Trong các loại chiphí, chi phí cho vận hành chuỗi cung ứng chiếm tỷ trọng lớn nhất và việc quản trịchuỗi cung ứng là một trong những nhân tố quyết định khả năng cạnh tranh củadoanh nghiệ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
QUẢN TRỊ CHUỖI CUNG ỨNG TẠI CÔNG TY DKSH VIỆT NAM: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Ngành Chuyên ngành
Mã số
Họ và tên học viên Người hướng dẫn
: Kinh doanh : Quản trị kinh doanh : 60340102
: Lê Tiến Đạt : GS, TS Hoàng Văn Châu
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới thầy giáo GS,TSHoàng Văn Châu đã dành thời gian đóng góp nhiều ý kiến quý báu, bổ sung cũngnhư chỉnh sửa nội dung và hình thức của Luận văn
Tác giả đồng gửi lời cảm ơn trân trọng tới các thầy cô giáo khoa Sau đại họctrường Đại học Ngoại Thương, thư viện trường Đại học Ngoại Thương, thư việnQuốc gia, Ban lãnh đạo và các anh chị đồng nghiệp tại công ty DKSH Việt Nam đãtận tình chỉ bảo, góp ý và giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình học tập và thực hiệnLuận văn
Tác giả cũng xin cảm ơn gia đình, bố mẹ và anh chị đã động viên, khích lệ
và giúp đỡ trong quá trình học tập và hoàn thành Luận văn
Học viên thực hiện
Lê Tiến Đạt
Trang 5LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CHUỖI CUNG ỨNG VÀ QUẢN TRỊ CHUỖI CUNG ỨNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP PHÂN PHỐI 5
1.1 Khái quát về chuỗi cung ứng 5
1.1.1 Khái niệm chuỗi cung ứng 5
1.1.2 Phân loại chuỗi cung ứng 6
1.2 Quản trị chuỗi cung ứng 10
1.2.1 Khái niệm 10
1.2.2 Vai trò của quản trị chuỗi cung ứng đối với doanh nghiệp 12
1.2.3 Mục tiêu quản trị chuỗi cung ứng 14
1.2.4 Các mắt xích trong chuỗi cung ứng 16
1.3 Quản trị chuỗi cung ứng của các doanh nghiệp phân phối 18
1.3.1 Khái niệm phân phối 18
1.3.2 Đặc điểm của quản trị chuỗi cung ứng trong doanh nghiệp phân phối 18
1.3.3 Nội dung quản trị chuỗi cung ứng của các doanh nghiệp phân phối 20
1.3.3.1 Lập kế hoạch 20
1.3.3.2 Mua hàng 23
1.3.3.3 Tồn trữ 25
1.3.3.4 Phân phối 27
1.3.3.5 Logistics ngược 30
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ CHUỖI CUNG ỨNG TẠI CÔNG TY DKSH VIỆT NAM 33
2.1 Giới thiệu về công ty 33
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty 33
2.1.2 Phạm vi kinh doanh 33
2.1.3 Các giá trị cốt lõi của công ty: 34
2.2 Thực trạng quản trị chuỗi cung ứng tại công ty DKSH Việt Nam 35
2.2.1 Mục tiêu 35
2.2.2 Sơ đồ tổ chức 35
Trang 62.2.3.2 Mua hàng 37
2.2.3.3 Quản trị kho: 40
2.2.3.4 Quản trị vận tải – giao hàng 45
2.2.3.5 Quản trị hàng trả về 47
2.2.3.6 Quản trị thông tin 48
2.2.3.7 Quản trị quan hệ khách hàng 49
2.2.3.8 Các chỉ số đo lường hoạt động chính 50
2.3 Đánh giá thực trạng quản trị chuỗi cung ứng tại công ty DKSH Việt Nam 52 2.3.1 Các điểm đạt được 52
2.3.2 Các điểm hạn chế 55
CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP NÂNG CAO QUẢN TRỊ CHUỖI CUNG ỨNG TẠI CÔNG TY DKSH VIỆT NAM 57
3.1 Dự đoán xu thế chuỗi cung ứng toàn cầu năm 2017 và chiến lược của DKSH tại Việt Nam 57
3.2 Các giải pháp nâng cao quản trị chuỗi cung ứng tại công ty DKSH Việt Nam: 61
3.2.1 Xây dựng, phát triển và hoàn thiện trung tâm phân phối đáp ứng nhu cầu về lưu lượng hàng hóa ngày càng cao 61
3.2.2 Áp dụng sâu rộng hơn nữa WMS và RFID 62
3.2.3 Chuẩn hóa hoạt động trên toàn quốc theo hướng tinh gọn và hiệu quả 64
3.2.4 Áp dụng mô hình vận tải liên hoàn để giảm chi phí: 65
3.2.5 Tăng cường phối hợp giữa bộ phận kinh doanh và cung ứng để duy trì tồn kho hợp lý hơn 66
3.2.6 Nâng cao chất lượng tuyển dụng nhân sự, tăng cường khuyến khích, tạo động lực cho nhân viên 66
KẾT LUẬN 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO 69
Trang 7Từ viết tắt Từ đầy đủ Tiếng Việt
CFM Continuous Flow Material Dòng chảy hàng hóa liên tục
CRM Customer Relationship Quản lý quan hệ khách hàng
Management
DC Distribution Center Trung tâm phân phối
DKSH Diethelm- Keller- Siber- Hermann Tên 4 nhà sáng lập tập đoàn DKSHEOQ Economic Order Quantity Mô hình đặt hàng kinh tế
ERP Enterprise Resources Planning- Hệ thống hoạch định nguồn nhân
GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội
IMS Inventory Management System Hệ thống quản lý hàng tồn kho
RFID Radio Frequency Identification Kỹ thuật nhận hạng tần số sóng vô
tuyến điệnSAP Systems Applications Product Sản phẩm ứng dụng hệ thốngSCM Supply Chain Management Quản lý chuỗi cung ứng
SCM Insight Supply Chain Operations Research Nghiên cứu hoạt động cung ứng
Trang 8Bảng 2.1 Yêu cầu tồn trữ chung cho sản phẩm
Bảng 2.2 Dữ liệu tồn kho của một số mặt hàng
Bảng 2.3 Tỷ lệ sử dụng các trung tâm phân phối
Bảng 2.4 Tỷ lệ sử dụng các kho khu vực miền Bắc ngày 25/02/2017
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Mô hình chuỗi cung ứng đẩy
Hình 1.2 Mô hình chuỗi cung ứng kéo
Hình 1.3 Mô hình chuỗi cung ứng Theo Ủy ban kinh tế và xã
hội Châu Á Thái Bình Dương
Hình 1.4 Các đối tượng tham gia vào chuỗi cung ứng
Hình 2.1 Sơ đồ tổ chức chuỗi cung ứng của công ty DKSH Việt Nam
Hình 2.2 Biểu đồ tăng trưởng đơn hàng năm 2016 so với 2015 Hình
2.3 Phân loại, mã hóa hàng tồn kho Hình 2.4 Quy trình nhập hàng
Hình 2.5 Quy trình xuất hàng
Hình 2.6 Số điểm giao hàng qua các năm Hình
2.7 Độ phủ phân phối của công ty DKSH
Hình 2.8 Tổng hợp khiếu nại của khách hàng tháng 2 năm 2017
Hình 2.9 Kết quả đánh giá chất lượng dịch vụ của DKSH so với các công
ty Zuellig, Gannon, Mega, Tedis
Hình 2.10 Chi phí vận tải năm 2016 của công ty DKSH Việt Nam
Hình 2.11 Chi phí tiết kiệm khi sử dụng các phương pháp thay đổi quy cách pallet,tái sử dụng thùng carton, sử dụng dây thun năm 2016
Hình 3.1 Sứ mệnh của trung tâm phân phối DKSH
Hình 3.2 Lưu đồ quy trình mua hàng
Trang 9LỜI MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài
Nền kinh tế Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế khu vực vàthế giới Do vậy sự cạnh tranh ngày càng trở nên khốc liệt, đòi hỏi doanh nghiệpluôn phải tìm cách nâng cao hiệu quả hoạt động, tiết kiệm chi phí nhưng vẫn đảmbảo được chất lượng sản phẩm, dịch vụ của mình tới khách hàng Trong các loại chiphí, chi phí cho vận hành chuỗi cung ứng chiếm tỷ trọng lớn nhất và việc quản trịchuỗi cung ứng là một trong những nhân tố quyết định khả năng cạnh tranh củadoanh nghiệp so với đối thủ cùng ngành, có sức tác động lớn tới việc chiếm lĩnh thịtrường và sự tín nhiệm của khách hàng, tạo nên giá trị cổ đông, mở rộng chiến lược
và khả năng vươn xa cho doanh nghiệp Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng quản lýchuỗi cung ứng hiệu quả có thể mang lại: Chi phí giảm từ 25-50%; Lượng hàng tồnkho giảm từ 25-60%; Độ chính xác trong việc dự báo sản xuất tăng từ 25-80%; Cảithiện vòng cung ứng đơn hàng lên 30-50%; Tăng lợi nhuận sau thuế lên đến 20%.Chính vì vai trò quan trọng như vậy nên việc quản trị chuỗi cung ứng hiệu quả luôn
là vấn đề cấp thiết và được các CEO đặt lên hàng đầu
Với đặc thù của một công ty phân phối, chuỗi cung ứng của công ty DKSHViệt Nam bao gồm hai mắt xích chính là kho và vận tải Dù được trang bị cơ sở vậtchất hiện đại vào bậc nhất Việt Nam, nhưng chuỗi cung ứng vẫn chưa vận hành mộtcách tối ưu nhất, thể hiện ở một vài chỉ số dịch vụ khách hàng cũng như vị thế trênthị trường so với đối thủ Bên cạnh đó, quản trị chuỗi cung ứng tại công ty cũng kháphức tạp và khó khăn với 3 trung tâm kho chính ở 3 miền Bắc – Trung Nam vàphạm vi giao hàng phủ khắp 64 tỉnh thành Từ những thực trạng này, việc nhìn lại
và hoàn thiện, phát triển tốt hơn công tác quản trị chuỗi cung ứng của công tyDKSH Việt Nam là cần thiết nhằm nâng cao hiệu quả của doanh nghiệp Chính vìvậy, tôi đã lựa chọn đề tài: “Thực trạng quản trị chuỗi cung ứng tại công ty DKSHViệt Nam và các giải pháp cải tiến”
Trang 102 Tổng quan tình hình nghiên cứu về đề tài tính đến thời điểm hiện tại
Trên thế giới, thuật ngữ chuỗi cung ứng đã phát triển từ những năm 1980nhưng tại Việt Nam thuật ngữ này còn khá mới mẻ, đặc biệt là đối với các doanhnghiệp của Việt Nam Các doanh nghiệp chưa nhận thức và đánh giá cao rằng: ngaykhi hình thành, các doanh nghiệp đã là một thành viên của chuỗi cung ứng và bắtđầu tham gia chuỗi cung ứng Dưới đây là một số công trình nghiên cứu bước đầuquản lý chuỗi cung ứng của các doanh nghiệp tiêu biểu, từ đó đưa ra các bài họckinh nghiệm cho công ty DKSH Việt Nam
- Công trình nghiên cứu của Nguyễn Thị Tuyết Mai “Kinh nghiệm quản lýchuỗi cung ứng của các nhà phân phối bán lẻ trên thế giới và bài học cho Việt Nam”trình bày cơ sở khoa học, lý luận và thực tiễn về quản lý chuỗi cung ứng của các mô hìnhthành công nổi bật trên thế giới như mô hình quản lý chuỗi cung ứng của các công tyWal-Mart, Dell, E-Mart qua đó rút ra các bài học rút ra từ chính sách quản lý chuỗi cungứng như bài học về thu mua và phân phối, bài học về quản lý vận tải, quản trị tồn kho.Tuy nhiên các bài học này còn khá tổng quát và chưa gắn liền với các doanh nghiệp kinhdoanh tại thị trường Việt Nam (Nguyễn Thị Tuyết Mai, 2011, trang 40-60)
- Công trình nghiên cứu của Lê Thanh Phong “Nghiên cứu chuỗi cung ứngcủa Tập đoàn Toyota và bài học kinh nghiệm cho các doanh nghiệp sản xuất của ViệtNam” Trong luận văn này, tác giả đã trình bày cơ sở lý luận, đặc điểm, các thành phần,
mô hình quản lý chuỗi cung ứng của tập đoàn Toyota, một trong những mô hình đặctrưng quản lý chuỗi cung ứng hiệu quả để từ đó đưa ra bài học về hoạch định chuỗi cungứng vật tư, tổ chức chuỗi cung ứng vật tư, lãnh đạo chuỗi cung ứng vật tư, kiểm tra chuỗicung ứng vật tư Tuy vậy, các bài học kinh nghiệm này sẽ được áp dụng hiệu quả cho cácdoanh nghiệp sản xuất, còn để áp dụng cho các doanh nghiệp phân phối thì cần phảinghiên cứu sâu hơn (Lê Thanh Phong, 2012, trang 70-75)
- Công trình nghiên cứu của Lê Đoàn “Giải pháp hoàn thiện hoạt động chuỗicung ứng tại công ty TNHH Mitsuba M-Tech Việt Nam” Nghiên cứu cũng được thựchiện trên tập trung vào các công ty đa quốc gia và cung cấp những giải pháp tốt để tănghiệu quả trong quản trị chuỗi cung ứng, tuy nhiên, các
Trang 11giải pháp này sẽ phù hợp hơn với các doanh nghiệp sản xuất, đặc biệt là sản xuất linh kiện ô tô.
