1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

CHỨC NĂNG SINH LÝ VÀ BỆNH LÝ TẠNG TÂM

16 473 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 40,47 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngũ tạng bao gồm tâm, can, tỳ, phế, thận. Trong học thuyết kinh lạc, tâm bào lạc được xếp vào tạng, hợp thành 6 kinh âm trong cơ thể. Trong học thuyết tạng phủ thì tâm bào lạc được xếp phụ với tâm. Chức năng sinh lý của ngũ tạng là hóa sinh và tàng trữ sinh khí, có mối quan hệ chặt chẽ với lục phủ và các khiếu hình thành nên hệ thống chức năng đặc thù của ngũ tạng; trong đó chức năng sinh lý tạng tâm có tác dụng chi phối (thống trị) các tạng khác. Hệ thống của tâm bao gồm tâm, tiểu trường, mặt, lưỡi. Trong ngũ hành, tâm thuộc hỏa; trong âm dương của ngũ tạng thì tâm thuộc tạng dương trong dương. Tâm chủ huyết mạch, chủ thần chí, là đại chủ của tạng phủ, chi phối về sinh mệnh, cho nên tâ, được coi là “quân chủ chi quan”. Tâm quan hệ với tứ thời thì tương ứng với mùa hạ. Tâm nằm bên trái của lồng ngực, trên cơ hoành, giữa 2 lá phối, phía trước cột sống. hệ thống của tâm liên thông với mạch. Bên ngoài của tâm có tâm bào lạc bảo vệ. Tâm khai khiếu ra lưỡi, quan hệ biểu lý với tiểu trường.

Trang 1

TẠNG TÂM Mục tiêu

1 Trình bày được các chức năng sinh lý của tạng tâm

2 Trình bày được mối quan hệ của tạng Tâm với hình, khiếu, chí, dịch

3 Trình bày được các hội chứng bệnh lý của tạng tâm.

Nội dung

1 Khái niệm cơ bản

Ngũ tạng bao gồm tâm, can, tỳ, phế, thận Trong học thuyết kinh lạc, tâm bào lạc được xếp vào tạng, hợp thành 6 kinh âm trong cơ thể Trong học thuyết tạng phủ thì tâm bào lạc được xếp phụ với tâm Chức năng sinh lý của ngũ tạng là hóa sinh và tàng trữ sinh khí, có mối quan hệ chặt chẽ với lục phủ và các khiếu hình thành nên hệ thống chức năng đặc thù của ngũ tạng; trong đó chức năng sinh lý tạng tâm có tác dụng chi phối (thống trị) các tạng khác

Hệ thống của tâm bao gồm tâm, tiểu trường, mặt, lưỡi Trong ngũ hành, tâm thuộc hỏa; trong âm dương của ngũ tạng thì tâm thuộc tạng dương trong dương Tâm chủ huyết mạch, chủ thần chí, là đại chủ của tạng phủ, chi phối về sinh mệnh, cho nên tâ, được coi là “quân chủ chi quan” Tâm quan hệ với tứ thời thì tương ứng với mùa hạ

Tâm nằm bên trái của lồng ngực, trên cơ hoành, giữa 2 lá phối, phía trước cột sống hệ thống của tâm liên thông với mạch Bên ngoài của tâm có tâm bào lạc bảo vệ

Tâm khai khiếu ra lưỡi, quan hệ biểu lý với tiểu trường

2 Chức năng sinh lý tạng tâm

2.1 Tâm chủ huyết mạch

Huyết nghĩa là huyết dịch, mạch là mạch đạo mạch là phủ của huyết và là đường vận hành của huyết nên gọi là mạch đạo

Tâm chủ huyết và có tác dụng thúc đẩy huyết dịch vận hành trong mạch đạo Tạng tâm và mạch liên thông và có quan hệ mật thiết với nhau Tâm không ngừng

co bóp đưa huyết dịch vận hành khắp cơ thể và là động lực thúc đẩy huyết dịch tuần hoàn Tâm, mạch và huyết hình thành một hệ thộng mật thiết, tương đối độc lập trong đó tâm đóng vai trò chủ đạo

