1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Văn hóa Việt Nam trong giảng dạy môn Tiếng Việt cho học viên nước ngoài ở nhà trường quân đội

218 138 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 218
Dung lượng 1,89 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích nghiên cứu Mục đích của luận án là thông qua nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn văn hóa Việt Nam trong giảng dạy môn Tiếng Việt để bàn về bản sắc văn hóa Việ

Trang 1

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN THỊ THUẦN

V¡N HãA VIÖT NAM TRONG GI¶NG D¹Y M¤N TIÕNG VIÖT CHO HäC VI£N N¦íC NGOµI ë NHµ TR¦êNG QU¢N §éI

LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH: VĂN HÓA HỌC

HÀ NỘI - 2019

Trang 2

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN THỊ THUẦN

V¡N HãA VIÖT NAM TRONG GI¶NG D¹Y M¤N TIÕNG VIÖT CHO HäC VI£N N¦íC NGOµI ë NHµ TR¦êNG QU¢N §éI

LUẬN ÁN TIẾN SĨ CHUYÊN NGÀNH: VĂN HÓA HỌC

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được

trích dẫn đầy đủ theo quy định

Tác giả

Nguyễn Thị Thuần

Trang 4

Chương 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN NGHIÊN CỨU VĂN HÓA

VIỆT NAM TRONG MÔN TIẾNG VIỆT CHO HỌC VIÊN

Chương 3: NỘI DUNG GIẢNG DẠY, TIẾP NHẬN VÀ TRẢI NGHIỆM BẢN

SẮC VĂN HÓA VIỆT NAM TRONG MÔN TIẾNG VIỆT Ở NHÀ

3.1 Bản sắc văn hóa Việt Nam thể hiện trong các giáo trình tiếng Việt sử

3.2 Nội dung và phương pháp giảng dạy bản sắc văn hóa Việt Nam qua môn

Tiếng Việt cho học viên nước ngoài ở nhà trường quân đội hiện nay 83

3.3 Việc tiếp nhận và trải nghiệm bản sắc văn hóa qua môn Tiếng Việt của

học viên nước ngoài ở nhà trường quân đội hiện nay 97

Chương 4: NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI VIỆC TRUYỀN TẢI BẢN

SẮC VĂN HÓA VIỆT NAM TRONG GIẢNG DẠY MÔN TIẾNG VIỆT CHO HỌC VIÊN NƯỚC NGOÀI Ở NHÀ TRƯỜNG QUÂN

4.1 Về bản sắc văn hóa Việt Nam trong giáo trình 110

4.2 Về bản sắc văn hóa Việt Nam trong giảng dạy 120 4.3 Về tiếp nhận và trải nghiệm bản sắc văn hóa Việt Nam của học viên

Trang 5

Trang

Bảng 3.1 Khảo sát chủ đề văn hóa Việt Nam trong bài đọc trong giáo

trình tiếng Việt cơ sở

73

Bảng 3.2 Khảo sát chủ điểm giao tiếp trong bài đọc trong giáo trình

tiếng Việt cơ sở

Bảng 4 Triển khai hoạt động lớp học hướng đến phát triển năng lực

giao tiếp đa văn hóa

163

Trang 6

HVNN: Học viên nước ngoài

MTQS: Môi trường quân sự NCS : Nghiên cứu sinh NTQĐ: Nhà trường quân đội Nxb : Nhà xuất bản

Trang 7

Theo quan điểm của Deborah Peck (1998): “Không có giảng dạy văn hóa thì việc giảng dạy ngôn ngữ là không chính xác, không đầy đủ và nặng nề” [81] Một người nước ngoài dù nắm rất chắc ngữ pháp và có vốn từ phong phú nhưng thiếu hiểu biết về văn hóa thì khi giao tiếp bằng tiếng Việt cũng chỉ dừng

ở mức độ biết diễn đạt ý nghĩ của mình một cách vụng về bằng cách áp đặt

những quy tắc của tiếng mẹ đẻ Văn hóa định hình quan điểm, cách nhìn và chi

phối sinh hoạt, ứng xử, giao tiếp của mỗi người, đồng thời cũng là những chuẩn mực để đánh giá bản thân và người khác sống có phù hợp với văn hóa của cộng

đồng không? Và ngôn ngữ là yếu tố tiêu biểu nhất trong bất kỳ nền văn hóa

nào Với mọi ngôn ngữ, việc sử dụng lời nói hay văn bản cũng là để truyền tải một thông điệp văn hóa được hiểu theo ý nghĩa của người thực hành nó Vì thế, văn hóa Việt Nam được truyền dạy một cách tự nhiên thông qua quá trình dạy và học ngôn ngữ sẽ giúp người nước ngoài sử dụng thành thạo tiếng Việt trong bối cảnh xã hội và văn hóa Việt Nam

Tuy nhiên, chuẩn mực trong nguyên tắc ứng xử của một nền văn hóa này lại không phải là chuẩn mực của một nền văn hóa khác, các quan điểm được một cộng đồng chấp nhận có thể không được đồng thuận ở một cộng đồng khác Người nước ngoài đến Việt Nam học tiếng Việt thời gian đầu thường ngạc nhiên và bối rối trước những câu hỏi như: “Anh có gia đình chưa?”, “Anh đi

Trang 8

đâu đấy?”, “Anh bao nhiêu tuổi?” Sự khác biệt về văn hóa khiến họ có những đánh giá và cảm xúc khác nhau trước ngôn ngữ và môi trường văn hóa mới Chỉ những hiểu biết sâu sắc về văn hóa mới có thể giúp học viên nước ngoài (HVNN) có điểm nhìn văn hóa từ bên trong, cho họ thấy sự tương đồng và khác biệt trong môi trường đa văn hóa để từ đó có sự đồng cảm, yêu mến và tôn trọng nền văn hóa họ đang theo học “Văn hóa trong việc học ngôn ngữ không phải là một kỹ năng thứ năm không cần thiết, gắn tạm vào việc dạy nói, nghe, đọc và viết Nó luôn luôn nằm trong nền tảng, ngay từ những ngày đầu, sẵn sàng gây bối rối người giỏi ngôn ngữ vào lúc bất ngờ nhất, cho thấy hạn chế về năng lực giao tiếp của họ, thách thức khả năng hiểu thế giới xung quanh của họ” [80, tr.1]

Và như thế, văn hóa là phần không thể thiếu trong năng lực giao tiếp ngôn ngữ và cũng chính là trọng tâm của giảng dạy tiếng Việt

Trong tiến trình hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay, việc giới thiệu văn hóa trong ngôn ngữ là cơ hội để chúng ta quảng bá văn hóa Việt Nam phục vụ công tác đối ngoại nói chung và đối ngoại quốc phòng nói riêng Trước đây, việc dạy tiếng Việt ở nhà trường quân đội (NTQĐ) chỉ tập trung chủ yếu cho học viên Lào và Campuchia trong điều kiện giảng dạy còn nhiều hạn chế thì ngày nay, đã có khoảng 30 nước cử quân nhân sang Việt Nam học tập theo hình thức hiệp định và đối đẳng Số lượng học viên tăng hàng năm đòi hỏi phải có chiến lược giới thiệu văn hóa một cách chuyên nghiệp Bên cạnh đó, văn hóa trong giảng dạy ngôn ngữ không chỉ là vấn đề nội sinh xuất phát từ mối quan

hệ hữu cơ giữa ngôn ngữ và văn hóa mà còn là đòi hỏi khách quan xuất phát từ nhu cầu và sự chủ động, tích cực của người học Những HVNN đến Việt Nam học tập với mục đích tìm hiểu, cảm nhận, trải nghiệm giá trị, chuẩn mực của văn hóa Việt Nam để vận dụng những kiến thức và tình cảm văn hóa vào việc thi hành chính sách ngoại giao của đất nước mà họ đại diện với Đảng, Nhà nước

Trang 9

Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, việc nghiên cứu cơ bản, hệ thống về

“Văn hóa Việt Nam trong giảng dạy môn Tiếng Việt cho học viên nước ngoài

ở nhà trường quân đội” dưới góc nhìn Văn hóa học là vấn đề có ý nghĩa lý

luận và thực tiễn trong bối cảnh hiện nay

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích của luận án là thông qua nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn văn hóa Việt Nam trong giảng dạy môn Tiếng Việt để bàn về bản sắc văn hóa Việt Nam trong giáo trình, nội dung giảng dạy, tiếp nhận và trải nghiệm hướng đến việc nâng cao hiệu quả truyền tải văn hóa Việt Nam cho HVNN ở nhà trường quân đội

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nhận diện vấn đề văn hóa Việt Nam trong giảng dạy môn Tiếng Việt cho HVNN ở NTQĐ, đó là bản sắc văn hóa Việt Nam thể hiện ở các chủ điểm

văn hóa và giao tiếp ngôn ngữ trong giảng dạy tiếng Việt

Trang 10

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Từ mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, có thể xác định đối tượng nghiên cứu của luận án là bản sắc văn hóa Việt Nam trong giảng dạy môn Tiếng Việt

cho HVNN ở NTQĐ hiện nay

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Nội dung: Văn hóa Việt Nam là một phạm trù rộng lớn bao gồm nhiều lĩnh vực, bản thân khái niệm văn hóa cũng mang tính động, phụ thuộc vào góc nhìn của lĩnh vực nghiên cứu Vì vậy, trong khuôn khổ của một luận án, nghiên cứu sinh (NCS) đã giới hạn phạm vi nghiên cứu là bản sắc văn hóa Việt Nam Việc giới hạn phạm vi nghiên cứu xuất phát từ lý do lựa chọn đề tài, văn hóa Việt Nam trong giảng dạy ngôn ngữ là những yếu tố phản ánh quan điểm và tư duy của dân tộc Việt Nam trong so sánh sự tương đồng và khác biệt với dân tộc khác; từ nội dung văn hóa Việt Nam trong chương trình đào tạo; từ đối tượng nghiên cứu; từ thực tế kinh nghiệm giảng dạy, từ trải nghiệm của NCS khi khảo sát ở các NTQĐ Như vậy, việc giới hạn nội dung văn hóa Việt Nam trong phạm vi bản sắc văn hóa Việt Nam trong giảng dạy môn Tiếng Việt cho người nước ngoài là có cơ sở và phù hợp với mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Không gian: Các học viện, nhà trường trong quân đội có nhiệm vụ đào tạo tiếng Việt và chuyên ngành quân sự cho HVNN: Đoàn 871 (Long Biên, Hà

Trang 11

Nội), Học viện Khoa học quân sự (Hoài Đức, Hà Nội), Trường Sĩ quan Kỹ thuật quân sự Vinhempich (Trường Đại học Trần Đại Nghĩa; Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh), Trường Sĩ quan Lục quân 1 (Trường Đại học Trần Quốc Tuấn; Sơn Tây, Hà Nội) và Trường Sĩ quan Lục quân 2 (Trường Đại học Nguyễn Huệ; Biên Hòa, Đồng Nai)

- Thời gian: 10 năm (từ 2008 đến 2018) Đây là khoảng thời gian việc giảng dạy tiếng Việt và văn hóa Việt Nam ở NTQĐ trở thành nhiệm vụ chính trị trung tâm của đào tạo đối ngoại quốc phòng Văn hóa Việt Nam nói chung và bản sắc văn hóa Việt Nam nói riêng được đặt ra như một yêu cầu khách quan và chủ quan trong giảng dạy tiếng Việt cho đối tượng sẽ là “đại sứ” đưa văn hóa Việt Nam đến với thế giới Đó cũng là khoảng thời gian cần thiết để nhìn lại chất lượng những giáo trình đã được lựa chọn, những phương pháp truyền tải cần được đổi mới để từ đó bàn luận những vấn đề hướng đến nâng cao chất lượng giảng dạy văn hóa Việt Nam cho HVNN ở NTQĐ hiện nay

4 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Cơ sở phương pháp luận

Luận án được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về văn hóa và bản sắc văn hóa dân tộc để giới thuyết khái niệm, khảo sát bản chất của văn hóa Việt Nam trong giảng dạy môn Tiếng Việt cho HVNN ở nhà trường quân đội

4.2 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Nghiên cứu văn hóa trong giảng

dạy môn Tiếng Việt cho HVNN ở NTQĐ liên quan đến nhiều lĩnh vực, nhiều đối tượng Vì vậy NCS sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành nhằm tiếp cận ở các góc nhìn văn hóa học, ngôn ngữ học, phương pháp dạy học để giải

quyết vấn đề bản sắc văn hóa Việt Nam trong môn Tiếng Việt ở NTQĐ hiện nay

Trang 12

ở NTQĐ hiện nay

- Phương pháp lịch sử - logic: Phương pháp này giúp tìm hiểu nhận thức

về bản sắc văn hóa, bản sắc văn hóa trong ngôn ngữ và biểu hiện của nó trong môn Tiếng Việt đồng thời chỉ ra nội dung cốt lõi của văn hóa Việt Nam trong môn Tiếng Việt giảng dạy cho HVNN ở nhà trường quân đội

- Phương pháp hệ thống - cấu trúc: Luận án sử dụng phương pháp này giúp nghiên cứu văn hóa Việt Nam trong môn Tiếng Việt ở NTQĐ một cách toàn diện, trong mối tương quan với mục tiêu, chương trình đào tạo, giáo trình, giảng dạy, tiếp nhận và trải nghiệm của HVNN, từ đó đưa ra những bàn luận nhằm nâng cao chất lượng truyền tải văn hóa Việt Nam trong NTQĐ hiện nay

- Phương pháp chuyên gia: Phương pháp này giúp tham khảo ý kiến của các chuyên gia có trình độ, những kinh nghiệm thực tế và trải nghiệm là cơ sở làm rõ hơn phạm vi nghiên cứu, bàn luận những yếu tố đảm bảo và quyết định trong việc nâng cao chất lượng truyền tải bản sắc văn hóa Việt Nam trong giảng dạy môn Tiếng Việt ở NTQĐ hiện nay

- Phương pháp điền dã: Sử dụng phương pháp này để có được những dữ liệu trung thực, khách quan qua quan sát thực tế, ghi âm, ghi hình thực tiễn văn hóa Việt Nam trong giảng dạy, tiếp nhận và trải nghiệm ở NTQĐ; qua đó nhận thức sâu sắc, đầy đủ hơn về bản sắc văn hóa trong môn Tiếng Việt và đưa ra những nhận xét, đánh giá mang tính khách quan, khoa học, có sức thuyết phục

Trang 13

Trong quá trình điền dã, quan sát và tham dự trực tiếp vào quá trình giảng dạy trong 5 học viện, nhà trường được giao nhiệm vụ hợp tác đào tạo HVNN ở miền Bắc và miền Nam, NCS đã tiến hành 6 cuộc phỏng vấn (3 cuộc với 6 giảng viên và 3 cuộc với 12 học viên) nhằm xác định mục đích cốt lõi của văn hóa Việt Nam trong giảng dạy môn Tiếng Việt ở NTQĐ; đánh giá bản sắc văn hóa Việt Nam trong giảng dạy, tiếp nhận và trải nghiệm ở NTQĐ một cách chân thực và khách quan; những mong muốn chủ quan và kết quả khách quan… Kết quả điều tra là cơ sở xác định nội dung cốt lõi của văn hóa Việt Nam trong môn Tiếng Việt là bản sắc văn hóa Đó cũng là cơ sở khoa học để bàn luận về yếu tố đảm bảo và yếu tố quyết định nâng cao hiệu quả bản sắc văn hóa trong môn Tiếng Việt ở NTQĐ hiện nay

- Phương pháp điều tra xã hội học: Để xác định bản sắc văn hóa Việt Nam đã được giảng dạy, tiếp nhận và trải nghiệm trong NTQĐ như thế nào thì việc trưng cầu đánh giá của hai đối tượng tham gia trực tiếp vào quá trình dạy, học là giảng viên và học viên về bản sắc văn hóa Việt Nam trong môn Tiếng Việt ở NTQĐ là rất quan trọng Do vậy, NCS xây dựng nội dung chi tiết cho việc điều tra xã hội học như sau:

Về thành phần điều tra

Cán bộ, giảng viên tham gia khảo sát có 50 người Trong đó theo cấp bậc có 20% (10/50) viên chức quốc phòng; 28% (14/50) từ thiếu úy đến đại úy, 46% (23/50) là thiếu tá và trung tá, 6% (3/50) là thượng tá và đại tá Theo trình

độ học vấn có 26% (13/50) trình độ đại học, 72% (26/50) trình độ thạc sĩ và 2% (1/50) trình độ tiến sĩ Theo ngành đào tạo có 80% (40/50) được đào tạo chuyên ngành văn học và ngôn ngữ học, 20% (10/50) được đào tạo chuyên ngành ngoại ngữ Theo thâm niên giảng dạy có 76% (38/50) từ 10 năm trở lên Thành phần tham gia điều tra là các giảng viên đủ kinh nghiệm dạy học, có chuyên môn phù hợp với giảng dạy tiếng Việt trong nhà trường quân đội

Trang 14

Học viên tham gia khảo sát với số lượng là 300 người Có 50% (150/300) đang học trình độ cơ sở 1 năm; 50% (150/300) đang học chuyên ngành từ năm thứ hai trở lên Các học viên đã và đang học gần hết một năm học trở lên, sử

dụng khá thành thạo tiếng Việt, có thể giao tiếp với người bản ngữ

Các giảng viên và học viên tham gia điều tra xã hội học ở 5 trung tâm đào tạo HVNN trong NTQĐ Đó là: Đoàn 871, Học viện Khoa học quân sự, Trường Sĩ quan Kỹ thuật quân sự Vinhempich, Trường Sĩ quan Lục quân 1,

Trường Sĩ quan Lục quân 2

Về phương thức tiến hành tổ chức khảo sát

- Về mục đích: khảo sát bản sắc văn hóa Việt Nam trong hệ thống bài đọc, các chủ điểm giao tiếp, các từ cố định và thành ngữ trong giáo trình tiếng Việt; tập trung đánh giá thực trạng nội dung, tiếp nhận, trải nghiệm, thực hành văn hóa Việt Nam; từ đó bàn luận về các yếu tố đảm bảo và quyết định chất lượng văn hóa trong môn Tiếng Việt ở NTQĐ hiện nay

- Về thời gian và quy mô: điều tra xã hội học được tiến hành từ tháng 6 năm 2017 đến tháng 6 năm 2018; trong đó tiến hành điều tra xã hội học 50 cán

bộ, giảng viên và 300 học viên ở 5 học viện, nhà trường trên cơ sở phiếu điều tra được thiết kế, xây dựng theo mục đích nghiên cứu

- Về phương pháp và kỹ thuật điều tra: Để đạt được mục đích nghiên cứu, NCS đã sử dụng 50 phiếu hỏi anket cho giảng viên (trong tổng số 57 giảng viên của các trường khảo sát) và 300 phiếu hỏi anket cho học viên để đánh giá tình hình thực tế văn hóa Việt Nam trong giảng dạy, tiếp nhận và trải nghiệm ở NTQĐ hiện nay

Về tiêu chí khảo sát

Nghiên cứu sinh tập trung khảo sát, đánh giá thực trạng từng yếu tố trong giảng dạy, tiếp nhận và trải nghiệm văn hóa Việt Nam trên các phương diện: khảo sát giáo trình; điều tra xã hội học nội dung, phương pháp giảng dạy đối

Trang 15

với người dạy và tiếp nhận, trải nghiệm đối với người học, đánh giá trung thực và khách quan văn hóa Việt Nam trong giảng dạy môn Tiếng Việt ở NTQĐ hiện nay Cụ thể như sau:

- Khảo sát 12 giáo trình được sử dụng trong các NTQĐ trong 10 năm trở lại đây (từ 2008 đến 2018), đánh giá mối tương quan giữa các yếu tố thực có và những yếu tố cần có để đảm bảo nhu cầu giảng dạy, tiếp nhận bản sắc văn hóa Việt Nam trong NTQĐ hiện nay

- Khảo sát nội dung, phương pháp giảng dạy văn hóa Việt Nam để tìm hiểu thực trạng và những nhu cầu trong NTQĐ hiện nay

- Khảo sát việc tiếp nhận và trải nghiệm bản sắc văn hóa Việt Nam của HVNN trong NTQĐ hiện nay để đánh giá thực trạng và những yêu cầu từ tình hình thực tế của đối tượng người học môn Tiếng Việt khá đặc thù trong nhà trường quân đội

Kết quả định lượng trong khảo sát là cơ sở đưa ra những kết luận thực tiễn góp phần xác định nội dung văn hóa Việt Nam trong môn Tiếng Việt là bản sắc văn hóa, những điều kiện đảm bảo và quyết định để nâng cao bản sắc văn hóa Việt Nam trong môn Tiếng Việt Sau khi tổng hợp kết quả từ khảo sát giáo trình và thu thập ý kiến của đối tượng khảo sát, các số liệu được xử lý và cho ra kết quả định lượng phục vụ mục đích nghiên cứu Đây là nguồn thông tin cung cấp luận cứ cho hầu hết các phân tích và lập luận trong luận án

5 Những đóng góp mới của luận án

- Về tư liệu: Luận án có những đóng góp trong sưu tầm, thẩm định khối

tư liệu, tài liệu về bản sắc văn hóa, mối quan hệ giữa văn hóa và ngôn ngữ, văn hóa và ngôn ngữ trong giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài

- Về nội dung, hàm lượng khoa học cũng như phương pháp, luận án là công trình đầu tiên nghiên cứu chuyên sâu về văn hóa Việt Nam trong giảng dạy môn Tiếng Việt ở NTQĐ Luận án có ý nghĩa tạo ra hướng nghiên cứu liên

Trang 16

ngành văn hóa, ngôn ngữ và phương pháp giảng dạy dưới góc nhìn văn hóa học mới cả về học thuật lẫn phương pháp; đóng góp cho cách tiếp cận bản sắc văn hóa trong ngôn ngữ giảng dạy cho HVNN Đối với mục tiêu làm đậm bản sắc văn hóa Việt Nam trong giảng dạy môn Tiếng Việt cho HVNN ở NTQĐ, các kết quả nghiên cứu của luận án sẽ có tác dụng làm rõ nội dung, cách tiếp cận phương pháp giảng dạy hiện đại, cách thức tổ chức thực hành và trải nghiệm văn hóa trong MTQS hướng đến đối tượng HVNN sử dụng tiếng Việt trong công tác đối ngoại quân sự và hợp tác quốc phòng với Quân đội, Đảng và Nhà nước Việt Nam

6 Kết cấu của luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận án được

chia thành 4 chương, 11 tiết:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn nghiên cứu văn hóa Việt Nam trong môn Tiếng Việt cho học viên nước ngoài ở nhà trường quân đội

Chương 3: Nội dung giảng dạy, tiếp nhận và trải nghiệm bản sắc văn hóa Việt Nam trong môn Tiếng Việt ở nhà trường quân đội hiện nay

Chương 4 Những vấn đề đặt ra đối với việc truyền tải bản sắc văn hóa Việt Nam trong giảng dạy môn Tiếng Việt cho học viên nước ngoài ở nhà trường quân đội hiện nay

Trang 17

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

1.1 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ BẢN SẮC VĂN HÓA VIỆT NAM

Hơn một thế kỷ nay, Văn hóa học đã trở thành một ngành khoa học có đối tượng và chức năng riêng được các nhà nghiên cứu ở các nước Anh (Edward Burnett Tylor, 1897), Nga (Nikolay Yakovlevich Danilevsky, 1880), Đức (Wilhelm Ostwald, 1909), Mỹ (Leslie Alvin White, 1949) và các nhà khoa học

ở nhiều quốc gia trên thế giới quan tâm

Ở Việt Nam, nhiều nhà nghiên cứu thường lấy “Việt Nam văn hóa sử

cương” [2] của tác giả Đào Duy Anh làm mốc cho việc nghiên cứu văn hóa

Đặc biệt từ tháng 4 năm 1943, Hội Văn hóa cứu quốc ra đời đã tập hợp được hầu hết các trí thức tiêu biểu của đất nước cho công cuộc xây dựng và phát triển một nền văn hóa dân tộc và cách mạng

Văn hóa đã được nhiều tổ chức, nhiều nhà nghiên cứu bàn đến trực tiếp, tạo

ra không khí học thuật sôi nổi trong các công trình như: “Bản sắc văn hóa Việt

Nam” của Phan Ngọc [41], “Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam” của Trần Ngọc

Thêm [61], “Văn hóa Việt Nam tìm tòi và suy ngẫm” của Trần Quốc Vượng [77],

“Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc”

của Nguyễn Khoa Điềm [19]… những năm cuối thế kỷ XX

Các công trình nghiên cứu cho thấy, văn hóa trở thành một khoa học thực

sự, nội hàm của khái niệm bao quát một phạm vi rất rộng lớn và phụ thuộc vào đối tượng và mục tiêu của nhà nghiên cứu

Trong số những tác giả bàn về văn hóa và bản sắc văn hóa, nhà nghiên cứu Lê Quang Thiêm là người bàn nhiều đến phương pháp luận Trong công

trình “Văn hóa văn minh và yếu tố truyền thống văn hóa Hàn” [63], ông đã đi

từ định vị bản sắc văn hóa để nêu lên các bình diện của bản sắc văn hóa dân

Trang 18

tộc Lê Quang Thiêm đã phân biệt 3 thuật ngữ: bản sắc dân tộc, bản sắc văn hóa, bản sắc văn hóa dân tộc và ông đi đến kết luận: “Bản sắc văn hóa là hệ thống giá trị sáng tạo đặc trưng, tinh túy nhất, đặc sắc nhất của nền văn hóa tương ứng hay nói cách khác, bản sắc văn hóa là những giá trị sáng tạo đặc trưng nhất, tiêu biểu nhất, lâu bền nhất của văn hóa” [63, tr.149]

Trên cơ sở đó, ông xác định các đường hướng chung cho việc tìm hiểu bản sắc văn hóa Việt Nam Ông cho rằng bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam là bản sắc văn hóa của quốc gia đa dân tộc, tiếp biến nhuần nhuyễn những yếu tố văn hóa Ấn Độ, Trung Hoa, Âu Mỹ, hòa đồng với tự nhiên, làng bản, đất nước Một bản sắc văn hóa đa dạng, đa sắc màu, cởi mở, tiếp xúc, tiếp biến Theo ông, bản sắc văn hóa Việt Nam cũng còn biểu hiện ở một số hằng số tự nhiên Đó là sự kiên trì, bản lĩnh bám trụ, trách nhiệm đối với dân tộc và cộng đồng của chủ thể sáng tạo

Từ góc độ lịch sử để nghiên cứu văn hóa, có thể khẳng định những nghiên

cứu của Trần Quốc Vượng đã thu được nhiều thành công Với công trình “Văn

hóa Việt Nam tìm tòi và suy ngẫm” [77], tác giả đặt văn hóa Việt Nam trong

bối cảnh Đông Nam Á và Đông Á Trong khi một số nhà nghiên cứu trên thế giới phủ nhận sự hiện hữu của văn hóa Việt Nam, coi Việt Nam là một Trung Hoa thu nhỏ, xếp tiếng Việt vào nhóm Hán - Tạng thì những nghiên cứu về văn hóa của Trần Quốc Vượng đã có tính cách mạng đối với văn hóa Việt Nam:

“Văn hóa Việt Nam, văn minh sông Hồng và văn hóa Trung Quốc, văn minh Hoàng Hà, khác nhau từ căn bản, từ cội nguồn” [77, tr.35] Ông bàn về bản sắc văn hóa Việt Nam từ nhiều góc nhìn khi có cơ hội Tuy nhiên những nghiên cứu về bản sắc văn hóa của Trần Quốc Vượng thiên về những gợi mở về phương pháp luận và các hướng tiếp cận cho các nhà nghiên cứu

Không đi sâu vào những vấn đề có tính lịch đại, nhưng những kết quả nghiên cứu bản sắc văn hóa ở phương diện đồng đại của các tác giả Huỳnh Khái

Trang 19

Vinh, Hồ Sĩ Vịnh, Nguyễn Khoa Điềm, Đặng Đức Siêu đã để lại những đóng góp có giá trị Vận dụng chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh để

nghiên cứu văn hóa Việt Nam, tác giả Hồ Sĩ Vịnh (1999) trong công trình “Văn

hóa văn học, một hướng tiếp cận mới” cho rằng: “Bản sắc dân tộc là một tổng

hòa những đặc điểm của một dân tộc trên nhiều mặt: lịch sử, địa lý, truyền thống, tâm lý… đã tạo nên diện mạo và dáng vóc riêng của dân tộc đó” [75,

tr.71] Bên cạnh đó, ông cũng phân biệt hai thuật ngữ bản sắc dân tộc và bản

sắc dân tộc trong văn hóa Ông coi văn hóa là “gương mặt của dân tộc” và “bản

sắc dân tộc trong văn hóa có mặt tích cực cũng như mặt phiến diện, mặt tươi sáng và mặt phức tạp do hoàn cảnh xã hội, chiều dày lịch sử, môi trường địa lý, truyền thống và tâm lý của cộng đồng trên mảnh đất lâu đời đó tạo nên” [75,

tr.72] Cũng trong công trình nghiên cứu “Tìm về bản sắc dân tộc của văn hóa” (Hồ Sĩ Vịnh chủ biên), Quang Đạm, tác giả bài viết “Thử miêu tả bản sắc dân

tộc, bản sắc văn hóa Việt Nam” nhận xét: “Bản sắc dân tộc là sắc thái bao quát

một cách uyển chuyển, linh hoạt những đặc điểm của dân tộc, tạo nên diện mạo và hình dạng riêng của dân tộc ấy không thể đồng nhất với dân tộc khác trong cộng đồng khu vực hay cộng đồng loài người” [45, tr.15]

Đứng ở góc độ khoa học chính trị, công trình tập thể “Xây dựng và phát

triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc” [19] do nhà

nghiên cứu Nguyễn Khoa Điềm chủ biên rất cần được lưu ý vì tính chất phổ quát của nó Từ quan điểm của Đảng về văn hóa, các nhà nghiên cứu đã đề cập đến vấn đề bản sắc văn hóa với phương châm bảo vệ quyền lợi chính trị của quốc gia, dân tộc Văn hóa và bản sắc văn hóa được đặt ra trong mối liên hệ nhiều chiều có tính biện chứng Trong quá trình nghiên cứu năm giai đoạn phát triển của văn hóa, các tác giả đã khái quát năm đặc điểm của văn hóa Việt Nam và khẳng định bản sắc văn hóa dân tộc được xác định là sự tổng hòa của các khuynh hướng cơ bản trong sáng tạo văn hóa của một dân tộc; có mối liên hệ

Trang 20

Bản sắc dân tộc bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp nên qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân, gia đình, làng xã, tổ quốc; lòng nhân ái, khoan dung, trọng nghĩa tình, đạo lý; đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động; sự tinh tế trong ứng xử, giản dị trong lối sống… Bản sắc dân tộc còn đậm nét trong các hình thức biểu hiện mang tính dân tộc độc đáo [16]

Ở cách tiếp cận văn hóa dưới góc độ triết học, các nhà nghiên cứu

Nguyễn Trọng Chuẩn, Phạm Văn Đức và Hồ Sĩ Quý trong công trình “Tìm hiểu

giá trị văn hóa truyền thống trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa”

[11] đã đưa ra một cách nhìn mới về bản sắc văn hóa Trong phần xác định các giá trị truyền thống của văn hóa Việt Nam, các nhà triết học đã thống nhất với nhiều nhà văn hóa lịch sử trong việc khẳng định hằng số văn hóa được bản sắc hóa dựa trên cơ sở tập hợp các yếu tố: địa - văn hóa nhiệt đới, gió mùa bán đảo;

cư dân sống thành làng xã làm ruộng, làm vườn, có thiết chế gia đình huyết tộc như nhiều cư dân Nam Á Các tác giả đã khẳng định những đặc điểm về địa

Trang 21

chính trị, về tiềm năng thích ứng của người Việt Nam, về chủ nghĩa nhân văn giàu lòng yêu nước, vị tha, tự lực, tự cường, về văn hóa tâm linh, tục thờ Mẫu, nghệ thuật dân gian, văn chương bác học… Điều đặc biệt là dưới góc độ triết học, các nhà nghiên cứu còn nhấn mạnh những giá trị không thuộc về ưu điểm của văn hóa truyền thống Trong nền văn hóa ngàn năm của người Việt, công nghiệp, thương nghiệp, luật pháp không phải đã được chú trọng để nâng cao năng suất và giữ gìn trật tự xã hội Sĩ tử đi thi thường nghĩ đến sự giúp nước, làm quan; không làm quan thì làm thầy Cách đánh giá những giá trị văn hóa truyền thống với chủ trương bảo tồn và phát huy những giá trị đó trong thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa như vậy rất thiết thực trong thời đại hiện nay

Những cách tiếp nhận như đã kể trên có sự đan xen, phối hợp của nhiều phương pháp khoa học nhưng dấu ấn của một ngành khoa học cụ thể vẫn để lại đậm nét trong cách lập luận, trong các vấn đề mà các tác giả đưa ra nhận xét

Bên cạnh việc tiếp cận bản sắc văn hóa qua cách nhìn của một ngành khoa học, lại có những nhà nghiên cứu đi từ những yếu tố văn hóa để khẳng định bản sắc văn hóa dân tộc Đó là những công trình tiêu biểu về văn hóa và bản sắc văn hóa của hai nhà nghiên cứu Phan Ngọc và Trần Ngọc Thêm

Trong công trình “Bản sắc văn hóa Việt Nam” (1988) và “Thử xét văn

hóa, văn học bằng ngôn ngữ học” (2000), nhà nghiên cứu Phan Ngọc đã xây

dựng một hệ thống thuật ngữ, khái niệm về văn hóa Ông đã “công thức hóa” văn hóa Việt Nam:

Tôi gọi văn hóa Việt Nam là văn hóa Việt Nam bốn F, bởi vì bốn thành tố quyết định diện mạo của văn hóa này có thể dịch ra bốn từ tiếng Anh bắt đầu bằng chữ F Đó là Tổ quốc (Fatherland), Gia đình (Family), Thân phận (Fate), và Diện mạo (Face) [42, tr.24]

Ông đã chỉ ra được thực chất và sáng tạo của văn hóa Việt Nam là “lắp

ghép, dung hóa” Người Việt Nam lấy những yếu tố có sẵn vốn là của mình

Trang 22

hoặc mượn của người, cấu trúc lại, tức cấp cho chúng một kiểu “quan hệ” để tạo thành một sản phẩm khác phù hợp với mình Nếu bản sắc văn hóa Việt Nam được cụ thể hóa trong giao lưu và tiếp biến văn hóa, thích ứng với từng hoàn cảnh lịch sử xã hội thì cái tạo thành tính bất biến của các ứng xử ấy là tâm thức con người Việt Nam trong quá trình phát triển của lịch sử:

Cái tạo thành tính bất biến của hệ thống quan niệm này là nhu cầu của tâm thức con người Việt Nam Nhu cầu này về cơ bản là như nhau ở mọi tầng lớp, mọi lứa tuổi, không liên quan tới tài sản, học vấn và khá ổn định mặc dầu một tầng lớp người có thể chiếm ưu thế

so với các tầng lớp khác [41, tr.32]

Tuy nhiên, nếu thừa nhận tính thời đại, tính lịch sử của các yếu tố văn hóa thì ý kiến cho rằng bản sắc văn hóa là cái bất biến trong quá trình phát triển của lịch sử là vấn đề còn phải bàn luận, nhất là trong bối cảnh giao lưu mạnh

mẽ như hiện nay Nhưng những đóng góp của nhà nghiên cứu Phan Ngọc với

tư cách người tiên phong trong nghiên cứu văn hóa như một khoa học độc lập thì không ai thể phủ nhận được

Dưới cái nhìn hệ thống - loại hình, công trình “Tìm về bản sắc văn hóa

Việt Nam” [61] của nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm đã có nhiều đóng góp

trong nghiên cứu Theo ông, văn hóa được nghiên cứu một cách khái quát, tổng thể, vừa mang tính lịch đại vừa mang tính đồng đại, lấy cấu trúc hệ thống làm

hệ quy chiếu với rất nhiều tư liệu của các ngành khoa học như khảo cổ học, ngôn ngữ học, nhân chủng học, địa lý học, tín ngưỡng, nghệ thuật học Ông

đã khái quát cấu trúc của văn hóa bao gồm 4 yếu tố:

- Văn hóa nhận thức: trong đó bao gồm nhận thức vũ trụ và con người

- Văn hóa tổ chức cộng đồng: bao gồm văn hóa tổ chức đời sống tập thể và văn hóa tổ chức đời sống cá nhân

- Văn hóa ứng xử với môi trường thiên nhiên: bao gồm văn hóa tận dụng môi trường thiên nhiên và văn hóa ứng phó với môi trường thiên nhiên

Trang 23

Một cách nhìn khác, từ góc độ lý thuyết, nhà nghiên cứu Đoàn Thị Tuyến

(2014) trong “Bản sắc văn hóa từ góc độ lý thuyết” (đề tài cấp cơ sở, Viện

Nghiên cứu Văn hóa) đã tập trung tìm hiểu các vấn đề liên quan tới bản sắc văn hóa theo các lý thuyết của nhiều học giả phương Tây Bản sắc văn hóa được đề cập với tư cách là đối tượng nghiên cứu của các ngành khoa học xã hội và nhân văn và tiếp cận theo những lý thuyết được coi là hiện đại trong các xu hướng nghiên cứu về văn hóa hiện nay Theo tác giả:

Tiếp cận bản sắc chủ yếu theo hai xu hướng chính đó là bản thể luận

và phản bản thể luận, trong đó, xu hướng thứ hai dường như đang chiếm được ưu thế hơn Theo quan điểm này, bản sắc văn hóa được tiếp cận như một quá trình, ở đó các yếu tố cấu thành của bản sắc

luôn luôn vận động và hay thay đổi [73, tr.19]

Các quan điểm này đã cung cấp những cái nhìn đa chiều về bản sắc văn hóa

và cho thấy nghiên cứu bản sắc văn hóa dân tộc chưa bao giờ hết mới mẻ và thiếu

sự khám phá Tuy nhiên, có một điểm chung giữa các quan niệm về bản sắc văn hóa trên đây là xem bản sắc văn hóa giống như một “tấm thẻ căn cước”, là “gương mặt” của mỗi cộng đồng dân tộc Văn hóa dân tộc có mặt tĩnh và mặt động

Dựa vào kết quả của các nhà nghiên cứu đi trước, NCS đã xác định cách tiếp cận bản sắc văn hóa của luận án và trình bày cụ thể ở những mục dưới đây

1.2 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ VĂN HÓA VIỆT NAM TRONG NGÔN NGỮ VÀ TRONG TIẾNG VIỆT GIẢNG DẠY CHO NGƯỜI NƯỚC NGOÀI

1.2.1 Các công trình nghiên cứu về văn hóa Việt Nam trong ngôn ngữ

Ở Việt Nam, việc nghiên cứu mối quan hệ giữa ngôn ngữ với văn hóa đã có gần một trăm năm và bao gồm một số khuynh hướng khác nhau, phản ánh

Trang 24

cận này của ông có thể kể như: “Một số cứ liệu ngôn ngữ về sự thân thuộc giữa

các dân tộc thuộc nhóm Tạng Miến ở miền Bắc Việt Nam” (Thông báo Dân tộc

học, số 3, 1973); “Về ngôn ngữ Tiền - Việt Mường” (cùng với Hà Văn Tấn, Tạp chí Dân tộc học, số 1, 1978); “Về quan hệ Việt Mường - Tày Thái qua tư liệu

dân tộc ngôn ngữ học” (Tạp chí Dân tộc học, số 3, 1978); “Một số vấn đề dân tộc - ngôn ngữ học ở nước ta” (Tạp chí Dân tộc học, số 4, 1978); “Về mối quan

hệ nguồn gốc của các ngôn ngữ nhóm Việt Mường” (Tạp chí Ngôn ngữ, số 1,

1979); “Từ vấn đề ngôn ngữ Việt Mường góp phần tìm hiểu nguồn gốc dân tộc” (Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 3, 1981); “Vấn đề Proto - Việt Mường trong

lịch sử Việt Nam và Đông Nam Á thời cổ đại” (Những vấn đề ngôn ngữ học về

các ngôn ngữ phương Đông, 1986); “Văn hóa Việt Nam trong bối cảnh Đông

Nam Á” (2000) [13]; “Bức tranh ngôn ngữ - văn hóa tộc người ở Việt Nam và Đông Nam Á” (2007) [14];

Đặc biệt, chính nhờ sử dụng phương pháp tiếp cận liên ngành dân tộc - ngôn ngữ học, phối hợp với những tư liệu khảo cổ và thư tịch cổ Việt Nam mà vào năm 1978, nhà nghiên cứu Phạm Đức Dương cùng với nhà sử học Hà Văn

Tấn trong bài “Về ngôn ngữ Tiền - Việt Mường” (Tạp chí Dân tộc học, số 1,

1978) đã xác lập được một giả thiết có tính thuyết phục cao về nguồn gốc hình thành dân tộc Việt và tiếng Việt trên địa bàn trung du và đồng bằng Bắc bộ Quá trình này bắt đầu từ 2000 năm trước Công nguyên, tương ứng với giai đoạn

mở đầu của thời đại Hùng Vương trong truyền thuyết của dân tộc Việt Phát huy

những kết quả đã đạt được, trong các bài giảng về Văn hóa Đông Nam Á và Đông

Trang 25

Nam Á học cho sinh viên, tác giả Phạm Đức Dương cũng sử dụng cách tiếp cận

liên ngành trên và nhờ đó đã đem lại những kiến giải sâu sắc, thấu đáo về lịch sử hình thành các dân tộc và các nền văn hóa ở Việt Nam và Đông Nam Á Quan điểm của ông đã đóng góp lý luận cho nghiên cứu mối quan hệ giữa văn hóa và ngôn ngữ: “Ngôn ngữ được xem là đặc trưng của tộc người, ngôn ngữ được xem là gia tài quý giá nhất và đích thực nhất để nhận diện một dân tộc” [14, tr.83]

Cách tiếp cận liên ngành ngôn ngữ - dân tộc học cũng là hướng nghiên

cứu của một số nhà ngôn ngữ khác như Nguyễn Văn Lợi với bài “Tộc danh của

một số dân tộc ở Nam Trung Quốc và Đông Nam Á Vấn đề tên gọi Giao Chỉ”

[44], Nguyễn Đức Tồn với bài “Nghiên cứu đặc trưng văn hóa - dân tộc qua

ngôn ngữ và tư duy ngôn ngữ” [44]), v.v…

Các công trình nghiên cứu có tính chất liên ngành của các nhà ngôn ngữ đã tạo nên nền móng ban đầu cho chuyên ngành dân tộc - ngôn ngữ học Việt Nam, tạo cơ sở cho nghiên cứu ngôn ngữ và văn hóa, lịch sử của các cộng đồng dân tộc

Bên cạnh đó, khuynh hướng văn hóa - ngôn ngữ học hay ngôn ngữ học văn hóa được hình thành trong thập niên 1990 bước đầu đã tạo lập được một số

cơ sở về mặt phương pháp luận cho sự ra đời một môn học hoặc một chuyên ngành mà những người đề xuất gọi là “văn hóa - ngôn ngữ học”

Đề xuất thành lập môn học mới với tên gọi “văn hóa - ngôn ngữ học” hay “ngôn ngữ học văn hóa” là nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm trong các bài

viết như: “Đi tìm ngôn ngữ của văn hóa và đặc trưng văn hóa của ngôn ngữ” [44], “Ngữ dụng học và văn hóa - ngôn ngữ học” (Tạp chí Ngôn ngữ, số 4,

1999) Theo ông, đây là một môn học nằm ở ranh giới giữa ngôn ngữ học với văn hóa học; có thể chia thành hai bộ phận: văn hóa - ngôn ngữ học trong phạm

vi một dân tộc và văn hóa - ngôn ngữ học trong phạm vi nhiều dân tộc

Năm 2000, tác giả Đỗ Hữu Châu trong bài “Tìm hiểu văn hóa qua ngôn

ngữ” cũng vạch ra một “đề cương phương pháp luận” tuy chưa đầy đủ cho việc

Trang 26

nghiên cứu theo hướng văn hóa - ngôn ngữ học Theo ông: “Ngôn ngữ là công

cụ của văn hóa vì không có ngôn ngữ, không một hoạt động văn hóa nào có thể diễn ra được Văn hóa là một tổng thể gồm những hợp phần, nên ngôn ngữ phục

vụ mỗi hợp phần theo những cách thức khác nhau” [8, tr.849-850] và “Mỗi từ, ngữ cố định của ngôn ngữ, của tiếng Việt như là một tên gọi của một yếu tố văn hóa, của văn hóa Việt Nam với ngữ nghĩa là một hiểu biết xã hội (dĩ nhiên

ở mức độ khác nhau) Mỗi từ, mỗi ngữ cố định tự mình là một yếu tố của văn hóa” [8, tr.825] Từ đó, tác giả đã phác thảo các phương pháp giúp phát hiện ra các biểu hiện văn hóa trong ngữ nghĩa của các đơn vị ngôn ngữ

Tiếp tục đi theo hướng nghiên cứu này, các nhà ngôn ngữ và văn hóa học

đã khám phá những đặc sắc của văn hóa Việt thông qua tiếng nói hàng ngày của dân tộc và đã mang lại nhiều kết quả nhất định Đó là các bài tham luận, những bài viết của các tác giả Nguyễn Đức Tồn, Lý Toàn Thắng, Cao Xuân Hạo, Đào Thản… Các tác giả đã chỉ ra rằng, ngôn ngữ Việt và văn hóa Việt luôn có một mối quan hệ nhất định, đó chính là cách nghĩ, cách tư duy của riêng người Việt Mỗi dân tộc sẽ có thiên hướng nổi trội hay “ưa thích” một kiểu nào đó Chính điều này là sự biểu hiện đặc trưng tư duy ngôn ngữ ở một dân tộc

Nhà nghiên cứu Đào Thản đã thống kê các từ liên quan đến cây lúa và

các sản phẩm của cây lúa trong bài viết “Cây lúa, tiếng Việt và nét đẹp văn hóa,

tâm hồn Việt Nam” (Tạp chí Ngôn ngữ, số 5, 1999) để khẳng định ngôn ngữ

Việt phản ánh rõ nét nền văn minh lúa nước

Trong công trình “Tiến tới xác lập vốn từ vựng văn hóa Việt (Nghiên cứu

ngôn ngữ và văn hóa)” [10] có độ dày 352 trang, chia làm sáu chương, nhà

nghiên cứu Nguyễn Văn Chiến đã khảo sát tương đối toàn diện mối quan hệ văn hóa và ngôn ngữ và “tiến tới xác lập vốn từ vựng văn hóa Việt” Mỗi chương sách đều đem lại những phát hiện mới hoặc tổng hợp, hệ thống hóa những phát hiện đã có mà tác giả thu thập được trong quá trình nghiên cứu về

Trang 27

“ngôn ngữ - văn hóa học” và về vốn từ vựng văn hóa Việt Trong chương 1 của phần thứ hai, tác giả đã khẳng định “nước” là thành tố văn hóa số một trong tâm thức người Việt và khảo sát nghĩa biểu vật, biểu niệm của từ “nước” trong mối quan hệ giữa đặc trưng ngôn ngữ và văn hóa Chương 2 của phần 2, tác giả khảo sát về “các từ biểu thị mô hình kinh tế - xã hội lúa nước cổ truyền Việt Nam”; “các danh từ chỉ quan hệ thân tộc và cách xưng hô trong tiếng Việt”;

“các từ chỉ bộ phận cơ thể và con người trong tiếng Việt”; “các từ biểu thị hoạt động, động tác của con người”; “số đếm trong ngôn ngữ, các tầng văn hóa số”

Từ những khảo sát nhận thức của con người về thế giới tự nhiên, về xã hội và nhận thức về chính mình trong mối quan hệ với tự nhiên và xã hội, Nguyễn Văn Chiến đã chia vốn từ vựng thành 3 lớp từ: lớp từ biểu thị những sự vật, khái niệm thuộc thế giới tự nhiên của con người; lớp từ biểu thị những sự vật, hiện tượng, khái niệm về xã hội; lớp từ biểu thị sự vật, khái niệm liên quan đến nhận thức của con người, chính bản thân con người và về con người Trong các lớp từ lớn lại có các lớp từ nhỏ và trong các lớp từ nhỏ lại chia thành những nhóm từ cụ thể Bản danh mục tác giả đưa ra đã góp phần chứng minh sự gắn bó mật thiết giữa con người với tự nhiên cũng như vốn hiểu biết phong phú, tinh tế, sâu sắc của người Việt đối với tự nhiên, xã hội và chính bản thân con người Có thể nói đây cũng là một công trình có vị trí quan trọng trên cả hai phương diện phương pháp luận và ứng dụng đối với việc nghiên cứu nội dung phản ánh văn hóa, lịch sử của từ vựng tiếng Việt

Cũng cùng quan điểm ấy, nhà nghiên cứu ngôn ngữ Lý Toàn Thắng đã làm

rõ mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa trong bài viết “Bản sắc văn hóa: thử

nhìn từ góc độ tâm lý - ngôn ngữ” (Tạp chí Ngôn ngữ, số 15, 2001) Ông khẳng

định: văn hóa, tâm lý của người Việt qua cách thức chia cắt thế giới khách quan, thể hiện qua cách tri nhận về không gian khi so sánh với tiếng Anh, tiếng Nga cách

sử dụng các giới từ: trong, ngoài, trên, dưới…[58]

Trang 28

Công trình “Văn hóa và ngôn ngữ giao tiếp của người Việt” [17] của tác

giả Hữu Đạt đã đặt vấn đề quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa giao tiếp thông qua các kênh giao tiếp, đặc biệt là các quan hệ giao tiếp trong gia đình và các hoạt động giao tiếp mang tính làng xã Công trình này đã cho thấy nét đặc trưng nổi bật nhất của văn hóa giao tiếp là thái độ hay hành vi ứng xử của con người trong cộng đồng xã hội Những đặc trưng đó được bắt nguồn từ bản sắc văn hóa dân tộc, trong đó ngôn ngữ đóng một vai trò quan trọng để biểu hiện những đặc trưng đó

Năm 2002, công trình nghiên cứu “Tìm hiểu đặc trưng văn hóa - dân tộc

của ngôn ngữ và tư duy ở người Việt (trong sự so sánh với những dân tộc khác)”

của tác giả Nguyễn Đức Tồn [67] là một công trình khoa học áp dụng lý thuyết tâm lý học tộc người để nghiên cứu vấn đề có tính thời sự được nhiều nhà nghiên cứu liên ngành văn hóa - ngôn ngữ quan tâm Đó là đặc trưng văn hóa - dân tộc của ngôn ngữ, của sự phạm trù hóa và định danh thế giới khách quan của ngôn ngữ và tư duy của người Việt có sự so sánh với những dân tộc khác trên cơ sở một số trường từ vựng ngữ nghĩa cơ bản Những kết quả nghiên cứu của tác giả Nguyễn Đức Tồn có những đóng góp cho công tác giảng dạy ngôn ngữ như một ngoại ngữ giúp cho người dạy và người học hiểu được cách nghĩ, cách tư duy của người Việt về đặc điểm dân tộc, đặc điểm ngữ nghĩa của một số nhóm từ như: nhóm từ gọi tên động vật, thực vật, nhóm từ chỉ bộ phận cơ thể người, nhóm

từ ngữ chỉ “sự kết thúc cuộc đời của con người” với những kiến giải sâu sắc, có tính liên tưởng, so sánh với tiếng Nga và một số dân tộc khác

Phát huy những kết quả đã đạt được, tác giả Nguyễn Đức Tồn đã bổ sung

thêm những nhận thức và quan điểm mới trong cuốn “Đặc trưng văn hóa - dân

tộc của ngôn ngữ và tư duy” xuất bản năm 2008 và được tái bản năm 2010 [68]

Điều đó chứng tỏ hướng nghiên cứu lý thuyết tâm lý ngôn ngữ học tộc người

đã có sức lôi cuốn sự quan tâm của các nhà khoa học ở thập kỷ trước Những vấn đề mà tác giả quan tâm như: đặc trưng văn hóa dân tộc của “sự phạm trù

Trang 29

hóa hiện thực” và “bức tranh ngôn ngữ thế giới”, đặc trưng văn hóa dân tộc của định danh ngôn ngữ, đặc trưng văn hóa dân tộc trong ý nghĩa từ, đặc trưng văn hóa dân tộc của ngôn ngữ và tư duy có giá trị về mặt thực tiễn đối với nhiều lĩnh vực, đặc biệt là trong lĩnh vực ứng dụng mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa trong việc xây dựng một số trường từ vựng ngôn ngữ văn hóa

Một cách tiếp cận khác, hướng ngôn ngữ học tâm lý và ngôn ngữ học tri

nhận, cuốn “Một số vấn đề lý luận ngôn ngữ học và tiếng Việt” của nhà nghiên

cứu Lý Toàn Thắng (2012) là tập hợp những bài viết của ông về ngôn ngữ tâm

lý học, ngôn ngữ học tri nhận; cách tri nhận thế giới của người Việt thông qua một số từ loại và các nhóm từ cụ thể Ở chương 1 và chương 2, tác giả đã có đóng góp trong việc nghiên cứu giá trị nhận thức của văn hóa Việt Nam trên cơ

sở những dẫn liệu ngôn ngữ như các từ ngữ, thành ngữ, tục ngữ, các hành động ngôn từ thông qua các mô hình tri nhận, những lược đồ hình ảnh, các mô hình văn hóa để lý giải cho cách nhìn, lối suy nghĩ của cộng đồng văn hóa bản ngữ

về vũ trụ, con người và thế giới khách quan Trong công trình này, khi bàn về bản sắc văn hóa từ góc độ tâm lý học, tác giả khẳng định: “thông qua ý nghĩa của một từ, ta có thể hình dung “lối nghĩ” riêng của một dân tộc, và từ đó - bản sắc văn hóa của dân tộc ấy” [59, tr.85] Nhận định này có ý nghĩa trong việc nghiên cứu bản sắc văn hóa dân tộc trong ngôn ngữ

Cuốn “Ngôn ngữ và văn hóa” của tác giả Lê Công Sự (2012) đã góp

thêm những lý giải về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa Sách được chia thành 2 phần tương đối độc lập Ở phần 1 “Ngôn ngữ với tư cách là mạch ngầm văn hóa” với 16 bài viết về chủ đề ngôn ngữ và văn hóa, tác giả đã nhấn mạnh thêm quan điểm của các nhà nghiên cứu đi trước: ngôn ngữ là mạch ngầm chứa đựng các trầm tích, các giá trị văn hóa của quá khứ và hiện tại Ngôn ngữ không chỉ đơn giản là hệ thống tín hiệu thứ hai, là cái vỏ vật chất của tư duy, hiện thực trực tiếp của tư tưởng mà hơn thế, ngôn ngữ là di sản của quá khứ, phương tiện

Trang 30

của thông tin hiện đại Thông qua ngôn ngữ, các dân tộc có thể giao lưu với nhau, tiếp nhận văn hóa của nhau và hiểu được đời sống vật chất, tinh thần của một dân tộc hay thời đại Ngược lại, văn hóa là cơ sở nền tảng, là chất xúc tác làm cho ngôn ngữ trở nên trong sáng, đẹp đẽ và tinh gọn hơn Chính vì thế:

“Nghiên cứu và thực hành ngôn ngữ tức là tiếp cận, nghiên cứu và thực hành một yếu tố nhân lõi, một mạch ngầm văn hóa” [53, tr.69]

Những nghiên cứu được điểm trên đây thể hiện cách tiếp cận văn hóa ở những góc nhìn khác nhau nhằm phục vụ mục đích nghiên cứu các bình diện khác nhau của ngôn ngữ Song qua các nghiên cứu ấy, các tác giả đều thừa nhận mối quan hệ không thể tách rời giữa ngôn ngữ và văn hóa Văn hóa chứa đựng trong ngôn ngữ, chi phối ngôn ngữ ở tất cả các bình diện Thực hành một ngôn ngữ chính là thực hành yếu tố “mạch ngầm” văn hóa

1.2.2 Các công trình nghiên cứu về văn hóa Việt Nam trong tiếng Việt giảng dạy cho người nước ngoài

Nghiên cứu văn hóa dân tộc trong ngôn ngữ đã, đang và luôn được giới nghiên cứu văn hóa và ngôn ngữ quan tâm Đặc biệt khi chúng ta hội nhập quốc tế, việc giảng dạy tiếng Việt được coi như một công cụ để quảng bá văn hóa Việt Nam ra thế giới thì những nghiên cứu mang tính ứng dụng phục vụ đắc lực cho việc nâng cao chất lượng giảng dạy và hiệu quả truyền bá văn hóa càng trở nên cần thiết

Tác giả Nguyễn Thiện Nam (1997) trong bài viết: ““Sốc” văn hóa trong

tiến trình thủ đắc ngoại ngữ và tiếng Việt đối với người nước ngoài” đề cập tới

một hiện tượng tâm lý ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình sinh sống và học tập tiếng Việt của người nước ngoài ở Việt Nam Bằng kinh nghiệm của một nhà giáo, tác giả đã phân tích các “giai đoạn của sự thẩm nhận văn hóa qua ngôn ngữ” bao gồm: giai đoạn “tuần trăng mật”, giai đoạn “khó chịu”, giai đoạn “vui đùa, hài hước”, giai đoạn “như ở nhà” của người nước ngoài Sở dĩ người học ngoại ngữ phải trải qua những giai đoạn này là do “con người thuộc những nền văn hóa khác

Trang 31

nhau có những chuẩn mực khác nhau về văn hóa, về cách nghĩ và cách nói” và giáo viên chính là những “cố vấn ngôn ngữ” giúp học viên trải qua những khó khăn này để chiếm lĩnh ngôn ngữ họ muốn học tập Để “tạo điều kiện dễ dàng” cho việc học tập của học viên, một trong những yêu cầu quan trọng đối với giáo viên theo quan điểm của tác giả Nguyễn Thiện Nam là: “Phải là người tế nhị, nhạy cảm và độ lượng và phải là một giáo viên “đa văn hóa” Tức là giáo viên phải cố gắng hiểu biết không những thứ tiếng mà mình đang dạy mà còn phải hiểu biết càng nhiều càng tốt về văn hóa và ngôn ngữ của người học” [39] Từ năm 1997, những kinh nghiệm của nhà giáo Nguyễn Thiện Nam đã có nhiều gợi ý về giảng dạy văn hóa trong tiếng Việt cho người nước ngoài ở Việt Nam

Hai tác giả Nguyễn Văn Huệ và Đinh Lư Giang (2004) trong khuôn khổ

bài tham luận “Văn hóa trong việc giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài”

in trong “Kỷ yếu Việt Nam học và tiếng Việt” đã đi từ mối quan hệ giữa văn hóa

và ngôn ngữ để đề xuất các vấn đề văn hóa và ngôn ngữ trong việc biên soạn giáo trình tiếng Việt cho người nước ngoài Các tác giả đã khẳng định vai trò quan trọng của văn hóa trong ngôn ngữ và nhấn mạnh việc đưa văn hóa vào các giáo trình dạy tiếng là điều cần thiết nhưng cần phải có “kế hoạch”, có “định hướng” và “liều lượng” nhất định Người nước ngoài có thể dễ dàng hiểu được những quy tắc thông thường trong giao tiếp nhưng sẽ gặp nhiều khó khăn trong quá trình tìm hiểu những đạo lý sâu sắc, sâu xa Bên cạnh đó, thông qua đánh giá các giai đoạn nhận thức văn hóa của người học (giai đoạn nhận thức văn hóa Việt Nam thông qua so sánh, đối chiếu với những hiểu biết văn hóa vốn có của họ; giai đoạn dựa vào tích lũy một số vốn kiến thức và kinh nghiệm để tổng hợp những nét văn hóa chung, thông qua loại suy và tổng hợp ), các tác giả đề xuất

“việc giới thiệu văn hóa qua giảng dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ, cần áp dụng hợp lý các thao tác so sánh, đối chiếu, loại suy, tổng hợp” [27, tr.143] Tuy không đi sâu vào lý giải mà chỉ nêu vấn đề nhưng có thể nhận thấy, vấn đề được

Trang 32

các tác giả đề cập ở đây rất đáng được suy ngẫm và gợi mở các nội dung liên quan đến giáo trình, yếu tố đảm bảo cho việc giảng dạy văn hóa trong ngôn ngữ

Năm 2015, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành “Khung năng lực tiếng Việt

dùng cho người nước ngoài” dựa theo Khung tham chiếu châu Âu [5] để đánh

giá năng lực của người nước ngoài học tiếng Việt như một ngoại ngữ Khung năng lực của Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa là yêu cầu vừa là đòi hỏi các trung tâm giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài phải có những đổi mới về giáo trình, tài liệu và phương pháp giảng dạy để “công nghệ” giảng dạy tiếng Việt theo kịp và bắt nhịp với giảng dạy thực hành tiếng các ngôn ngữ trên thế giới theo hướng của CEFR (The Common European Framework of Reference for Languages), một hướng tiếp cận dạy học ngoại ngữ khởi phát ở châu Âu lấy giao tiếp và người học là trung tâm của quá trình giảng dạy ngoại ngữ

Từ đây, vấn đề truyền tải văn hóa trong ngôn ngữ trở nên sôi nổi hơn trên các tạp chí Ngôn ngữ học, các Kỷ yếu Hội thảo về chuyên ngành Việt Nam học Nhiều tác giả đã tập trung nghiên cứu về nội dung chương trình và phương pháp giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài để đáp ứng với yêu cầu đầu ra

của Bộ Giáo dục và Đào tạo Bài viết “Văn hóa như một tiêu chuẩn trong học

tập tiếng Việt” của tác giả Nguyễn Chí Hòa (2015) in trong “Kỷ yếu Hội thảo quốc tế đào tạo và nghiên cứu ngôn ngữ học ở Việt Nam” [72, tr.649-660]

không chỉ đề cập đến vai trò của văn hóa trong giảng dạy ngoại ngữ mà còn khẳng định văn hóa là một tiêu chuẩn trong học tập tiếng Việt Theo tác giả, trong các tiêu chuẩn học tập tiếng Việt thì tiêu chuẩn giao tiếp và tiêu chuẩn văn hóa là những tiêu chuẩn quan trọng sẽ mang lại những thay đổi căn bản trong giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài không chỉ ở Việt Nam mà còn

ở nước ngoài Ở góc độ chia sẻ kinh nghiệm, bài viết đã đưa ra những nhận thức chung về vai trò và tiêu chuẩn đã đề cập đến các vấn đề sốc văn hóa và các tiêu chuẩn văn hóa trong giảng dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ để nhấn

Trang 33

mạnh yêu cầu giảng dạy văn hóa cho người nước ngoài phải giúp cho người học phân biệt được văn hóa đích và văn hóa nguồn

Cũng với chủ đề nâng cao năng lực giao tiếp cho người học tiếng Việt như

một ngôn ngữ thứ hai, tác giả Bùi Mạnh Hùng (2016) trong bài viết “Mấy vấn đề

xây dựng chương trình tiếng Việt cho người nước ngoài theo mô hình phát triển năng lực” in trong “Tạp chí Khoa học Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh”

đã nêu ra cách tiếp cận dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ dựa trên khung năng lực châu Âu Tác giả đã xác định các kiến thức trong chương trình tiếng Việt bậc A1 như một gợi ý cho việc xây dựng khung chương trình mới phục vụ cho đào tạo 6 bậc [30] Những nghiên cứu như vậy cho thấy, vấn đề dạy tiếng Việt cho người nước ngoài bước đầu đã được quan tâm một cách bài bản theo những quan điểm đổi mới, cập nhật các quan điểm hiện đại của các nước trên thế giới

1.3 NHỮNG KẾT QUẢ ĐÃ ĐẠT ĐƯỢC VÀ KHOẢNG TRỐNG TRONG NGHIÊN CỨU

1.3.1 Những kết quả đã đạt được

1.3.1.1 Trong nghiên cứu về bản sắc văn hóa

Việc điểm lại kết quả nghiên cứu bản sắc văn hóa Việt Nam từ các góc nhìn như triết học, dân tộc học, lịch sử, chính trị học, văn hóa học cho thấy ở các cách tiếp cận, bản sắc văn hóa Việt Nam đều có những công trình tiêu biểu Mặc dù bản sắc văn hóa Việt Nam đã được nghiên cứu tỉ mỉ và rất công phu trên nhiều phương diện nhưng điều dễ nhận thấy là mặc dù khai thác ở những góc nhìn khác nhau nhưng các kết quả nghiên cứu lại khá thống nhất và bổ sung một cách toàn diện những nội dung của bản sắc văn hóa Việt Nam Đó là:

Mỗi quốc gia, mỗi dân tộc đều có những đặc điểm và lối sống khác biệt, có cách thức ứng xử và xu hướng sinh hoạt mang bản sắc riêng chỉ có thể tìm thấy ở dân tộc này mà không thấy ở dân tộc khác Bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc là những gì thiêng liêng, quý giá, tạo nên đặc thù của mỗi dân tộc mà mỗi

Trang 34

Bản sắc văn hóa Việt Nam bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp trong suốt tiến trình lịch sử Đó là lòng yêu nước, là ý thức gắn kết cộng đồng, là lòng nhân ái, khoan dung, là đức tính cần cù sáng tạo, sự tinh tế, giản dị trong ứng xử, lối sống được hình thành trong hoàn cảnh lịch sử, địa lý và xã hội Việt Nam

Từ góc độ lý thuyết, các nghiên cứu về bản sắc văn hóa dân tộc có hai quan niệm: quan niệm bản sắc văn hóa Việt Nam là những yếu tố có tính vững bền trong suốt chiều dài lịch sử và quan niệm tiếp cận bản sắc văn hóa như một quá trình mà ở đó các yếu tố của bản sắc luôn vận động và không có hồi kết thúc

Các kết quả nghiên cứu trên đây đã cho thấy cách nhìn đa chiều vừa tĩnh, vừa động trong nghiên cứu bản sắc văn hóa hiện nay

1.3.1.2 Trong nghiên cứu văn hóa trong ngôn ngữ và văn hóa trong giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài

Về nghiên cứu văn hóa trong ngôn ngữ ở Việt Nam, giới nghiên cứu hiện

nay coi đó là mối quan hệ hữu cơ, mật thiết không thể tách rời và là một hiển nhiên, không phải tranh luận Tuy nhiên khi đi sâu vào thực tế nghiên cứu thì không phải đơn giản như vậy Nguyên nhân là vì đây là hướng nghiên cứu liên ngành và trong bề sâu của nó liên quan đến rất nhiều lý thuyết và phương pháp nghiên cứu của các chuyên ngành: văn hóa học, ngôn ngữ học, dân tộc học, tâm

lý học với nhiều cách tiếp cận khác nhau

Trang 35

Từ phía các nhà văn hóa học, khi nói đến mối quan hệ giữa văn hóa và ngôn ngữ chủ yếu và trước hết nêu lên luận điểm: ngôn ngữ là một thành tố quan trọng của văn hóa; ngôn ngữ là phương tiện có tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của văn hóa; là công cụ để lưu truyền văn hóa trong các thế hệ của một cộng đồng người và từ cộng đồng này sang cộng đồng khác

Từ phía các nhà ngôn ngữ học, mặc dù tiếp cận ở những góc nhìn khác nhau nhưng những nghiên cứu văn hóa Việt Nam trong ngôn ngữ đều có một

số quan điểm thống nhất sau đây:

Đó là sự tiếp nhận quan điểm của Wilhelm von Humboldt, nhà tư tưởng, nhà ngữ văn người Phổ (1767-1835): “Ngôn ngữ dường như là sự thể hiện ra bên ngoài linh hồn dân tộc; ngôn ngữ của dân tộc là linh hồn của nó và linh hồn của dân tộc là ngôn ngữ của nó - khó lòng hình dung một cái gì đồng nhất với nhau hơn thế” [29, tr.31]; quan điểm của Edward Sapir (1884-1939) và Benjamin Lee Whorf (1897-1941) với nguyên lý về tính tương đối của ngôn ngữ

Từ những quan điểm đó, ngôn ngữ được xem là đặc trưng của tộc người, là “gia tài” đích thực để nhận diện văn hóa một dân tộc Ngôn ngữ là công cụ của văn hóa nhưng văn hóa là một tổng thể gồm những “hợp phần” nên ngôn ngữ phục vụ mỗi hợp phần theo những cách thức khác nhau

Mỗi từ và ngữ cố định của tiếng Việt như là tên gọi của một yếu tố của văn hóa Với chức năng phản ánh, ngôn ngữ đã xây dựng cho mình một vốn từ vựng ngoài việc định danh, chúng còn chứa đựng các biểu tượng văn hóa, các yếu tố văn hóa của cộng đồng tích lũy trong suốt chiều dài lịch sử Đó là vốn

từ vựng văn hóa Vốn từ vựng này phản ánh bản sắc văn hóa của dân tộc, thể hiện cách nghĩ, cách tư duy và cách giao tiếp của người Việt

Để tìm ra đặc trưng văn hóa dân tộc của ngôn ngữ, các nhà nghiên cứu đã đặt văn hóa trong mối quan hệ ba chiều: văn hóa, ngôn ngữ và tư duy để nghiên cứu một khía cạnh nào đó của ngôn ngữ như vốn từ vựng văn hóa (Nguyễn Văn

Trang 36

Chiến); vốn từ vựng định danh thực vật, định danh cơ thể người, định danh kết thúc cuộc đời con người (Nguyễn Đức Tồn); các giới từ chỉ vị trí trong sự so sánh với các ngôn ngữ khác như tiếng Anh, tiếng Nga, v.v (Lý Toàn Thắng) Tuy tiếp cận trên các vốn từ vựng có ngữ nghĩa khác nhau nhưng các tác giả đều đưa đến một kết luận: không thể có sự trùng lặp về vốn từ giữa các ngôn ngữ khác nhau và nguyên nhân là do cách tri nhận của cộng đồng sử dụng ngôn ngữ ấy với hiện thực khách quan Và như thế, trong giảng dạy ngôn ngữ, không thể tiếp cận một ngôn ngữ bằng cách chuyển nghĩa mà phải thấm sâu bản sắc văn hóa của cộng đồng sử dụng ngôn ngữ ấy từ quan điểm bên trong

Về nghiên cứu văn hóa Việt Nam trong tiếng Việt giảng dạy cho người nước ngoài, có thể nhận thấy, hướng nghiên cứu này bước đầu đã được các nhà

nghiên cứu quan tâm với những đóng góp tiêu biểu như sau:

Ý nghĩa của từ thông qua “sự phạm trù hóa hiện thực” và “bức tranh ngôn ngữ thế giới”, định danh phản ánh đặc trưng văn hóa dân tộc của ngôn ngữ và tư duy ; thông qua ý nghĩa của một từ, ta có thể hình dung bản sắc của dân tộc đó Từ chứa đựng đầy đủ ý nghĩa văn hóa trong một văn bản hay một ngữ cảnh giao tiếp cụ thể cho nên tiếp cận bản sắc văn hóa trong ngôn ngữ là tiếp cận những văn bản và cảnh huống chứa đựng những yếu tố bản sắc đó

Do văn hóa và ngôn ngữ liên hệ với nhau mật thiết như đã nêu ở trên, nên các công trình nghiên cứu về việc dạy - học ngoại ngữ được tiếp cận theo hướng là phương tiện để giao lưu văn hóa giữa các cộng đồng Nhưng việc dạy và học tiếng Việt không phải là học từ mới và lắp ghép nó thành câu, thành đoạn theo cách diễn đạt của người nước ngoài mà phải tìm hiểu cả nội dung, phong tục tập quán, bản chất ý thức và bản sắc văn hóa của dân tộc nói tiếng mình đang học Các cộng đồng dân tộc chỉ có thể cảm thông với nhau, hợp tác với nhau khi có sự tôn trọng đa dạng văn hóa và bản sắc văn hóa của nhau Sự hiểu lầm văn hóa sẽ là khởi nguồn của nhiều hiểu lầm phức tạp khác

Trang 37

Như vậy, hầu hết các công trình nghiên cứu mối quan hệ giữa văn hóa và ngôn ngữ đều từ góc nhìn ngôn ngữ học nhằm lý giải cấu trúc và chức năng của ngôn ngữ Các công trình nghiên cứu ứng dụng thì dừng ở mức độ chia sẻ kinh nghiệm giảng dạy văn hóa và tiếng Việt cho người nước ngoài Kết quả của những nhà nghiên cứu đi trước là nguồn tài liệu quý giá để NCS kế thừa, tìm ra những khoảng trống và tiếp tục phát triển những vấn đề đặt ra trong hướng nghiên cứu của luận án

1.3.2 Những vấn đề tiếp tục nghiên cứu trong luận án

Nghiên cứu bản sắc văn hóa Việt Nam trong giảng dạy môn Tiếng Việt cho HVNN ở NTQĐ là hướng nghiên cứu Văn hóa học ứng dụng với cách tiếp cận liên ngành Căn cứ vào kết quả đã được trình bày trên đây, vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu trong luận án là xác định văn hóa Việt Nam trong giảng dạy môn Tiếng Việt cho HVNN Như đã đề cập, văn hóa là một vấn đề hết sức rộng lớn và bao quát nhiều vấn đề, nhiều lĩnh vực khác nhau Mục đích của truyền tải văn hóa cho HVNN là những hiểu biết văn hóa phản ánh những yếu tố thuộc

về diện mạo, phản ánh tư duy của một dân tộc Đó chính là bản sắc văn hóa Trong môn Tiếng Việt cho HVNN ở NTQĐ, những hiểu biết về bản sắc văn hóa Việt Nam sẽ giúp người nước ngoài có điểm nhìn văn hóa từ bên trong, cho họ thấy sự tương đồng và khác biệt trong cuộc sống của các nhóm văn hóa khác nhau để từ đó có sự đồng cảm, yêu mến và tôn trọng nền văn hóa mà họ đang theo học, giúp cho họ tiếp nhận một nền văn hóa mới trong một ngôn ngữ mới để họ học tập và làm việc

Từ đó đặt ra những vấn đề cần được làm rõ:

Một là, bản sắc văn hóa Việt Nam trong giảng dạy tiếng Việt cho

HVNN ở NTQĐ bao gồm những nội dung nào?

Hai là, khi đề cập đến bản sắc văn hóa Việt Nam trong giảng dạy tiếng

Việt sẽ tiếp cận theo hướng nào? Theo quan niệm tiếp cận bản sắc văn hóa

Trang 38

Việt Nam là những hằng số bất biến, những yếu tố có tính vững bền trong suốt chiều dài lịch sử hay theo quan niệm tiếp cận bản sắc văn hóa như một quá trình và ở đó các yếu tố của bản sắc luôn vận động và thay đổi?

Ba là, theo hướng tiếp cận văn hóa học, mối quan hệ giữa bản sắc văn hóa

và ngôn ngữ được thể hiện thế nào? Vấn đề này được làm rõ sẽ góp phần giải đáp vấn đề nâng cao chất lượng giảng dạy văn hóa Việt Nam trong ngôn ngữ

Bốn là, khảo sát, đánh giá bản sắc văn hóa Việt Nam trong giảng dạy

môn Tiếng Việt ở NTQĐ trên tất cả các vấn đề liên quan đến giáo trình, giảng dạy văn hóa qua ngôn ngữ, chỉ ra những điểm tích cực và những điểm còn hạn chế

Năm là, trên cơ sở khảo sát, đánh giá thực trạng bản sắc văn hóa Việt

Nam trong giảng dạy tiếng Việt cho HVNN ở NTQĐ, bàn luận những vấn

đề nâng cao chất lượng bản sắc văn hóa Việt Nam trong giảng dạy môn Tiếng Việt đáp ứng yêu cầu sử dụng ngôn ngữ và thực hành văn hóa cho HVNN ở NTQĐ hiện nay

Tiểu kết chương 1

Trên cơ sở phân tích, đánh giá những thành quả của các nhà nghiên cứu cho thấy nghiên cứu bản sắc văn hóa và bản sắc văn hóa Việt Nam hiện nay có nhiều cách tiếp cận khác nhau Tiếp cận bản sắc văn hóa như một hệ thống những yếu tố bền vững, tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp trong suốt tiến trình lịch sử; là lòng yêu nước, là ý thức gắn kết cộng đồng, là lòng nhân ái, khoan dung, là đức tính cần cù sáng tạo, sự tinh tế, giản dị trong ứng xử, lối sống ; bản sắc văn hóa gồm cả ưu điểm và cả những yếu

tố không phải là ưu điểm để từ đó giữ gìn, phát huy những ưu điểm trong bối cảnh xã hội hiện nay Tiếp cận bản sắc văn hóa như một quá trình và trong đó

sẽ có những yếu tố luôn vận động Nhưng dù tiếp cận ở hướng nào thì các nhà

Trang 39

nghiên cứu cũng nhấn mạnh bản sắc văn hóa như là sự thể hiện cốt cách của dân tộc, bản sắc văn hóa Việt Nam như là “gương mặt” của đất nước và con người Việt Nam Trong hoàn cảnh môi trường tự nhiên, xã hội cụ thể và trong những điều kiện lịch sử đặc thù, bản sắc văn hóa dân tộc được biểu hiện có thể có ở dân tộc này mà không có ở dân tộc khác

Trong hướng nghiên cứu biểu hiện của văn hóa Việt Nam trong ngôn ngữ, các nhà nghiên cứu dù tiếp cận vấn đề này ở hướng ngôn ngữ học hoặc tâm lý ngôn ngữ cũng đều thừa nhận bản sắc văn hóa của một dân tộc biểu hiện trong ngôn ngữ và thông qua ý nghĩa của một từ, đặc biệt là ý nghĩa biểu niệm của từ, có thể thấy lối nghĩ, cách tư duy của một dân tộc và đó chính là bản sắc văn hóa của dân tộc ấy

Trong nghiên cứu bản sắc văn hóa Việt Nam trong ngôn ngữ và trong giảng dạy tiếng Việt cho HVNN ở NTQĐ, đặc biệt là giới thiệu văn hóa Việt Nam nói chung và bản sắc văn hóa Việt Nam nói riêng vẫn chỉ được đề cập đến

ở góc độ chung nhất vì vậy vẫn còn nhiều khoảng trống cần được quan tâm, làm rõ Những khoảng trống đó sẽ được nghiên cứu trong những phần tiếp theo của luận án

Trang 40

Chương 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN NGHIÊN CỨU

VĂN HÓA VIỆT NAM TRONG MÔN TIẾNG VIỆT

CHO HỌC VIÊN NƯỚC NGOÀI Ở NHÀ TRƯỜNG QUÂN ĐỘI

2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN

Đề tài luận án mang tính ứng dụng được tiếp cận theo hướng liên ngành nên không thể dựa vào lý thuyết của một chuyên ngành cụ thể Vì vậy, NCS sẽ giới thuyết một số khái niệm liên quan đến đối tượng nghiên cứu làm nền móng

lý luận chi phối toàn bộ nội dung luận án Đó là các khái niệm và quan điểm của các nhà nghiên cứu đi trước về văn hóa và bản sắc văn hóa, bản sắc văn hóa Việt Nam; sự phản ánh văn hóa trong ngôn ngữ; bản sắc văn hóa Việt Nam trong giảng dạy môn Tiếng Việt cho HVNN ở NTQĐ; các quan điểm về phương pháp giảng dạy văn hóa trong ngôn ngữ Dựa trên kết quả của các nghiên cứu đi trước, NCS đưa ra một số quan điểm xuất phát từ góc nhìn của lĩnh vực nghiên cứu Các giới thuyết khái niệm được thể hiện cụ thể như sau

2.1.1 Quan niệm về văn hóa và bản sắc văn hóa Việt Nam

2.1.1.1 Quan niệm về văn hóa

Trong các định nghĩa về văn hóa, các nhà nghiên cứu thường quan tâm

đến khái niệm của E.B Tylor (1871) trong “Primitive Culture”: “Văn hóa, theo

nghĩa rộng về dân tộc học, nói chung được hình thành từ tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức và luật pháp, tập quán cùng một số năng lực và thói quen khác mà con người có được với tư cách là thành viên của xã hội” [trích theo

24, tr.32] Khái niệm văn hóa của E.B Tylor đã nhấn mạnh vào tính bản sắc của các yếu tố cấu thành văn hóa

Cách tiếp cận này cũng được học giả Đào Duy Anh thể hiện trong quan

điểm từ những thập niên khởi đầu xây dựng Văn học Quốc ngữ: “Văn hóa chính

là toàn bộ sinh hoạt của con người đối với môi trường tự nhiên và môi trường

xã hội để tạo ra các giá trị vật chất và giá trị tinh thần” [2, tr.11]

Ngày đăng: 10/10/2019, 22:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w