1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bước đầu nghiên cứu phân loại chi Côi (Turpinia Vent.) ở Việt Nam

60 44 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 3,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích nghiên cứu: Hoàn thành công trình khoa học về phân loại chi và giá trị tài nguyên về chi Côi Turpinia Vent.. ngành phân loại thực vật và cơ sở dữ liệu cho những nghiên cứu sau n

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA SINH - KTNN

======

VŨ THỊ MAI

BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU PHÂN LOẠI

CHI CÔI (TURPINIA VENT.) Ở VIỆT NAM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Thực vật học

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA SINH - KTNN

======

VŨ THỊ MAI

BƯỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU PHÂN LOẠI

CHI CÔI (TURPINIA VENT.) Ở VIỆT NAM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Thực vật học

Người hướng dẫn khoa học

TS Hà Minh Tâm

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình làm khóa luận, tôi đã nhận được sự hướng dẫn và giúp

đỡ của TS Hà Minh Tâm Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc

nhất đến Thầy

Tôi xin trân trọng cảm ơn các thầy cô ở bộ môn Thực vật, khoa KTNN, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2; PGS TS Trần Thế Bách cùng tập thể cán bộ phòng Thực vật - Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam); GS TS Phan Kế Lộc và các thầy cô ở bộ môn Thực vật học, khoa Sinh, trường Đại học Khoa học Tự nhiên (Đại học quốc gia Hà Nội) đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và tận tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu

Sinh-Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi còn nhận được sự giúp đỡ của nhiều

tổ chức và cá nhân trong và ngoài trường, đặc biệt là sự giúp đỡ, động viên của gia đình, bạn bè trong suốt thời gian tôi học tập và nghiên cứu

Một lần nữa, tôi xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày… tháng … năm 2019

Sinh viên

Vũ Thị Mai

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Để đảm bảo tính trung thực của khóa luận, tôi xin cam đoan:

Khóa luận “Bước đầu nghiên cứu phân loại chi Côi (Turpinia Vent.)

ở Việt Nam” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, được thực hiện dưới

sự hướng dẫn của TS Hà Minh Tâm Các kết quả trình bày trong khóa luận

là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào trước đây

Hà Nội, ngày … tháng … năm 2019

Sinh viên

Vũ Thị Mai

Trang 5

MỤC LỤC DANH MỤC HÌNH

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1 1 Các nghiên cứu chi Côi (Turpinia Vent.) trên thế giới 3

1 2 Các nghiên cứu chi Côi (Turpinia Vent.) ở Việt Nam 5

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG, THỜI GIAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 7

2 1 Đối tượng nghiên cứu 7

2 2 Phạm vi nghiên cứu 7

2 3 Thời gian nghiên cứu 7

2 4 Nội dung nghiên cứu 7

2 5 Phương pháp nghiên cứu 8

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 11

3 1 Vị trí và hệ thống phân loại chi Côi (Turpinia Vent.) ở Việt Nam 11

3 2 Đặc điểm phân loại chi Côi (Turpinia Vent.) ở Việt Nam 11

3 3 Khoá định loại các loài thuộc chi Côi (Turpinia Vent.) ở Việt Nam 13

3 4 Đặc điểm phân loại các loài thuộc chi Côi (Turpinia Vent.) ở Việt Nam 13

3.4.1 Turpinia cochinchinensis (Lour.) Merr – Xương cá hoa trắng 13

3.4.2 Turpinia doanii Dai & Yakovl.- Côi đoàn 17

3.4.3 Turpinia hatuyenensis Dai & Yakovl.- Côi hà tuyên 20

3.4.4 Turpinia indochinensis Merr.- Ngô vàng đông dương 22

3.4.5 Turpinia montana (Blume) Kurz- Hương viên núi 24

3.4.6 Turpinia pomifera (Roxb) DC.- Côi rào 29

3.5 Giá trị tài nguyên của các loài thuộc chi Côi (Turpinia Vent.) ở Việt Nam 33

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 34

TÀI LIỆU THAM KHẢO 35

Trang 6

DANH MỤC HÌNH

Hình 3.1 Turpinia cochinchinensis (Lour.) Merr 14

Hình 3.2 Turpinia cochinchinensis (Lour.) Merr 15

Hình 3.3 Turpinia doanii Dai & Yakovl 18

Hình 3.4 Turpinia doanii Dai & Yakovl 19

Hình 3.5 Turpinia hatuyenensis Dai & Yakovl 21

Hình 3.6 Turpinia indochinensis Merr 22

Hình 3.7 Turpinia indochinensis Merr 23

Hình 3.8 Turpinia montana (Blume) Kurz 26

Hình 3.9 Turpinia montana (Blume) Kurz 27

Hình 3.10 Turpinia pomifera (Roxb) DC 30

Hình 3.11 Turpinia pomifera (Roxb) DC 31

Trang 7

MỞ ĐẦU

Lý do chọn đề tài:

Việt Nam là một nước nằm trong khu vực có khí hậu nhiệt đới gió mùa nên có hệ thực vật vô cùng phong phú và đa dạng Do các tác động của tự nhiên cũng như tác động của con người làm cho hệ thực vật thường xuyên bị biến đổi Vì vậy, nghiên cứu phân loại thực vật một cách chính xác sẽ cung cấp tài liệu cho nhiều ngành khoa học khác có liên quan

Chi Côi (Turpinia Vent.), còn gọi là Ngô vàng, Bảy bò, thuộc họ Ngô

vàng (Staphyleaceae) có khoảng 23 loài, phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới trên thế giới Ở Việt Nam, tuy là một chi nhỏ (với 6 loài), nhưng chúng có vai trò vô cùng quan trọng trong các hệ sinh thái rừng thứ sinh.Đến nay, đã có một số công trình đề cập đến chi Côi ở Việt Nam, nhưng vẫn chưa đầy đủ và thật sự có hệ thống Do đó, cần có một công trình nghiên cứu chuyên sâu và đầy đủ để thống nhất, phục vụ việc biên soạn bộ sách Thực vật chí Việt Nam về họ Ngô vàng và cho những nghiên cứu có liên quan Vì vậy, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Bước đầu nghiên cứu phân

loại chi Côi (Turpinia Vent.) ở Việt Nam”

Mục đích nghiên cứu:

Hoàn thành công trình khoa học về phân loại chi và giá trị tài nguyên về

chi Côi (Turpinia Vent.) ở Việt Nam một cách có hệ thống, làm cơ sở cho

việc nghiên cứu họ Ngô vàng (Staphyleaceae), phục vụ cho việc biên soạn Thực vật chí Việt Nam và cho những nghiên cứu có liên quan

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn:

- Ý nghĩa khoa học: Cung cấp tài liệu để phục vụ cho việc viết Thực vật

chí Việt Nam về họ Ngô vàng ở Việt Nam; bổ sung kiến thức cho chuyên

Trang 8

ngành phân loại thực vật và cơ sở dữ liệu cho những nghiên cứu sau này về

chi Côi (Turpinia Vent.) ở Việt Nam

- Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả của đề tài phục vụ trực tiếp cho các ngành

ứng dụng và sản xuất lâm nghiệp, y dược, sinh thái và tài nguyên sinh vật,… Điểm mới của đề tài: Đây là công trình đầu tiên ở Việt Nam tiến hành

phân loại chi Côi (Turpinia Vent.) ở Việt Nam một cách đầy đủ và có hệ

thống

Trang 9

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1 1 Các nghiên cứu chi Côi (Turpinia Vent.) trên thế giới

Trước khi chi Turpinia được công bố, Loureiro (1790) [34, tr.184] đã công bố loài Triceros cochinchinensis (nay được xác định là tên đồng nghĩa của Turpinia cochinchinensis)

Năm 1807, Ventenat đã công bố chi Turpinia trong công trình

“Mémoires de la Classe des Sciences Mathématiques et Physiques de

L'Institut National de France” [18, tr 500] dựa vào loài chuẩn là T paniculata

Vent

Bentham G & Hooker J D (1862) khi xây dựng hệ thống phân loại cho

họ Bồ hòn (Sapindaceae) đã xếp chi Turpinia trong Subordor Staphyleae cùng với chi Staphylea và Euscaphis [32, tr 413]

A Takhtajan (2009) đã xếp chi Turpinia vào họ Staphyleaceae, cùng với các chi Staphylea và Euscaphis [21, tr 363]

Bên cạnh các hệ thống phân loại nêu trên, một số tác giả đã nghiên cứu

công bố, sắp xếp lại vị trí của một số loài trong chi Turpinia như: De Candolle (1825) [33, tr 3] đã chuyển loài Dalrympelea pomifera Roxb sang chi Turpinia và với tổ hợp tên mới là Turpinia pomifera (Roxb.) DC.; Kurz (1875) (Theo Nguyễn Tiến Bân, 2003) [3, tr 1008] chuyển loài Zanthoxylum

montanum Blume sang chi Turpinia với tổ hợp tên mới là Turpinia montana

(Blume) Kurz; Merrill (1938) [35, tr 43] đã chuyển loài Triceros

cochinchinensis Lour sang chi Turpinia và với tổ hợp tên mới là Turpinia cochinchinensis (Lour.) Merr và công bố loài Turpinia indochinensis.

Gần Việt Nam, các công trình thực vật chí của các nước trong khu vực

đã nghiên cứu phân loại chi Turpinia như:

Linden (1960) trong công trình “Flora Malesiana” [19, tr 49] khi nghiên cứu phân loại họ Staphyleaceae ở Malesiana đã mô tả chi Turpinia và 12 loài

ở Malesiana là: T simplicifolia, T stipulacea, T grandis, T montana, T

borneensis, T laxiflora, T sphaerocarpa, T nitida, T ovalifolia, T pomifera,

Trang 10

T pentandra, T brachypetala, trong đó có 2 loài ở Việt Nam là: T montana,

T pomifera

T C Whitmore (1972) trong công trình “Flora of Malaya” [22, tr 446] khi nghiên cứu phân loại họ Staphyleaceae ở Malaya đã mô tả chi Turpinia, xây dựng khóa định loại và mô tả 3 loài ở Malaya là: T ovalifolia, T

pomifera, T sphaerocarpa, trong đó có 1 loài ở Việt Nam là: T pomifera

T Z Hsu (1981) trong công trình “Flora Reipublicae Popularis Sinicae” [27, tr 26] khi nghiên cứu phân loại họ Staphyleaceae ở Trung Quốc

đã mô tả chi Turpinia, xây dựng khóa định loại và mô tả 13 loài ở Trung Quốc là: T subsessilifolia, T arguta, T formosana, T simplicifolia, T

indochinensis, T affinis, T ternata, T pomifera, T ovalifolia, T macrosperma, T robusta, T montana, T cochinchinensis, trong đó có 4 loài

ở Việt Nam là: T indochinensis, T pomifera, T montana, T cochinchinensi, đưa ra hình ảnh minh họa cho 3 loài là: T pomifera, T montana, T

cochinchinensis Tuy nhiên do tài liệu viết bằng tiếng Trung Quốc nên khó tra

cứu

Li Dezhu, Cai Jie; Jun Wen (2007) trong công trình “Flora of China”

[18, tr 498] khi nghiên cứu phân loại họ Staphyleaceae ở Trung Quốc đã mô

tả chi Turpinia, xây dựng khóa định loại và mô tả 13 loài ở Trung Quốc là: T

subsessilifolia, T arguta, T formosana, T simplicifolia, T indochinensis, T affinis, T ternata, T pomifera, T ovalifolia, T macrosperma, T robusta, T montana, T cochinchinensis, trong đó có 4 loài ở Việt Nam là: T indochinensis, T pomifera, T montana, T cochinchinensis

Hong Kong Herbarium (2008) trong công trình “Flora of Hong Kong” [15, tr 256] khi nghiên cứu phân loại họ Staphyleaceae ở Hong Kong đã mô

tả chi Turpinia, xây dựng khóa định loại và mô tả 2 loài ở Hong Kong là: T

arguta, T montana, trong đó có 1 loài ở Việt Nam là: T montana và đưa ra

hình ảnh minh họa cho loài này

Trang 11

1 2 Các nghiên cứu chi Côi (Turpinia Vent.) ở Việt Nam

Ở Việt Nam, người đầu tiên nghiên cứu chi Côi là Loureiro Năm 1790 [34, tr.184], ông đã công bố loài Triceros cochinchinensis, nay được xác định

là tên đồng nghĩa của Turpinia cochinchinensis

Merril (1938) đã công bố loài Turpinia indochinensis [35, tr 43].

Gagnepain (1950),trong phần Bổ sung của Thực vật chí đại cương Đông Dương “Supplément à la Flore Générale de l'Indo-Chine” [24, tr 991] đã mô

tả chi Turpinia, xây dựng khóa định loại và mô tả 6 loài là: T indochinensis,

T cochinchinensis, T pomifera, T nepalensis, T montana, T robusta, trong

đó 5 loài có ở Việt Nam là: T indochinensis, T cochinchinensis, T pomifera,

T nepalensis, T montana và đưa ra hình ảnh minh họa cho loài T cochinchinensis

Trần Đình Đại & Yakovlev (1985) đã công bố loài Turpinia doanii,

Turpinia hatuyenensis (Theo Nguyễn Tiến Bân, 2003 [3, tr 1008])

Nguyễn Tiến Bân (1997), trong công trình “Cẩm nang tra cứu và nhận

biết các họ thực vật hạt kín ở Việt Nam” đã xếp chi Turpinia vào họ Ngô

vàng (Staphyleaceae) [2, tr 441]

Võ Văn Chi (1997), trong công trình “Từ điển cây thuốc Việt Nam” [5,

tr 661] đã chỉnh lý về danh pháp, mô tả sơ bộ, cung cấp các thông tin cơ bản

về sinh học, sinh thái và giá trị sử dụng, kèm theo hình vẽ cho 1 loài thuộc chi Côi ở Việt Nam Tuy nhiên công trình này còn thiếu mẫu nghiên cứu, không

có tài liệu trích dẫn

Nguyễn Tiến Bân (2003) trong công trình “Danh lục các loài thực vật

Việt Nam” [3, tr 1008] đã chỉnh lý về danh pháp, cung cấp các thông tin cơ

bản về sinh học, sinh thái cho 7 loài thuộc chi Côi ở Việt Nam Tuy nhiên công trình này còn thiếu bản mô tả, mẫu nghiên cứu và những hình ảnh minh họa

Phạm Hoàng Hộ (2003) trong công trình “Cây cỏ Việt Nam” [9, tr 329],

đã mô tả sơ bộ, kèm theo hình vẽ 6 loài thuộc chi Côi ở Việt Nam Trong

công trình “Cây cỏ Việt Nam” tuy có nhiều hạn chế như: bản mô tả còn sơ sài,

Trang 12

không có tài liệu trích dẫn, không có mẫu nghiên cứu,…nhưng cho đến nay, đây là tài liệu quan trọng cho việc định loại sơ bộ các loài thực vật ở Việt Nam

Như vậy, có thể nói rằng cho đến hiện nay chưa có một công trình nào

nghiên cứu một cách đầy đủ và có hệ thống về chi Côi (Turpinia Vent.) ở Việt

Nam Vì vậy, công trình nghiên cứu “Bước đầu nghiên cứu phân loại chi

Côi (Turpinia Vent.) ở Việt Nam” của chúng tôi sẽ là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách đầy đủ và có hệ thống về phân loại chi Côi (Turpinia

Vent.) ở Việt Nam

Trang 13

CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG, THỜI GIAN

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2 1 Đối tượng nghiên cứu

Các loài thuộc chi Côi (Turpinia Vent.) ở Việt Nam, dựa trên cơ sở mẫu

vật và tài liệu

Tài liệu: Các tài liệu về phân loại chi Côi (Turpinia Vent.) trên thế giới

và của Việt Nam, nhất là các chuyên khảo

Mẫu vật: Các mẫu vật thực vật thuộc chi Côi (Turpinia Vent.) ở Việt

Nam, hiện được lưu giữ ở các phòng tiêu bản thực vật Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật (HN);phòng tiêu bản thực vật trường Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội (HNU)

Tổng số mẫu nghiên cứu là 46 số hiệu với 81 tiêu bản và mẫu quan sát trực tiếp ngoài thực địa

2 2 Phạm vi nghiên cứu

Các loài thuộc chi Côi (Turpinia Vent.) trên toàn lãnh thổ Việt Nam

2 3 Thời gian nghiên cứu

Từ tháng 3/ 2017- 5/2019

2 4 Nội dung nghiên cứu

- Phân tích các hệ thống phân loại chi Côi (Turpinia Vent.) trên thế giới,

từ đó lựa chọn hệ thống phù hợp để sắp xếp chi và các loài thuộc chi Côi ở Việt Nam

- Tổng hợp bản mô tả các loài để xây dựng bản mô tả chi Turpinia

- Xây dựng khóa định loại các loài thuộc chi Côi (Turpinia Vent.) ở Việt

Trang 14

2 5 Phương pháp nghiên cứu

Để nghiên cứu phân loại chi Côi (Turpinia Vent.), chúng tôi đã sử dụng

phương pháp Hình thái so sánh theo Nguyễn Nghĩa Thìn, 2007 [12] Đây là phương pháp cổ điển nhưng cho tới nay vẫn là phương pháp chính và phổ biến nhất Phương pháp này dựa trên đặc điểm cấu tạo bên ngoài các cơ quan của thực vật, quan trọng nhất là cơ quan sinh sản vì đặc điểm của nó liên quan chặt chẽ với bộ mã di truyền và ít biến đổi bởi tác động của môi trường Việc

so sánh dựa trên nguyên tắc chỉ so sánh các cơ quan tương ứng với nhau trong cùng một giai đoạn phát triển (cây trưởng thành so sánh với cây trưởng thành,

nụ so sánh với nụ, hoa so sánh với hoa, ) Việc nghiên cứu được tiến hành đồng thời cả 2 công tác là ngoại nghiệp (được thực hiện trong các chuyến đi thực địa nhằm thu thập mẫu vật, chụp ảnh, quan sát và ghi chép các đặc điểm của mẫu ở trạng thái tươi, quan sát về phân bố, môi trường sống và các đặc điểm khác) và nội nghiệp (được tiến hành trong phòng thí nghiệm, bao gồm việc xử lý, phân tích và bảo quản mẫu vật Tại đây, các mẫu vật được phân tích, chụp ảnh, vẽ hình và mô tả, sau đó dựa vào các bản mô tả gốc và mẫu vật chuẩn (nếu có), các chuyên khảo, các bộ thực vật chí (nhất là của Việt Nam và các nước lân cận) để phân tích, so sánh và định loại), cụ thể là:

Bước 1: Tổng hợp, phân tích các tài liệu trong và ngoài nước về chi Côi

(Turpinia Vent.) Từ đó lựa chọn hệ thống phân loại phù hợp với việc phân

loại chi này ở Việt Nam

Bước 2: Phân tích, định loại các mẫu vật thuộc chi Côi (Turpinia Vent.)

hiện có

Bước 3: Tham gia các chuyến điều tra, nghiên cứu thực địa để thu thêm mẫu, tìm hiểu thêm về sinh thái học, sự phân bố và các thông tin có liên quan khác

Bước 4: Tổng hợp kết quả nghiên cứu, mô tả các đặc điểm chung của chi, xây dựng khoá định loại, mô tả các phân chi và các loài, chỉnh lý phần danh pháp theo luật danh pháp quốc tế và cuối cùng hoàn chỉnh các nội dung khoa học khác của đề tài

Trang 15

– Soạn thảo chi và các loài dựa theo quy ước quốc tế về soạn thảo thực vật và quy phạm soạn thảo thực vật chí Việt Nam [4], thứ tự như sau:

Thứ tự soạn thảo chi: Tên khoa học chính thức kèm theo tên tác giả công

bố tên gọi, tên Việt Nam thường dùng, trích dẫn lại tên tác giả công bố tên khoa học, năm công bố, tài liệu công bố, số trang, tài liệu chính và các tài liệu

ở Việt Nam đề cập đến, các tên đồng nghĩa (nếu có), tên Việt Nam khác (nếu có), mô tả, loài typ của chi, ghi chú (nếu có)

Thứ tự soạn thảo loài và dưới loài: Tên khoa học chính thức kèm theo

tên tác giả công bố tên gọi, tên Việt Nam thường dùng, trích dẫn lại tên tác giả công bố tên khoa học, năm công bố, tài liệu công bố, số trang, tài liệu chính và các tài liệu ở Việt Nam đề cập đến, tên đồng nghĩa gốc (nếu có), các tên đồng nghĩa (nếu có), tên Việt Nam khác (nếu có), mô tả, địa điểm thu mẫu chuẩn (Loc class.), mẫu vật chuẩn (Typus) kèm theo nơi bảo quản (theo quy ước quốc tế), sinh học và sinh thái, phân bố, mẫu nghiên cứu, giá trị sử dụng, ghi chú (nếu có)

– Cách mô tả: Mô tả liên tục những đặc điểm cơ bản theo nguyên tắc truyền tin ngắn gọn, theo trình tự từ cơ quan dinh dưỡng (dạng sống, cành, lá, ) đến cơ quan sinh sản (cụm hoa, cấu trúc của hoa, quả, hạt)

Để xây dựng bản mô tả cho một loài, chúng tôi tập hợp các số liệu đã phân tích về loài đó sau đó so sánh với tài liệu gốc, các chuyên khảo và mẫu typ (nếu có), từ đó xác định các tiêu chuẩn và dấu hiệu định loại cho loài Bản

mô tả chi được xây dựng trên cơ sở tập hợp các bản mô tả của các loài trong chi Nếu bản mô tả này có sự khác biệt so với tài liệu gốc và các tài liệu khác (thường do số loài trong chi ở mỗi tài liệu khác nhau), chúng tôi sẽ có những ghi chú bổ sung

– Xây dựng khoá định loại: Trong phạm vi của đề tài này, chúng tôi lựa chọn cách xây dựng khoá lưỡng phân kiểu zic-zắc, cách làm được tiến hành như sau: Từ tập hợp các đặc điểm mô tả cho các taxon, chọn ra cặp các tập hợp đặc điểm đối lập và xếp chúng vào hai nhóm (các đặc điểm được chọn phải ổn định, dễ nhận biết và thể hiện tính chất phân biệt giữa các taxon)

Trang 16

Trong mỗi nhóm, lại tiếp tục chọn ra cặp đặc điểm đối lập và xếp chúng vào hai nhóm khác, cứ tiếp tục như vậy đến khi phân biệt hết các taxon

Danh pháp của các taxon được chỉnh lý theo luật danh pháp quốc tế hiện

hành và theo Quy phạm soạn thảo thực vật chí Việt Nam [4]

Trang 17

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3 1 Vị trí và hệ thống phân loại chi Côi (Turpinia Vent.) ở Việt Nam Sau khi phân tích các hệ thống phân loại chi Côi (Turpinia Vent.) và họ Ngô vàng (Staphyleaceae), có 2 quan điểm sắp xếp chi Turpinia: quan điểm 1

là xếp chi này vào họ Bồ hòn (Sapindaceae), quan điểm 2 xếp chi này vào trong họ Ngô vàng (Staphyleaceae)

Trong công trình này, tôi lựa chọn hệ thống của Takhtajan (2009) xếp

chi Côi (Turpinia Vent.) vào trong họ Ngô vàng (Staphyleaceae) Vì đây là hệ

thống được đa số các nhà thực vật học hiện nay sử dụng Ở Việt Nam, các công trình phân loại của Nguyễn Tiến Bân (1997, 2003) và Phạm Hoàng Hộ (2003) … cũng theo quan điểm này Trên cơ sở của hệ thống này, chi Côi

(Turpinia Vent.) được xếp vào họ Ngô vàng (Staphyleaceae), bộ Bồ hòn

(Sapindales), lớp Ngọc lan (Magnoliopsida) hay còn gọi là lớp Hai lá mầm (Dicotyledonae), ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) hay còn gọi là ngành Hạt kín (Angiospermae) Cho đến nay, chi này ở Việt Nam có 6 loài

3 2 Đặc điểm phân loại chi Côi (Turpinia Vent.) ở Việt Nam

Turpinia Vent 1807, nom cons.- Côi

Vent 1807 Mem Cl Sci Math Inst Natl France (1): 3, nom cons.; Hook

1875 Fl Brit Ind 1: 698; Gagnep 1950, Supp Fl Gen Indoch Tom I (4),

pp 991; Linden, 1960 Fl Males 6(1): 51; Back & Bakh 1965 Fl Java 2:

145-146; T Z Hsu, 1981 Fl Reip Pop Sin 46: 27; Li 1993 Fl Taiwan 3:

661; Li & al 2007 Fl China 11: 498; Hong Kong Herbarium, 2008 Fl Hongkong 2: 256; Takht.2009 Flowering Plants, 363

- Côi, Ngô vàng, Bảy bò

Cây gỗ hoặc cây bụi, thường xanh hoặc rụng lá; sống nhiều năm; cành hình trụ, mọc đối (theo Gagnepain, 1950); phần non không hoặc có lông đơn

Lá kép lông chim lẻ (trừ Turpinia indochinensis); mọc đối chữ thập; cuống lá

có rãnh; đốt (gốc của cuống lá, mấu của trục lá) co lại khi khô; gần chỗ đính của cuống lá chét có 2 tuyến nhỏ (đôi khi được gọi là lá kèm nhỏ) Lá kèm tạo thành cặp ở mấu, một phần được đính vào trong nách của cuống lá, nguyên,

Trang 18

chóp và gốc lá kèm hiếm khi nhọn, sớm rụng (trừ loài T stipulacea), để lại

sẹo dạng nhẫn Lá chét 3-11; dạng giấy đến dạng da; hầu hết có chiều dài gấp 2-3 lần chiều rộng; chóp nhọn đến thuôn dài; gốc tù đến tròn, đôi khi men xuống; mép có răng cưa hoặc khía tai bèo; gân hình lông chim, gân chính nổi rõ; gân mạng dạng lưới Cuống lá chét ở đỉnh dài hơn rất nhiều so với các lá chét bên Cụm hoa dạng chùy (chùm kép), mọc ở đỉnh cành hoặc nách lá, hầu hết không có lông; lá bắc có kích thước nhỏ, cuống hoa có 1-2 lá bắc nhỏ hoặc không có Hoa nhỏ, trắng, đều, lưỡng tính (ở Việt Nam), mẫu 5 Lá đài

5, rời, xếp lợp, tồn tại ở quả, 2 lá đài bên ngoài rộng hơn so với những cái bên trong, hình trứng, đỉnh tròn, nạc, ít nhiều có lông rung ở mép; phần lá đài đính vào đế hoa to hơn các phần khác Cánh hoa 5, dài hơn lá đài, không cuống, rời, xếp lợp, hình thìa hoặc hình bầu dục hẹp, hoặc hình trứng ngược, có kích thước bằng nhau, dạng màng, ít nhiều có lông rung ở mép, sớm rụng; gốc của cánh hoa chỉ đính vào đế hoa 1 phần Nhị 5 (luôn bằng với số cánh hoa và mọc xen kẽ với cánh hoa), đều nhau, đính bên ngoài đĩa mật; chỉ nhị dẹt, phình to dần về phía gốc, không có lông, sớm rụng; bao phấn tròn hoặc hình trứng, đính lưng, mở trong theo chiều dọc, thỉnh thoảng mở ở phần đỉnh Đĩa mật dễ thấy, hình nhẫn, không có lông và có khía tròn, nạc, mép lượn sóng

Bộ nhụy gồm (2-)3(-4) lá noãn tạo thành bầu thượng có số ô bằng số lá noãn, không có cột nhụy; vòi nhụy ngắn, rời hoặc hợp lại với nhau; núm nhụy thường có 3 thùy, hình đầu; mỗi ô của bầu có một đến nhiều noãn (khi đó sắp xếp theo 2 hàng) Quả mọng (không mở), gần hình cầu, hơi có 3 thùy, thỉnh thoảng gần như hình nón có dấu vết của vòi nhụy ở đỉnh; vỏ quả ít nhiều nạc (khi khô trở nên khá cứng), đường kính tới 2,5 cm, mỗi ô thường có 1 hạt Hạt

có hình dạng thay đổi từ gần tròn đến hình thận hoặc dẹp, màu vàng nâu đến nâu đậm khi khô; vỏ hạt dạng màng cứng hoặc dạng hóa gỗ; rốn hạt lớn; có nội nhũ; lá mầm phẳng hơi tròn

Typus: T paniculata Vent

Trên thế giới, chi Côi có 23 loài, phân bố ở Trung Quốc (Quảng Đông, Quảng Tây, Quý Châu, Tứ Xuyên, Vân Nam), Lào, Campuchia, Bhutan, Ấn

Độ, Indonesia, Malaisia, Myanmar, Ne-pal, Thái Lan Ở Việt Nam, chi Côi có

6 loài, mọc rải rác khắp cả nước trong rừng nguyên sinh và thứ sinh từ Lai

Trang 19

Châu, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Cạn, Vĩnh Phúc, Hà Nội, Hòa Bình, Ninh Bình, Nghệ An, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Kon Tum, Gia lai, Đác Lắc, Lâm Đồng, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Tây Ninh, Đồng Nai

3 3 Khoá định loại các loài thuộc chi Côi (Turpinia Vent.) ở Việt Nam

1A Lá kép

2A Nhánh non không có lông, cụm hoa ở đỉnh cành hoặc nách lá

3A Bầu có lông, gốc lá hơi lệch, quả có 3 gai ngắn 1 T cochinchinensis

3B Bầu không lông, gốc lá cân, quả không có gai

4A Đài có lông mịn; gần hình tròn, số đôi gân bên 8-10 cặp

2 T montana 4B Đài không lông; hình trứng, số đôi gân bên 7-9 cặp 3 T pomifera

2B Nhánh non có lông, cụm hoa ở đỉnh cành

5A Bộ nhụy gồm 3 lá noãn hợp thành bầu thượng 3 ô; mỗi ô có 2 noãn

4 T doanii

5B Bộ nhụy gồm 6 lá noãn hợp thành bầu thượng 3 ô

………5 T hatuyenensisis 1B Lá đơn 6 T indochinensis

3 4 Đặc điểm phân loại các loài thuộc chi Côi (Turpinia Vent.) ở Việt

Nam

3.4.1 Turpinia cochinchinensis (Lour.) Merr – Xương cá hoa trắng

Merr 1938 Journ Arn Arb 19: 43; Gagnep 1950, Supp Fl Gen Indoch Tom I (4): 992; Zhongguo ke xue yuan 1972 Iconographia Cormophytorum Sinicorum 2: 692;Wu C Y 1979 Fl Yunnanica Vol 2(1): 361; T Z Hsu,

1981 Fl Reip Pop Sin 46: 37; N T Ban, 2003 Checkl Pl Sp Vietn 2: 1008; Phamh 2003 Illustr Fl Vietn 2: 329; Li & al 2007 Fl China, 11:

504

- Triceros cochinchinensis Lour 1790 Fl Cochinch 1: 184

Trang 20

- Maurocenia cochinchinensis (Lour.) Kuntze 1891 Revis Gen Pl 1: 150

- Turpinia microcarpa Wight & Arn 1834 Prodr Fl Ind Orient 1: 156

- Turpinia nepalensis Wall 1911 Forest Fl Burma 1: 292

- Côi nam bộ, Hương viên, Ấu rừng, Ngô vàng hoa nhẵn, Côi hoa nhẵn, Côi nepal

Hình 3.1 Turpinia cochinchinensis (Lour.) Merr

1 cành mang hoa; 2 lá; 3 hoa; 4 cánh hoa (mặt ngoài); 5 bộ nhụy và 1

nhị; 6 bầu (lát cắt ngang); 7 một phần cành mang quả (hình theo Vũ Văn Dũng và Nguyễn Văn Chính, 1981)

Trang 21

Hình 3.2 Turpinia cochinchinensis (Lour.) Merr

Cành mang quả (Vũ Thị Mai, 2019, chụp từ mẫu N Q Binh & D D Cuong VN 1997

(HN)) Cây gỗ nhỏ, rụng lá, cao 8-12 m, đường kính 25-30 cm; cành non màu xám, không có lông, gióng dài, cành già màu nâu sẫm hoặc nâu đen; lỗ vỏ

Trang 22

nâu Lá mọc đối, kép lông chim lẻ, dài khoảng 15-21 cm, gồm 5-9 lá chét Lá chét hình bầu dục; phiến lá chét hình thuôn đến hình trứng ngược, kích thước khoảng (6-)10-12(-13) × 2,5-4(-5) cm; dày; không có lông; màu xám trắng hay oliu lúc khô; chóp lá có mũi nhọn, mũi dài 1,5-2 cm; mép lá có răng cưa; gốc hơi lệch; gân bên 6-9 cặp, cong nhiều và vấn hợp ở mép, gân con hình mạng Cuống lá chét ở đỉnh dài 3,5-4 cm, ở bên dài 0,5-0,7 mm Cụm hoa dạng chùm kép, mọc ở đỉnh cành hoặc nách lá, dài 8-14(-23) cm, có nhiều hoa Hoa màu trắng, thơm; lá bắc và lá bắc nhỏ có kích thước nhỏ, sớm rụng

Lá đài 5; rời, xếp lợp; hình trứng rộng; kích thước 1-1,5 mm, mép màu trắng Cánh hoa 5; hình thuôn; cao 3-4 mm Nhị 5, không có lông; bao phấn gần tròn Đĩa mật lượn sóng Bộ nhụy gồm 2-3 lá noãn hợp thành bầu thượng 2-3 ô; có lông; núm nhụy gần như hơi nhọn Quả mọng, màu nâu đậm, hình cầu, khi chín màu đỏ, kích thước cỡ 1,5 cm, với 3 gai ngắn (vết tích còn lại của vòi nhụy)

Loc.class: Vietnam Typus: J & M S Clemens, #3791, (BM),

BM000521081

Sinh học và sinh thái: Mọc rải rác trong rừng, ở độ cao 600-1800 m Ra

hoa tháng 3-4, mùa quả tháng 6-7

Phân bố: Lai Châu, Lào Cai (Sa Pa, Ô Quy Hồ), Cao Bằng (Khao Son),

Bắc Cạn, Hà Nội, Hòa Bình, Quảng Trị (Bến Trạm, Động Cô Pat), Thừa Thiên Huế (Hôi Mit), Đà Nẵng (Bà Nà, Hải Vân), Kon Tum, Lâm Đồng (Đà Lạt, Di Linh, Lang Hanh), Khánh Hòa (Nha Trang, Vọng Phu), Ninh Thuận (Cà Ná), Tây Ninh (Núi Bà Đen) Còn có ở Ấn Độ, Bhutan, Trung Quốc (Quảng Đông, Quảng Tây, Quý Châu, Tứ Xuyên, Vân Nam), Lào, Campuchia, Malaysia, Myanmar, Ne-pal, Thái Lan

Mẫu nghiên cứu: PHÚ THỌ (Xuân Sơn), Sine coll Phương 7912

(HN).- VĨNH PHÚC (Ngọc Thanh, Mê Linh), Phương 2776 (HN).- HÒA BÌNH (Chi nê), Nông Văn Doanh 2265 (HNU); (Lương Sơn, xã Lâm Sơn), Bùi Đức Bình B-1185 (HNU).- NGHỆ AN (Tương Dương, xã Tam Đình, Pha Ngoạng), Vũ Văn Cần VVC 230 (HNU); Vũ Văn Cần VVC 229 (HNU).- QUẢNG TRỊ (Hướng Hóa), N Q Binh & D D Cuong VN 1765 (HN).-

Trang 23

KON TUM (Dak Glei), N Q Binh & D D Cuong VN 1997 (HN); (Ngọc Linh), L Averyanov, N T Ban, N Q Binh, A Budantzev, L Budantzev, N

T Hiep, D D Huyen, P K Loc, N X Tam, G Yakovlev VH 012 (HN); (Sa Thầy, xã Sa Sơn), P K Lộc, H V Tuấn, V V Đức, H Đ Sinh P 8338 (HNU).- Sine loc & Sine coll 2257 (HN).- Sine loc & Sine coll 2202 (HN).- Sine loc & Sine coll 6750 (HN).- Sine loc & Sine coll 6793 (HN).- Sine loc & Sine coll 3563 (HN)

Giá trị sử dụng: Gỗ màu nâu vàng nhạt, nhẹ, dai khó chế biến, kém bền

với mối mọt Thường chỉ làm các đồ dùng tạm thời, mau hỏng Cây có dáng đẹp, cành lá xanh thẫm, tán mở rộng có thể trồng làm cây cảnh [7]

3.4.2 Turpinia doanii Dai & Yakovl.- Côi đoàn

Dai & Yakovl 1985 Novosti Sist Vyssh Rast 22: 150; N T Ban, 2003 Checkl Pl Sp Vietn 2: 1008; Phamh 2003 Illustr Fl Vietn 2: 329

Trang 24

Hình 3.3 Turpinia doanii Dai & Yakovl

1 cành mang hoa; 2 cụm hoa; 3 quả (hình theo Phạm Hoàng Hộ, 2003)

Trang 25

Hình 3.4 Turpinia doanii Dai & Yakovl

Cành mang hoa (Vũ Thị Mai, 2019, chụp từ mẫu Lâm Sư Đoàn 201 (HN)) Cây gỗ trung bình, cao 10 m; nhánh non có lông mịn Lá kép lông chim

lẻ, mọc đối, gồm 5-7 lá chét Lá chét hình bầu dục hoặc hình trứng ngược, kích thước 5-10 x 3-5 cm; chóp lá có mũi dài 1 cm; mép có răng cưa; gốc bất xứng; gân bên 4-5 cặp, cuống lá chét 3-5 mm Cụm hoa chùy ở đỉnh cành, có nhiều hoa Hoa nhỏ; nụ có đường kính khoảng 2-3 mm, cuống hoa dài 2-3

mm Lá đài 5, rời, xếp lợp, tồn tại ở quả, 2 lá đài bên ngoài rộng hơn so với những cái bên trong, hình trứng Cánh hoa 5, dài hơn lá đài, rời, xếp lợp, kích

Trang 26

thước bằng nhau, dài cỡ 3-4 mm, dạng màng, sớm rụng, mép có lông Nhị 5, chỉ nhị dài 2-3 mm Bộ nhụy gồm 3 lá noãn hợp thành bầu thượng 3 ô; mỗi ô

có 2 noãn Quả mọng, hình cầu, kích thước cỡ 7 mm

Loc.class: Vietnam (Ha Giang) Typus:

Sinh học và sinh thái: Mọc rải rác trong rừng

Phân bố: Mới thấy ở Hà Giang (Vị Xuyên, Bắc Quang)

Mẫu nghiên cứu: HÀ GIANG (Vị Xuyên, xã Minh Tân), Lâm Sư Đoàn

201 (HN); Lâm Sư Đoàn 281 (HN)

Giá trị sử dụng: Cây cho gỗ dùng đóng đồ thông thường, làm cán nông

cụ

3.4.3 Turpinia hatuyenensis Dai & Yakovl.- Côi hà tuyên

Dai & Yakovl 1985 Novosti Sist Vyssh Rast 22: 149; N T Ban, 2003 Checkl Pl Sp Vietn 2: 1009; Phamh 2003 Illustr Fl Vietn.2: 330

Cây gỗ trung bình, cao 10-15 m; cành non có lông Lá kép lông chim lẻ; mang 5-7 lá chét Lá kèm sớm rụng Lá chét hình thuôn đến hình tam giác, kích thước khoảng 12-16 x 5-6 cm; chópnhọn đến có đuôi; mép có răng cưa; gốc thường lệch, nhọn đến tròn; cuống lá chét bên dài 5-10 mm, cuống lá chét đỉnh dài hơn rất rõ Cụm hoa chùy ở ngọn nhánh, cao 15-20 cm, có nhiều hoa Hoa nhỏ; nụ có đường kính khoảng 1,5-2 mm Lá đài 5, kích thước 1,5-2 mm, không lông Cánh hoa dài khoảng 2-3 mm Nhị dài 2-3 mm Đĩa mật rõ Bầu 3

ô, mỗi ô có 2 noãn

Trang 27

Hình 3.5 Turpinia hatuyenensis Dai & Yakovl

cành mang hoa (hình theo Phạm Hoàng Hộ, 2003)

Loc.class: Vietnam (Hatuyen) Typus: Tran Minh Thuan, #1 (LE00014903) (LE)

Sinh học và sinh thái: Mọc rải rác trong rừng

Phân bố: Mới thấy ở Hà Giang

Giá trị sử dụng: Cây cho gỗ thông thường

Trang 28

Ghi chú: Thông tin về loài Turpinia hatuyenensis chỉ được biết qua các

công trình của Nguyễn Tiến Bân (2003) và Phạm Hoàng Hộ (2003) Cho đến nay, chúng tôi vẫn chưa tìm được mẫu vật nào phù hợp với loài này

3.4.4 Turpinia indochinensis Merr.- Ngô vàng đông dương

Merr 1938 J Arnold Arbor 19: 43; Gagnep 1950, Supp Fl Gen Indoch Tom I (4): 992; Wu C Y 1979 Fl Yunnanica 2(1): 357; T Z Hsu, 1981 Fl Reip Pop Sin 46: 30; N T Ban, 2003 Checkl Pl Sp Vietn 2: 1009; Phamh 2003 Illustr Fl Vietn 2: 330; Li & al 2007 Fl China, 11: 502

- Bảy bò, Côi đông dương

Hình 3.6 Turpinia indochinensis Merr

1 một phần cành mang hoa; 2 hoa (hình theo Phạm Hoàng Hộ, 2003)

Trang 29

Hình 3.7 Turpinia indochinensis Merr

Cành mang lá (Vũ Thị Mai, 2019, chụp từ mẫu H483 (HNU))

Trang 30

Cây gỗ nhỏ hoặc cây bụi, cao đến 10 m; vỏ cây màu nâu vàng đến nâu nhạt, không lông Lá đơn, mọc đối; cuống lá dài 6-30 mm, gốc phình ra; phiến

lá hình bầu dục, kích thước 8-19 x 4-10 cm, không có lông; chóp lá có mũi nhọn dài 1 cm; mép thưa thớt có răng cưa, với răng tương đối cứng hoặc cứng như xương; gốc hình nêm đến rất rộng; mặt trên bóng màu xanh lá cây, mặt dưới hơi lục, lúc khô màu nâu; gân bên 6-8 cặp, mặt trong dễ thấy và mặt ngoài nhô lên Cụm hoa chùy ở đỉnh cành, dài 7-12 cm Hoa nhỏ, đường kính

cỡ 5 mm; cuống dài cỡ 2 mm Lá đài dạng da, dài 3-5 mm Cánh hoa mỏng, hình thìa, dài 3,5(-4) mm, trắng khi khô, không có lông Nhị 5, dài khoảng 3,5 mm; chỉ nhị dẹt, dài khoảng 1,2 mm, gốc được mở rộng đến cỡ 1 mm, có lông măng trắng; đĩa mật rõ, lượn sóng Bầu 3 ô, hình bầu dục, đường kính cỡ 1,5

mm, có lông măng trắng, mỗi ô có 4 noãn; 3 vòi nhụy ngắn, rời Quả mọng, gần hình cầu, đường kính (6-)10 mm, vỏ quả ngoài dày cỡ 1,5 mm Hạt hình cầu méo, đường kính cỡ 5 mm, màu nâu

Loc.class: Vietnam (Tonkin: Tam Dao) Typus: Pételot 3881 (P)

Sinh học và sinh thái: Mọc rải rác trong rừng, ở độ cao 900-1200 m Ra

hoa tháng 10-12

Phân bố: Vĩnh Phúc (Tam Đảo), Bắc Giang, còn có ở Trung Quốc (Hải

Nam, Vân Nam)

Mẫu nghiên cứu: BẮC GIANG (Thanh Sơn, Sơn Động), TVC 678

(HN).- NGHỆ AN (Pù Mát), Sine coll H 483 (HNU), Sine coll H 484 (HNU), Sine coll NT 985808 (HNU)

Giá trị sử dụng: Cây cho gỗ thông thường

3.4.5 Turpinia montana (Blume) Kurz- Hương viên núi

Kurz, 1875 J Asiat Soc Bengal, Pt 2, Nat Hist 46(2): 182; Gagnep 1950, Supp Fl Gen Indoch Tom I (4): 995; Linden, 1960 Fl Males Ser I, Vol

6(1): 55; Wu C Y 1979 Fl Yunnanica Vol 2(1): 360; T Z Hsu, 1981 Fl

Reip Pop Sin 46: 36; N T Ban, 2003 Checkl Pl Sp Vietn 2: 1009; Phamh 2003 Illustr Fl Vietn 2: 330; Li & al 2007 Fl China, 11: 503; Hong Kong Herbarium, 2008 Fl Hongkong 2: 257

Ngày đăng: 11/10/2019, 21:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w