Thực tế giảng dạy cho thấy, với thời gian 45 phút của một tiết học, nếu chỉ sử dụng một cách “tiết kiệm” nhất: 2 phút để ổn định lớp, 5 phút để kiểm tra bài cũ chủ yếu là kiểm tra những
Trang 1CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
(Lê Thị Xuân Diễm, Lê Thanh Thủy, Võ Hoàng Lâm Trúc,
Nguyễn Văn Bé, Võ Văn Đúng, @THPT Lê Quí Đôn)
2 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Chuyên môn – phương pháp giảng dạy mônsinh học trong trường THPT
3 Mô tả bản chất của sáng kiến
3.1 Tình trạng giải pháp đã biết
Chương trình Sinh học trung học phổ thông ở nước ta hiện nay bao gồmnhiều phần khác nhau như: Di truyền học, tế bào học, sinh học vi sinh vật …Mỗi phần được thể hiện bằng nhiều đơn vị kiến thức khác nhau, tương ứng vớicác cách tiếp cận kiến thức khác nhau Những tưởng rằng, với một khối lượngkiến thức đồ sộ như vậy, thực tế cuộc sống của các em sẽ vô cùng phong phú,các em hoàn toàn có khả năng làm chủ được kiến thức của mình, việc vận dụngkiến thức của các em trong đời sống thức tế ở chính gia đình của mình, việc tạo
ra các sản phẩm, làm các mô hình, giải thích những hiện tượng xảy ra hàngngày xung quanh các em chỉ là “vấn đề đơn giản” Nhưng điều đó đã khôngdiễn ra trên thực tế như những gì chúng ta mong đợi
Sau khi học xong chương trình sinh học 10, nhiều học sinh còn ngỡ ngàngkhi ăn sữa chua, các em không biết quy trình làm thế nào, thậm chí nhiều emcòn chưa biết cả thành phần và tác dụng của nó Với kiến thức về sinh học tếbào, khi học nguyên phân và giảm phân các em khó khăn trong việc nhận biết sựkhác biệt của các kỳ trong phân bào
Trang 2Các kiến thức sinh học lẽ ra phải là một trong các kiến thức gắn liền với thực
tế cuộc sống, thiết nghĩ sẽ hứng thú các em tìm hiểu, nhưng điều đó dường nhưvẫn còn “xa vời” đối với các em Những kiến thức về các quy luật, các kháiniệm đối với học sinh phổ thông hiện nay có lẽ vẫn chỉ là nội dung các kháiniệm, cách giải các bài tập, chúng còn “nằm yên” một cách khiêm tốn trênnhững trang vở, chúng tôi có cảm giác vẫn còn thiếu một cái gì đó để có thể
“đánh thức” chúng dậy, làm cho chúng trở thành một trong những hành trang tốttrong cuộc sống của mỗi học sinh
Chúng tôi cũng đã trao đổi vấn đề này với nhiều đồng nghiệp các trườngbạn hầu như họ cũng có nhận định như vậy Trăn trở với thực trạng đáng buồntrên, tổ bộ môn chúng tôi đã thử đi tìm đâu là những nguyên nhân cơ bản củavấn đề và những nguyên nhân ấy bộc lộ dưới những hình thức nào?
