoàn toàn không đủ để phân biệt các văn bản khoa học với các ngữ vực khác Theo Halliday [109], ngữ vực là một tập hợp các đặc điểm có liên quan xuất hiện cùng nhau trong những xác suất không giới hạn Bởi vậy,

nghiên cứu bản chất của ngôn ngữ khoa học trong Writing Science: Literacy and Discursive Power của Halliday & Martin [112, tr 71-85] đã chỉ ra bảy điểm cơ bản

có thể được sử dụng để minh họa cho các đặc điểm cơ bản của tiếng Anh khoa học như sau: (i) Các khái niệm đan xen nhau; (ii) Tính kỹ thuật; (iii) Cách diễn đạt đặc biệt; (iv) Mật độ từ vựng cao; (v) Sự tối nghĩa về mặt cú pháp; (vi) Ẩn dụ ngữ pháp;

và (vii) Có tính không liên tục về ngữ nghĩa học

Trong nghiên cứu trên, Halliday đã khẳng định, hầu hết các đặc điểm được minh họa ở trên trong văn bản khoa học xảy ra độc lập với nhau Tuy nhiên, chúng có quan hệ chặt chẽ với nhau, có xu hướng kết hợp với nhau tạo nên đặc điểm của diễn ngôn khoa học Và ông cũng nhấn mạnh rằng việc học một ngành khoa học cũng chính

là học ngôn ngữ khoa học Ông cũng phân biệt, trong diễn ngôn hành chính những đặc điểm này không có lý do để tồn tại bởi vì nó không có các cấu trúc khái niệm phức tạp hoặc sự đe dọa của các tranh luận một cách logic

Bên cạnh đó, thành tựu của công trình Cohension in English (Liên kết trong tiếng Anh) của Halliday & Hassan [103] và Language, Context, and Text (Ngôn

ngữ, ngôn cảnh và văn bản) của Halliday & Hasan [108] đã nhấn mạnh quan hệ ngữ nghĩa cũng giúp cho việc nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ của các văn bản khoa học

Trong công trình nghiên cứu gần đây có nhan đề An Introduction to Functional Grammar, Halliday& Matthiessen [117] đã trình bày và phân tích khá kỹ về khái

Trang 25

niệm Cú (Clause) và lấy việc xem cú là cơ sở soi sáng các góc độ của văn bản Nghiên cứu đã làm rõ khái niệm cú đứng trên ba kiểu ý nghĩa khu biệt hàm chứa

trong cấu trúc của một cú (i) Cú như là một thông điệp (Clause as a message) (cấu trúc Đề - Thuyết), (ii) Cú như là một sự trao đổi (Clause as an exchange) (cấu trúc thức) và (iii) Cú như là sự thể hiện (clause as a representation) Như vậy, Halliday

là một trong những người đặt những viên gạch đầu tiên để xây dựng nền móng cho việc tìm hiểu đặc điểm của diễn ngôn khoa học Nói tóm lại, các nghiên cứu của ông chiếm một vị trí cực kỳ quan trọng trong lịch sử phát triển của tư duy Tây Âu

về ngôn ngữ học

Như vậy, những lí thuyết của các công trình nghiên cứu trên có thể được xem

là cơ sở lí thuyết để nghiên cứu về đặc điểm của diễn ngôn dược học trong tiếng Anh cũng như trong tiếng Việt Tuy khả năng bao quát tư liệu có thể chưa đầy đủ nhưng nghiên cứu đặc điểm của diễn ngôn khoa học đã được nhiều nhà Anh ngữ học chú ý đến Những thành tựu của nó, nhất là về mặt lí thuyết có thể được sử dụng làm khung lí thuyết để triển khai đề tài nghiên cứu về đặc điểm tiếng Anh

chuyên ngành dược học trong sự đối chiếu với tiếng Việt

1.3 Tình hình nghiên cứu tiếng Anh chuyên ngành ở Việt Nam

So với nền ngôn ngữ học của một số quốc gia Châu Âu và một số nước trong khu vực, lịch sử nghiên cứu về tiếng Anh chuyên ngành ở Việt Nam vẫn còn rất khiêm tốn Ở Việt Nam, tiếng Anh chuyên ngành chỉ bắt đầu được quan tâm từ đầu những năm 1980 Đặc biệt là từ khi Mĩ dỡ bỏ lệnh cấm vận chống lại Việt Nam vào năm 1993, vấn đề dạy ngữ vực nào của một ngoại ngữ ở các trường đại học Việt Nam mới thu hút sự chú ý của các nhà giáo học pháp, các nhà thiết kế chương trình

và biên soạn chương trình Chính vì vậy, đã có rất nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ chuyên ngành đưa ra các khái niệm khác nhau về tiếng Anh chuyên ngành Phan Văn Hòa [27] quan niệm tiếng Anh chuyên ngành là tiếng Anh vì/theo những mục đích cụ thể Thái Duy Bảo [6] thì cho rằng tiếng Anh chuyên ngành là tiếng Anh chuyên biệt Trần Quang Hải [17] thì chỉ ra rằng các thuật ngữ tiếng Anh chuyên ngành, tiếng Anh không chuyên, hay tiếng Anh chuyên biệt đều dịch từ thuật ngữ ESP (English for specific purpose) Tuy nhiên, Lâm Quang Đông đã nhận định, về

cơ bản ESP được gọi chung là tiếng Anh chuyên ngành ở Việt Nam [14, tr 3]

Trang 26

Xét về bản chất của các văn bản khoa học trong mối quan hệ với dịch thuật,

đi theo cách tiếp cận của Halliday [109], Hoàng Văn Vân [60, tr 211- 242], [63, tr 285] cũng đã chỉ ra một số đặc điểm có thể khu biệt văn bản khoa học với các kiểu ngữ vực khác như sau: (i) Tính khoa học và kỹ thuật; (ii) Các cách diễn đạt đặc biệt; (iii) Mật độ từ vựng cao; (iv) Cấu trúc phức tạp và tối nghĩa cú pháp; (vii) Ẩn dụ ngữ pháp Như vậy, để phục vụ cho mục đích nghiên cứu dịch thuật của mình, Hoàng Văn Vân (Ibid.) đã phác thảo một bức tranh khái quát về ngữ vực trong ngôn ngữ khoa học Ông đã khẳng định ngôn ngữ khoa học, với tư cách là một ngữ vực, khác với các kiểu ngữ vực khác ở nhiều khía cạnh trong đó khía cạnh trọng tâm khu biệt chúng là quá trình danh hóa hay ẩn dụ ngữ pháp Ngoài ra Hoàng Văn Vân [63,

tr 215], [65, tr 273- 274] đã chỉ ra giống như các ngữ vực khác, các văn bản khoa học, đặc biệt là các văn bản khoa học trong tiếng Anh thường có những thuật ngữ

bằng tiếng Latinh hay có nguồn gốc từ tiếng Latinh như in absentia (trong sự vắng mặt), in praesentia (trong sự hiện diện), avitaminosis (bệnh thiếu vitamin), auxesis