Như vậy có thể thấy ở Việt Nam nghiên cứu quản lý chuỗi cung ứng của cácdoanh nghiệp phân phối tại Việt Nam và qua đó rút ra những bài học thành côngcũng như bài học thất bại cần tránh còn là một đề tài mới và cần thiết phải nghiêncứu sâu trong bối cạnh thị trường phân phối Việt Nam đang chứng kiến sự cạnhtranh mạnh mẽ từ các doanh nghiệp như hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động quản trị chuỗi cung ứng tại công ty DKSHViệt Nam
Phạm vi nghiên cứu: Trong phạm vi công tác quản trị chuỗi cung ứng củacông ty DKSH Việt Nam từ năm 2010 đến năm 2016
4 Mục đích nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu một số vấn đề lý thuyết và thực tiễn quản trị chuỗicung ứng tại công ty DKSH Việt Nam, từ đó đề xuất các giải pháp để nâng cao hoạtđộng quản trị chuỗi cung ứng tại công ty
5 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để thực hiện được những mục đích nghiên cứu trên cần phải hoàn thành cácnhiệm vụ sau:
- Phân tích những vấn đề lý thuyết chuỗi cung ứng và quản trị chuỗi cung ứng
- Phân tích về thực trạng, các vấn đề còn tồn đọng trong quản trị chuỗi cung ứng tại công ty DKSH Việt Nam
- Vận dụng lý thuyết đưa ra các giải pháp cải tiến, tăng hiệu quả trong công tácquản trị chuỗi cung ứng tại công ty DKSH Việt Nam
Để đảm bảo luận văn mang tính khoa học và thực tiễn cao, hoàn thành đượccác nhiệm vụ và mục đích nêu trên, tác giả đã sử dụng đồng bộ các phương phápnghiên cứu: phương pháp tổng hợp - phân tích - so sánh kết hợp Trong quá trìnhnghiên cứu, các phương pháp này được sử dụng một cách linh hoạt nhằm giải quyếtcác vấn đề đặt ra hiệu quả nhất
Trang 13CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CHUỖI CUNG ỨNG VÀ
QUẢN TRỊ CHUỖI CUNG ỨNG TRONG CÁC DOANH
NGHIỆP PHÂN PHỐI
1.1 Khái quát về chuỗi cung ứng
1.1.1 Khái niệm chuỗi cung ứng
Trong bối cảnh khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế toàn cầu như hiệnnay, các doanh nghiệp ngày càng phải đối mặt với nhiều khó khăn hơn, thách thứchơn trong việc phát triển các kênh phân phối sản phẩm, tối ưu hóa chi phí phát sinh
để đảm bảo được lợi nhuận và tăng trưởng bền vững Trong bối cảnh đó, các doanhnghiệp không thể đứng riêng rẽ với nhau mà phải liên kết với nhau trong chuỗi cungứng bao gồm nhiều thành phần khác nhau từ doanh nghiệp cung cấp nguyên vậtliệu, doanh nghiệp sản xuất, lưu kho, doanh nghiệp phân phối và nhà bán lẻ Việcphát triển mối liên kết trong chuỗi cung ứng này sẽ giúp doanh nghiệp đưa ra kếhoạch sản xuất phù hợp, quản lý hàng tồn kho hiệu quả, hỗ trợ đặc biệt cho các họatđộng marketing
Trên thế giới, thuật ngữ “chuỗi cung ứng” xuất hiện khá sớm từ đầu nhữngnăm 80 của thế kỷ XX tại Mỹ và trở nên phổ biến hơn trong những năm sau đó Từ
đó đến nay, chuỗi cung ứng ngày càng được doanh nghiệp, đặc biệt là các doanhnghiệp phân phối quan tâm phát triển hơn và xuất hiện nhiều mô hình quản lý chuỗicung ứng hiện đại, tiêu biểu và đem lại thành công lớn cho doanh nghiệp
Chuỗi cung ứng là một mạng lưới các doanh nghiệp tham gia vào các giaiđoạn, các hoạt động khác nhau nhằm tạo ra giá trị gia tăng cho sản phẩm, dịch vụthỏa mãn nhu cầu khách hàng Mỗi doanh nghiệp phù hợp với một hoặc nhiều chuỗicung ứng và có vai trò nhất định trong chuỗi, có thể là vai trò trực tiếp như nhà sảnxuất, nhà cung ứng nguyên vật liệu đầu vào hoặc gián tiếp vào việc thực hiện mụctiêu chung của sản phẩm Trong đó, việc phân phối, đưa sản phẩm tới tay người tiêudùng cuối cùng thông qua các kênh phân phối, nhà bán lẻ là một phần rất quantrọng, là điểm mấu chốt trong chuỗi cung ứng Trước khi thuật ngữ này ra đời, cáccông ty sử dụng thuật ngữ như quản lý hoạt động (operation management) và hậucần (logistics), tuy nhiên sau đó khái niệm “chuỗi cung ứng” ra đời phù hợp hơn so
Trang 14với yêu cầu thị trường” Dưới đây là một số định nghĩa về chuỗi cung ứng của các tác giả như sau:
- Theo Ganesham, Ran and Terry P.Harison trong cuốn sách An introduciton
to Supply Chain Management năm 1995, “chuỗi cung ứng là một mạng lưới các lựa
chọn sản xuất và phân phối nhằm thực hiện các chức năng thu mua nguyên liệu, chuyển đổi nguyên liệu thành bán thành phẩm và thành phẩm và phân phối chúng cho khác hàng”
- Theo Lambert, Stock and Elleam đồng tác giả của giáo trình Fundaments of
Logistics Management, Nhà xuất bản Irwin/McGraw-Hill, Bosston MA
1998, chuỗi cung ứng là sự liên kết với các công ty nhằm đưa sản phẩm hay
dịch vụ vào thị trường”.
1.1.2 Phân loại chuỗi cung ứng
Xét cho cùng, bất kì một doanh nghiệp nào cũng luôn cố gắng để đạt đượclợi nhuận cao nhất có thể bằng các hình thức như tăng doanh thu, cắt giảm chi phíhoạt động sản xuất, phân phối lãng phí Tùy theo từng thời điểm mà các doanhnghiệp sẽ đưa ra chiến lược chuỗi cung ứng thích hợp để đạt được mục tiêu ngắnhạn và dài hạn của doanh nghiệp Tuy nhiên, các doanh nghiệp sẽ rất khó khăn đểthực hiện cả hai yêu cầu: tăng doanh thu và giảm chi phí Nếu doanh nghiệp giảmchi phí bằng cách giảm tồn kho sản xuất thì sẽ rất khó khăn trong việc cung cấp sảnphẩm ra thị trường, thị trường luôn luôn đối mặt với nguy cơ thiếu hàng (Out ofstock) Trong trường hợp doanh nghiệp tăng lượng hàng tồn kho mà gặp khó khănkhi tiêu thụ sản phẩm, thì lượng hàng tồn kho đó sẽ chiếm chi phí rất lớn, ảnhhưởng tới lợi nhuận của doanh nghiệp Chính vì vậy, các nhà hoạch định chia ra hailoại mô hình chuỗi cung ứng: Chuỗi cung ứng kéo và chuỗi cung ứng đẩy
- Chuỗi cung đẩy (Push Supply Chain): Trong chuỗi cung ứng đẩy, các doanhnghiệp sẽ đưa ra các quyết định liên quan đến sản xuất và phân phối dựa trên dự báo dài hạn
về nhu cầu thị trường Dự báo đó được doanh nghiệp phân tích, tính toán dựa trên số liệu thuthập, nhận định và đánh giá thị trường phù hợp với mục tiêu, khả năng sản xuất phân phốicủa doanh nghiệp Tuy vậy, trong giai đoạn cạnh tranh thị trường khốc liệt như hiện tại, cácđối thủ cạnh tranh thường xuyên tung ra các loại sản phẩm mới, các yếu tố trong môi trườngcạnh tranh thường xuyên thay đổi
Trang 15đặc biệt là thị hiếu, nhu cầu của người tiêu dùng, các doanh nghiệp áp dụng chuỗicung ứng đẩy sẽ không thể kịp thay đổi theo nhu cầu thay đổi của thị trường Khi
đó, vòng đời của sản phẩm ngày càng rút ngắn lại, các doanh nghiệp muốn tồn tại,cạnh tranh thì phải liên tục thay đổi và định hướng thị trường tiêu dùng Do đó,trong chuỗi cung ứng đẩy, vấn đề doanh nghiệp sẽ mất một khoảng thời gian khádài để phản ứng lại với thị trường làm cho khả năng đáp ứng sự thay đổi nhu cầu thịtrường ở mức thấp cùng với sự quản lý tồn kho kém hiệu quả, lãng phí nguồn lực vàchi phí quản lý tồn kho
Trong lịch sử, cuộc khủng hoảng thừa từ những năm 1929-1933 trên thế giới,đặc biệt là ở Mỹ là một ví dụ điển hình của chiến lược đẩy khi mà các doanh nghiệpsản xuất quá nhiều, dư thừa so với nhu cầu của thị trường Đây là thời kỳ côngnghiệp hóa trong đó cơ giới hóa được đẩy mạnh, các phương thức tổ chức quản lýsản xuất được cải biến dẫn đến khả năng sản xuất ra sản phẩm ngày càng nhiềutrong lúc lượng lao động dư thừa bị đẩy ra xã hội ngày càng tăng Lực lượng nàykhông có điều kiện và khả năng mua hàng, nhu cầu thị trường tăng trưởng rất thấp
do thu nhập của họ tăng thấp hơn rất nhiều mức lợi nhuận của các công ty Tất cảđưa đến là một cuộc khủng hoảng thừa, đưa đến hiện tượng các nhà tư sản vừa vànhỏ bị phá sản hàng loạt, họ tự tay phá nhà máy, đánh đắm tàu, đổ của cải xuốngbiển… để giữ giá sản phẩm
Nguồn: Tổng hợp từ tạp chí SCM Insight 2014, số 2, trang 7.