Trang 2

Tạng tâm có nhịp đập theo quy luật nên mạch cũng có nhịp theo quy luật gọi

là nhịp mạch Thông qua sờ mạch vùng thốn khẩu để tổng hợp hình tượng mạch về hình thái, qui luật, cường độ, tốc độ gọi là mạch tượng Đó là một trong những căn

cứ giúp thầy thuốc phân tích sự thịnh suy của khí huyết toàn thân, trạng thái hoạt động của tạng phủ để giúp chẩn đoán bệnh tật Khi chức năng của tạng tâm và các tạng phủ bất thường sẽ làm cho mạch tượng bất thường

Dương khí tạng tâm sung túc, huyết dịch đầy đủ, mạch đạo thông lợi là điều kiện cơ bản để tâm chủ huyết mạch Một trong ba vấn đề tâm- mạch- huyết dịch phát sinh bất thường đều gây nên bất thường trong việc vận hành huyết dịch

Chức năng sinh lý của tâm chủ huyết mạch bao gồm:

- Tâm co bóp làm huyết dịch vận hành không ngừng, đưa chất dinh dưỡng

đi nuôi cơ thể từ đó duy trì hoạt động bình thường của cơ thể

- Tâm sinh huyết và làm cho huyết dịch không ngừng được bổ sung Vị, tiểu trường tiếp thu chuyển hóa các chát ăn uống, phân biệt thanh trọc để tỳ chủ vận hóa mà sinh ra các chất tinh vi Các chất dinh dưỡng được tỳ thawngtans lên phế, tại phế được thay cũ đổi mới rồi rót về tâm mạch và nhờ tác dụng hóa đỏ của kinh tâm chuyển thành huyết dịch Vì thế có thuyết nói “tâm sinh huyết” “huyết sinh ở tâm”

- Chức năng tâm chủ huyết mạch bình thường: biểu hiện chính là sắc mặt hồng nhuận và tươi sáng, chất lưỡi hồng nhạt và tư nhuận, mạch tượng hòa hoãn, có lực, cảm giác thư thái ở lồng ngực…

Nếu chức năng chủ huyết mạch của tạng tâm rối loạn: thay đổi về sắc mặt, chất lưỡi, mạch tượng và cảm giác trong lồng ngực Nếu tâm khí, tâm dương bất túc hoặc huyết dịch hao tổn hoặc mạch lạc không thông lợi sẽ làm cho huyết dịch lưu thông không tốt hoặc mạch đập rỗng làm sắc mặt tối, tím, mạch tế nhược… Nếu nặng làm cản trở lưu thông huyết dịch gây sắc mặt ám tím, môi lưỡi xanh tím, đau tức hoặc đau nhói vùng trước tim, mạch xúc, mạch kết, mạch đại, mạch sáp…

2.2 Tâm tàng thần

Tâm tàng thần (tam chủ thần minh, tâm chủ thần chí) có nghĩa là tâm chi phối toàn bộ hoạt động sinh lý và hoạt động tinh thần, ý thức và tư duy của con người Hàm nghĩa của thần gồm:

+ Chức năng và quy luật vận động, biến hóa của vật chất trong tự nhiên

Trang 3

+ Biểu hiện ra bên ngoài của hoạt động sống của cơ thể; tức là hình tượng của

cơ thể hoặc gọi là “hình chứng”; bao gồm từ biểu lộ sắc mặt, ánh mặt, đáp ứng ngôn ngữ, tư duy, ý thức, hoạt động của chi thể… đều thuộc phạm trù của thần Đây là nghĩa rộng của thần, cũng chính là nọi dung vọng chẩn của YHCT

+ Hoạt động tinh thần của con người (nghĩa hẹp của thần) bao gồm ý thức, tư duy và hoạt động tình chí

Tinh khí là căn bản cấu thành nên hình thể con người, vì vậy tinh khí là cơ sở vật chất sản sinh nên thần Thần do tinh khí tiên thiên hóa sinh Thần được sản sinh ngay sau khi tinh âm - dương của bố mẹ kết hợp để hình thành nên thai nhi Ngay sau khi sinh ra (trong quá trình cơ thể phát triển) thần tất yếu phải dựa vào sự nuôi dưỡng của tinh khí hậu thiên; thần tồn tại cùng với sự phát sinh, phát dục, phát triển và tiêu vong của cơ thể Tâm tàng thần tức là tâm chỉ đạo toàn bộ hoạt động sống của cơ thể