(sự tăng trưởng) Những thuật ngữ vay mượn này cũng làm cho các văn bản khoa học tiếng Anh khác với các văn bản khác

Xét trên bình diện nghiên cứu diễn ngôn, công trình A Functional Perspective on Translating ELT Texts from English into Vietnamese (Bình diện

chức năng trong việc dịch các ngôn bản khoa học từ tiếng Anh sang tiếng Việt) của

Hoàng Văn Vân [128]; Nghiên cứu dịch thuật của Hoàng Văn Vân [60]; Translation: Theory and Practice (Dịch thuật: Lí thuyết và thực tiễn) [130] v.v và

một số công trình nghiên cứu khác của ông đã có những đóng góp đáng kể vào nghiên cứu ngữ pháp, dịch thuật, phương pháp giảng dạy ngoại ngữ nói chung và đặc điểm ngôn ngữ chuyên ngành nói riêng Các công trình này có giá trị về mặt lí thuyết cho việc chọn cơ sở để phân tích diễn ngôn nói chung và để nghiên cứu về đặc điểm của tiếng Anh chuyên ngành dược học trong sự đối chiếu với tiếng Việt nói riêng

Bên cạnh đó, việc tiếp thu thành tựu của những công trình đi trước ở trong nước cũng như ở nước ngoài, tiếng Anh chuyên ngành được mở rộng phạm vi nghiên cứu đặc biệt dưới hình thức luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ hoặc các bài nghiên cứu khoa học v.v Chính vì vậy đã có nhiều nghiên cứu được phân tích nhiều chiều, từ từ vựng, ngữ pháp đến kết cấu văn bản hoặc các công trình nghiên cứu so sánh đối chiếu các

Trang 27

ngôn ngữ chuyên ngành, mặc dù những chuyên ngành này không gần với ngành dược học Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu này đều dựa trên quan điểm lý thuyết ngữ pháp chức năng hệ thống của Halliday và đã thể hiện tính ưu việt trong phân tích diễn ngôn, như công trình của Nguyễn Hòa [25], Nguyễn Xuân thơm [49], Nguyễn Thị Thanh Hương [30], Đỗ Tuấn Minh [88], [89], Đỗ Kim Phương [87], Trần Bình Tuyên [59] và rất nhiều nghiên cứu khác

Đối với các công trình nghiên cứu về tiếng Việt, đã có nhiều nghiên cứu trên các bình diện khác nhau dựa trên các quan điểm lí thuyết khác nhau, đại diện là những công trình của Trần Ngọc Thêm [45], Lưu Vân Lăng [34], Lê Quang Thiêm [46], [47], Diệp Quang Ban [2, 3] Cao Xuân Hạo [20, 21], Nguyễn Thượng Hùng [29], Lê Đông và Nguyễn Văn Hiệp [15], Hoàng Văn Vân [128], [62], Phạm Văn Tình [51], Nguyễn Văn Hiệp [22], [23], [24], Lâm Quang Đông [12], [13, [14], Nguyễn Hồng Cổn [9], [10] và rất nhiều công trình nghiên cứu khác Trong các nghiên cứu trên, Cao Xuân Hạo là người đầu tiên áp dụng triệt để quan hệ Đề - Thuyết vào phân tích cú pháp câu tiếng Việt (dẫn theo Nguyễn Hồng Cổn [11] Trong công trình “Tiếng Việt sơ thảo ngữ pháp chức năng” Cao Xuân Hạo [21] cho rằng câu tiếng Việt với tư cách là đơn vị “thông báo một mệnh đề” hay “phản ánh một nhận định” được cấu trúc hóa thành hai phần Đề và Thuyết, trong đó “Đề là điểm xuất phát, là cái cơ sở, cái điểm tựa làm bàn đạp cho đà triển khai của câu ở phần Thuyết” (Chi tiết xin xem Cao Xuân Hạo, [21])

Trong tiếng Việt, xét trên bình diện về từ vựng, đã có nhiều nghiên cứu về thuật ngữ và hệ thống thuật ngữ tiếng Việt nổi bật như công trình của Đỗ Hữu Châu [8], Nguyễn Văn Tu [56], Nguyễn Thiện Giáp [16], Lưu Vân Lăng [33], [34], [35] Hoàng Văn Hành [19], Đái Xuân Ninh, Nguyễn Đức Dân và Vương Toàn [40], Nguyễn Đức Tồn [53], [54], [55], Nguyễn Văn Khang [31], [32], Hà Quang Năng [37, 38] và rất nhiều công trình nghiên cứu khác Theo Nguyễn Thiện Giáp [16], Đỗ Hữu Châu [8], Hoàng Văn Hành [19], Hatim và Mason [125] thuật ngữ là từ và cụm

từ cố định để biểu thị các khái niệm và đối tượng xác định của một ngành khoa học hoặc một lĩnh vực chuyên môn nhất định Các thuật ngữ của một ngành khoa học tập hợp lại làm thành hệ thuật ngữ của ngành khoa học đó ví dụ như: hệ thuật ngữ hóa học, hệ thuật ngữ sinh học, hệ thuật ngữ y học, hệ thuật ngữ dược học v.v