Hình 1.1 Mô hình chuỗi cung ứng đẩy
Trang 16Trong chuỗi cung ứng đẩy, chúng ta thường nhắc tới hiệu ứng Bullwhip:hiệu ứng cái roi da Hiệu ứng cái roi da là hiện tượng mà ở đó một sự thay đổi nhỏtrong nhu cầu ở giai đoạn bên dưới của chuỗi cung ứng có thể gây ra một sự thayđổi lớn ở giai đoạn bên trên của chuỗi Hiện tượng này bắt nguồn từ dự báo khôngchính xác công ty, chưa đúng với với nhu cầu tiêu dùng sản phẩm thực tế của ngườitiêu dùng Thông tin méo mó đã dẫn dắt các thành phần trong chuỗi cung ứng (khocủa nhà máy, kho thành phẩm của nhà sản xuất, kho trung tâm của nhà phân phối,kho vùng của nhà phân phối, kho của nhà bán lẻ) phải dự trữ hàng thiếu chỉnh xácbởi vì mức độ biến động và không chắc chắn của nhu cầu, từ đó gây một sự lãng phílớn chi phí cho doanh nghiệp.
Dựa vào phân tích trên, có thể đưa ra kết luận rằng trong thời điểm nền kinh
tế thị trường năng động thay đổi liên tục như hiện tại, việc chỉ áp dụng mô hìnhchuỗi cung ứng đẩy là không còn phù hợp, làm cho các doanh nghiệp thiếu đi sựchủ động, dẫn dắt thị trường và không thể đáp ứng được các nhu cầu của thị trường
Để áp dụng chuỗi cung ứng đẩy thành công, doanh nghiệp cần tập trung đầu tư chonghiên cứu thị trường, liên tục cập nhật thay đổi, dự báo, chính sách, xu hướng pháttriển của ngành để có thể thích ứng nhanh hơn với sự biến động của thị trườngkinh tế
- Chuỗi cung ứng kéo:
Ngày nay, nếu quan tâm đến lĩnh vực quản trị sản xuất, phân phối chúng ta
sẽ dễ dàng nhận thấy những cụm từ như quản lý chuỗi cung ứng tinh gọn (LeanSupply Chain Management), phương thức quản lý sản xuất vừa đúng lúc (Just InTime) Trong đó phương thức sản xuất theo triết lý vừa đúng giờ JIT được đánh giá
là phương thức giúp cắt giảm chi phí sản xuất kinh doanh ở mức cao nhất Phươngthức này thể hiện xu hướng trong quản trị sản xuất kinh doanh hiện nay là phải tinhgọn, đúng lúc, tránh chờ đợi để lãng phí Đó cũng là mục tiêu của chuỗi cung ứngnói chung và hoạt động logistics nói riêng
Trái ngược với chuỗi cung ứng đẩy, doanh nghiệp sẽ hoạch đinh, sản xuất vàphân phối dựa trên đơn hàng, nhu cầu có có thật của khách hàng chứ không phải làdựa trên dự báo nhu cầu Trong hệ thống kéo, một đơn hàng tạo ra nhu cầu về thànhphẩm, để sản xuất được thành phẩm đó cần hoạch định kế hoạch giao hàng, nguồn
Trang 17nguyên vật liệu, kế hoạch sản xuất để đáp ứng cho đơn hàng đó Như vậy, doanhnghiệp chỉ sản xuất khi có đơn hàng, hàng hóa sản xuất đến đâu sẽ xuất hàng ngayđến đó và mức tồn kho sản phẩm cuối cùng của doanh nghiệp sẽ không tồn tại màchỉ tồn tại nguyên vật liệu, bán thành phẩm Từ đặc điểm trên có thể thấy được ưuđiểm nổi bật đó là giảm tối đa giá trị hàng tồn kho, sử dụng các nguồn lực một cáchhiệu quả.
Nguồn: Tổng hợp từ tạp chí SCM Insight 2014, số 1, trang 8.
Hình 1.2 Mô hình chuỗi cung ứng kéo
Tuy nhiên, bên cạnh ưu điểm trên, chuỗi cung ứng kéo cũng bộc lộ nhữngnhược điểm như: doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn khi thời gian đáp ứng nhu cầu củakhách hàng sẽ lâu hơn do khách hàng phải chờ đợi trong một khoảng thời giantrước đó Với những khách hàng có quyền lực thì rõ ràng việc chờ đợi này là mộtđiểm trừ khi quyết định mua hàng Hơn nữa, doanh nghiệp thường khá khó khăntrong việc hoạch định dài hạn do các đơn hàng có thể thay đổi, từ đó dẫn tới sự khókhăn trong việc tận dụng lợi thế kinh tế theo quy mô bởi quá trình sản xuất và phânphối chỉ được tiến hành khi tiến hành khi có các đơn hàng
- Chuỗi cung ứng đẩy-kéo: Bản thân mỗi hệ thống chuỗi cung ứng đẩy hoặckéo đều có những ưu điểm và nhược điểm Đứng trên góc độ quản lý, nhà quản lý sẽ phảitìm ra cách thức mới, một mặt vừa tận dụng được những ưu điểm của từng mô hình, mặckhác loại bỏ những nhược điểm không đáng có Từ đó, chuỗi cung ứng đẩy-kéo ra đời vàphát triển như một hình thức kết hợp ưu điểm và hạn chế nhược điểm Chuỗi cung ứngđẩy-kéo dựa trên ranh giới đẩy-kéo trong đó phía trước điểm ranh giới này, doanh nghiệpthường sử dụng chuỗi cung ứng đẩy và phía sau ranh giới còn lại sẽ sử dụng chuỗi cungứng kéo
Trang 18Tại giai đoạn đầu, doanh nghiệp thực hiện các linh kiện tồn kho được quản lýdựa trên nhu cầu dự báo Ở đây chúng ta sẽ bắt gặp khái niệm C+3 với nhu cầunguyên vật liệu trong đó C là ngày hôm nay, C+1 là một ngày tiếp theo, C+2 là mộtngày tiếp theo nữa và C+3 là ngày xuất hàng Để đảm bảo quá trình sản xuất phânphối tinh gọn Để đảm bảo quá trình tinh gọn, vừa kịp, doanh nghiệp sẽ chỉ để mứctồn kho nguyên vật liệu ở cách ba ngày trước khi xuất hàng sản phẩm cuối cùng đi.
Ở giai đoạn tiếp theo, doanh nghiệp sẽ tiến hành sản xuất, lắp đặt theo các đơn hàng
cụ thể Thậm chí ở một số doanh nghiệp, nguyên vật liệu mặc dù đang được lưu trữnhưng không phải là hàng tồn kho của doanh nghiệp mà là hàng tồn kho của nhà cungcấp Chỉ khi nguyên vật liệu sử dụng thì mới chuyển tồn kho từ nhà cung cấp sang củadoanh nghiệp Từ đó có thể thấy ưu điểm nổi bật của chuỗi cung ứng là việc giảm duy trìmức tồn kho an toàn Tồn kho của doanh nghiệp sẽ ở mức thấp nhất có thể, đồng thờivẫn đảm bảo đủ nguồn nguyên vật liệu để sản xuất theo nhu cầu của khách hàng Bêncạnh đó, doanh nghiệp cũng có ưu điểm đó là sự phản ứng nhanh, đáp ứng nhanh nhucầu thị trường Nếu không dữ trữ hàng tồn kho là nguyên vật liệu đủ sản xuất, doanhnghiệp sẽ mất rất nhiều thời gian để có đủ nguồn nguyên vật liệu, sản xuất và giao chongười tiêu dùng, giảm sức cạnh tranh với những doanh nghiệp có tốc độ phản ứng nhanhhơn với sự thay đổi khách hàng
Qua các loại hình chuỗi cung ứng trên, có thể thấy rằng mỗi loại hình chuỗicung ứng đều có những điểm mạnh, điểm yếu riêng mà các doanh nghiệp cần phảiphân tích, đo lường chính xác các yếu tố nội bộ doanh nghiệp, môi trường bên trongbên ngoài doanh nghiệp và đặc biệt nhu cầu của khách hàng, sự thay đổi nhu cầu để
từ đó quyết định áp dụng mô hình chuỗi cung ứng phù hợp với từng thời điểm
1.2 Quản trị chuỗi cung ứng
1.2.1 Khái niệm
Các nhà nghiên cứu trên thế giới đã đưa ra nhiều định nghĩa, khái niệm về
quản lý chuỗi cung ứng Theo Mentzer, “Quản lý chuỗi cung ứng là sự phối hợp có
tính chiến lược và hệ thống các chức năng hoạt động kinh doanh và các bí quyết để thực hiện các hoạt động kinh doanh này trong một doanh nghiệp và giữa các bên trong chuỗi cung ứng, nhằm mục đích cải thiện hoạt động dài hạn của từng doanh nghiệp và toàn bộ chuỗi cung ứng”.
Trang 19Theo Ủy ban kinh tế và xã hội Châu Á Thái Bình Dương, quản lý chuỗi cung
ứng là bước phát triển cao hơn của Logistics, là quản lý chuỗi quan hệ từ nhà cung cấp nguyên vật liệu đầu vào- đơn vị sản xuất- nhà phân phối và người tiêu dùng cuối cùng, chú trọng đến mối quan hệ với các đối tác, kết hợp chặt chẽ giữa nhà sản xuất với nhà cung cấp đầu vào, người tiêu dùng cuối cùng và các bên liên quan như các công ty giao nhận vận tải, kho bãi và các công ty công nghệ thông tin.
Theo Hội đồng các chuyên gia quản trị chuỗi cung ứng (The Council of
Supply Chain Management Professionals - CSCMP), “Quản trị chuỗi cung ứng bao
gồm tất cả các hoạt động lên kế hoạch và quản trị liên quan đến nguồn cung ứng, thầu, chuyển đổi và các hoạt động quản lý hậu cần (logistics management); về bản chất, quản trị chuỗi cung ứng tích hợp quản trị cung và cầu bên trong và bên ngoài các công ty, một chức năng tích hợp với trách nhiệm chính cho việc kết nối các chức năng kinh doanh chính và các quy trình kinh doanh trong các công ty thành một mô hình kinh doanh gắn kết và hiệu suất cao”.