Theo chúng tôi, nguyên nhân cơ bản và là nguyên nhân khách quan đầu tiênphải kể đến, là sự quá tải của chương trình Nội dung kiến thức trong phần lớncác bài học là quá nhiều, không thích ứng với thời gian quy định của mỗi tiếthọc Thực tế giảng dạy cho thấy, với thời gian 45 phút của một tiết học, nếu chỉ
sử dụng một cách “tiết kiệm” nhất: 2 phút để ổn định lớp, 5 phút để kiểm tra bài
cũ (chủ yếu là kiểm tra những kiến thức rất cơ bản), 3 phút để củng cố bài (thựcchất chỉ đủ để nhắc lại những kiến thức chính vào cuối tiết học) thì thời gian cònlại chỉ là 35 phút dành cho thầy và trò tiến hành các hoạt động nhận thức của bàihọc Giáo viên không có thời gian tổ chức cho học sinh thực hiện các hoạt động
tự tìm tòi kiến thức
Nguyên nhân thứ hai là việc giảng dạy kiến thức cho học sinh nói chung vàkiến thức sinh học nói riêng ở nhiều trường vẫn còn tiến hành theo lối “thôngbáo - tái hiện” Do những khó khăn nhất định về kinh phí, nhiều trường trunghọc phổ thông chưa thể khuyến khích được giáo viên áp dụng các hình thức dạyhọc tiên tiến như dạy học thông qua các hoạt động nghiên cứu, trải nghiệm thực
tế, dã ngoại thường xuyên thậm chí có thể một hoặc hai năm mới có các hoạtđộng này một lần và do đó lối “dạy chay” vẫn là cách dạy học ngự trị ở nhiềutrường trung học phổ thông hiện nay
Trang 3Nguyên nhân thứ ba thuộc về chủ quan của mỗi giáo viên đứng lớp, nhiềugiáo viên chưa có sự chuẩn bị tốt nhất cho bài giảng, giáo án còn thiên về cungcấp kiến thức giáo khoa một cách thuần túy, chưa coi trọng việc soạn và sử dụngbài giảng theo hướng tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh, điều nàylàm cho học sinh khá thụ động trong việc lĩnh hội và vận dụng kiến thức.
Nguyên nhân thứ tư không thể không nhắc tới là cách kiểm tra đánh giá hiệnnay Nội dung các bài thi và kiểm tra ở nhiều trường phổ thông chủ yếu tậptrung vào nội dung kiến thức mà chưa có những câu hỏi mang tính phát huynăng lực của học sinh, vận dụng kiến thức vào thực tiễn, đây chính là một “khehở” khá rộng, một nguyên nhân khá rõ để giải thích cho thực trạng nêu trên Mặtkhác học sinh THPT hiện nay học tập mang tính thực dụng, tức là các em chỉ tậptrung học các môn trong tổ hợp môn chọn thi THPT quốc gia và các môn phục
vụ cho chọn vào các ngành ở bậc Đại học- cao đẳng
Giải quyết thực trạng trên như thế nào? đó là một vấn đề khó Chúng tôi chỉxin đưa ra một số giải pháp mang tính đơn lẻ, mong rằng những giải pháp này cóthể giúp ích cho chúng ta cải thiện được ít nhiều thực trạng trên, nhằm giúp họcsinh hứng thú học tập thông qua thực tế bộ môn từ đó dần nâng cao chất lượng
bộ môn Sinh học ở trường phổ thông hiện nay Đó cũng là lí do chúng tôi chọn
đề tài: “Tổ Chức Hoạt Động Học Tập Tích Cực Giúp Học Sinh Học Tốt Môn Sinh Học”
3.2 Nội dung giải pháp đề nghị công nhận là sáng kiến
3.2.1 Mục đích của giải pháp
Để đáp ứng được phương pháp dạy học sinh học gắn với thực tế bộ môntheo hướng dạy học tích cực thì phải nói đến vị trí, vai trò hoạt động học tập củahọc sinh nhằm giúp học sinh biết tự có nhu cầu tìm hiểu kiến thức thông qua cácnăng lực của bản thân Nếu tổ chức các hoạt động hướng học sinh vào chủ đềkiến thức sẽ kích thích học sinh phát huy năng lực sáng tạo trong học tập, họcsinh sẽ khai thác, tìm tòi phát hiện kiến thức, từ đó phát huy tính tích cực, chủđộng sáng tạo, phát huy năng lực nhận thức và tư duy khoa học sinh học