Trang 28

Trên bình diện diễn ngôn, có thể thấy những công trình nghiên cứu ngôn ngữ trên các phương diện chức năng, giao tiếp giao văn hóa và giao tiếp liên văn hóa nhằm phục vụ các mục đích như hợp tác, hòa nhập, di cư, du học, luật pháp hay

phát triển kinh tế, chẳng hạn luận án tiến sĩ ngữ văn “Một số đặc điểm của ngôn ngữ luật pháp tiếng Việt”- có so sánh đối chiếu với tiếng Anh và ứng dụng trong dịch Việt-Anh của Lê Hùng Tiến [52] Nghiên cứu đã mô tả và lý giải một số nét đặc

thù về từ vựng ngữ pháp trong các văn bản luật pháp tiếng Việt Ngoài ra nghiên cứu còn chỉ ra được một số phương tiện thuộc văn bản luật pháp có những đóng góp đáng kể vào việc tạo lập quyền và nghĩa vụ cùng các tính chất đặc biệt của văn bản

luật pháp Đó là cấu trúc Đề-Thuyết và sự đề hóa, phương tiện liên kết văn bản

Từ góc nhìn lý thuyết phân tích diễn ngôn dựa trên quan điểm Ngôn ngữ học

chức năng hệ thống về phương diện ngữ vực, công trình “Văn chính luận Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh từ góc nhìn lý thuyết phân tích diễn ngôn” Trần Bình Tuyên

[59] đã cho thấy khi nghiên cứu ngôn ngữ, thì cần phải nghiên cứu nó trong mối quan hệ với các yếu tố ngoài xã hội, gắn hệ thống ngôn ngữ với quá trình hoạt động

và đặc biệt xem nó như một quá trình giao tiếp Ngoài ra, nghiên cứu cũng chỉ ra ngôn ngữ có mối quan hệ biện chứng với các yếu tố phi ngôn ngữ Đó là sự tác động của các yếu tố ngữ cảnh đến quá trình lựa chọn cũng như cách thức sử dụng ngôn ngữ của người tạo lập diễn ngôn

Trên bình diện nghiên cứu diễn ngôn khoa học còn có công trình của Đỗ

Tuấn Minh [88] An investigation into grammatical metaphor in English scientific discourse dựa trên lý thuyết nghiên cứu của Halliday [109], [115], Halliday &

Martin [112] và Halliday & Matthiessen [116] đã chứng minh rằng ẩn dụ ngữ pháp

có vai trò quan trọng trong việc kết tạo nên văn bản khoa học tiếng Anh đồng thời nghiên cứu chỉ ra được tầm quan trọng đối với nhận thức và thực hiện việc viết các văn bản khoa học tiếng Anh Đặc biệt, dựa vào sự phân loại các loại ẩn dụ ngữ pháp của Halliday & Matthiessen [116], nghiên cứu đã chỉ ra hệ thống phân loại và các phương diện phức tạp của ẩn dụ ngữ pháp trong các diễn ngôn khoa học tiếng Anh

Ngoài ra, còn có công trình A study on the meaning and structure of biology text: A systemic functional analysis (Nghiên cứu về ngữ nghĩa và cấu tạo của một

văn bản sinh học tiếng Anh: Phân tích theo quan điểm chức năng) của Hồ Thị Phương Mai Công trình đã có ý nghĩa đối với việc chỉ ra hệ thống ngôn ngữ

Trang 29

được cấu thành bởi ba bình diện, đó là: bình diện ngữ nghĩa, bình diện từ vựng ngữ pháp và bình diện âm vị Nghiên cứu cũng cho thấy ba bình diện nghĩa, đó là: bình diện ý niệm, bình diện liên nhân và bình diện văn bản được kết hợp với nhau trong sự nhận ra hệ thống Chuyển tác, hệ thống Thức và hệ thống Đề ngữ Hơn nữa, nghiên cứu còn chỉ ra sự liên kết chặt chẽ về mặt ngữ pháp, liên kết từ vựng trong liên kết văn bản sinh học Đặc biệt, công trình nghiên cứu đã kết luận ngữ pháp chức năng hệ thống là một hình hệ mà sự quan tâm khởi đầu của nó là chức năng cấu trúc và nghĩa của các thành tố trong ngữ cảnh Đồng thời, nó cũng cung cấp cho chúng ta công cụ nghiên cứu để xem xét toàn bộ văn bản và những đặc điểm của văn bản [134]

1.4 Tình hình nghiên cứu tiếng Anh chuyên ngành dược học trên thế giới và ở Việt Nam

1.4.1 Các nghiên cứu về đặc điểm tiếng Anh chuyên ngành dược học trên thế giới

Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về tiếng Anh chuyên ngành dược trên các bình diện, hình thức, và các ngôn ngữ khác nhau Tuy nhiên, một số nghiên cứu sau đây có thể được cho là phù hợp với nghiên cứu của luận án

Xét trên bình diện liên nhân, nghiên cứu “Modality in English, French and Arabic Biomedical Discourse: A Contrastive Study of Drug Information Leaflets”

của Boudemagh Wided đã cho thấy những nét tương đồng và khác biệt về đặc điểm của tình thái trong văn bản tiếng Anh, tiếng Pháp, và tiếng Ả Rập [73] Về bình diện

từ vựng, gần đây có nghiên cứu của nhà ngôn ngữ học Ba Lan Lukasz Grabowski

[156] có nhan đề là “Register Variation across English Pharmaceutical Texts: A Corpus Driven Study of Keywords, Lexical Bundles and Phrase Frames in Patient Information Leaflets and Summaries of Product Characteristics” Dựa trên lý

thuyết ngữ vực của Biber & Conrad 2009, nghiên cứu đã khám phá việc sử dụng của các tiểu cụm từ và chức năng của các từ khóa, các khung mệnh đề trong văn bản dược học tiếng Anh Kết quả nghiên cứu đã có ý nghĩa quan trọng đặc biệt trong giảng dạy cũng như trong dịch thuật tiếng Anh chuyên ngành dược học Ngoài

ra, dựa trên quan điểm của Fletcher [98], Lukasz Grabowski cũng đã có công trình nghiên cứu “Phrase frames in English Pharmaceutical discourse: A corpus driven

Trang 30

của cụm từ be * with caution, to take * medicine, cụ thể là khảo sát tần số xuất hiện

của các cụm từ trên trong văn bản dược học Kết quả chỉ ra tần số xuất hiện của các cụm từ này tùy thuộc vào ngữ vực hay thể loại của chúng Như vậy, nghiên cứu cho thấy một số phát hiện hữu ích về mặt sư phạm cho cả giáo viên và học viên tiếng Anh chuyên ngành trong lĩnh vực dược học Ngoài ra, nghiên cứu còn có thể mở rộng đối với những loại văn bản chuyên ngành khác về nghiên cứu những biến thể của diễn ngôn [157]