Tóm lại, thần là sản vật vận động của thế giới vật chất, nó không phải là dạng phi vật chất Thần chính là chức năng mà hình thể, động thái, sắc trạch của con người biểu hiện trong quá trình sống

Tác dụng sinh lý của tâm tàng thần bao gồm:

+ Chủ về việc “nhiệm vật”: “nhiệm” nghĩa là tiếp thu, đảm nhiệm, gánh vác;

“vật” nghĩa là sự vật của thế giới khách quan Tâm chủ thần minh là tiếp thu, xử lý, phản ánh sự vật và tin tức cùa thế giới khách quan; từ đó thể hiện tác dụng sinh lý

về ý thức, tư duy và hoạt động tình chí Tâm có “nhiệm vật” được thì cơ thể mới có thể sản sinh được hoạt động tinh thần, mới phán đoán và xử lý được mọi sự vật và tin tức trong thế giới khách quan

+ Chi đạo toàn bộ hoạt động sống của cơ thể: hoạt động tinh thần của con người bao gồm ý thức, tư duy và hoạt động tình chí; không chỉ là một bộ phận trọng yếu trong hoạt động sống mà còn ảnh hường, chỉ đạo các phối hợp và cân bằng của toàn bộ các chức năng sinh lý toàn thân Vì vậy, tâm chủ thần minh là vấn đề cốt lõi nhất trong việc chỉ đạo hoạt động sống toàn thân Có thể nói tâm là chúa tể mà mọi tạng phủ, tổ chức khác của cơ thể đều phải tuân theo mệnh lệnh từ tâm; từ đó, cơ thể mới có thể phối hợp thống nhất các hoạt động sống bình thường được

Tâm chủ thần minh và tâm chủ huyết mạch có quan hệ mật thiết với nhau Tâm chủ huyết mạch làm huyết được đưa đi nuôi khắp cơ thể, bao gồm cả vật chất thiết yếu cung cấp cho hoạt động sống của tâm (tức là tâm huyết sẽ nuôi dưỡng

Trang 4

được tâm thần) Huyết dịch thuộc phạm trù của tinh và là cơ sở vật chất của hoạt động tình chí- đồng thời, tâm chủ thần chí và chi phối toàn bộ hoạt động sống; cho nên, chức năng tâm chủ huyết mạch cũng chịu sự chỉ đạo của tâm thần Vì thế, chức năng tâm chủ thần minh và tâm chủ huyết mạch ảnh hưởng tương hỗ với nhau

Theo quan điểm chỉnh thể của y học cổ truyền thì toàn bộ hoạt động tinh thần

về ý thức, tư duy và tình chí đều phàn ánh chức năng sinh lý của tạng phủ Thần được chia thành năm loại, đồng thời phụ thuộc vào năm tạng tương ứng như: tâm tàng thần, phế tàng phách tức là các hoạt động không chịu sự chi phối của ý thức, thuộc về bản năng (như cảm giác linh hoạt, tai thính, măt tinh, động tác tay chân chính xác), được hình thành từ tiên thiên; can tàng hồn tức là xuất hiện các hoạt động ý thức tư duy phàn ứng nhanh, là hoạt động tinh thần có ý thức hình thành ở hậu thiên; tỳ tàng ý tức là ý niệm, lo toan; thận tàng chí tức là chí hướng kiên định Các hoạt động tinh thần của con người, tuy phụ thuộc vào ngũ tạng nhưng chủ yếu vẫn quy thuộc vào chức năng sinh lý của tâm chủ thần chí

- Hoạt động về ý thức, tư duy, tình chí của con người thuộc chức năng sinh

lý cùa đại não và là phản ánh của đại não với thế giới bên ngoài Nhưng Học thuyết Tạng phủ đưa các hoạt động tinh thần này không chỉ quy nạp thuộc về ngũ tạng mà còn chủ yếu quy thuộc vào chức năng sinh lý của tâm Tâm thần luận của y học cô truyền luôn luôn chỉ đạo thực tiễn trên lâm sàng Một số chứng bệnh của tâm như: chứng tâm hỏa cang thịnh, chứng đàm hỏa nhiễu tâm, chứng đàm mê tâm khiếu thì ngoài những triệu chứng rối loạn huyết mạch ra còn có những biến đổi thất thường về phương diện tình chí; từ đó, khi điều trị ngoài việc thanh tả tâm hỏa, điều đàm khai khiếu ra còn cần dùng các vị thuốc nhập kinh tâm để an thần thì