Trang 4Đối với học sinh THPT các em chưa có nhiều định hướng nghề nghiệp chotương lai nên ý thức học tập các bộ môn chưa cao, các em chỉ thích môn nàomình học có kết quả cao hoặc thích giáo viên nào thì thích học môn đó Ngườigiáo viên dạy sinh học phải biết nắm tâm lý và đặc điểm lứa tuổi của học sinh,trong đó phương pháp dạy học bằng cách tổ chức các hoạt động học tập cho các
em nhằm khai thác các hiện tượng, ứng dụng sinh học thực tiễn trong tự nhiên
và trong đời sống hàng ngày để các em thấy môn sinh học rất gần gũi với cácem
3.2.2 Nội dung của giải pháp
Điểm mới của giải pháp
Thông thường phương pháp giảng dạy như hiện nay: luôn bắt người họcphải học, phải ghi nhớ hàng chuỗi học thuyết và các sự kiện, tên gọi, các ýtưởng tổng quát của môn học Điều này khiến cho các em cảm thấy quá tải, chánhọc và sợ thi, chưa kích thích được tính tự học của học sinh và với cách tiếp cậntruyền thống lâu nay là nhấn mạnh hoạt động dạy và vai trò của giáo viên
Việc tổ chức các hoạt động trong học tập đã tích cực hóa hoạt động nhậnthức của người học, phát huy được tính tích cực của người học chứ không phải
là tập trung vào phát huy tính tích cực của người dạy nghĩa là nhấn mạnh hoạtđộng học và vai trò của học sinh trong quá trình học Từ đó rèn luyện cho họcsinh phương pháp học cốt lõi là tự học: khi rèn luyện được phương pháp, kĩnăng, thói quen, ý chí tự học thì sẽ tạo cho học sinh lòng ham học, khơi dậy nộilực vốn có trong mỗi con người, phát huy được các năng lực của học sinh và kếtquả học tập sẽ nhân lên gấp bội
Tuy nhiên, trong học tập không phải mọi tri thức, kĩ năng, thái độ đều đượchình thành bằng những hoạt động độc lập cá nhân Lớp học là môi trường giaotiếp giáo viên – học sinh và học sinh – học sinh tạo nên mối quan hệ hợp tácgiữa các cá nhân trên con đường chiếm lĩnh nội dung học tập vì vậy tổ chức cáchoạt động trong học tập sẽ tổ chức được hoạt động hợp tác trong nhóm nhỏ làmtăng hiệu quả học tập và sự phối hợp giữa các cá nhân để hoàn thành nhiệm vụchung
Trang 5Cuối cùng, tổ chức hoạt động trong học tập giáo viên không còn đóng vaitrò là người truyền đạt kiến thức mà trở thành người thiết kế, tổ chức, hướng dẫncác hoạt động để học sinh tự lực chiếm lĩnh nội dung học tập, chủ động đạt đượcmục tiêu kiến thức, kĩ năng, thái độ theo yêu cầu.
Bước 1: chúng tôi sưu tầm các tài liệu từ nhiều nguồn về các sản phẩm ứng
dụng, các thí nghiệm, các mô hình, và những tình huống thực tế mà học sinh cóthể hoàn thành nhiệm vụ của các hoạt động được giao ở tại nhà qua các phiếuyêu cầu ( Việc thiết kế các sản phẩm cần có thời gian chuẩn bị nên chúng tôithường nghiên cứu chương trình và phát cho các em một phiếu yêu cầu trước đểcác em chuẩn bị Trong phiếu này thể hiện rõ nhiệm vụ hoạt động và bài học màcác em cần làm Để học sinh làm quen với phương pháp này, chúng tôi hướngdẫn học sinh thực hiện ý tưởng theo các quá trình của tư duy sáng tạo và hướng
Trang 6dẫn cụ thể phương pháp giúp hoạt động nhóm sao cho hiệu quả nhất để hoànthành nhiệm vụ.)