1.4.2 Các nghiên cứu về đặc điểm tiếng Anh chuyên ngành dược học ở Việt Nam

Trong những năm gần đây, đã có một số nghiên cứu về khoa học ngôn ngữ

của văn bản y học Từ cấp độ từ vựng có công trình nghiên cứu A study on the English- Vietnamese Translation of Medical Terms in the Course Book for the Students of Haiphong Medical College (Cách dịch Anh-Việt các thuật ngữ y khoa

trong giáo trình dành cho sinh viên đại học y Hải Phòng) của Nguyễn Thị Ánh Hồng [169] Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra có 12 nhóm các thuật ngữ cùng với chiến lược và cách thức dịch thuật của từng nhóm Đặc biệt nghiên cứu đã đề xuất một số chiến lược, cách thức dịch thuật thuật ngữ y khoa và việc sử dụng từ Hán Việt trong thuật ngữ y khoa

Bên cạnh đó, tiếp thu các công trình nghiên cứu về thuật ngữ, luận án tiến sĩ

của Vương Thị Thu Minh [36], Khảo sát thuật ngữ y học tiếng Anh và cách phiên chuyển sang tiếng Việt đã góp phần quan trọng trong nghiên cứu thuật ngữ chuyên

ngành về lĩnh vực y học Luận án đã chỉ ra một số đặc điểm cơ bản về nguồn gốc, cấu tạo và cơ sở định danh cho các thuật ngữ y học tiếng Anh

Từ cấp độ từ vựng, còn có công trình nghiên cứu Lexical and Morphological Characteristics of Medico-pharmaceutical Texts and Pedagogical Implications

(Những đặc điểm về mặt từ vựng và hình thái học của các văn bản y dược và ứng dụng trong giảng dạy) của Nguyễn Thị Vân Hạnh Nghiên cứu đã phân tích chi tiết các đặc điểm từ vựng và hình thái học của các văn bản y dược và ứng dụng của nó trong dạy và học tiếng Anh chuyên ngành Đặc biệt nghiên cứu đã chỉ ra bốn cấp độ

từ vựng sử dụng chủ yếu Ngoài ra, kết quả cũng cho thấy các tần số, nguồn gốc, sự hình thành, ý nghĩa và chức năng của các phụ tố thường xuyên nhất được sử dụng trong các diễn ngôn y dược [170]

Trang 31

Xét trên lĩnh vực dịch thuật, công trình Dịch thuật văn bản khoa học của Lưu

Trọng Tuấn (trên cơ sở ngữ liệu các chuyên ngành hóa học, sinh học, y học) đã cung cấp một số cơ sở lí luận và thực tiễn trong việc nghiên cứu đặc điểm một số kiểu văn bản khoa học được dịch từ tiếng Anh sang tiếng Việt và ngược lại Cụ thể hơn, nghiên cứu không chỉ đưa người dịch đi qua bố cục văn bản khoa học, khám phá kết cấu cú pháp từng câu mà còn trao cho người dịch chiếc chìa khóa mở cánh cửa ngữ nghĩa của thuật ngữ để hình thành những kỹ thuật dịch thuật ngữ, và công trình đã khẳng định thêm về quan điểm của Newmark, thuật ngữ chỉ chiếm 5 - 10 %, song

chúng là những viên gạch cơ bản xây nên phong cách khoa học [57]

Tóm lại, mặc dù các công trình chỉ liên quan đến khảo sát ngôn ngữ ở cấp độ

từ vựng, nhưng các nghiên cứu đã đóng góp hữu ích cho công tác giảng dạy môn tiếng Anh trong lĩnh vực y khoa, xây dựng được hệ thống thuật ngữ y học tiếng Việt vừa chuẩn mực vừa hiện đại

Về cấp độ văn bản có nghiên cứu “A discourse analysis of syntactic and symantic features of instructions for use of drugs in English and Vietnamese” của

Lâm Thị Thùy Linh [151] Nghiên cứu đã chỉ ra sự tương đồng và khác biệt về đặc điểm ngôn ngữ của hai loại văn bản hướng dẫn sử dụng thuốc trong tiếng Anh và tiếng Việt Kết quả nghiên cứu đã có ý nghĩa to lớn đối với việc dạy học tiếng Anh chuyên ngành y dược cũng như trong việc dịch thuật tiếng Anh như là một ngoại ngữ

Trên bình diện phân tích diễn ngôn còn có luận văn thạc sĩ “Grammatical metaphor in English pharmaceutical discourse” (Ẩn dụ ngữ pháp trong ngôn bản

dược tiếng Anh) của Vũ Thị Mẫu [185] Công trình đã nghiên cứu về ẩn dụ ngữ pháp trong diễn ngôn dược học theo quan điểm chức năng hệ thống Tài liệu làm khung phân tích được phát triển bởi Halliday [106], [113], Halliday & Martin [112], Thompson [183], Martin & Veel [161], Halliday & Matthiessen [116], [117], Martin & Rose và các cộng sự khác [162] Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra được đặc điểm của ẩn dụ ngữ pháp trong các diễn ngôn dược học tiếng Anh và mối quan hệ mật thiết giữa việc sử dụng ẩn dụ ngữ pháp và sự tạo thành của văn bản dược học Kết quả nghiên cứu đã làm tăng thêm tính khách quan, tính văn phong, tính toàn diện, tính chuyên môn và tính trừu tượng trong việc viết các diễn ngôn dược học Như vậy, chúng tôi đã tổng quan lại lịch sử nghiên cứu tiếng Anh chuyên

Trang 32

đặc biệt là ở châu Âu từ những năm 1960 đến nay Ngoài ra, luận án đã khái quát một số công trình nghiên cứu về tiếng Việt có liên quan trực tiếp để đối chiếu hai ngôn ngữ Tuy nhiên, thật khó có thể điểm lại tất cả những công trình nghiên cứu về đặc điểm của tiếng Anh chuyên ngành (dưới dạng sách, chuyên luận, luận án, luận văn hay các bài nghiên cứu khoa học) Như vậy, có thể thấy ngôn ngữ chuyên ngành có thể được tiếp cận nghiên cứu từ nhiều góc độ và trên các bình diện của diễn ngôn chuyên ngành [48, tr 221] Nhưng xét trên diện rộng các nghiên cứu trên, các tác giả đã nhìn các văn bản khoa học ở những quan điểm khác nhau Trên thế giới, các công trình của Swales thì nhìn các văn bản khoa học từ góc độ thể loại Nhưng Halliday nhìn các văn bản khoa học từ góc độ thuần ngôn ngữ học Ở trong nước, các văn bản khoa học nếu xét từ góc độ dịch thuật có công trình khoa học của Hoàng Văn Vân và Lưu Trọng Tuấn Mặt khác, các văn bản khoa học cũng được nhìn từ góc độ thuật ngữ có công trình của Vương Thị Thu Minh, Nguyễn Thị Vân Hạnh và Nguyễn Thị Ánh Hồng Nhưng nếu nhìn từ góc độ ẩn dụ ngữ pháp thì có các công trình của Đỗ Tuấn Minh và Vũ Thị Mẫu Mặc dù các công trình nghiên cứu này được nhìn từ các góc độ khác nhau nhưng các kết quả nghiên cứu này đều