sẽ thu được hiệu quả trong điều trị

- Chức năng chủ thần chí của tâm bình thường thì tinh thần hưng phấn, tình chí trong sáng, tư duy mẫn tiệp, đáp ứng tin tức đối với ngoại cảnh linh hoạt Ngược lại, chức năng chủ thần chí bất thường thì sẽ xuất hiện tình trạng tinh thần, ý thức, tư duy bất thường (như là mất ngủ, hay mê, bứt rứt không yên, thậm chí rối loạn ngôn ngữ, phản ứng chậm chạp, có thể hôn mê); ngoài ra, có thể làm ảnh hưởng đến các tạng phù khác và thậm chí có thể gây nguy hiểm đến tính mạng

3 Đặc trưng sinh lý của tạng tâm

3.1 Tạng tâm

Trang 5

Tâm là dương tạng, là thái dương trong dương, chủ về dương khí Dương khí của tâm có tác dụng ôn chiếu và thúc đẩy để duy trì tuần hoàn huyết dịch bình thường, đồng thời làm cho tâm thần hưng phấn, từ đó duy trì được hoạt động sống của cơ thể Khí dương nhiệt của tâm không chỉ duy trì được chức năng sinh lý của tâm mà còn có tác dụng ôn dưỡng toàn thân Việc tiêu hoá và vận chuyển thức ăn của tỳ vị, tác dụng ôn chiếu và khí hóa của thận dương, trao đổi thủy dịch toàn thân

và điều tiết bài tiết mồ hôi đêu dựa vào tác dụng ôn chiếu và thúc đẩy của tâm khí

Tâm khí liên quan với tiết khí mùa Hạ Con người và giới tự nhiên là một chỉnh thể thống nhất Những thay đổi về âm dương tiêu trưởng trong bốn mùa của giới tự nhiên với hệ thống hoạt động chức năng của ngũ tạng là có mối liên hệ tương hỗ

Tâm là dương tạng và chủ dương khí Mùa Hạ lấy hỏa nhiệt làm chủ, trong

cơ thể tương ứng với thái dương trong dương của tâm Tâm khí tương ứng với hạ khí tức là muôn nói dương khí của tâm vượng thịnh nhất và chức năng của tâm mạnh nhất vào mùa Hạ Hiểu được đặc tính sinh lý này của tâm giúp cho hiểu được sinh lý - bệnh lý của tâm và cũng hiểu được mối quan hệ giữa bệnh lý với thời tiết Ngoài ra, tâm có quan hệ với: phương Nam, nhiệt, hỏa, vị đắng, sắc đỏ

Ví dụ: hoàng liên có vị đắng (nhập tâm) nên có tác dụng để thanh tả tâm hỏa

3.2 Tâm bào lạc

Tâm bào lạc (gọi đơn giản là tâm bào) là màng ngoài của tạng tâm và là tổ chức ngoại vi của tạng tâm Ngoài ra, tâm bào còn có mạch lạc thông hành khí huyết nên gọi là tâm bào lạc

Chức năng sinh lý: do tâm bào lạc là tổ chức ngoại vi của tâm nên có tác dụng bảo vệ tạng tâm khi tâm bị nhiễm tà khí Học thuyết Tạng tượng cho rằng, tâm là chúa tể của các cơ quan nên không thể để tà khí xâm phạm Vì thế, khi ngoại tà muôn xâm nhập vào tâm thì đâu tiên phải xâm nhập vào tâm bào lạc, lâm sàng sẽ thấy các biểu hiện rối loạn của thần chí Ví dụ: trong ngoại cảm nhiệt bệnh, trường hợp do ôn nhiệt nội hãm gây chứng đàm trọc bưng bít tâm bào thì có các triệu chứng như sốt cao, rối loạn ngôn ngữ, hôn mê Trên thực tế, chứng bệnh xuất hiện khi tâm bào nhiễm tà cũng giống như chứng bệnh ở tâm nên khi biện chứng và điều trị cũng tương đối giống nhau

3.3 Quan hệ giữa tâm vói hình, khiếu, chí, dịch

Trang 6

Tâm biểu hiện ra mặt (kỳ hoa tại diện): tâm chủ huyết mạch mà huyết mạch cung cấp lên vùng đầu mặt rất phong phú nên khi tâm khí sung túc, huyết mạch tràn đầy thì sắc mặt hồng nhuận, tươi và sáng bóng Nếu tâm khí bất túc, tâm huyết hao hư thì sắc mặt không tươi Tâm mạch ứ trệ thì sắc mặt xanh tím

Tâm khai khiếu ra lưỡi

Tâm quan hệ với tình chí là vui mừng, tức là chức năng sinh lý cùa tâm có quan hệ với vui mừng Vui mừng nói chung là phản ứng lành tính; nhưng nếu vui mừng quá độ sẽ làm tâm thần phân tán, giảm khả năng tập trung chú ý

Tâm quan hệ với dịch là mồ hôi: tâm và mồ hôi có quan hệ mật thiết Ra mồ hôi là phản ứng để hạ nhiệt độ và ra mồ hôi còn liên quan đến trạng thái tinh thần (do tinh thần bị kích thích hoặc do hoảng sợ) Do tâm là đại chủ của ngũ tạng và lục phủ, chỉ đạo hoạt động tình chí tinh thần nên vì tình chí tinh thần mà gây ra mồ hôi thì đều liên quan trực tiếp đến tâm, do đó còn gọi mồ hôi là dịch của tâm

4 Các hội chứng bệnh lý tạng tâm

Tâm ở trong ngực, có tâm bào lạc bào vệ bên ngoài Kinh tâm liên lạc với tiểu trường và có quan hệ biểu lý với nhau

Chức năng sinh lý chủ yếu: tâm chủ huyết mạch, tâm tàng thần; tiểu trường chủ về thu nạp, hóa sinh và phân biệt thanh trọc

Bệnh của tâm thì diễn biến bệnh lý chủ yếu là rối loạn chức năng tâm chủ huyết mạch, tâm chủ thần chí; cho nên, bệnh của tâm thường thấy hồi hộp trống ngực, bứt rứt, đau vùng trước tim, mất ngủ, ngủ hay quên, lơ mơ, nói nhảm, loét miệng lưỡi, mạch kết đại

Bệnh của tiểu trường thì diễn biến bệnh lý chủ yếu là rối loạn chức năng phân thanh biệt trọc; cho nên, bệnh của tiểu trường thường thấy tiểu tiện sẫm màu, tiểu tiện khó, tiểu tiện ra máu

4.1 Tâm khí hư

Khái niệm: chứng tâm khí hư là các chứng biểu hiện do tâm khí bất túc, suy giảm khả năng thúc đẩy gây nên

Lâm sàng: hồi hộp trống ngực, tức ngực, hụt hơi, mệt mòi, vận động bệnh tăng lên, tự ra mồ hôi, sắc mặt trắng nhợt, chất lưỡi nhợt, rêu lưỡi trắng, mạch nhược

Trang 7

Phân tích: nguyên nhân gây chứng tâm khí hư đo bệnh lâu ngày, cơ thể hư nhược, hoặc do tiên thiên bâm tô bất túc, hoặc do người già tạng khí hư suy, hoặc

do bệnh nặng làm tổn thương chính khí

Tâm khí bât túc làm cho chức năng thúc đẩy tâm mạch kém gây nên hồi hộp trống ngực, khi vận động nhẹ thì gây kinh quý, vận động mạnh sẽ gây chính xung Tâm nằm ở trong ngực, khi tâm khí hao hư làm cho tông khí vận chuyển bị trở ngại, khí cơ không thông gây nên cảm giác ngột ngạt, tức ngực Tâm thần không được nuôi dưỡng nên thấy mệt mỏi, uể oải Vận động làm hao khí, nên khi sau hoạt động sẽ làm cho các chứng nặng lên Mồ hôi là dịch của tâm, tâm khí hư nên tâm dịch bất cố làm ngoại tiết gây nên tự ra mồ hôi Tâm khí hư suy không thể đưa huyết lên trên cho nên thấy sắc mặt trắng bệch, chất lưỡi nhạt, rêu lưỡi trắng, mạch nhược

Pháp điều trị: bổ tâm khí

Phương thuốc: Dưỡng tâm thang

Bá tử nhân 10g Xuyên khung 12g Đương quy 12g

Các vị thuốc trên gia sinh khương 03 lát, đại táo 03 quả, sắc uống

4.2 Tâm dương hư

Khái niệm: chứng tâm dương hư là các chứng biểu hiện do tâm dương hư suy rối loạn ôn vận, hư hàn nội sinh gây nên

Lâm sàng: hồi hộp trống ngực, cảm giác tức nghẹt trong ngực hoặc đau tức vùng trước tim, môi và lưỡi xanh tím, hụt hơi, tự ra mồ hôi, sợ lạnh, chân tay lạnh sắc mặt trắng bệch, chất lưỡi nhợt bệu, rêu lưỡi trắng trơn, mạch trầm trì vô lực hoặc mạch vi tế hoặc kết đại

Phân tích: nguyên nhân gây chứng tâm dương hư là do tâm khí hư tiến triển thêm làm âm hàn nội sinh

Tâm dương không hưng phấn, chức năng khua động rối loạn làm nhịp tim thất thường gây nên hồi hộp trống ngực Dương hư hàn thịnh làm hàn ngưng, kinh mạch khí huyết không thông, nếu nhẹ thây tức ngực và hụt hơi, nêu nặng thấy môi

Trang 8

lưỡi xanh tím và đau ngực Tâm dương hư suy, vệ ngoại bất cố gây nên tự ra mồ hôi

Dương khí hao hư không thể ôn ấm được cơ thế làm cho sợ lạnh, chân và tay lạnh Tâm dương suy không thể đưa huyết dịch lên nuôi dưỡng được vùng đầu mặt gây ra sắc mặt trắng bệch Chất lưỡi nhợt bệu, rêu lưỡi trắng trơn, mạch trầm trì vô lực hoặc mạch vi tế đều là biểu hiện của dương hư hàn thịnh Dương hư hàn ngưng làm cho mạch khí không được liên tục gây nên mạch kết đại

Pháp điều trị: ôn tâm dương

Phương thuốc: Bảo nguyên thang

Các vị thuốc trên sắc uống

4.3 Tâm dương bạo thoát

Khái niệm: chứng tâm dương bạo thoát là các chứng biểu hiện do tâm dương cực suy, dương khí bạo thoát gây nên

Lâm sàng: trên cơ sở chứng tâm dương hư, đột nhiên thấy mồ hôi lạnh ra đầm đìa, chân tay lạnh ngắt, hơi thở yếu, sắc mặt trắng bệch hoặc đau tức ngực dữ dội, sắc mặt và môi xanh tím, nếu nặng thì tinh thần lơ mơ, hôn mê, chất lưỡi nhợt hoặc nhợt tím, mạch vi tế muốn tuyệt

Phân tích: nguyên nhân gây chứng tâm dương bạo thoát là dựa trên cơ sở tâm dương hư suy hoặc tâm mạch ứ trệ làm cho tâm dương bạo thoát

Dương suy không thể nhiếp tân làm cho mồ hôi lạnh ra đầm đìa không dứt Khí thuận theo tân thoát làm cho chi thể không được dương khí ôn ấm gây nên tứ chi lạnh ngắt Dương hư không vận chuyển được huyết nên mặt và lưỡi không được nuôi dưỡng đầy đủ làm cho sắc mặt trắng bệch, chất lưỡi nhợt hoặc tím nhợt Dương khí bạo thoát, tông khí bị thất thoát nên không thể giúp phế quản hô hấp gây nên hơi thở yếu Tâm dương hư suy, hàn ngưng ở kinh mạch làm tâm mạch ứ trệ không thông gây nên đau nhói vùng trước tim, đau dữ dội, sắc mặt và môi xanh tím Dương khí thoát ra ngoài, tâm thần không được nuôi dưỡng, thần tán mà không tụ được làm cho tinh thần mơ hồ, lơ mơ, thậm chí hôn mê Mạch vi tế muốn tuyệt là chứng dương khí cực hư mà vong thoát ra ngoài

Trang 9

Pháp điều trị: hồi dương cố thoát.