Như vậy, mặc dù có những điểm chưa thống nhất nhưng qua các định nghĩa trên
có thể thấy khái niệm “quản lý chuỗi cung ứng tập trung quản lý các hoạt động trongchuỗi cung ứng, đó là sự kết hợp, phối hợp chặt chẽ của sản xuất, tồn kho, địa điểm vàvận chuyển giữa các thành viên trong chuỗi cung ứng nhằm đáp ứng nhịp nhàng vàhiệu quả các nhu cầu của thị trường” Một cách nhìn khác về quản lý chuỗi cung ứng
đó là việc quản lý một tập hợp của các dòng chảy lưu chuyển, gồm có “dòng nguyênvật liệu, sản phẩm hoàn chỉnh, dòng chảy tài chính và các dịch vụ bắt đầu từ nhà cungcấp nguyên vật liệu Việc quản lý đó bao gồm các công việc như mua bán nguồnnguyên vật liệu đầu vào, dòng thanh toán, vận chuyển nguyên vật liệu, kế hoạch sảnxuất và kiểm soát sản phẩm, lưu kho hàng hóa và vận tải tới nhà phân phối, chăm sóckhách hàng, kiểm tra và chỉnh lại các sản phẩm lỗi Tại đó, dòng chảy nguyên vật liệu
là tất cả các yếu tố nguyên vật liệu thô, bán thành phẩm, sản phẩm hoàn chỉnh, xuấthàng tới nhà phân phối Dòng chảy tài chính bao gồm tất cả sự chuyển tiền, thanh toán,thông tin thẻ tín dụng, lịch thanh toán, công nợ và các dữ liệu tài chính, tín dụng Dòngchảy thông tin bao gồm tất cả dữ liệu liên quan đến nhu cầu, kế hoạch nguyên vật liệu,giao hàng, đặt hàng, xử lý đơn hàng hàng trả lại
Trang 20Nguồn: Tổng hợp từ tạp chí chuỗi cung ứng điện tử Supply Chain Insight 2014, số
1, trang 15.
Hình 1.3 Mô hình chuỗi cung ứng Theo Ủy ban kinh tế và xã hội
Châu Á Thái Bình Dương 1.2.2 Vai trò của quản trị chuỗi cung ứng đối với doanh nghiệp
Trong môi trường cạnh tranh toàn cầu khốc liệt như hiện tại, các doanhnghiệp muốn tồn tại và phát triển mạnh thì phải hoàn thành tốt vai trò của doanhnghiệp trong chuỗi cung ứng nói chung và quản lý hiệu quả chuỗi cung ứng trongnội bộ doanh nghiệp Quản trị chuỗi cung ứng có các vai trò như sau:
Thứ nhất, quản trị chuỗi cung ứng góp phần đắc lực cho hoạt động marketing
của doanh nghiệp, đặc biệt là chiến lược marketing hỗn hợp bốn P: Price giá cả;Product sản phẩm; Promotion khuyến mại; Place địa điểm Chính QLCCƯ là nhân
tố then chốt góp phần đảm bảo giá trị của sản phẩm, đến đúng thời gian cần thiết tạiđịa điểm cần thiết Mục tiêu lớn nhất của QLCCƯ là đảm bảo cung cấp hàng hóa,dịch vụ cho khách hàng một cách tốt nhất với chi phí hợp lý nhất có thể Chính việc
Trang 21kiểm soát chất lượng dịch vụ tốt ở một mức chi phí sẽ giúp doanh nghiệp đạt đượclợi nhuận ổn định.
Vài trò thứ hai của quản trị chuỗi cung ứng thể hiện ở việc quản trị các hoạt
động đầu vào và đầu ra của doanh nghiệp Nhờ có thể chuyển biến nguồn nguyênvật liệu đầu vào, tối ưu hóa quá trình luân chuyển nguyên vật liệu, hàng hóa, tạothêm giá trị gia tăng của sản phẩm Việc QLCCƯ hiệu quả có thể giúp giảm chi phíhoạt động, tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường khốc liệt Thực tế đã chứngminh rất nhiều doanh nghiệp đã khó khăn, thất bại khi không chú ý phát triển quảntrị chuỗi cung ứng trong khi có không ít doanh nghiệp đã đạt được nhiều thành công
to lớn nhờ biết xây dựng và thực hiện quản trị chuỗi cung ứng phù hợp
Thứ ba, việc quản trị chuỗi cung ứng thành công sẽ tạo bước đệm nâng cao
hiệu quả sản xuất, phân phối sản phậm, tạo điều kiện cho doanh nghiệp tham giavào hệ thống thương mại điện tử thành công hơn Để có thể mua bán, trao đổi hànghóa trên Internet, doanh nghiệp cần có hệ thống quản trị chuỗi cung ứng hiện đại,đảm bảo công tác kho vận, dịch vụ khách hàng một cách hoàn hảo mới có thể giữchân khách hàng và phát triển kinh doanh Amazon là một ví dụ điển hình của việcxây dựng thành công hệ thống quản lý chuỗi cung ứng, đảm bảo việc giao hàng,thanh toán cho tất cả khách hàng trong phần lớn nước Mỹ trong vòng một ngày kể
từ khi đặt hàng, thậm chí có những khu vực gần trung tâm kho hàng, thời gian giaohàng của Amazon chỉ là ba mươi phút
Cuối cùng nhưng cũng không kém phần quan trọng đó là quản trị chuỗi cungứng hiệu quả giúp doanh nghiệp quản lý được lượng hàng tồn kho hiệu quả, giúpdoanh nghiệp vừa đáp ứng kịp thời nhu cầu của khách hàng khi khách hàng cần,đồng thời đảm bảo quản lý chi phí hợp lý Doanh nghiệp sẽ không phải đối mặt vớinguy cơ hàng hóa không có để bán khi khách hàng mua, đặt hàng (Out of Stock),nhưng lượng hàng dự trữ cũng không quá nhiều Đối với những hàng hóa theo mùa
vụ, việc quản trị chuỗi cung ứng đặc biệt có hiệu quả khi đảm bảo cung cấp hànghóa tới khách hàng mọi thời gian và địa điểm ở một chi phí hợp lý Với ngành hàngtiêu dùng nhanh, quản trị chuỗi cung ứng đóng vai trò then chốt do nhu cầu, sởthích của khách hàng thay đổi rất nhanh (Fast Moving Consumer Good), yêu cầukhắt khe trong khi giá sản phẩm khá thấp Nếu doanh nghiệp không xây dựng hệ
Trang 22thống quản trị chuỗi cung ứng hiệu quả chắc chắn sẽ không thể tồn tại trên thị trường hàng tiêu dùng nhanh rất khốc liệt.
1.2.3 Mục tiêu quản trị chuỗi cung ứng
Mục tiêu của quản trị chuỗi cung ứng được thể hiện cụ thể qua bảy điều đúng(7 Right things) cần phải làm của hệ thống đó
- Thứ nhất, đúng sản phẩm (the right product): Khách hàng là trung tâm, làyếu tố mà mọi hoạt động trong chuỗi đều phải hướng tới Khách hàng chỉ đồng ý muahàng, thanh toán khi nhận được đúng sản phẩm Để có thể thực hiện việc này, doanhnghiệp cần phải giao hàng cho chính xác cho khách hàng đúng sản phẩm khách hàng yêucầu Tất nhiên trước đó, doanh nghiệp đã trải dài qua các bước nghiên cứu nhu cầu, thịhiếu thị trường, phát triển sản phẩm từ đó giao đúng mặt hàng cần giao cho khách hàng.Công việc này tưởng chừng như đơn giản, tuy nhiên, đối với các doanh nghiệp lớn thựchiện hàng nghìn đơn hàng mỗi ngày, việc chọn đúng sản phẩm, đóng gói cho hàng nghìnđơn hàng khác nhau trong giới hạn về nhân lực, thời gian thì gặp rất nhiều thách thức.Các trung tâm phân phối hiện đại đều cần phải thiết lập hệ thống chỉ định tự động chocác sản phẩm để người công nhân không phải dùng trí nhớ…
- Thứ hai, tới đúng khách hàng (to the right customer): Việc thực hiện đơnhàng nói chung hay việc vận chuyển, giao hàng cho khách hàng nói riêng tới đúng kháchhàng đặt mua là điều hết sức quan trọng vì chỉ như vậy giá trị hàng hóa mới sử dụngđúng Trên thực tế có nhiều cách thức để xác nhận chính xác thông tin người nhận như kítên bằng chữ kí, kí tên điện tử (Proof of Delivery) mà các công ty lớn thường sử dụng…Trong một số trường hợp khách hàng cần hàng khẩn cấp như các loại thuốc cấp cứu, việcgiao hàng đúng người cần giao lại càng quan trọng hơn vì nếu giao hàng nhầm thì có thểdẫn tới bệnh nhân không có thuốc và đối mặt với nguy hiểm
- Thứ ba, tới đúng địa điểm (to the right place): Việc chuẩn bị hàng hóa có sẵntại đúng địa điểm, giao hàng đúng địa điểm đóng vai trò rất quan trọng trong quá trìnhquản trị chuỗi cung ứng của doanh nghiệp Một ví dụ điển hình là để thực hiện chiếnlược marketing và phân phối cho sản phẩm điện thoại Nokia Lumia 520 trên toàn thếgiới năm 2011, hãng điện thoại di động Nokia đã phải chuẩn bị hệ thống
Trang 23phân phối khổng lồ trước đó hai tháng để có thể đảm bảo giao hàng và phân phối cho hơn 100 quốc gia trên toàn thế giới trong thời gian giao hàng sớm nhất có thể.