đã chỉ ra những đặc điểm khái quát của văn bản khoa học nói chung, ngôn ngữ chuyên ngành nói riêng như sau: (i) Nhiều khái niệm đan xen nhau; (ii) Có tính kỹ thuật cao; (iii) Có tính trừu tượng, khái quát cao và cách diễn đạt đặc biệt; (iv) Mật

độ từ vựng cao; (v) Các thuật ngữ đặc thù cho từng ngành khoa học; (vi) Sự tối nghĩa về mặt cú pháp và ngữ nghĩa học; và (vii) Ẩn dụ ngữ pháp cao

Những công trình khoa học trên đây về cơ bản sẽ hình thành nên nghiên cứu của luận án Ngoài ra chúng tôi muốn nghiên cứu thêm về hệ thống chuyển tác (TRANSITIVITY), hệ thống thức (MOOD), hệ thống đề ngữ (THEME) và liên kết văn bản trong các văn bản dược học như thế nào Những đặc điểm trên đã bổ sung cho khung làm việc của luận án Chúng nằm trong một khung lí thuyết ngôn ngữ rộng lớn được Halliday và các học giả đi theo đường hướng của ông phát triển – Lí thuyết ngữ pháp chức năng hệ thống được chúng tôi trình bày ở Mục 1.6

1.5 Lý thuyết về diễn ngôn và phân tích thể loại diễn ngôn (genre analysis)

1.5.1 Khái niệm diễn ngôn

Trên thế giới, khái niệm diễn ngôn đã được rất nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ đưa ra những quan điểm khác nhau Khái niệm diễn ngôn lần đầu được Z Harris [118]

Trang 33

cho rằng diễn ngôn là văn bản liên kết ở cấp độ cao hơn câu Nó là một đơn vị mở, có khả năng phân tích Diễn ngôn là đối tượng của phân tích diễn ngôn Sau này Halliday

và Hasan cũng nhận định diễn ngôn gắn với chức năng giao tiếp của nó khi nó nhấn mạnh “Văn bản hay diễn ngôn là đơn vị ngôn ngữ chức năng giao tiếp” [102, tr 43] Bên cạnh đó, Widdowson cũng cho rằng diễn ngôn là một quá trình giao tiếp Kết quả

về mặt tình huống của quá trình này là sự thay đổi trong sự thể: thông tin được chuyển tải, các ý định được làm rõ, và sản phẩm của quá trình này là văn bản [188, tr 100] Tuy nhiên, Cook đã chỉ ra sự khác nhau giữa diễn ngôn và văn bản dựa trên sự đối lập giữa chức năng và hình thức Ông cho rằng diễn ngôn như là các chuỗi ngôn ngữ được cảm nhận như có ý nghĩa, thống nhất và có mục đích [80, tr 105] Trong khi đó, văn bản là một chuỗi ngôn ngữ được hiểu một cách hình thức và nằm ngoài ngữ cảnh Crystal cũng quan niệm diễn ngôn là một chuỗi nối tiếp của ngôn ngữ lớn hơn một câu, thường cấu thành một chỉnh thể có tính mạch lạc [81, tr 25]

Ở Việt Nam, Nguyễn Hòa đã kế thừa quan điểm của Widdowson và một số nhà nghiên cứu khác Ông cho rằng diễn ngôn là sự kiện hay quá trình giao tiếp hoàn chỉnh nhất có mục đích không có giới hạn được sử dụng trong các hoàn cảnh giảo tiếp xã hội cụ thể [26, tr 33] Đi theo khuynh hướng về quan điểm diễn ngôn của Halliday và Hasan, Hoàng Văn Vân đã khẳng định ngôn bản hay diễn ngôn là ngôn ngữ trong sử dụng Điều này có nghĩa là không một ngôn bản nào diễn ra mà không có sự hiện diện của ngữ cảnh [131, tr 73] Đồng ý với quan điểm của Halliday & Hasan và của Hoàng Văn Vân, trong luận án này, chúng tôi sử dụng thuật ngữ diễn ngôn và văn bản thay thế cho nhau để mô tả đặc điểm văn bản chuyên ngành dược học tiếng Anh và tiếng Việt

1.5.2 Khái niệm phân tích diễn ngôn

Cho đến nay đã có nhiều quan điểm về phân tích diễn ngôn Khái niệm phân tích diễn ngôn cũng được Brown và Yule quan niệm rằng phân tích diễn ngôn là sự phân tích ngôn ngữ hành chức [74, tr 15] Như vậy, không thể giới hạn phân tích diễn ngôn với việc miêu tả các hình thức ngôn ngữ mà không quan tâm đến mục đích hay chức năng mà các hình thức này tạo ra để đảm nhận trong thế giới hoạt động của con người Halliday (1994: xxii) đã có quan điểm khái quát hơn về phân

tích diễn ngôn [113] Ông cho rằng: “Phân tích ngôn bản mà không dựa vào ngữ pháp thì hoàn toàn không phải là phân tích Mà chỉ thuần túy là một bài bình giảng

Trang 34

về ngôn bản” Halliday cũng chỉ ra “Phân tích diễn ngôn phải được xây dựng trên việc nghiên cứu hệ thống của một ngôn ngữ Đồng thời, lý do chủ yếu cho việc nghiên cứu hệ thống là nhằm làm sáng tỏ ngôn bản – điều mà người ta nói và viết, nghe và đọc Cả hệ thống và ngôn bản đều phải nằm trong tiêu điểm của sự chú ý Nếu không thì sẽ không có cách nào để so sánh ngôn bản này với ngôn bản kia, hay với cái mà chính nó có thể đã là như vậy nhưng trong thực tế thì nó lại không phải

là thế Và, có thể quan trọng nhất là chỉ qua việc bắt đầu từ hệ thống thì chúng ta mới có thể xem xét được ngôn bản trong bình diện của nó như là một quá trình”