Bước 2: Giao nhiệm vụ cho các em trước một hay hai tuần để hoàn thành
đồng thời yêu cầu các em tìm hiểu nguyên lí, giải thích cơ sở khoa học của cácnhiệm vụ trong hoạt động qua đó các em tự học và xây dựng nền tảng kiến thức
từ các hoạt động học tập.( Trước mỗi bài học chúng tôi chuẩn bị cho các emphiếu yêu cầu là những nội dung học sinh cần chuẩn bị trước ở nhà cho tiết học
sắp tới ( hình thức tổ chức thực hiện dự án ), ở phiếu này chúng tôi nêu tên bài
học mà các em cần hoạt động, ý tưởng, các yêu cầu đạt được chúng tôi khônghướng dẫn cách làm, cũng không hướng dẫn cơ sở khoa học của các hoạt động
mà tôi thường hướng dẫn học sinh thấy các giai đoạn của quá trình sáng tạo vàphương thức hoạt động nhóm hiệu quả.)
Bước 3: Đến tiết học, chúng tôi yêu cầu:
- Học sinh tất cả các nhóm nộp sản phẩm và cả các ghi chép về hoạt độngcủa mỗi nhóm trong thời gian làm việc tại nhà
- Chúng tôi chọn một nhóm trình bày sản phẩm của nhóm mình ( nội dungtrình bày: dụng cụ, phương pháp thực hiện, nguyên tắc hoạt động, những lưu ýkhi thực hiện sản phẩm )
- Các thành viên trong nhóm khác có thể đặt câu hỏi cho nhóm trình bày trảlời nếu cùng cách thực hiện, nếu ý tưởng khác thì các em có thể trình bày ( lưu ýchỉ trình bày những điểm khác với nhóm đã trình bày để tiết kiệm thời gian )
Bước 4: Giáo viên đánh giá “ chốt ” lại kiến thức, rút kinh nghiệm và đánh
giá cho điểm ( Trong quá trình làm thực hiện cần chú ý những hạn chế củaphương án và đưa ra biện pháp khắc phục, có sự trao đổi về nội dung giữa cácnhóm để hạn chế tối đa sự trùng lặp nội dung Mọi hoạt động từ khâu phát ýtưởng, phân tích ý tưởng, thực hiện các em đều thực hiện ở nhà nên để tiện theodõi và điều chỉnh chúng tôi còn yêu cầu học sinh ghi lại tất cả các tiến trình vàophiếu ghi quá trình hoạt động nhóm và nộp cho giáo viên làm căn cứ chấm điểmnhóm.)
Trang 7Trong phạm vi sáng kiến này chúng tôi giới thiệu mỗi hình thức tổ chức hoạtđộng áp dụng ở một bài, mỗi giáo viên tùy theo kinh nghiệm và ý tưởng sáng tạocủa mình có thể phát triển vận dụng nhiều hơn trong nội dung trương trình sinhhọc THPT nhằm phát huy năng lực của học sinh trong học tập.
** Minh họa một số cách tổ chức hoạt động học tập tích cực
1 Tổ chức hoạt động sáng tạo tiếp thu kiến thức
A Kế hoạch giảng dạy:
*Giáo viên chuẩn bị: phát trước phiếu yêu cầu cho học sinh
*Tiến trình bài học:
1/ Giới thiệu sản phẩm của nhóm
- Yêu Cầu học sinh giới thiệu sản phẩm
- Giải thích nguyên lí, cơ sở khoa học của sản phẩm
* Tùy theo tính thực tế của từng sản phẩm của nhóm giáo viên chủ động nêunhững vấn đề bổ sung kiến thức liên quan đến nội dung bài học
2/ Vận dụng vào bài học
HOẠT ĐỘNG
CỦA THẦY
HOẠT ĐỘNG CỦA TRÒ
NỘI DUNG
Học sinh trả lời câu
hỏi 1 trong phiếu yêu HS dựa vào cơ sở
I Vận chuyển thụ động
1 Khái niệm: Vận chuyển thụ động là
Lớp: 10A - Nhóm Phiếu Yêu Cầu
Bài 11: VẬN CHUYỂN CÁC CHẤT QUA MÀNG SINH CHẤT
Hoạt động: Thiết kế sản phẩm thể hiện sự khuếch tán các chất
1/ Thực hiện sản phẩm và giải thích
Ý tưởng sản phẩm: Thực hiện ý tưởng: - Giải thích cơ sở khoa học của ý tưởng: -
-2/ Liên hệ kiến thức bài học
Câu hỏi 1 Ở tế bào sống có vận chuyển các chất như sự khuếch tán các chất trong sản
phẩm của nhóm thiết kế không ? Nếu có ứng với hình thức vận chuyển nào?