- Thứ tư, đúng điều kiện (at the right condition): Yêu cầu giao hàng, bảo quảnhàng hóa đúng điều kiện là một yêu cầu bắt buộc trong quản trị chuỗi cung ứng hiệu quảcủa doanh nghiệp Điều kiện ở đây bao gồm điều kiện giao hàng theo yêu cầu hợpđồng… thường quy định theo tập quán thương mại quốc tế Incoterm… Bên cạnh đó,điều kiện ở đây cũng bao gồm điều kiện bảo quản của sản phẩm: hàng bảo quản lạnh,hàng bảo quản âm độ, hàng bảo quản mát… Do đó, việc đảm bảo điều kiện giao hàng,điều kiện bảo quản sản phẩm là yêu cầu và trách nhiệm phải thực hiện tốt hệ thống chuỗicung ứng
- Thứ năm, đúng thời gian (at the right time): “Thời gian quý hơn vàng”- đó lànhận định của bất cứ doanh nghiệp nào trong thời điểm cạnh tranh trong kinh doanh khốcliệt như hiện tại Càng ngày khách hàng càng yêu cầu rút ngắn thời gian nhận hàng khiến
áp lực đẩy nhanh tiến độ giao hàng cho khách hàng ngày càng tăng Các công ty sẽ coiđây là một trong những điểm mạnh, điểm cần cải tiến để đáp ứng nhanh nhu cầu củakhách hàng Trong thời đại ngày nay, đây cũng sẽ được xem là một tiêu chí cạnh tranhkhốc liệt giữa các doanh nghiệp
- Thứ sáu, đúng chất lượng (in the right quality): Chất lượng là yếu tố sốngcòn quyết định thất bại hay thành công của doanh nghiệp Khách hàng luôn yêu cầu chấtlượng sản phẩm phải tuyệt đối được đảm bảo như cam kết của nhà sản xuất, tuy nhiên đểđảm bảo điều đó thì các doanh nghiệp phân phối phải đầu tư rất nhiều chi phí cho hoạtđộng bảo quản, chế biến, đóng gói, vận chuyển để giữ được chất lượng sản phẩm
- Thứ bẩy, đúng chi phí (at the right cost): Chi phí là xương sống, là yếu tốxuyên suốt và ảnh hưởng tới mọi quyết định trong quá trình quản trị chuỗi cung ứng.Trên thực tế có rất nhiều các loại chi phí khác nhau tạo trong hoạt động chuỗi cung ứngnhư chi phí vận tải, chi phí lưu kho, chi phí đóng gói, chi phí bảo quản, tiền thuê đất, xâydựng nhà xưởng, tiền điện, nước Các nhà quản trị chuỗi cung ứng luôn luôn phải giámsát, phân tích, điều tra và đưa ra các biện pháp cải tiến liên tục (Kaizen) để có thể cắtgiảm các loại chi phí, các hoạt động thừa trong quá trình sản xuất và phân phối, để từ đógiúp lợi nhuận của công ty tăng lên
Trang 241.2.4 Các mắt xích trong chuỗi cung ứng
Nguồn: Tổng hợp từ www.vietnamsupplychain.com
Hình 1.4 Các đối tượng tham gia vào chuỗi cung ứng
Chuỗi cung ứng bao gồm nhiều đối tượng tham gia, mỗi đối tượng lại cónhững vai trò, ý nghĩa riêng đảm bảo cho cả chuỗi có thể hoạt động nhịp nhàng.Các đối tượng đó bao gồm sau đây:
1.2.4.1 Nhà cung cấp nguyên vật liệu thô
Bất kì một sản phẩm hoàn thiện nào cũng đều tạo ra từ các nguyên vật liệuthô đầu vào để từ đó các doanh nghiệp sản xuất ra các sản phẩm hoàn chỉnh cuốicùng Khách hàng của nhà cung cấp nguyên vật liệu thô không phải là người tiêudùng cuối cùng mà khách hàng của họ là các doanh nghiệp sản xuất Nhà cung cấpnguyên vật liệu thô và nhà sản xuất kết hợp với nhau trong mối quan hệ gắn bó chặtchẽ Do đó, quản lý chuỗi cung ứng nguyên vật liệu thô đầu vào có vai trò rất quantrọng đối với doanh nghiệp, đặc biệt quan trọng với chất lượng của sản phẩm cuốicùng Chất lượng nhà cung cấp, giá cả, vị trí địa lý, thời gian giao hàng, mức độ sẵnsàng thay đổi của nhà cung cấp khi khách hàng thay đổi nhu cầu
1.2.4.2 Nhà sản xuất
Nhà sản xuất là các tổ chức, doanh nghiệp, công ty sản xuất ra sản phẩmcuối cùng tới khách hàng, phục vụ những nhu cầu của khách hàng Sau khi tiếnhành nhận các nguyên vật liệu thô từ nhà cung cấp, nhà sản xuất sẽ tiến hành sảnxuất ra các sản phẩm dựa trên công nghệ kĩ thuật đưa ra các sản phẩm phục vụ nhu
Trang 25cầu của thị trường Nhà sản xuất sẽ đưa vào sản phẩm giá trị gia tăng mà ở đó,khách hàng sẵn sàng chi trả.
1.2.4.3 Nhà phân phối
Nhà phân phối với vai trò liên kết giữa nhà sản xuất với người tiêu dùng, tácđộng trực tiếp đến lợi nhuận của nhà sản xuất và lợi ích của người tiêu dùng đã vàđang trở thành một bộ phận rất quan trọng trong các mắt xích chuỗi cung ứng Nhàphân phối điển hình là một tổ chức sở hữu nhiều sản phẩm tồn kho mua từ nhà sảnxuất và bán lại cho nhà bán lẻ hoặc người tiêu dùng trực tiếp Nhờ có nhà phân phối
mà toàn bộ quá trình lưu thông, tiêu thụ hàng hóa trên thị trường được thực hiệnmột cách hài hòa, đáp ứng nhu cầu cần thiết cho khách hàng khi khách hàng mongmuốn
1.2.4.4 Nhà bán lẻ
Nằm dưới nhà phân phối trong mô hình chuỗi cung ứng, nhà bán lẻ tồn trữsản phẩm và bán cho khách hàng số lượng nhỏ hơn Nhà bán lẻ thực hiện các hoạtđộng “ bán lẻ” – hoạt động bao gồm việc bán hàng hóa, dịch vụ cho các cá nhânhoặc tổ chức để họ tiêu dùng tại một địa điểm cố định, hoặc không tại một địa điểm
cố định thông qua các dịnh vụ liên quan Trong kĩ nguyên công nghệ thông tin bùng
nổ như hiện tại, sự ra đời và phát triển của mạng Internet đã thay đổi cách nhìn nhận
về địa điểm bán hàng, mở rộng thêm các hình thức như thư điện tử, website, mạng
xã hội, mua hàng trực tuyến Nhà bán lẻ là kênh cung cấp thông tin phản hồi củakhách hàng, qua tiếp xúc, doanh nghiệp bán lẻ nắm được nhu cầu, thị hiếu củangười tiêu dùng, từ đó tham gia vào quá trình thay đổi cải tiến sản phẩm.Với ngườitiêu dùng, nhà bán lẻ cung cấp các sản phẩm đa dạng, có chất lượng phù hợp vớimức giá tốt nhất, ưu đãi nhất
1.2.4.5 Khách hàng tiêu dùng
Khách hàng là yếu tố quan trọng nhất trong chuỗi cung ứng, yếu tố trung tâmquyết định mọi định hướng, hành động của các nhân tố còn lại Trong giai đoạncạnh tranh khốc liệt như hiện tại, khách hàng được coi là thượng đế, quyết định sựsống còn của doanh nghiệp Để đáp ứng được nhu cầu đa dạng, phức tạp và liên tụcthay đổi của khách hàng khi khách hàng cần, các yếu tố của chuỗi cung ứng phảikịp thời thích nghi với sự thay đổi nhu cầu đó
Trang 261.2.4.6 Nhà cung cấp dịch vụ kho vận trong chuỗi cung ứng
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thế giới theo hướng toàn cầuhóa, khu vực hóa, nhà cung cấp dịch vụ kho vận ngày càng đóng vai trò quan trọng,
là công cụ liên kết quan trọng trong chuỗi giá trị toàn cầu Đó là những doanhnghiệp có chuyên môn và kĩ năng đặc biệt hoạt động riêng biệt trong chuỗi cungứng nên có thể thực hiện những dịch vụ này hiệu quả hơn tại mức giá tốt hơn so vớichính nhà sản xuất, nhà phân phối, nhà bán lẻ hay người tiêu dùng nếu thực hiệntrực tiếp công việc đó Trong bất kì chuỗi cung ứng nào, công ty cung cấp dịch vụkho vận là các công ty vận tải, công ty cho thuê kho, công ty thực hiện các dịch vụkhai báo hải quan, thông quan, xuất nhập khẩu hàng hóa Nhà cung cấp dịch vụkho vận tạo ra giá trị gia tăng về địa điểm và thời gian, qua đó làm gia tăng giá trịhàng hóa sản xuất trong chuỗi cung ứng Để sản phẩm sản xuất ra được tiêu thụ, nócần được đưa đến đúng vị trí, đúng thời gian và có khả năng trao đổi với kháchhàng Các giá trị này cộng vào sản phẩm và có thể làm giá trị sản phẩm vượt xa sovới khi sản xuất ban đầu
1.3 Quản trị chuỗi cung ứng của các doanh nghiệp phân phối
1.3.1 Khái niệm phân phối
Để tìm hiểu về quản trị chuỗi cung ứng trong lĩnh vực phân phối, trước hếtchúng ta cần tìm hiểu về bản chất của hoạt động phân phối Khái niêm phân phốiđược ra đời rất sớm từ khi nền kinh tế hàng hóa ra đời, trong đó “hệ thống phânphối hàng hóa là thuật ngữ mô tả toàn bộ quá trình lưu thông, tiêu thụ hàng hóa trênthị trường Đó là những dòng chuyển quyền sở hữu hàng hóa thông qua các doanhnghiệp và tổ chức khác nhau tới người mua cuối cùng” Như vậy có thể hiểu phânphối là quá trình đưa sản phẩm từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng cuối cùng thôngqua các thành viên trung gian bằng các phương thức hoạt động khác nhau Cùng vớithương hiệu sản phẩm, hệ thống phân phối chính là tài sản quan trọng của doanhnghiệp, là một nhân tố then chốt giúp doanh nghiệp cung cấp hàng hóa dịch vụ mộtcách hiệu quả nhất, ổn định nhất bất cứ khi nào khách hàng có nhu cầu
1.3.2 Đặc điểm của quản trị chuỗi cung ứng trong doanh nghiệp phân phối
Đối với nền kinh tế, ngành phân phối đóng góp một phần quan trọng tronghầu hết các nền kinh tế thông qua các vai trò sau:
Trang 27Thứ nhất, phân phối không chỉ đóng góp nguồn thuế đáng kể cho ngân sách chính phủ mà còn tạo ra một số lượng lớn công ăn việc làm cho xã hội Mặc dù
kinh tế gặp khó khăn nhưng thị trường phân phối năm 2015 vẫn đạt khoảng 105 tỷUSD Với khoảng 90 triệu dân nhưng toàn quốc chỉ có 700 siêu thị, 132 trung tâmthương mại và trên 1.000 cửa hàng tiện ích, nhiều chuyên gia cho rằng con số nàychưa đáp ứng được nhu cầu của người dân Dự báo, từ nay đến năm 2020, cả nước
sẽ có khoảng 1200-1500 siêu thị, 180 trung tâm thương mại và 157 trung tâm muasắm Điều này cho thấy thị trường bán lẻ Việt Nam có rất nhiều cơ hội, nhất là khingười tiêu dùng đang có khuynh hướng chuyển sang mua sắm tại các siêu thị lớn vàcửa hàng hiện đại, đồng nghĩa với việc sẽ tạo thêm rât nhiều công việc cho ngườilao động Theo đó, phân phối ngoài chức năng kinh tế còn thực hiện chức năng xãhội đối với một quốc gia
Thứ hai, hoạt đông phân phối thúc đẩy quá trình tái sản xuất xã hội Xã hội
nào muốn tồn tại và phát triển cũng phải đồng thời diễn ra hai quá trình: sản xuất vàtái sản xuất Trong đó, tái sản xuất là quá trình sản xuất được lặp đi lặp lại thườngxuyên và diễn ra liên tục Trong nền kinh tế hiện đại, sự chuyên môn hóa cao đòihỏi nhà sản xuất tập trung vào các giai đoạn quan trọng như nghiên cứu phát triển,sản xuất sản phẩm nên sự ra đời của các doanh nghiệp phân phối sẽ đẩy nhanh vòngquay sản phẩm, tiền tệ, giảm thời gian đẩy sản phẩm ra ngoài thị trường và tiêudùng… nhờ đó mà tăng cường quá trình tái sản xuất
Đối với một doanh nghiệp, hệ thống phân phối hàng hóa tiêu thụ hàng hoá luôn là một vấn đề quan trọng, quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Đặc biệt là trong giai đọan hiện nay cạnh tranh ngày càng khốc liệt, hàng
hoá phải được tiêu chuẩn hoá thì vấn đề chất lượng hàng hoá đưa ra thị trường phảiđược đảm bảo là điều tất nhiên Việc tiêu thụ hàng hoá phân phối của doanh nghiệp
và thực hiện các chiến lược, kế hoạch phân phối đó Hãng ô tô Nissan đã đưa ranhận định hết sức thực tế về vai trò quan trọng của Marketing hiện đại “vấn đềkhông chỉ là anh đưa cho người tiêu dùng cái gì mà còn là anh đưa nó như thế nào
sẽ quyết định thành công trên thương trường”
Khi sản xuất với công nghệ hiện đại và thách thức tổ chức quản lý khoa hoc, doanh nghiệp sẽ thành công trong khâu này, số lượng và chất lượng sản
Trang 28phẩm được đảm bảo nhưng rất có thể doanh nghiệp chỉ thành công ở đây nếukhâu tiếp theo là phân phối không được thực hiện tốt Phân phối hàng hoá hiệuquả thì mới có thể thu được tiền hàng để chi trả những chi phí trong các khâu củaquá trình sản xuất kinh doanh Ngược lại, phân phối hàng hoá không hiệu quả sẽdẫn tới những ách tắc trong kinh doanh và có thể doanh nghiệp không chi trảđược chi phí dẫn tới phá sản Thực tế này không chỉ đặt ra đối với doanh nghiệpsản xuất mà cả doanh nghiệp thương mại- loại hình doanh nghiệp hoạt độngtrong khâu phân phối lưu thông hàng hoá.
Ngoài ra, các công ty còn nhận thấy rằng cạnh tranh thành công, họ khôngphải chỉ cung cấp sản phẩm và dịch vụ tốt hơn đối thủ cạnh tranh mà còn phảithực hiện tốt hơn khả năng sẵn sàng ở công ty, ở đâu khi nào doanh nghiệp có thểđáp ứng và như thế nào đối với nhu cầu thường trực và không thường trực củangười tiêu dùng Doanh nghiệp chỉ có thể thực hiện được mục tiêu an toàn, lợinhuận và vị thế khi công việc phân phối hàng hoá của mình được thực thi mộtcách có hiệu quả cao Nhiều nhà sản xuất không có đủ nguồn lực tài chính đểphân phối trực tiếp sản phẩm của mình đến tận người tiêu dùng cuối cùng vì việcphân phối trực tiếp đòi hỏi đầu tư rất nhiều tiền bạc và nhân lực
1.3.3 Nội dung quản trị chuỗi cung ứng của các doanh nghiệp phân phối
Khi nghiên cứu về các hoạt động cơ bản khi triển khai chuỗi cung ứng của
doanh nghiệp phân phối, chúng ta có thể sử dụng được mô hình Nghiên cứu hoạt
động cung ứng-SCOR (Supply Chain Operations Research) Mô hình này được
Hội đồng cung ứng (Supply chain Council Inc., 1150 Freeport Road, Pittsburgh,
PA 1538, www.supply chain.org) phát triển Theo mô hình này, có các yếu tố
được xác định như sau:
Trang 29cho các yếu tố liên quan kia Ba yếu tố lập kế hoạch gồm: dự báo nhu cầu, địnhgiá sản phẩm và quản lý tồn kho Trong đó hoạt động quan trọng nhất là dự báobởi vì các quyết định quản lý cung ứng đều dựa vào dự báo.
Xác định số lượng sản phẩm yêu cầuCần sản xuất bao nhiêu sản phẩm?
Khi nào cần sản phẩm này?
Dự báo nhu cầu trở thành yếu tố căn bản nhất cho các công ty để định ra
kế hoạch hành động riêng nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường Có 4 biến chính
để tiến hành dự báo đó là: nhu cầu, cung úng và đặc tính sản phẩm và môi trườngcạnh tranh
Nhu cầu liên quan đến tổng nhu cầu của thị trường của nhóm sản phẩm/dịch vụ:
Thị trường đang tăng trưởng hay suy thoái và theo tỉ lệ năm hay quý? Thị trường đang ở mức bảo hòa hay nhu cầu ổn định có thể suy đoán
được trong thời gian nào đó trong năm?
Hay sản phẩm có nhu cầu theo mùa?
Thị trường đang giai đoạn phát triển - những sản phẩm/dịch vụ vừa mới giới thiệu đến khách hàng nên không có nhiều dữ liệu quá khứ vềnhu cầu khách hàng nên rất khó khăn khi dự báo
Cung ứng được xác định thông qua số lượng nhà sản xuất và thời gian sảnxuất ra sản phẩm đó Khi có nhiều nhà sản xuất sản phẩm hay thời gian sản xuấtngắn thì khả năng dự báo của biến này càng lớn Khi có ít nhà cung cấp hay thờigian sản xuất dài thì khả năng tìm ẩn về sự không chắc chắn lớn Tương tự nhưtính biến đổi của nhu cầu, sự không chắc chắn trong thị trường rất khó để dự báo
Do đó, thời gian sản xuất sản phẩm và thời gian yêu cầu của một sản phẩm càngdài thì dự báo nên được thực hiện Dự báo chuỗi cung ứng phải bao quát được tạimột thời điểm nào đó có sự liên kết thời gian thực hiện của tất cả các thành phần
để tạo nên thành phẩm
Trang 30- Đặc tính sản phấm
Đặc tính sản phẩm bao gồm những đặc điểm của một sản phẩm ảnh hưởngđến nhu cầu của khách hàng Dự báo sản phẩm bão hòa có thể bao quát trongkhoản thời gian dài hơn là dự báo những sản phẩm phát triển nhanh chóng Mộtđiều quan trọng cần biết là một sản phẩm có hay không có nhu cầu thay thế sảnphẩm khác? Hay là sẽ sử dụng sản phẩm này để bổ sung cho một sản phẩm khácliên quan? Những sản phẩm hoặc là cần hay không cần một sản phẩm khác bổsung đều phải dự báo như nhau
- Môi trường cạnh tranh
Môi trường cạnh tranh liên quan đến những hoạt động của công ty và củađối thủ cạnh tranh của công ty đó Thị phần của công ty? Thị phần của đối thủcạnh tranh? Những cuộc chiến tranh về giá và những hoạt động khuyến mãi ảnhhưởng đến thị phần như thế nào? Dự báo phải đồng thời giải thích những hànhđộng khuyến mãi và cuộc chiến tranh về giá mà đối thủ cạnh tranh sẽ phát động
- Các phương pháp dự báo: Có một số phương pháp cơ bản được sử dụng để
tiến hành dự báo:
Phương pháp định tính: Phương pháp định tính dựa vào trực giác, khả
năng quan sát hay ý kiến chủ quan về thị trường Phương pháp này sử dụng thích hợp khi có rất ít dữ liệu quá khứ để tiến hành dự báo
Phương pháp nhân quả: Phương pháp nhân quả được sử dụng với giả
thiết là nhu cầu có liên quan mạnh đến yếu tố môi trường cạnh tranh haycác yếu tố của thị trường
Phương pháp chuỗi thời gian: Phương pháp chuỗi thời gian là một
phương pháp sử dụng rất phổ biến trong dự báo Phương pháp này sử dụng giả thiết dữ liệu ở quá khứ là cơ sở để dự báo nhu cầu trong tương
lai.
Các công ty và chuỗi cung ứng có thể ảnh hưởng đến nhu cầu thông qua việcđịnh giá Tùy vào mức giá được định giá như thế nào có thể đem lại lợi nhuận gộphay cực đại doanh thu cho công ty Thông thường, nhân viên phòng tiếp thị và bánhàng ra các quyết định về giá để kích thích nhu cầu trong suốt mùa
Trang 31cao điểm, với mục đích là cực đại tổng doanh thu Nhân viên phòng sản xuất vàtài chính ra quyết định về giá nhằm kích thích nhu cầu trong những thời gianngắn nhất, với mục tiêu là cực đại lợi nhuận gộp trong mùa có nhu cầu cao điểm,tạo doanh thu để kiểm soát chi phí trong những mùa có nhu cầu thấp.
Có mối liên quan giữa cấu trúc chi phí và quá trình định giá Vấn đề đặt racho mỗi công ty là có phải đây là biện pháp tốt nhất để đưa ra giá khuyến mãitrong những giai đoạn cao điểm nhằm gia tăng doanh thu hay kiểm soát chi phítrong những giai đoạn thấp
Câu trả lời này tùy thuộc vào cấu trúc chi phí của công ty Nếu một công
ty mà có quy mô lực lượng lao động đa dạng, khả năng sản xuất có tính linh hoạtcao, và chi phí tồn kho lớn thì đây là cách tốt nhất để tạo ra nhu cầu nhiều hơntrong những mùa cao điểm Nếu công ty có mức độ linh hoạt thấp về sự đa dạngtrong lực lượng lao động, khả năng sản xuất và chi phí tồn kho thấp thì đây làcách tốt nhất để tạo ra nhu cầu trong những giai đoạn thấp
Trong những giai đoạn mà nhu cầu thấp hơn mức sản xuất sẵn có thì đây
là lúc tăng giá trị nhu cầu lên bằng cách cân bằng nhu cầu với khả năng sản xuấtsẵn có của công ty Máy móc thiết bị làm việc theo cách này có thể hoạt động ổnđịnh hết công suất
1.3.3.2 Mua hàng
Theo truyền thống, hoạt động chính của nhân viên quản lý mua hàng làtìm kiếm nhà cung cấp tiềm năng dựa vào mức giá và sau đó mua sản phẩm củanhà cung với chi phí thấp nhất có thể Đây vẫn là một công việc quan trọng,nhưng hiện nay có những hoạt động khác quan trọng không kém Vì vậy, hoạtđộng mua hàng hiện nay được xem là một phần của một chức năng mở rộng hơnđược gọi là thu mua Chức năng thu mua có thể được chia thành 3 hoạt độngchính sau:
- Mua hàng: Mua hàng là những hoạt động thường ngày liên quan đến việc
phát hành những đơn hàng cần mua để cung cấp cho bộ phận sản xuất sản phẩm Có hailoại sản phẩm mà công ty có thể mua:
Nguyên vật liệu trực tiếp cần thiết để sản xuất sản phẩm bán cho khách hàng;
Trang 32Những dịch vụ bảo trì, sữa chữa, và vận hành cần thiêt cho công tytiêu thụ trong hoạt động thường ngày.
Cách thức mua hàng của hai loại sản phẩm này giống nhau rất nhiều Khithực hiện quyết định mua hàng thì bộ phận cung ứng phát đơn hàng, liên hệ cácnhà cung cấp và cuối cùng là đặt hàng Có nhiều hoạt động tương tác trong quátrình mua hàng giữa công ty và nhà cung cấp: danh mục sản phẩm, số lượng đơnđặt hàng, giá cả, phương thức vận chuyển, ngày giao hàng, địa chỉ giao hàng vàcác điều khoản thanh toán Một thách thức lớn nhất cho hoạt đông mua hàng làmức độ sai số của dữ liệu khi thực hiện các hoạt động tương tác trên Tuy nhiên,những hoạt động này có thể dự báo và xác định các thủ tục theo sau khá dễ dàng
- Quản lý mức tiêu dùng: Thu mua có hiệu quả bắt đầu với việc biết được
toàn công ty hay từng đơn vị kinh doanh sẽ mua những loại sản phẩm nào và với sốlượng bao nhiêu Điều này đồng nghĩa với việc tìm hiểu số danh mục sản phẩm đượcmua, từ nhà cung cấp nào và với giá cả bao nhiêu
Mức tiêu dùng dự tính của các sản phẩm khác nhau ở nhiều vị trí khácnhau trong công ty nên được đặt ra và sau đó định kỳ so sánh với mức tiêu dùngthực tế Nếu mức tiêu dùng trên mức dự báo ban đầu thì cần hiệu chỉnh cho phùhọp; hay tham chiếu lại mức dự báo không chính xác để xác định lại Nếu mứctiêu dùng dưới mức dự báo ban đầu thì đây là cơ hội để khai thác nhiều hơn, hayđơn giản là tham chiếu lại mức dự báo không chính xác để xác định lại mức dựbáo ban đầu
- Lựa chọn nhà cung cấp: Lựa chọn nhà cung cấp là một hoạt động diễn ra
liên tục để xác định những khả năng cung ứng cần thiết để thực hiện kế hoạch và vậnhành mô hình kinh doanh của công ty Đây là hoạt động có tầm quan trọng đặc biệt liênquan đến lựa chọn của năng lực nhà cung cấp: mức phục vụ, thời gian giao hàng đúngthời gian, hoạt động hỗ trợ kỹ thuật
Để có được những đề xuất với nhà cung cấp về khả năng cung cấp các sảnphẩm/địch vụ cần thiết, công ty phải hiểu rõ tình hình mua hàng hiện tại và đánhgiá được những gì công ty cần hỗ trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh Mộtnguyên tắc chung là công ty luôn phải thu hẹp dần số lượng nhà cung cấp để lựachọn đối tác kinh doanh phù hợp Đây chính là đòn bẩy quyết định quyền lực của
Trang 33người mua với nhà cung cấp để có được một mức giá tốt nhất khi mua sản phẩm
sổ lượng lớn
1.3.3.3 Tồn trữ
Trong chuỗi cung ứng ở những công ty khác nhau, quản trị tồn kho là sửdụng tập hợp các kỹ thuật để quản lý mức tồn kho Mục tiêu là giảm chi phí tồnkho càng nhiều càng tốt nhưng vẫn đáp ứng được mức phục vụ theo yêu cầu củakhách hàng Quản trị tồn kho dựa vào 2 yếu tố đầu vào chính là dự báo nhu cầu
và định giá sản phẩm Với 2 yếu tố đầu vào chính này, quản trị tồn kho là quátrình cân bằng mức tồn kho sản phẩm và nhu cầu thị trường, đồng thời khai tháclợi thế tính kinh tế nhờ qui mô để có được mức giá tốt nhất cho sản phẩm
Như đã phân tích ở trên, có 3 danh mục tồn kho là tồn kho theo chu kỳ,tồn kho theo mùa và tồn kho an toàn Trong đó tồn kho chu kỳ và tồn kho theomùa bị ảnh hưởng nhiều từ nền kinh tế Trong bất kỳ chuỗi cung ứng nào, cấutrúc chi phí của công ty đều liên quan đến mức tồn kho thông qua chi phí sảnxuất và chi phí tồn kho Tồn kho an toàn bị ảnh hưởng từ khả năng dự báo nhucầu sản phẩm Khả năng dự báo nhu cầu càng kém thì khả năng kiểm soát tồnkho an toàn không kỳ vọng càng cao
Hoạt động quản trị tồn kho của công ty hay chuỗi cung ứng là sự kết hợpnhững hoạt động có liên quan đến việc quản lý 3 danh mục tồn kho này Mỗi mộtdanh mục tồn kho có những vấn đề riêng và vấn đề này sẽ rất khác biệt nhau ởtừng công ty và từng chuỗi cung ứng
Tồn kho theo chu kỳ: Tồn kho chu kỳ là loại tồn kho được yêu cầu khi
muốn đáp ứng nhu cầu sản phẩm thông qua thời gian giữa các lần đặt hàng Lý
do ra đời của mô hình này là do tính kinh tế nhờ qui mô, đặt ít đơn hàng nhưngmỗi đơn hàng có khối lượng rất lớn và được giao hàng liên tục theo những đơnhàng nhỏ hơn ứng với nhu cầu từng thời đoạn
Tồn kho chu kỳ xây dựng hàng tồn kho trong chuỗi cung ứng do thực tế làđáp ứng theo đơn hàng nên lớn hơn nhiều so với nhu cầu liên tục của sản phẩm Ví
dụ một nhà phân phối có kinh nghiệm thấy được nhu cầu liên tục cho sản phẩm A là
100 đơn vị/tuần Tuy nhiên, nhà phân phối nhận thấy rằng cách hiệu quả nhất là
Trang 34đặt hàng theo lô cho 650 đơn vị, và sau 6 tuần nhà phân phối bắt đầu đặt hàng đểtồn kho theo chu kỳ Còn nhà sản xuất sản phẩm A, nếu tất cả các nhà phân phốiđặt hàng theo lô với số lượng 44.000 đơn vị tại cùng một lúc thì sẽ có lợi thế vềchi phí Điều này cũng mang lại kết quả khi xây dựng tồn kho theo chu kỳ tại vịtrí của nhà sản xuất.
Mô hình đặt hàng kinh tế - EOQ (Economic Order Quantity)
Trong cấu trúc chi phí của công ty, số lượng đơn hàng để mua khối lượnghàng hóa tại một thời điểm rất có hiệu quả về chi phí Đó gọi là mô hình đặt hàngkinh tế - EOQ và được tính theo công thức sau
Tồn kho theo mùa: Tồn kho theo mùa xảy ra khi công ty hay chuỗi cung
ứng muốn quyết định sản xuất và tồn trữ sản phẩm để thỏa mãn nhu cầu mongđợi trong tương lai Nếu nhu cầu trong tương lai lớn hơn năng lực sản xuất thìtrong những thời điểm có nhu cầu thấp, công ty sản xuất và tồn kho để đáp ứngnhu cầu
Tính kinh kế vì qui mỗ định hướng quyết định tồn kho theo mùa thôngqua công suất và cấu trúc chi phí của công ty trong chuỗi cung ứng Đối với nhàsản xuất, nếu tốn quá nhiều chi phí để gia tăng công suất sản xuất thì công suấtnày xem như là một chi phí cố định Khi nhu cầu hằng năm của nhà sản xuấtđược xác định, công suất cố định có thể được tính toán để phát huy kế hoạch sảnxuất có hiệu quả nhất
Kế hoạch thực hiện tồn kho theo mùa cần lượng tồn kho lớn nhưng việc
dự báo nhu cầu phải chính xác Quản trị hàng tồn kho theo mùa đòi hỏi nhà sảnxuất phải đưa ra mức giá hấp dẫn để thuyết phục nhà phân phối mua hàng tồn trữvào nhà kho trước khi nhu cầu phát sinh
Trang 35Tồn kho an toàn: Tồn kho an toàn nhằm để bù đắp cho sự không chắc
chắn đang tồn tại trong chuỗi cung ứng Các nhà bán lẻ và nhà phân phối khôngmuốn sản phẳm trong kho không đáp ứng nhu cầu của khách hàng, hay có sự trìhoãn ngoài ý muốn trong việc nhận những đơn hàng bổ sung Theo nguyên tắcnày, nếu mức độ không chắc chắn càng lớn, thì mức độ tồn kho an toàn yêu cầucàng cao
Tồn kho an toàn cho một sản phẩm được xác định là một sản phẩm tồnkho hiện và không bao giờ thiếu Tồn kho an toàn trở thành một tài sản cố định làhình thành chi phí vận chuyển hàng tồn kho Các công ty tìm kiếm sự cân bằnggiữa mong muốn của công ty để sản xuất sản phẩm đa dạng, có giá trị cao, vàviệc giữ tồn kho ở mức thấp nhất có thể
1.3.3.4 Phân phối
Nội dung của phân phối trong chuỗi cung ứng bao gồm ba vấn đề chính:quản lý đơn hàng trong phân phối, kế hoạch phân phối, thuê ngoài trong hoạtđộng phân phối Cụ thể:
Quản lý đơn hàng trong phân phối là quá trình theo dõi các thông tin đặthàng từ khách hàng (những phản hồi), thông qua chuỗi cung ứng từ những nhà bán
lẻ tới các nhà phân phối, rồi tới những nhà cung cấp và sản xuất, bao gồm việc theodõi các thông tin về ngày thực hiện phân phối, việc thay thế sản phẩm và đáp ứngđơn hàng thông qua chuỗi cung ứng tới khách hàng, quá trình này chủ yếu là sửdụng điện thoại, chuẩn bị các tài liệu như đơn đặt mua hàng, đơn đặt bán, đơn báothay đổi, phiếu xuất kho, phiếu đóng gói và hóa đơn thương mại
Chuỗi cung ứng ngày càng trở nên quan trọng và phức tạp hơn Các công
ty hiện đại ngày nay luôn giải quyết các vấn đề chọn lựa, xếp hạng cùng lúcnhiều nhà cung cấp, thuê các nhà cung cấp bên ngoài và những đối tác phân phối.Tính phức tạp này cũng làm thay đổi cách phản ứng vói những sản phẩm đượcbán ra, gia tăng kỳ vọng phục vụ khách hàng và thích ứng với sự thay đổi nhanhchóng nhu cầu ở thị trường mới
Quá trình quản lý đơn hàng theo truyền thống tốn nhiều thời gian và hoạtđộng chồng chéo Đó là do sự di chuyển dòng dữ liệu trong chuỗi cung ứng diễn
Trang 36ra chậm Sự di chuyển chậm này có thể đảm bảo tốt cho chuỗi cung ứng đơngiản, nhưng với chuỗi cung ứng phức tạp thì cần phải yêu cầu mục tiêu hiệu quả
và nhanh chóng Quản lý đơn hàng hiện đại tập trung vào những kỹ thuật có thểgiúp dòng dữ liệu liên quan đến đon hàng diễn ra nhanh hơn và hiệu quả hơn.Trong quá trình quản lý đơn hàng cũng cần xử lý một số trường hợp ngoại lệ,
từ đó đưa ra cách nhận diện vấn đề nhanh chóng và quyết định đúng đắn hơn Điềunày có nghĩa là quá trình quản lý đơn hàng hàng ngày nên tự động hóa và có nhữngđơn hàng đòi hỏi quá trình xử lý đặc biệt do nhầm lẫn ngày giao hàng, yêu cầu củakhách hàng thay đổi Với những yêu cầu như vậy, quản lý đơn hàng thường bắt đầubằng sự kết hợp chồng chéo chức năng của bộ phận tiếp thị và bán hàng, được gọi là
quản lý mối quan hệ khách hàng - CRM (Customer Relationship Management).
Quản lý quan hệ khách hàng là một phương pháp giúp các doanh nghiệp tiếp cận vàgiao tiếp với khách hàng một cách có hệ thống và hiệu quả, quản lý các thông tincủa khách hàng như thông tin về tài khoản, nhu cầu, liên lạc và các vấn đề khácnhằm phục vụ khách hàng tốt hơn Các mục tiêu tổng thể là tìm kiếm, thu hút, giànhniềm tin khách hàng mới, duy trì những đối tác đã có, lôi kéo khách hàng cũ trở lại,giảm chi phí tiếp thị và mở rộng dịch vụ khách hàng Việc đo lường và đánh giá mốiquan hệ với khách hàng là rất quan trọng trong mục tiêu thực hiện chiến lược
Thông qua hệ thống quan hệ khách hàng, các thông tin của khách hàng sẽđược cập nhật và được lưu trữ trong hệ thống quản lý cơ sở dữ liệu Nhờ một công
cụ dò tìm dữ liệu đặc biệt, doanh nghiệp có thể phân tích, hình thành danh sáchkhách hàng tiềm năng và lâu năm để đề ra những chiến lược chăm sóc khách hànghợp lý Ngoài ra, doanh nghiệp còn có thể xử lý các vấn đề vướng mắc của kháchhàng một cách nhanh chóng và hiệu quả
Quản lý quan hệ khách hàng cung cấp một hệ thống đáng tin cậy, giúp quản
lý khách hàng và nhân viên, cải thiện mối quan hệ giữa nhân viên với khách hàng.Một chính sách quan hệ khách hàng hợp lý còn bao gồm chiến lược đào tạo nhânviên, điều chỉnh phương pháp kinh doanh và áp dụng một hệ thống công nghệ thôngtin phù hợp Quan hệ khách hàng không đơn thuần là một phần mềm hay một công
Trang 37nghệ mà còn là một chiến lược kinh doanh bao gồm cả chiến lược tiếp thị, đào tạo
và các dịch vụ mà doanh nghiệp cung ứng tới khách hàng Doanh nghiệp có thể lựachọn một giải pháp quan hệ khách hàng hợp lý dựa trên tiêu chí đặt khách hàng ở vịtrí trung tâm, quan tâm tới nhu cầu của khách hàng nhằm đạt được mục đích là duytrì mối quan hệ tốt với khách hàng và đạt được lợi nhuận tối đa trong kinh doanh
Có một số nguyên tắc cơ bản được liệt kê dưới đây có thể giúp quá trình quản lýđơn hàng hiệu quả:
Nhập dữ liệu cho một đơn hàng: nhập một và chỉ một lần: Sao chép dữ
liệu bằng các thiết bị điện tử có liên quan đến nguồn dữ liệu nếu có thể, và tránh nhập lại dữ liệu bằng tay dù dữ liệu này lưu thông suốt chuỗi cung ứng.
Tự động hóa trong xử lý đơn hàng Quá trình xử lý bằng tay nên tối thiểu
và hệ thống nên gửi dữ liệu cần thiết vào những vị trí thích hợp Xử lý trườnghợp ngoại lệ là xác định những đơn hàng có vấn đề và mọi người cùng tham gia
Kế hoạch phân phối chịu ảnh hưởng mạnh từ quyết định liên quan đếncách thức vận tải sử dụng Quá trình thực hiện kế hoạch phân phối bị ràng buộc
từ các quyết định vận tải Có 2 cách thức vận tải phổ biến nhất trong kế hoạchphân phối là: phân phối trực tiếp và phân phối theo lộ trình đã định
Phân phối trực tiếp là quá trình phân phối từ một địa điểm gốc đến một
địa điểm nhận hàng Với phương thức này, đơn giản nhất là lựa chọn lộ trình vậntải ngắn nhất giữa hai địa điểm Kế hoạch phân phối gồm những quyết định về sốlượng và số lần giao hàng cho mỗi địa điểm Thuận lợi trong mô hình này là hoạt
Trang 38động đơn giản và có sự kết hợp phân phối Phương pháp này vận chuyển sảnphẩm trực tiếp tò một địa điểm sản phẩm được sản xuất/tồn kho đến một địađiểm sản phẩm được sử dụng Nó cắt giảm hoạt động trung gian thông qua vậnchuyển những đơn hàng nhỏ đến một điểm tập trung, sau đó kết hợp thành mộtđơn hàng lớn hơn để phân phối đồng thời.
Phân phối theo lộ trình đã định là phân phối sản phẩm từ một địa điểm
gốc đến nhiều địa điểm nhận hàng, hay phân phối sản phẩm từ nhiều địa điểmgốc đến một địa điểm nhận hàng Kế hoạch phân phối theo lộ trình đã định phứctạp hơn so với phân phối trực tiếp Kế hoạch này cần quyết định về số lượngphân phối các sản phẩm khác nhau; số lần phân phối Và điều quan trọng nhất là
lộ trình phân phối và hoạt động bốc dỡ khi giao hàng
Việc phân phối sản phẩm đến khách hàng được thực hiện từ hai nguồn:Địa điểm lẻ dùng cho sản phẩm
Trung tâm phân phối
Địa điểm lẻ dùng cho sản phẩm như nhà máy, nhà kho có sản phẩmđơn hay danh mục sản phẩm liên quan sẵn sàng phân phối Phương tiện này làthích họp khi dự báo được nhu cầu sản phẩm có mức cao; phân phối duy nhất chonhiều địa điểm nhận số lượng lớn sản phẩm bằng phương tiện vận chuyển có tảitrọng lớn Điều này đem lại nhiều lợi ích tính kinh tế nhờ sử dụng hiệu quảphương tiện vận chuyển
Trung tâm phân phối hiểu theo nghĩa đơn giản nhất là nơi tồn trữ, xuất nhập khối lượng lớn sản phẩm bằng phương tiện vận chuyển có tải trọng lớn đến
-từ nhiều địa điểm khác nhau Thực tế ngày nay, trung tâm phân phối hiện đại, sửdụng công nghệ tiên tiến được xây dựng lên, đóng vai trò trung tâm của hệ thốngphân phối Khi vị trí nhà cung cấp xa khách hàng thì việc sử dụng trung tâm phânphối có tính kinh tế cao do rút ngắn khoảng cách vận chuyển, và tồn trữ khốilượng lớn sản phẩm gần địa điểm với khách hàng - người sử dụng cuối
Trung tâm phân phối là nơi tồn trữ sản phẩm hay sử dụng duy nhất cho
mô hình trung chuyển hàng hóa (cross- docking) Trung tâm phân phối sử dụng
mô hình trung chuyển hàng hóa mang lại nhiều lợi ích như dòng vận chuyển sảnphẩm trong chuỗi cung ứng nhanh hơn do có sự hỗ trợ hàng tồn kho và chí phí
Trang 39tồn trữ ít tốn kém do sản phẩm sử dụng nhanh mà không lưu vào kho Tuy nhiên,
kỹ thuật này yêu cầu về mức độ hợp tác chặt chẽ giữa xuất và nhập sản phẩm làrất cao
1.3.3.5 Logistics ngược
Logistics ngược là quá trình lập kế hoạch, thực hiện và kiểm soát một cáchhiệu quả dòng chảy của nguyên liệu, bán thành phẩm và thông tin có liên quan từcác điểm tiêu thụ đến điểm xuất xứ với mục đích thu hồi lại giá trị hoặc xử lý mộtcách thích hợp Với nhiều lý do như chi phí, sự hài lòng của khách hàng và doanhthu – Logistics thu hồi đang trở thành một phần quan trọng trong chiến lược chuỗicung ứng hiện tại và tương lai Nhiều công ty đã bắt đầu tìm hiểu Logistics thu hồi
và đặt ra những tiêu chuẩn ngành trong hoạt động này Nhiều công ty trên thế giớithậm chí đã nhận được chứng nhận ISO về quy trình Logistics thu hồi của họ.Những nhà cung cấp dịch vụ Logistics bên thứ ba (3PLs) chuyên về mảng Logisticsthu hồi đã dự đoán được sự gia tăng về nhu cầu của dịch vụ này trong tương lai.Một số số liệu thống kê dưới đây sẽ phản ánh phần nào tầm quan trọng củaLogistics thu hồi:
Chi phí Logistics thu hồi chiếm từ 0,5% đến 1% trong tổng thu nhập quốc nội (GDP) của Mỹ Tổng thu nhập quốc nội của Mỹ năm 2008 là 14,29 nghìn tỷ đô la Mỹ
95% người tiêu dùng thích trả lại sản phẩm được mua trên mạng tại một địa điểm cụ thể hơn; 43% thường sử dụng lựa chọn này nếu có thể; 37% người mua hàng trên mạng và 54% những người lướt web ngại mua hàng trên mạng bởi vì việc trả lại và đổi hàng rất khó khăn
Chi phí thực hiện việc thu hồi hàng hóa có thể cao từ 2 đến 3 lần so với việcxuất khẩu hàng đi nước ngoài
Dòng logistics ngược được hình thành do nhiều nguyên nhân khác nhau như:thu hồi các sản phẩm không bán được để nâng cấp; thu hồi các sản phẩm có khuyếttật để sửa chữa; thu hồi sản phẩm đã sử dụng để tháo dỡ và tái sử dụng một phần;thu hồi và tái sử dụng bao bì… Quy trình logistics ngược được thực hiện theo 4 giaiđoạn:
Trang 40- Bước đầu tiên trong quy trình logistics ngược là “Tập hợp” bao gồm các hoạtđộng cần thiết để thu về các sản phẩm không bán được, sản phẩm khuyết tật hay bao bì
và vận chuyển chúng tới điểm phục hồi
- Tại điểm phục hồi, sản phẩm sẽ được “Kiểm tra” thông qua các hoạt độngnhư kiểm tra chất lượng sản phẩm, chọn lọc và phân loại sản phẩm Kết quả của giaiđoạn 2 là căn cứ quan trọng và cần thiết để xác định quá trình tiếp theo cho hầu hết cácsản phẩm thương mại
- Trong giai đoạn 3 “Xử lý”, khi một sản phẩm được thu hồi ngược trở lại, DN
sẽ có nhiều cách xử lý: Tái sử dụng trực tiếp hoặc bán lại; phục hồi sản phẩm (sửa lại,làm mới lại, sản xuất lại, tháo để lấy phụ tùng…); và xử lý rác thải (thiêu đốt hoặc thải ramôi trường) Bán lại được áp dụng khi các sản phẩm được đưa vào thị trường nào đó khálâu nhưng không bán được vì không có nhu cầu hoặc nhu cầu đã bão hòa có thể được thuhồi để chuyển sang bán ở thị trường khác đang có nhu cầu hoặc bán thông qua các cửahàng giảm giá Tái sử dụng là trường hợp chất lượng sản phẩm thu hồi vẫn đảm bảo để
có thể quay vòng tiếp tục sử dụng như linh kiện, các loại bao bì sử dụng nhiều lần (chai,
lọ thủy tinh), pallet, container và các hầu hết các thiết bị thuê ngoài Đối với các sảnphẩm mà công dụng, màu sắc, kiểu dáng, tính năng… của nó không đáp ứng được nhucầu của khách hàng thì cần phải phục hồi thông qua việc sửa chữa, nâng cấp, làm mới,sản xuất lại… rồi sau đó lại được tiếp tục đưa vào mạng phân phối Đối với những sảnphẩm, bao bì không thể xử lý được dưới các hình thức trên vì điều kiện tồi tệ của nó hay
vì trách nhiệm luật pháp và giới hạn về môi trường, doanh nghiệp sẽ cố gắng để vứt bỏsản phẩm với chi phí thấp nhất
- Giai đoạn cuối cùng là “Phân phối lại” sản phẩm đã phục hồi Giai đoạn này
đề cập đến các hoạt động logistics để đưa lại sản phẩm vào thị trường và chuyển nó chokhách hàng như các hoạt động dự trữ, bán hàng và vận chuyển