1.5.3 Phương pháp phân tích diễn ngôn

Luận án áp dụng khung lý thuyết ngôn ngữ học chức năng hệ thống của Halliday [113], [115] để phân tích các đặc điểm ngôn ngữ trong VBCNDH tiếng Anh và tiếng Việt để làm rõ các đặc trưng về Trường, Không khí và Cách thức Khung lý thuyết được áp dụng cụ thể như sau:

a Đặc trưng về Trường được thực hiện hóa qua chức năng kinh nghiệm được trình bày thông qua: Các kiểu quá trình, Tham thể/Chủ ngữ, Thuật ngữ, và Cấu trúc/dạng Đặc trưng của Hệ thống chuyển tác sẽ được luận án phân tích thành 6 kiểu quá trình theo quan điểm của Halliday [113] vận dụng trong VBCNDH tiếng Anh và vận dụng trong VBCNDH tiếng Việt theo quan điểm của Hoàng Văn Vân [63] cụ thể như sau:

- Quá trình vật chất: bao gồm hành động (doing) và hiện tượng xảy ra (happening) Các tham thể chính bao gồm: Hành thể (Actor) và Đích thể (Goal)

Halliday cũng chỉ ra nếu Đích thể trong quá trình đồng thời với Hành thể, thì

sự thể hiện có thể xuất hiện dưới một trong hai hình thức hoặc dạng chủ động như trong ví dụ dưới đây:

Ví dụ 2

In an effort to reduce healthcare costs and improve productivity, the farm

administration introduced the weekly use of A annuainfusion to prevent malaria

among the employees in 2006

E04

Trang 35

(Để nỗ lực cắt giảm chi phí chăm sóc sức khỏe và cải thiện hiệu quả của việc chăm sóc hệ thống quản lý, nông trại đã sử dụng A annuainfusion hàng tuần để ngăn chặn nhiễm sốt rét cho người làm công của mình.)

Hoặc dạng bị động như trong ví dụ 3 dưới đây

Ví dụ 3

In the present work, this technology has been applied to the method

development and validation study of related substance and assay determination of Mycophenolatemofetil

E11

(Trong nghiên cứu hiện tại, công nghệ này đã được ứng dụng để phát triển các phương pháp và gia tăng hiệu lực của nghiên cứu về chất liên quan và phân tích xác định của Mycophenolatemofetit.)

- Quá trình tinh thần: Các tham thể chính trong quá trình tinh thần là Cảm thể (sense) và Hiện tượng (phenomenan)

Ví dụ 4

Từ hai quy

trình trên,

chúng tôi thấy rằng việc sử dụng anhydride hỗn tạp có

nhiều ưu điểm do đó chúng tôi tiến hành tổng hợp PAPC với quy mô 150 g/mẻ bằng tác nhân anhydride hỗn tạp

với quy trình như phần b

Chu cảnh Cảm thể QT: TT Hiện tượng

V19

- Quá trình quan hệ: bao gồm các tham thể chủ yếu là Đương thể (carrier) và Thuộc tính (Attribute) Quá trình quan hệ được Halliday phân thành ba dạng chính, mỗi dạng xuất hiện dưới hai phương thức Sự tương tác này tạo thành sáu phạm trù

cú quan hệ là: (i) Quan hệ sâu định tính; (ii) Quan hệ sâu đồng nhất; (iii) Quan hệ chủ cảnh định tính; (iv) Quan hệ chu cảnh đồng nhất; (v) Quan hệ sở hữu; và (vi) Quan hệ sở hữu đồng nhất

Ví dụ 5

Apigenin nucleus Is a cancer chemopreventive agent

Bị đồng nhất thể/Biểu hiện QT: QH Đồng nhất thể/Giá trị

E14

(Phân tử Apigenin là một tác nhân hóa học phòng tránh ung thư)

Trang 36

On the other hand, literature survey showed that the evidence of antitumor

activity is due to the compound intercalation between the base pair of DNA and interference with normal functioning of the enzyme topoisomerase II, which is involved in the breaking and releasing of DNA strands (Gatto et al., 1999)

E02

Mặt khác điều tra y văn cũng cho thấy bằng chứng của hoạt động chống khối u

là nhờ có hợp chất đan xen của các cặp đôi DNA giao thoa với chức năng thông thường của enzym topoisomere II, để phá vỡ và giải phóng các sợi DNA (Gato &

- Halliday [18, tr 186] đã chỉ ra thành phần của Thức gồm hai tiểu thành phần phần là Chủ ngữ (Subject) và Tác tử hữu định (Finite) Chủ ngữ là thành phần cố hữu thứ nhất, nó là thành phần chịu trách nhiệm tình thái cho cả mệnh đề, nó là

Trang 37

thành phần khẳng định hay phủ định, và là thành phần liên quan đến việc nhận định được chỉ ra ở Chủ ngữ và Vị ngữ Trong phạm vi luận án nghiên cứu về đặc điểm Không khí trong VBCNDH tiếng Anh và tiếng Việt, chúng tôi sẽ tập trung vào các biểu hiện cụ thể của Thức được thể hiện phân theo mục đích, cụ thể là sự thể hiện của các cú tuyên bố

Ví dụ 9

It has been used in folk medicine for centuries

Chủ ngữ Hiện tại Hữu định Vị ngữ Phụ ngữ: Chu ảnh

E23

(Nó đã được sử dụng trong thuốc dân gian nhiều thế kỷ)

Thức trình bày trong tiếng Việt được xét về hình thức là thức không đánh dấu hay là có biểu thức thức zero Thức trình bày trong tiếng Việt được minh họa trong

ví dụ dưới đây

Ví dụ 10

Các nghiên cứu trước đây về

màng che phủ vết thương đã sử dụng nhiều vật liệu như hydrocolloid, alginat, collagen … [6]

V21

- Tình thái được hiện thực hóa thông qua ý nghĩa cơ bản là tình thái hóa nói về

các cấp độ “possibility” (khả năng), “probability” (khả năng xác suất), “certainty” (sự chắc chắn) và “usuality” (sự thường lệ) Đây là những yếu tố thể hiện cách

đánh giá và sự dự đoán của tác giả đối với các đối tượng được phản ánh trong VBCNDH tiếng Anh và tiếng Việt Từ đó, diễn đạt được những mối quan hệ liên nhân giữa người viết và người tiếp nhận trong cả hai văn bản

c Đặc trưng về Cách thức trong VBCNDH tiếng Anh và tiếng Việt được thực hiện hóa thông qua chức năng tạo văn bản, cụ thể là liên quan đến việc phân tích cấu trúc