-Câu hỏi 2 Trong tế bào có những kiểu vận chuyển nào? Tìm hiểu các kiểu vận
chuyển đó? Nêu đặc điểm của mỗi kiểu vận chuyển?
-Câu hỏi 3 Nêu điểm khác biệt cơ bản của các hình thức vận chuyển trong sản phẩm
của nhóm với các các hình thức vận chuyển trong tế bào sống?
Trang 8thêm muối vào trong
nước thì kết quả sẽ như
thế nào?
Giáo viên nêu vấn đề
khoa học sản phẩm cúa nhóm trình bày được hình thức vận chuyển thụ động.
Các nhóm nhận xét
bổ sung
vận chuyển các chất qua màng sinh chất
mà không cần tiêu tốn năng lượng.
2 Các kiểu vận chuyển qua màng:
* Qua lớp photpho lipit: gồm các chất không phân cực và các chất có kích thước nhỏ như CO2, O2…
* Qua kênh prôtêin + Các chất phân cực + Có kích thước lớn : H + , Pr, gluco
*- Khuếch tán qua kênh prôtein đặc
hiệu theo cơ chế thẩm thấu
3 Điều kiện vận chuyển
- Chênh lệch nồng độ các chất + Nước : thế nước → cao thấp + Qua kênh pr đặc biệt
+ Chất hoà tan đi từ Ccao → Cth ấp
- Pr vận chuyển có cấu trúc phù hợp với chất vận chuyển
- Không tiêu tốn năng lượng
4 Các yếu tố ảnh hưởng tới tốc độ khuếch tán qua màng
- Nhiệt độ môi trường
- Sự chênh lệch nồng độ các chất trong
và ngoài màng
* Một số lọai môi trường:
Trang 9để phát triển nội dung
kiến thức các loại
môi trường ưu
trương, nhược
trương, đẳng trương
Học sinh trả lời câu
hỏi 2 trong phiếu yêu
(?) Căn cứ vào đâu để
phân loại nhập bào?
Các nhóm nhận xét
bổ sung
Dựa vào câu hỏi 2
đã tìm hiểu tại nhà học sinh nêu được hình thức vận chuyển chủ động Các nhóm nhận xét
bổ sung
Học sinh trả lời Các nhóm nhận xét
bổ sung
- Ưu trương: nồng độ chất tan ngoài tế bào cao hơn trong tế bào chất tan có thể đi vào trong tế bào và nước có thể
đi từ Tb ra ngoài
- Đẳng trương: nồng độ chất tan ngoài
tế bào và trong tế bào bằng nhau.
- Nhược trương; nồng độ chất tan ngoài
tế bào thấp hơn trong tế bào nước
có thể đi từ từ MT vào Tb.
II Vận chuyển chủ động
1 Khái niệm: Vận chuyển chủ động là phương thức vận chuyển các chất qua màng tế bào từ nơi có nồng độ thấp đến nơi có nồng độ cao (ngược dốc nồng độ) và có sự tiêu tốn năng lượng.
2 Cơ chế:
- ATP + prôtein đặc chủng cho từng loại
cơ chất.
- Prôtein biến đổi chất để đưa ra ngoài
tế bào hay đưa vào bên trong tế bào
3 Đăc điểm các chất vận chuyển
- Tiêu tốn năng lượng
III Nhập bào và xuất bào
1 Nhập bào:là tế bào đưa các chất vào bên trong bằng cách biến dạng màng sinh chất.
Trang 10Học sinh trả lời câu
hỏi 3 trong phiếu yêu
- Ẩm bào: đưa các giọt dịch vào tế bào
2 Xuất bào : Sự vận chuyển các chất
ra khỏi tế bào theo cách ngược với nhập bào là xuất bào.
B Kết quả hoạt động của học sinh:
1/ Thiết kế sản phẩm
- Ý tưởng : Làm hoa nở khi bỏ vào nước
Vật liệu : Giấy hoặc phần lõi trong thân cây mì (sắn)
- Thực hiện ý tưởng : Làm cánh hoa bằng thân cây mì (sắn), cho vào dĩa
nước quan sát kết quả
- Cơ sở khoa học : các chất sẽ khuếch tán từ nơi có nồng độ cao đến nơi có
nồng độ thấp vì vậy khi cho hoa làm từ lõi thân cây mì (sắn) vào nước, 1thời gian nước sẽ khuếch tán vào trong làm các lõi thân cây mì nở to rahình thành những cánh hoa
- Sản phẩm thực hiện
Nhóm 1(Lớp 10A1)
Trước khi cho vào nước Sau khi cho vào nước
Nhóm 2(Lớp 10A1)
Trang 11Trước khi cho vào nước Sau khi cho vào nước
- Kinh nghiệm thực hiện :
+ Làm hoa bằng giấy xốp khi thả vào nước sẽ quan sát ngay được hiện tượng,
nhưng chỉ dùng được một lần vì giấy xốp rất dễ bị mục ra khi ngấm nước nênphải làm nhiều hoa, thử trước ở nhà vài hoa rồi mang lên lớp làm thí nghiệm + Làm hoa bằng thân cây sắn cũng thấy ngay kết quả, hoa không bị hỏng tuynhiên hoa chỉ có một màu trắng vì vậy phải nhuộm màu sao cho sinh động Khinhuộm màu hoa rồi thả vào nước hoa sẽ ra màu, để dễ quan sát ta phải đổ nước
ra khỏi đĩa
2/ Các câu hỏi liên hệ nội dung bài
Trang 12* Rút kinh nghiệm : Một số nhóm làm sản phẩm đơn giản là làm hoa bằng tỉa
ớt, lá hành ngâm vào nước chúng ta vẫn ghi nhận Ở đây chúng tôi chọn một sản phẩm mang tính sáng tạo hơn để thực hiện trong tiết dạy và giới thiệu trong
đề tài này.
2 Tổ chức hoạt động xây dựng mô hình sinh học
A Kế hoạch giảng dạy:
*Giáo viên chuẩn bị: phát trước phiếu yêu cầu cho học sinh
*Tiến trình bài học:
1/ Giới thiệu sản phẩm của nhóm
Lớp: 10A - Nhóm Phiếu Yêu Cầu
Bài 18: CHU KÌ TẾ BÀO VÀ QUÁ TRÌNH NGUYÊN PHÂN
Hoạt động: Thiết kế mô hình quá trình nguyên phân 1/ Thực hiện mô hình
Ý tưởng sản phẩm: ( chất liệu, cách làm, chuẩn bị các kiến thức khoa học )
Thực hiện ý tưởng: -
-2/ Yêu cầu
- Hình thức đẹp, gây hứng thú, minh họa rõ
- Mô hình có tính chính xác khoa học
- Trình bài nội dung logic, khoa học
Câu hỏi : Câu hỏi 1: Nguyên phân ở tế bào động vật khác tế bào thực vật như thế
nào?
Câu hỏi 2: Nguyên phân có ý nghĩa như thế nào với sinh vật? Chúng ta đã
có những thành tựu nào áp dụng vào thực tiễn được tạo ra từ những hiểu biết về nguyên phân?
Trang 13- Yêu Cầu học sinh giới thiệu sản phẩm
- Giải thích nguyên lí, cơ sở khoa học của sản phẩm
* Tùy theo tính thực tế của từng sản phẩm của nhóm giáo viên chủ động nêunhững vấn đề bổ sung kiến thức liên quan đến nội dung bài học
2/ Vận dụng vào bài học
HOẠT ĐỘNG CỦA
Cho HS quan sát tranh
hình 18.1 SGK
(?) Em hãy nêu khái
niệm về chu kỳ tế bào?
(?) Chu kỳ tế bào được
Các nhóm nhận xét
bổ sung
I Chu kỳ tế bào 1) Khái niệm
Chu kỳ tế bào là khoảng thời gian giữa 2 lần phân bào
2) đặc điểm của chu kì tế bào
- Kỳ trung gian: Dài,chiếm gần hết thời gian chu kì * 3 pha
+ Pha G1: Tế bào tổng hợp các chất cho sinh trưởng của tế bào.
+ Pha S: ADN và trung tử nhân đôi + Pha G2: tổng hợp các chất còn lại cần cho phân bào.
- Nguyên phân: thời gian ngắn *2
giai đoạn + Phân chia nhân gồm 4 kì + Phân chia tế bào chất
* Điều hoà chu kỳ tế bào:
- Trên 1 cơ thể thời gian và tốc độ phân chia tế bào ở các bộ phận khác nhau là khác nhau đảm bảo sự sinh trưởng, phát triển bình thường của
cơ thể
Trang 14(?) NST sau khi nhân
đôi không tách nhau ra
Yêu cầu học sinh trả
lời câu hỏi 1
Yêu cầu học sinh trả
lời câu hỏi 2
(?)Do đâu NP tạo 2 tế
tránh bị rối khi phân li
Đại diện nhóm trả lời các câu hỏi
Các nhóm nhận xét
bổ sung
Đại diện nhóm trả lời các câu hỏi Các nhóm nhận xét
- Nếu các cơ chế điều khiển sự phân bào bị hư hỏng trục trặc cơ thể có thể
bị lâm bệnh.
II Quá trình nguyên phân 1) Phân chia nhân
- Kỳ đầu: các NST kép sau khi nhân
đôi ở kỳ trung gian dần được co xoắn Màng nhân dần tiêu biến, thoi phân bào xuất hiện.
- Kỳ giữa: các NST kép co xoắn cực
đại và tập trung thành 1 hàng ở mặt phẳng xích đạo Thoi phân bào được đính ở 2 phía của NST tại tâm động.
- Kỳ sau: Mỗi NST kép tách nhau tại
tâm động thành 2 NST đơn và di chuyển trên thoi phân bào về 2 cực của tế bào.
- Kỳ cuối: NST dãn xoắn dần, màng
nhân, nhân con xuất hiện Hình thành 2 nhân mới trong tế bào
2) Phân chia tế bào chất
- phân chia tế bào chất diễn ra ở đầu
Trang 15 Sự nhân đôi ADN,
- Sinh vật nhân thực đa bào + Nguyên phân giúp cơ thể sinh trưởng và phát triển.tái sinh các mô,
cơ quan bị tổn thương + Là hình thức sinh sản sinh dưỡng
2) Ý nghĩa thực tiễn
- Dựa trên cơ sở của NP tiến hành giâm chiết ghép
- ứng dụng nuôi cấy mô đạt hiệu quả
B Kết quả hoạt động của học sinh:
1/ Thiết kế sản phẩm (Các kỳ của nguyên phân)
Nhóm 1(Lớp 10A2) : thiết kế bằng bìa cứng, bao ni lông, giấy, phấn
Nhóm 2 (Lớp 10A2): thiết kế bằng giấy kiếng, bông bóng, dây điện, chỉ len
bóng