Phương thuốc: Sâm phụ thang gia vị

Phụ từ chế 15- 20g Sinh khương 5 lát Nhân sâm 15g

Các vị trên gia cam thảo l0g, xuyên khung 12g, sắc uống ngày 01 thang

4.4 Tâm mạch trệ tắc

Khái niệm: chứng tâm mạch trệ tắc là các chứng biểu hiện do huyết ứ, đàm trệ, hàn ngưng, khí trệ làm bế tắc tâm mạch gây nên

- Lâm sàng: triệu chứng chung trong chứng tâm mạch trệ tắc là hồi hộp trống ngực, đau tức ngực từng cơn, đau lan ra sau vai hoặc lan dọc theo mặt trong cánh tay, lúc đau lúc ngừng Biểu hiện lâm sàng tùy theo nguyên nhân gây trệ tắc:

+ Huyết ứ tâm mạch: đau như dao cứa, đau cố định, chất lười ám tím hoặc thấy ban điểm ứ huyết, mạch tế sáp hoặc kết đại

+ Khí trệ tâm mạch đau mà căng tức hai bên mạng sườn, khi xuất

hiện cơn đau đều có liên quan chặt đến rối loạn về tình chí, thích thở dài, mạch huyền

+ Đàm trệ tâm mạch: đau ngực âm ỉ, người bệu trệ, khạc đờm nhiều, mình mẩy nặng nề, rêu lưỡi trắng nhớp, mạch trầm hoạt hoặc trầm sáp

+ Hàn ngưng tâm mạch đau dữ dội đột ngột, gặp lạnh đau tăng, sợ lạnh, chân tay lạnh, chườm ấm dễ chịu, chất lưỡi nhợt, rêu lưỡi trắng, mạch trầm trì hoặc trầm khẩn

- Phân tích: nguyên nhân gây chứng tâm mạch do tuổi cao sức yếu, tâm khí suy giảm, hoặc do ăn nhiều chất béo ngọt làm đàm trọc ngưng tụ, ứ trệ ở tâm mạch, hoặc do ngoại cảm hàn tà làm ngưng trệ tâm mạch, hoặc do tình chí ức uất làm khí trệ trong ngực

Tâm khí hoặc tâm dương hao hư, tâm không được nuôi dưỡng làm nhịp tim thất thường gây hồi hộp trống ngực Tâm huyết ứ trệ, tâm mạch không thông gây đau trước tim, lúc đau lúc ngừng Kinh thủ thiếu âm tâm chạy ra hõm nách rồi đi xuống ngón tay út nên thấy đau lan ra sau vai hoặc theo dọc mặt trong cánh tay, cẳng tay Chứng này thường là bản hư tiêu thực

Trang 10

Huyết ứ tâm mạch có đặc điểm là đau dữ dội, kèm theo các triệu chứng của ứ huyết nội trệ như chất lưỡi ám tím hoặc có ban điểm ứ huyết, mạch tế sáp hoặc kết đại

Đàm trệ tâm mạch có đặc điểm là tức nặng ngực, kèm theo chứng đàm trọc nội thịnh như người bệu trệ, dòm nhiều, mình mẩy nặng nề, rêu lưỡi trắng nhớp, mạch trầm hoạt

Hàn ngưng tâm mạch có đặc điểm đau dữ dội, khởi phát đột ngột, ấm nóng thì

dễ chịu; kèm theo các chứng hàn tà nội thịnh như sợ lạnh, chân và tay lạnh, chất lưỡi nhợt rêu lưỡi trắng, mạch trầm trì hoặc trầm khẩn

Khí trệ tâm mạch có đặc điểm đau căng tức, kèm theo chứng khí cơ uất trệ như phát bệnh thường liên quan đến rối loạn tình chí, căng tức mạng sườn, thích thờ dài, mạch huyền

Pháp điều trị: hoạt huyết hóa ứ

Phương thuốc: nếu huyết ứ thì dùng Huyết phủ trục ứ thang; nêu khí trệ thì dùng Sài hồ sơ can tán; nếu đàm trệ thì dùng Qua lâu giới bạch bạch tửu thang, hàn ngưng thì nên dùng Qua lâu giới bạch bạch tửu thang

+ Huyết phủ trục ứ thang (Y lâm cài thác):

Sinh địa 12g Xuyên khung 12g Xích thược lOg

Các vị thuốc ưên sác uống, ngày 01 thang

+ Sài hồ sơ can tán (Cảnh nhạc toàn thư):

Thược dược 15g

Ngày đăng: 12/10/2019, 08:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w