Đề - Thuyết, đối chiếu ngôi đối chiếu chỉ định, và liên kết logic

Luận án sẽ tiến hành phân tích các loại cấu trúc Đề - Thuyết, nó là đơn vị cơ

sở để tổ chức thông điệp Cụ thể, chúng tôi tìm hiểu đặc điểm của các loại Đề ngữ thông qua cách phân loại cú Từ đó cho thấy được đặc điểm của quy chiếu ngôi cũng như sự mạch lạc trong diễn ngôn thông qua các liên kết logic Theo Halliday

Trang 38

[18], ba loại Đề ngữ khác nhau được luận án phân tích là: (i) Đề ngữ chủ đề; (ii) Đề ngữ văn bản; và (iii) Đề ngữ liên nhân

- Đề ngữ Chủ đề:

Ví dụ 11

Buccal route of drug

delivery

Is a good alternative, amongst the various

routes of drug delivery

GPx activity (24.20 ± 0.09nmol/mg protein) (Group 3) in comparison to the control group (24.17± 0.11 nmol/mg protein) (Group 1)

could Be due to insufficient cellular GSH to

neutralize acrolein effects because ebselen rapidly consumes cellular GSH for its antioxidant activity

Trang 39

1.5.4 Khái niệm thể loại

Theo Swales [180], khái niệm thể loại là một diễn ngôn đặc biệt, có thể là diễn ngôn viết hoặc nói Thể loại bao gồm một lớp các sự kiện giao tiếp và những thành viên cùng sử dụng một thể loại diễn ngôn có cùng mục đích giao tiếp Thuật ngữ

“thể loại” đã được biết đến trong nhiều năm qua Gần đây, Martin [159] và Swales [180] chỉ ra thuật ngữ này đã được các nhà ngôn ngữ học chức năng đề cập để chỉ ra các sự kiện giao tiếp khác nhau Các sự kiện giao tiếp khác nhau tạo ra các phong cách diễn ngôn khác nhau Khái niệm về thể loại đã được đưa ra trên nhiều quan điểm khác nhau Tuy nhiên, có hai quan điểm cơ bản về thể loại là: (i) Quan điểm của Swales (quan điểm Tiếng Anh cho mục đích chuyên ngành) và (ii) Quan điểm chức năng-hệ thống (systemic –fuctional) Mặc dù mỗi quan điểm đều chỉ ra những đặc thù riêng về thể loại, nhưng đặc điểm chung cho cả hai quan điểm này đều coi mục đích giao tiếp là yếu tố trung tâm

(i) Quan điểm của Swales: John Swales là người đại diện được biết đến ở trường phái này Ông có vai trò quan trọng trong việc tạo dựng nên lý thuyết thể

loại theo trường phái tiếng Anh cho mục đích chuyên biệt Ông đã chỉ ra “thể loại bao gồm một lớp các sự kiện giao tiếp mà những thành viên trong những sự kiện này cùng chia sẻ các mục đích giao tiếp khác nhau” Những mục đích này được

nhận biết thông qua những thành viên chuyên gia của những cộng đồng diễn ngôn thủy tổ (180, tr 58) Đi theo đường hướng của Swales, Bhatia đã bổ sung và định nghĩa thể loại là một sự kiện giao tiếp đặc trưng hóa bởi sự nhận diện và những mục đích giao tiếp cụ thể Thể loại được các thành viên của cộng đồng hàn lâm hoặc cộng đồng chuyên môn hiểu được những gì mà ở đó nó thường xuyên diễn ra Thể loại thường được cấu trúc và quy ước hóa trong phạm vi giá trị mục đích sử dụng,

vị trí, mẫu và chức năng Tuy nhiên, những giá trị này thường được những chuyên gia trong cộng đồng diễn ngôn khai thác để đạt được những mục đích riêng trong khung mục đích đã được xã hội thừa nhận [71, tr 13] Như vậy, cả Swales và Bhatia cùng quan niệm lấy mục đích giao tiếp cho việc xác định thể loại

(ii) Quan điểm chức năng-hệ thống: Đã có nhiều khái niệm về thể loại theo quan điểm Ngữ pháp chức năng hệ thống Từ những năm 1980, lý thuyết về thể loại

được phát triển ở Úc, mà đại diện là Martin Ông đã nhận định: “thể loại là một quy trình xã hội có mục đích rõ ràng và được phân đoạn” (dẫn theo Martin & White [160, tr 32] Khái niệm này đã được Callaghan và Rothery giải thích một cách rất

Trang 40

chi tiết về bản chất của thể loại như sau: “Thể loại là một quá trình xã hội bởi vì chúng ta tham gia vào thể loại với những người khác Thể loại là mục đích vì chúng

ta sử dụng thể loại để thực hiện những điều chúng ta muốn Thể loại được phân đoạn nghĩa là nó thường xuyên phải trải qua các giai đoạn (mở đầu, phát triển và kết thúc) với mục đích chúng ta đạt được” Eggins thì cho rằng “Thể loại đơn giản được hiểu là ngữ vực nhưng có thêm mục đích (Gener, in very, can be seen as register plus purpose) Thể loại mơ hồ hơn ngữ vực, bao quát hơn ngữ vực và thể loại chỉ được nhận ra thông qua ngôn ngữ: (i) Thể loại là một trong hai yếu tố của ngữ cảnh; (ii) Thể loại mơ hồ hơn ngữ vực, bao quát hơn ngữ vực; (iii) thể loại được nhận ra thông qua ngôn ngữ; và (iv) chính quá trình nhận ra thể loại trong ngôn ngữ là sự nhận ra của ngữ vực” [93, tr 36] Quan hệ giữa thể loại và ngữ vực

trong ngôn ngữ được Eggins minh họa trong Hình 1.1

Hình 1.1 Quan hệ thể loại và ngữ vực trong ngôn ngữ

(Nguồn: Eggins, [113, tr 34]) Trong một nghiên cứu về thể loại, Hyon đã chỉ ra trong tiếng Anh chuyên ngành, các nhà nghiên cứu đã tập trung vào nghiên cứu lý thuyết thể loại và phân tích tiếng Anh mục đích hàn lâm (English for academic purpose – EAP) và tiếng Anh giao tiếp (professional communication - EPC) đặc biệt là trong việc học tập và giảng dạy ngôn ngữ thứ hai và ngoại ngữ Ngoài ra, họ cũng cho thấy thể loại là những kiểu diễn ngôn có mục đích đối với việc viết tiếng Anh chuyên ngành [142]

Ngày đăng: 12/10/2019, 17:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Diệp Quang Ban (1987), Câu đơn tiếng Việt. NXB Giáo dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Câu đơn tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1987
2. Diệp Quang Ban (1989), Ngữ pháp tiếng Việt phổ thông, Hà Nội: NXB Đại học và Trung học Chuyên nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt phổ thông
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: NXB Đại học và Trung học Chuyên nghiệp
Năm: 1989
3. Diệp Quang Ban (2005), Ngữ pháp Tiếng Việt (Bộ Mới), Hà Nội: NXB Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp Tiếng Việt (Bộ Mới)
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: NXB Giáo Dục
Năm: 2005
4. Diệp Quang Ban (2012), Giao tiếp diễn ngôn và cấu tạo của văn bản. NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giao tiếp diễn ngôn và cấu tạo của văn bản
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2012
5. Diệp Quang Ban (2013), Ngữ pháp tiếng Việt. NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2013
6. Thái Duy Bảo (2011), “Đường hướng đào tạo tiếng Anh chuyên biệt cho chuyên ngành tiếng Anh -tại sao không?” TC Ngôn ngữ và Đời sống, số 12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đường hướng đào tạo tiếng Anh chuyên biệt cho chuyên ngành tiếng Anh -tại sao không?” TC "Ngôn ngữ và Đời sống
Tác giả: Thái Duy Bảo
Năm: 2011
7. Đỗ Hữu Châu (1962), Giáo trình Việt ngữ, tập 2, Nxb. Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Việt ngữ
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 1962
8. Đỗ Hữu Châu (1981), Từ vựng – ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb. Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng – ngữ nghĩa tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 1981
9. Nguyễn Hồng Cổn (2000), “Về sự phi đối xứng giữa hình thức và ý nghĩa trong các đơn vị ngữ pháp”, TC Ngôn ngữ, số 7, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về sự phi đối xứng giữa hình thức và ý nghĩa trong các đơn vị ngữ pháp”, TC "Ngôn ngữ
Tác giả: Nguyễn Hồng Cổn
Năm: 2000
10. Nguyễn Hồng Cổn & Bùi Thị Diên (2004), “Dạng bị động và vấn đề câu bị động trong tiếng Việt”, Ngôn ngữ, số 7 và số 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạng bị động và vấn đề câu bị động trong tiếng Việt”, "Ngôn ngữ
Tác giả: Nguyễn Hồng Cổn & Bùi Thị Diên
Năm: 2004
11. Nguyễn Hồng Cổn & Bùi Thị Diên (2008), Dạng bị động và vấn đề câu bị động trong tiếng Việt. Ngữ pháp tiếng Việt, Viện KHXHVN. Viện ngôn ngữ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạng bị động và vấn đề câu bị động trong tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Hồng Cổn & Bùi Thị Diên
Năm: 2008
13. Lâm Quang Đông (2011), “Tiếng Anh chuyên ngành - một số vấn đề về nội dung giảng dạy”, TC Ngôn ngữ và Đời sống Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Anh chuyên ngành - một số vấn đề về nội dung giảng dạy”, TC
Tác giả: Lâm Quang Đông
Năm: 2011
14. Lâm Quang Đông (2014), “Giảng dạy tiếng Anh không chuyên: Biến chuyển và định hướng”, TC Ngôn ngữ và Đời sống Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giảng dạy tiếng Anh không chuyên: Biến chuyển và định hướng”, TC
Tác giả: Lâm Quang Đông
Năm: 2014
15. Lê Đông và Nguyễn Văn Hiệp (1986), “Cấu trúc đề – thuyết của một kiểu câu tiếng Việt”, TC Ngôn ngữ, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cấu trúc đề – thuyết của một kiểu câu tiếng Việt”, TC "Ngôn ngữ
Tác giả: Lê Đông và Nguyễn Văn Hiệp
Năm: 1986
16. Nguyễn Thiện Giáp (1998), Từ vựng học tiếng Việt, Nxb GD, Hà Nội.Đỗ Xuân Hải (2015), Phần dẫn nhập bài báo nghiên cứu ngôn ngữ học ứng dụng viết bằng tiếng Anh: Khảo sát cấu trúc tu từ. Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng học tiếng Việt", Nxb GD, Hà Nội.Đỗ Xuân Hải (2015), "Phần dẫn nhập bài báo nghiên cứu ngôn ngữ học ứng dụng viết bằng tiếng Anh: Khảo sát cấu trúc tu từ
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp (1998), Từ vựng học tiếng Việt, Nxb GD, Hà Nội.Đỗ Xuân Hải
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 2015
17. Trần Quang Hải (2011), “Dạy-học ngoại ngữ căn bản và chuyên ngành: mâu thuẫn giữa kì vọng và thực tế”, TC Ngôn ngữ và Đời sống, số 12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy-học ngoại ngữ căn bản và chuyên ngành: mâu thuẫn giữa kì vọng và thực tế”, TC "Ngôn ngữ và Đời sống
Tác giả: Trần Quang Hải
Năm: 2011
18. Halliday. M.A.K. (2012), Dẫn luận ngữ pháp chức năng, Hoàng Văn Vân dịch. Hà nội. Đại học Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận ngữ pháp chức năng
Tác giả: Halliday. M.A.K
Năm: 2012
19. Hoàng Văn Hành (1983), “Về sự hình thành và phát triển thuật ngữ tiếng Việt”, Tạp chí Ngôn ngữ, số 4, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về sự hình thành và phát triển thuật ngữ tiếng Việt”, Tạp chí "Ngôn ngữ
Tác giả: Hoàng Văn Hành
Năm: 1983
20. Cao Xuân Hạo (1991), Tiếng Việt – Sơ thảo ngữ pháp chức năng, quyển 1. Tp Hồ Chí Minh: NXB Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt – Sơ thảo ngữ pháp chức năng
Tác giả: Cao Xuân Hạo
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1991
21. Cao Xuân Hạo (2004), Tiếng Việt: Sơ thảo ngữ pháp chức năng, Hà Nội: NXB Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt: Sơ thảo ngữ pháp chức năng
Tác giả: Cao Xuân Hạo
Nhà XB: NXB Giáo Dục
Năm: 2004

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm