Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn với đề tài“Phát triển nghiệp vụ phái sinh ngoại hối tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam”, tác giả đã tập trung n
Trang 2LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
DANH MỤC HÌNH
TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGHIỆP VỤ PHÁI SINH NGOẠI HỐI TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 5
1.1 Tổng quan về Ngân hàng thương mại và hoạt động kinh doanh của NHTM5 1.1.1.Khái niệm Ngân hàng thương mại 5
1.1.2.Đặc điểm và chức năng của Ngân hàng thương mại 6
1.1.3.Các hoạt động kinh doanh chủ yếu của Ngân hàng thương mại 10
1.2 Nghiệp vụ phái sinh ngoại hối tại Ngân hàng thương mại 15
1.2.1.Khái niệm nghiệp vụ phái sinh 15
1.2.2.Phân loại nghiệp vụ phái sinh 16
1.3 Phát triển nghiệp vụ phái sinh ngoại hối tại Ngân hàng thương mại 29
1.3.1.Khái niệm phát triển nghiệp vụ phái sinh ngoại hối tại NHTM 29
1.3.2.Điều kiện để phát triển nghiệp vụ phái sinh ngoại hối tại NHTM 30
1.3.3.Các tiêu chí đánh giá sự phát triển nghiệp vụ phái sinh ngoại hối của NHTM 33
1.3.4.Ý nghĩa của việc phát triển nghiệp vụ phái sinh ngoại hối tại NHTM.37 1.4 Kinh nghiệm ứng dụng và phát triển nghiệp vụ phái sinh ngoại hối tại một số nước trên thế giới và bài học cho các NHTM tại Việt Nam 39
1.4.1.Kinh nghiệm của một số ngân hàng trên thế giới 39
1.4.2.Bài học đối với các NHTM Việt Nam 43
Trang 32.1 Khái quát về Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam.45
2.1.1.Quá trình hình thành và phát triển Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triểnnông thôn Việt Nam 452.1.2.Cơ cấu tổ chức và mô hình hoạt động của Ngân hàng Nông nghiệp và Pháttriển nông thôn Việt Nam 47
2.1.3.Một số kết quả hoạt động kinh doanh chủ yếu của Ngân hàng Nôngnghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam 48
2.2 Thực trạng phát triển nghiệp vụ phái sinh ngoại hối tại Ngân hàng Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam giai đoạn 2013-2016 53
2.2.1.Cơ sở pháp lý liên quan đến phát triển nghiệp vụ phái sinh ngoại hối.53
2.2.2.Quy trình giao dịch phái sinh ngoại hối đã áp dụng tại Ngân hàng Nôngnghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam 552.2.3.Thực trạng phát triển nghiệp vụ phái sinh ngoại hối tại Ngân hàng Nôngnghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam 582.2.4.Đánh giá tình hình phát triển nghiệp vụ phái sinh ngoại hối tại Ngân hàngNông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam 74
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH VÀ PHÁT TRIỂN NGHIỆP VỤ PHÁI SINH NGOẠI HỐI TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN
NÔNG THÔN VIỆT NAM 82 3.1 Định hướng chiến lược phát triển nghiệp vụ phái sinh ngoại hối tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam 82
3.1.1.Định hướng chung về phát triển sản phẩm dịch vụ trên toàn hệ thống củaNgân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam 82
3.1.2.Định hướng phát triển cho nghiệp vụ phái sinh ngoại hối tại Ngân hàngNông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam 85
3.2 Cơ hội và thách thức để thúc đẩy và hoàn thiện phát triển các nghiệp vụ phái sinh ngoại hối tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam
88
3.2.1.Sự phát triển của thị trường phái sinh ngoại hối toàn cầu 883.2.2.Sự phát triển của thị trường phái sinh ngoại hối Việt Nam 913.2.3.Cơ hội và thách thức để phát triển nghiệp vụ phái sinh ngoại hối tại Ngânhàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam 100
Trang 43.3.2.Nâng cao chất lượng nghiệp vụ phái sinh ngoại hối và khả năng quản trị
rủi ro hối đoái 103
3.3.3.Đa dạng hóa các loại ngoại tệ trong kinh doanh ngoại hối 105
3.3.4.Hoàn thiện quy trình kỹ thuật nghiệp vụ 106
3.3.5.Phổ biến rộng rãi công cụ ngoại hối phái sinh cho khách hàng 107
3.3.6.Giải pháp đào tạo nguồn nhân lực 107
3.3.7.Một số giải pháp hỗ trợ khác nhằm thúc đẩy và hoàn thiện phát triển nghiệp vụ phái sinh ngoại hối tại Agribank 108
3.4 Một số kiến nghị để phát triển nghiệp vụ phái sinh ngoại hối tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam 109
3.4.1.Kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước 109
3.4.2.Kiến nghị với các Bộ ban ngành có liên quan 112
KẾT LUẬN 116
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 117
Trang 5ngoại hối tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam” là công
trình do chính tác giả nghiên cứu và soạn thảo Các số liệu, thông tin sử dụng trongluận văn này là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng
Tác giả xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này
Hà Nội, tháng 05 năm 2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Ngọc Giang
Trang 6Giám hiệu trường Đại học Ngoại thương Hà Nội, đặc biệt là các thầy cô giáo khoaSau đại học – những người thầy tâm huyết đã dìu dắt, giảng dạy và tạo điều kiệnthuận lợi để tác giả học tập và hoàn thành tốt khóa học.
Tác giả xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc đến cô giáo – Tiến sĩ Trần Thị LươngBình, người hướng dẫn khoa học đã nhiệt tâm và tận tình hướng dẫn tác giả trongsuốt quá trình nghiên cứu và thực hiện luận văn tốt nghiệp
Tác giả cũng muốn gửi lời cảm ơn chân thành đến các cán bộ Trung tâm vốn –Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, cán bộ Thư viện trườngĐại học Ngoại thương, cán bộ Thư viện Quốc gia đã giúp đỡ tác giả trong quá trìnhthu thập tài liệu cho luận văn
Cuối cùng, tác giả xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến tất cả bạn bè, đặc biệt là giađình tác giả, những người đã luôn kịp thời động viên, cổ vũ, giúp đỡ và tạo điềukiện tốt nhất để tác giả có thể hoàn thành luận văn này
Mặc dù đã rất cố gắng nghiên cứu, tìm tòi, sưu tầm tài liệu nhưng do thời gian
có hạn cũng như trình độ người viết còn hạn chế, luận văn chắc chắn không thểtránh khỏi còn nhiều thiếu sót Tác giả rất mong nhận được sự chỉ bảo, góp ý củaquý thầy cô và các bạn để bài viết được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn
Hà Nội, tháng 05 năm 2017
Tác giả luận văn
Nguyễn Ngọc Giang
Trang 8Bảng 1.3: So sánh giữa hợp đồng kỳ hạn và hợp đồng tương lai 26
Bảng 1.4: So sánh giữa hợp đồng hoán đổi và hợp đồng kỳ hạn 30
Bảng 2.1: Doanh số thanh toán quốc tế của Agribank từ năm 2013-2016 58
Bảng 2.2: Doanh số mua bán ngoại tệ của Agribank từ năm 2013-2016 59
Bảng 2.3: Tỷ trọng doanh số mua và bán ngoại tệ theo loại ngoại tệ tại Agribank 71
Bảng 2.4: Doanh số mua, bán ngoại tệ theo loại hình từ năm 2013-2016 73
Bảng 2.5: Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh ngoại tệ tại Agribank 77
Bảng 3.1: Thị trường OTC các công cụ phái sinh toàn cầu 99
Bảng 3.2: Doanh số trên thị trường phái sinh ngoại hối phi tập trung phân theo ngoại tệ 100
Bảng 3.3: Tốc độ tăng trưởng doanh số phái sinh giai đoạn 2005 - 2013 103
Bảng 3.4: Tỷ trọng giao dịch ngoại hối phái sinh (%) 103
DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 2.1: Tỷ trọng doanh số mua và bán ngoại tệ theo loại tiền tệ tại Agribank.66 Biểu đồ 2.2: Tỷ trọng đóng góp của các loại hình giao dịch trong tổng doanh số 68
Biểu đồ 2.3: Doanh số mua bán ngoại tệ theo loại hình từ 2013-2016 69
Biểu đồ 3.1: Gia tri giao dich danh nghia cua thi trương phi tập trung va SGD chứng khoán tinh theo tai san cơ sơ năm 2010 91
Biểu đồ 3.2: Doanh số giao dịch phái sinh của NHTM Việt Nam 97
DANH MỤC HÌNH Sơ đồ 1.1: Chức năng của ngân hàng thương mại 7
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ mô hình tổ chức của Agribank 49
Sơ đồ 2.2: Sơ đồ giao dịch hối đoái giữa Hội sở và Chi nhánh 57
TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Trang 9lợi nhuận Trên thế giới, rất nhiều quốc gia đã triển khai áp dụng thành công loại hìnhnghiệp vụ này Tại Việt Nam, tuy đã triển khai từ lâu nhưng số lượng các NHTM thựchiện nghiệp vụ phái sinh ngoại hối vẫn còn rất hạn chế cả về loại hình và doanh số thựchiện Trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn với đề tài
“Phát triển nghiệp vụ phái sinh ngoại hối tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát
triển nông thôn Việt Nam”, tác giả đã tập trung nghiên cứu các vấn đề sau:
Ở chương 1, bằng phương pháp nghiên cứu tổng hợp lý thuyết, luận văn đã hệthống hóa cơ sở lý luận về Ngân hàng thương mại cùng các hoạt động kinh doanhchính của nó trong đó có bao gồm nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối Đồng thời, luậnvăn tập trung tìm hiểu về các loại hình nghiệp vụ phái sinh ngoại hối, đặc điểm vàứng dụng của nó và việc phát triển nghiệp vụ này tại các NHTM Ngoài ra, luận văncũng đề cập đến tình hình thực hiện nghiệp vụ phái sinh ngoại hối tại một sốNHTM trên thế giới như tại Đức, Hoa Kỳ, Nhật Bản và từ đó rút ra bài học kinhnghiệm cho các NHTM ở Việt Nam đặc biệt là cho Agribank
Tiếp theo ở chương 2, thông qua điều tra, tổng hợp số liệu, luận văn phân tíchthực trạng sử dụng và phát triển các loại hình nghiệp vụ phái sinh ngoại hối tạiAgribank, từ đó đưa ra nhận xét đánh giá về những kết quả đã đạt được trên cả haimặt định tính và định lượng cũng như chỉ ra các tồn tại và nguyên nhân của tồn tại
đó Tuy rằng kết quả đạt được là khá khiêm tốn so với tầm vóc một trong nhữngNHTM hàng đầu Việt Nam như Agribank nhưng qua phân tích có thể thấy nhữngchuyển biến đáng khích lệ trong việc phát triển các nghiệp vụ phái sinh ngoại hốinói riêng và hoạt động kinh doanh ngoại hối nói chung của toàn hệ thống Agribank
Ở chương cuối cùng, thông qua việc đánh giá và nhận xét kết quả đạt được vànhững tồn tại kể trên cùng với việc đề cập đến xu hướng phát triển của thị trườngphái sinh ngoại hối trên thế giới và tại Việt Nam cũng như định hướng phát triểnnghiệp vụ đó tại Agribank, luận văn sử dụng phương pháp tổng kết kinh nghiệm để
đề xuất giải pháp và đưa ra kiến nghị tới các bên liên quan nhằm thúc đẩy phát triểnnghiệp vụ phái sinh ngoại hối tại Agribank trong giai đoạn tới
Trang 10của Việt Nam trong thời gian tới, các NHTM đặc biệt là Agribank phải khôngngừng cố gắng, đổi mới quy trình, quy cách làm việc để nâng cao và đẩy mạnh việcphát triển nghiệp vụ phái sinh ngoại hối của mình nhằm cạnh tranh với các ngânhàng khác.
Với những kết quả nghiên cứu sơ lược như trên, tác giả hy vọng có thể gópmột phần nhỏ nhằm thúc đẩy sự phát triển nghiệp vụ phái sinh ngoại hối tạiAgribank nói riêng và hệ thống NHTM Việt Nam nói chung hướng đến triển vọngkinh doanh ngân hàng ngày hiệu quả và ưu việt, đáp ứng được tốt hơn nhu cầu củakhách hàng trong thời gian tới
Trang 11LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Từ khi bắt đầu xuất hiện vào khoảng thế kỷ XVII cho đến nay, các công cụphái sinh và các giao dịch dựa trên những công cụ này đã trải qua một khoảng thờigian dài hình thành và phát triển Nhờ có các công cụ này mà không chỉ các doanhnghiệp trên thế giới có khả năng phòng vệ tốt hơn trước nhiều biến động cũng nhưcác cuộc khủng hoảng trên thị trường, mà còn giúp cho những định chế tài chính vànhà kinh doanh chênh lệch phòng ngừa rủi ro và thu được các khoản lợi nhuậnkhổng lồ từ việc kết hợp hiệu quả các công cụ phái sinh này với nhau Chính vìnhững lợi ích to lớn như vậy nên thị trường tài chính phái sinh nói chung và thịtrường phái sinh ngoại hối nói riêng không chỉ phát triển bùng nổ tại các quốc giahàng đầu như Anh, Mỹ, Nhật Bản mà ngay tại các quốc gia mới nổi như Hàn Quốc,
Ấn Độ, Hồng Kông, Singapore, các công cụ này cũng không hề xa lạ
Trên thị trường ngoại hối thế giới, các công cụ phái sinh được triển khai từ lâu vàđang phát triển rất mạnh mẽ, nhưng tại Việt Nam, dù đã bắt đầu hình thành từ cuốinhững năm 90 của thế kỷ trước, số lượng Ngân hàng thương mại thực hiện và giao dịchthông qua các công cụ phái sinh ngoại hối vẫn còn rất khiêm tốn và hạn chế Là mộttrong những Ngân hàng thương mại hàng đầu tại Việt Nam, Ngân hàng Nông nghiệp vàPhát triển nông thôn – Agribank đã và đang triển khai thực hiện ngày càng sâu rộng cáchoạt động kinh doanh ngoại hối, đi kèm với nó là kết hợp các công cụ phái sinh nhằmđáp ứng nhu cầu kinh doanh và quản lý rủi ro tiền tệ cho các tổ chức, doanh nghiệp.Tuy nhiên, cũng như phần lớn các ngân hàng khác tại Việt Nam, nghiệp vụ phái sinhngoại hối tại Agribank vẫn còn sơ khai, chậm phát triển, thể hiện ở doanh số giao dịchthấp và số lượng công cụ được sử dụng còn chưa nhiều, có những công cụ dù đã đượctriển khai nhưng hầu như không có giao dịch Thêm vào đó, tuy rằng chính sách ngoạihối của nước ta đã có nhiều thay đổi quan trọng, một số quy định liên quan đến cácnghiệp vụ mới như nghiệp vụ phái sinh ngoại hối đã thông thoáng hơn so với trước kia,nhưng trong quá trình hoàn thiện các quy định, văn bản, chính sách quản lý vẫn còn tồntại những bất cập và hạn chế, khiến cho thị trường ngoại hối phái sinh nói chung vàhoạt động phái sinh ngoại hối nói riêng tại các ngân hàng trong đó có Agribank còn gặpnhiều khó khăn, phát triển không đồng bộ Xuất phát từ thực tế kể
Trang 12trên, ý tưởng nghiên cứu về các biện pháp “Phát triển nghiệp vụ phái sinh ngoại
hối tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam” đã hình thành
để góp một tiếng nói vào công tác xây dựng và phát triển nghiệp vụ phái sinh ngoại
hối tại Agribank nói riêng và tại các ngân hàng thương mại nói chung, giúp cho hoạtđộng kinh doanh của các ngân hàng ngày càng hiệu quả và vững mạnh hơn
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Hiện nay trên thế giới, các công cụ tài chính phái sinh nói chung và các công
cụ phái sinh ngoại hối nói riêng đã phát triển không ngừng cả về quy mô và sự đadạng Chính vì thế đã có rất nhiều những ấn phẩm, tạp chí, công trình nghiên cứucủa các học giả trong và ngoài nước viết về mảng đề tài khá rộng này, có thể kể đếnnhư một số công trình nghiên cứu sau đây:
Đầu tiên, không thể không nhắc đến tác phẩm “Options, Futures, and OtherDerivatives” xuất bản năm 2009 tại NXB Prentice Hall của tác giả John C.Hull –đây được coi như quyển sách “gối đầu giường” giới thiệu về lý thuyết và thực tiễễ̃n
áp dụng các sản phẩm phái sinh và các biện pháp quản trị rủi ro tài chính Ngoài ra,trên thế giới còn các tác phẩm tiêu biểu khác về các công cụ phái sinh như “AllAbout Derivatives” xuất bản năm 2005 của tác giả Michael Durbin, “Derivativesdemystified” xuất bản năm 2005 của tác giả Andrew M Chisholm hay “Exchangetraded derivatives” xuất bản năm 2003 của tác giả Erik Banks…
Còn tại Việt Nam, các sản phẩm phái sinh ngoại hối cũng được các tác giả tìmtòi nghiên cứu và trình bày qua các ấn phẩm, tiêu biểu như:
Sách “Thị trường ngoại hối và các nghiệp vụ phái sinh” do GS.TS Nguyễễ̃nVăn Tiến chủ biên xuất bản năm 2010 của NXB Thống kê là một trong những tácphẩm đầy đủ và chi tiết nhất đề cập đến nghiệp vụ phái sinh ngoại hối tại Việt Nam.Nội dung sách giới thiệu về thị trường ngoại hối; những vấn đề cơ bản trong kinhdoanh ngoại hối; nghiệp vụ ngoại hối giao ngay và nghiệp vụ phái sinh ngoại hối;chính sách quản lý ngoại hối quốc gia và thị trường ngoại hối Việt Nam
Sách “Thị Trường Ngoại Hối Và Các Giải Pháp Phòng Ngừa Rủi Ro” của TS.Nguyễễ̃n Minh Kiều xuất bản năm 2008 tại NXB Thống kê lại giới thiệu về thịtrường ngoại hối và các công cụ phái sinh ngoại hối, đồng thời phân tích quyết định
và giải pháp phòng ngừa rủi ro tỷ giá của Doanh nghiệp và của các NHTM
Trang 13Bài viết trên Tạp chí Tài Chính ngày 11/07/2013 của Tiến sĩ Nguyễễ̃n ThịLoan, Đại học Ngân hàng TP Hồ Chí Minh về “Phát triển công cụ tài chính pháisinh tiền tệ tại các ngân hàng thương mại Việt Nam” có nội dung chủ yếu đề cậpđến thực trạng phát triển các công cụ tài chính phái sinh tiền tệ tại các Ngân hàngThương mại Việt Nam, thông qua những đánh giá, phân tích, nhận xét về thực trạng
đó, bài viết đề xuất các biện pháp góp phần thúc đẩy sự phát triển các công cụ tàichính phái sinh tiền tệ tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam không chỉ về phíacác Ngân hàng thương mại mà còn định hướng cho các Hiệp hội ngân hàng, Ngânhàng Nhà Nước Việt Nam và Bộ Tài chính
Nhìn chung, những công trình nghiên cứu và các bài viết vừa kể trên chỉ mới đềcập đến tổng quan chung về thị trường tài chính phái sinh và các công cụ tài chính pháisinh chứ chưa đi sâu vào hoạt động cụ thể của các công cụ này trong các Ngân hàngthương mại Trong luận văn này, tác giả mong muốn trình bày một khía cạnh khác màcác công trình trên chưa đề cập tới, với hy vọng đem lại một cái nhìn riêng biệt hơn, đó
là đánh giá cụ thể về hoạt động ứng dụng các công cụ phái sinh ngoại hối tại các Ngânhàng thương mại Việt Nam, mà cụ thể ở đây là Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triểnnông thôn Việt Nam, để góp một phần nhỏ trong việc thúc đẩy sự phát triển và nângcao chất lượng của các nghiệp vụ phái sinh ngoại hối tại Ngân hàng Nông nghiệp vàPhát triển nông thôn nói riêng và các ngân hàng thương mại Việt Nam nói chung
3 Mục tiêu nghiên cứu:
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là phân tích và đánh giá thực trạng triển khai, ápdụng nghiệp vụ phái sinh ngoại hối tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thônViệt Nam hiện nay để tìm ra những mặt tích cực và hạn chế, những điểm còn thiếu sóthay yếu kém Dựa trên cơ sở đó, luận văn đưa ra các giải pháp và đề xuất nhằm thúcđẩy sự phát triển của nghiệp vụ phái sinh ngoại hối tại Agribank trong giai đoạn tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động phái sinh ngoại hối và các công cụ của nó;
các giải pháp và kiến nghị để phát triển nghiệp vụ phái sinh ngoại hối tại Ngân hàngNông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài này chỉ tập trung nghiên cứu lý luận, thực tiễễ̃n áp
dụng và tìm kiếm các giải pháp đẩy mạnh nghiệp vụ phái sinh ngoại hối tại Ngân
Trang 14hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, thời gian nghiên cứu là từ năm 2013 đến năm 2016.
5 Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về Ngân hàng thương mại, hoạt động kinh doanhcủa Ngân hàng thương mại và nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối phái sinh tại cácNgân hàng thương mại
- Điều tra, nghiên cứu, phân tích thực trạng triển khai và phát triển nghiệp vụphái sinh ngoại hối tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam,
từ đó đưa ra những nhận xét, đánh giá kết quả đạt được
- Đề xuất các biện pháp và kiến nghị để phát triển nghiệp vụ phái sinh ngoại hối tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam trong giai đoạn tới
6 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện mục đích nghiên cứu, đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:
- Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết; Phương pháp phân loại và hệ thống hóa lý thuyết
- Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễễ̃n: Phương pháp tổng hợp thốngkê; Phương pháp so sánh kết hợp với đối chiếu tài liệu, bảng biểu đồ thị để phântích; phương pháp phân tích và tổng kết kinh nghiệm
7 Kết cấu đề tài
Ngoài các phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục chữviết tắt, mục lục và các phụ lục, nội dung chính của luận văn được thể hiện ở bachương sau đây:
Chương I: Cơ sở lý luận về phát triển nghiệp vụ phái sinh ngoại hối tại cácngân hàng thương mại Việt Nam
Chương II: Thực trạng phát triển nghiệp vụ phái sinh ngoại hối tại Ngân hàngNông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam
Chương III: Giải pháp đẩy mạnh và phát triển nghiệp vụ phái sinh ngoại hốitại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam
Trang 15CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGHIỆP VỤ PHÁI SINH NGOẠI HỐI TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
1.1 Tổng quan về Ngân hàng thương mại và hoạt động kinh doanh của NHTM
1.1.1 Khái niệm Ngân hàng thương mại
Để đưa ra được một khái niệm chính xác và tổng quát nhất về Ngân hàngthương mại (NHTM), người ta thường phải dựa vào tính chất và mục đích hoạtđộng của nó trên thị trường tài chính, và đôi khi còn kết hợp tính chất, mục đích vàđối tượng hoạt động Ví dụ: Theo Peter S.Rose trong tác phẩm Quản trị Ngân hàngthương mại (2007) thì: ''NHTM là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danhmục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và các dịch
vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chứckinh doanh nào trong nền kinh tế.''
Theo Luật Ngân hàng của Pháp (1941) định nghĩa: “Ngân hàng là những xínghiệp hay cơ sở nào hành nghề thường xuyên nhận của công chúng dưới hình thức kýthác hay hình thức khác số tiền mà họ dùng cho chính họ vào các nghiệp vụ chiết khấu,tín dụng hay dịch vụ tài chính” Hay theo như Luật Ngân hàng của Ấn Độ (1959) đãnêu: “Ngân hàng là cơ sở nhận các khoản tiền ký thác để cho vay hay tài trợ, đầu tư”
Tại Việt Nam, theo Luật các tổ chức tín dụng (2010), NHTM là tổ chức tíndụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanhkhác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận theo quy định của Luật Các tổ chức tíndụng và các quy định khác của pháp luật
Theo Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam (2010): Hoạt động ngân hàng là
hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên lànhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán.Như vậy, mặc dù có nhiều cách thể hiện khác nhau về định nghĩa NHTM, nótuỳ thuộc vào tập quán pháp luật của từng quốc gia, từng vùng lãnh thổ nhưng khi đisâu phân tích, khai thác nội dung của từng định nghĩa đó, người ta dễễ̃ dàng nhậnthấy rằng: Tất cả các NHTM đều có chung một tính chất đó là việc nhận tiền ký
Trang 16thác - tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn, để sử dụng vào các nghiệp vụ cho vay,chiết khấu và các dịch vụ kinh doanh khác của chính Ngân hàng Ngân hàng thươngmại là định chế tài chính trung gian quan trọng vào loại bậc nhất trong nền kinh tếthị trường Nhờ hệ thống định chế này mà các nguồn tiền vốn nhàn rỗi sẽ được huyđộng, tạo lập nguồn vốn tín dụng to lớn để có thể cho vay phát triển kinh tế.
Bảng 1.1: Phân biệt NHTM và TCTD phi ngân hàng NHTM
- Cung cấp dịch vụ thanh toán
Nguồn: Bài giảng NHTM – Đại học Nha Trang, 2012
1.1.2 Đặc điểm và chức năng của Ngân hàng thương mại
1.1.2.1 Đặc điểm của Ngân hàng Thương mại
Tuy nhiên, để có thể hiểu rõ hơn khái niệm về ngân hàng thương mại chúng tacần xem xét đặc điểm của ngân hàng thương mại
Trước hết, hoạt động NHTM là hình thức kinh doanh kiếm lời, theo đuổi mụctiêu lợi nhuận là chủ yếu Ngân hàng thực hiện hai hình thức hoạt động là kinhdoanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng Trong đó, hoạt động kinh doanh tiền tệ đượcbiểu hiện thông qua nghiệp vụ huy động vốn dưới các hình thức khác nhau, để cấptín dụng cho khách hàng có yêu cầu về vốn với mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận.NHTM là người “đi vay để cho vay” nhằm mục đích kiếm lời Các hoạt động dịch
vụ ngân hàng được biểu hiện thông qua các nghiệp vụ sẵn có về tiền tệ, thanh toán,ngoại hối, chứng khoán, để cam kết thực hiện công việc nhất định cho khách hàngtrong một thời gian nhất định nhằm mục đích thu phí dịch vụ hoặc hoa hồng
Hai là, hoạt động NHTM phải tuân thủ theo quy định của pháp luật, nghĩa là chỉkhi NHTM thoả mãn đầy đủ các điều kiện khắt khe do pháp luật quy định như điềukiện về vốn, phương án kinh doanh thì mới được phép hoạt động trên thị trường
Trang 17Ba là, hoạt động NHTM là hình thức kinh doanh có độ rủi ro cao hơn nhiều sovới các hình thức kinh doanh khác và thường có ảnh hưởng sâu sắc tới các ngànhkhác và cả nền kinh tế Sở dĩ như vậy là do trong hoạt động ngân hàng đặc biệt làhoạt động kinh doanh tiền tệ khi các ngân hàng tiến hành huy động vốn của ngườikhác rồi đem vốn đó để cấp tín dụng cho khách hàng theo nguyên tắc hoàn trả vốn
và lãi trong một thời gian nhất định, nên đã tạo rủi ro cho các hoạt động NHTM.Rủi ro đến từ phía ngân hàng, khách hàng vay tiền và đến từ những yếu tố kháchquan Do đó, ngân hàng thương mại phải đối mặt với rủi ro cao, kéo theo là rủi rođối với những người gửi tiền ở NHTM cũng như rủi ro đối với nền kinh tế Để tránhrủi ro đáng tiếc xảy ra, nhằm kiểm soát, làm giảm nhẹ những tổn hại do ngân hàng
vỡ nợ gây ra, chính phủ các quốc gia đặt ra những đạo luật riêng, nhằm đảm bảocho hoạt động này được vận hành an toàn, hiệu quả trong nền kinh tế thị trường
1.1.2.2 Chức năng của ngân hàng thương mại
a) Chức năng trung gian tín dụng
Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng thương mại đóng vaitrò là cầu nối giữa người dư thừa vốn và người có nhu cầu về vốn
Sơ đồ 1.1: Chức năng của ngân hàng thương mại
Nguồn: Đặng Thị Việt Đức, Vũ Quang Kết, Phan Anh Tuấn, 2016
Thông qua việc huy động các khoản vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong nềnkinh tế, ngân hàng thương mại hình thành nên quỹ cho vay để cung cấp tín dụngcho nền kinh tế Với chức năng này, ngân hàng thương mại vừa đóng vai trò làngười đi vay vừa đóng vai trò là người cho vay
Với chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng thương mại đã góp phần tạo lợiích cho tất cả các bên tham gia: người gửi tiền, ngân hàng và người đi vay, đồngthời thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế
Trang 18Đối với người gửi tiền, họ thu được lợi từ khoản vốn tạm thời nhàn rỗi củamình dưới hình thức lãi tiền gửi mà ngân hàng trả cho họ Hơn nữa, ngân hàng cònđảm bảo cho họ sự an toàn về khoản tiền gửi và cung cấp các dịch vụ thanh toán khác.
Đối với người đi vay, họ sẽ thoả mãn được nhu cầu vốn để kinh doanh, chitiêu, thanh toán mà không phải chi phí nhiều về sức lực, thời gian cho việc tìm kiếmnơi cung ứng vốn tiện lợi, chắc chắn và hợp pháp
Đối với NHTM, họ sẽ tìm kiếm được lợi nhuận cho bản thân mình từchênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi hoặc hoa hồng môi giới Lợinhuận này chính là cơ sở để tồn tại và phát triển của ngân hàng thương mại
Đối với nền kinh tế, chức năng này có vai trò quan trọng trong việc thúcđẩy tăng trưởng kinh tế vì nó đáp ứng nhu cầu vốn để đảm bảo quá trình tái sản xuấtđược thực hiện liên tục và để mở rộng quy mô sản xuất Với chức năng này, ngânhàng thương mại đã biến vốn nhàn rỗi không hoạt động thành vốn hoạt động, kíchthích quá trình luân chuyển vốn, thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển
Chức năng trung gian tín dụng được xem là chức năng quan trọng nhất củangân hàng thương mại vì nó phản ánh bản chất của ngân hàng thương mại là đi vay
để cho vay, nó quyết định sự tồn tại và phát triển của ngân hàng Đồng thời nó cũng
là cơ sở để thực hiện các chức năng khác
b) Chức năng trung gian thanh toán
Ngân hàng thương mại làm trung gian thanh toán khi nó thực hiện thanh toántheo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để thanhtoán tiền hàng hoá, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiềnthu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ Ở đây ngân hàng thương mạiđóng vai trò là thủ quỹ cho các doanh nghiệp và cá nhân bởi ngân hàng là người giữtài khoản của họ
Ngân hàng thương mại thực hiện chức năng trung gian thanh toán trên cơ sởthực hiện chức năng trung gian tín dụng vì tiền đề để khách hàng thực hiện thanhtoán qua ngân hàng chính là một phần tiền gửi trước đó Việc các ngân hàng thươngmại thực hiện chức năng trung gian thanh toán có ý nghĩa rất to lớn đối với toàn bộ
Trang 19nền kinh tế Với chức năng này, các ngân hàng thương mại cung cấp cho kháchhàng nhiều phương tiện thanh toán thuận lợi Nhờ đó, các chủ thể kinh tế sẽ tiếtkiệm được rất nhiều chi phí, thời gian đi tới gặp chủ nợ, người phải thanh toán vàlại đảm bảo được việc thanh toán an toàn Qua đó, chức năng này thúc đẩy lưuthông hàng hoá, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ lưu chuyển vốn, từ đó gópphần phát triển kinh tế Đồng thời, việc thanh toán không dùng tiền mặt qua ngânhàng đã giảm được lượng tiền mặt trong lưu thông, dẫn đến tiết kiệm chi phí lưuthông tiền mặt như chi phí in ấn, đếm nhận, bảo quản tiền
Đối với NHTM, chức năng này góp phần tăng thêm lợi nhuận cho ngân hàngthông qua việc thu lệ phí thanh toán Thêm nữa, nó còn làm tăng nguồn vốn cho vaycủa ngân hàng thể hiện trên số dư có trong tài khoản tiền gửi của khách hàng Chứcnăng này cũng chính là cơ sở hình thành chức năng tạo tiền của NHTM
c) Chức năng tạo tiền
Khi có sự phân hoá trong hệ thống ngân hàng, hình thành nên ngân hàng pháthành và các ngân hàng trung gian thì ngân hàng trung gian không còn thực hiệnchức năng phát hành giấy bạc ngân hàng nữa Nhưng với chức năng trung gian tíndụng và trung gian thanh toán, ngân hàng thương mại có khả năng tạo ra tiền tíndụng (hay tiền ghi sổ) thể hiện trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng tạiNHTM Đây chính là một bộ phận của lượng tiền được sử dụng trong các giao dịch.Ban đầu từ những khoản tiền dự trữ tăng lên, ngân hàng thương mại sử dụng
để cho vay bằng chuyển khoản, sau đó những khoản tiền này sẽ được quay lại ngânhàng thương mại một phần khi những người sử dụng tiền gửi vào dưới dạng tiềngửi không kỳ hạn Quá trình này tiếp diễễ̃n trong hệ thống ngân hàng và tạo nên mộtlượng tiền gửi (tức tiền tín dụng) gấp nhiều lần số dự trữ tăng thêm ban đầu Mức
mở rộng tiền gửi phụ thuộc vào hệ số mở rộng tiền gửi Hệ số này chịu tác động bởicác yếu tố: tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tỷ lệ dự trữ vượt mức và tỷ lệ giữ tiền mặt so vớitiền gửi thanh toán của công chúng
Với chức năng "tạo tiền", hệ thống ngân hàng thương mại đã làm tăng phươngtiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội Rõ
Trang 20ràng khái niệm về tiền hay tiền giao dịch không chỉ là tiền giấy do ngân hàng trungương phát hành ra mà còn bao gồm một bộ phận quan trọng là lượng tiền ghi sổ docác ngân hàng thương mại tạo ra.
Chức năng này cũng chỉ ra mối quan hệ giữa tín dụng ngân hàng và lưu thôngtiền tệ Một khối lượng tín dụng mà ngân hàng thương mại cho vay ra làm tăng khảnăng tạo tiền của ngân hàng thương mại, từ đó làm tăng lượng tiền cung ứng
Các chức năng của ngân hàng thương mại có mối quan hệ chặt chẽ, bổ sung,
hỗ trợ cho nhau, trong đó chức năng trung gian tín dụng là chức năng cơ bản nhất,tạo cơ sở cho việc thực hiện các chức năng sau Đồng thời khi ngân hàng thực hiệntốt chức năng trung gian thanh toán và chức năng tạo tiền lại góp phần làm tăngnguồn vốn tín dụng, mở rộng hoạt động tín dụng
1.1.3 Các hoạt động kinh doanh chủ yếu của Ngân hàng thương mại
Hoạt động kinh doanh của ngân hàng cũng giống như một doanh nghiệpthương mại, đều hướng đến mục đích cuối cùng là tối đa hoá lợi nhuận Ngân hàngthương mại tìm kiếm lợi nhuận bằng cách đi vay và cho vay lại So với các doanhnghiệp thương mại dịch vụ khác thì hàng hoá của Ngân hàng thương mại là một loạihàng hoá đặc biệt, đó là tiền vốn Giá cả của loại hàng hoá này biểu hiện ra bênngoài là các mức lãi suất huy động hoặc lãi suất cho vay, nó chịu tác động bởi quan
hệ cung - cầu vốn trên thị trường và trên cơ sở khoản lợi nhuận đạt được khi đưavốn vay vào sản xuất kinh doanh Vì vậy lợi nhuận chủ yếu của hoạt động ngânhàng sẽ là khoản chênh lệch giữa chi phí trả lãi huy động với thu nhập từ lãi chovay Để có hàng hoá kinh doanh, ngân hàng phải đưa ra một giá mua hợp lý cũngnhư đa dạng các hình thức huy động
Đồng thời ngân hàng cũng đa dạng hoá các hình thức cho vay nhằm phân tángiảm thiểu rủi ro Với vị thế kinh doanh Ngân hàng thương mại thực hiện các dịch
vụ trung gian hưởng hoa hồng Ngày nay, hệ thống Ngân hàng thương mại pháttriển mạnh mẽ, tham gia sâu rộng vào tất cả các lĩnh vực kinh tế xã hội Sự đa dạng
và phong phú các nghiệp vụ kinh doanh đã làm cho Ngân hàng thương mại trởthành một tổ chức kinh doanh không thể thiếu trong tiến trình phát triển kinh tế
Trang 211.1.3.1 Nghiệp vụ nhận tiền gửi
Đây là một hoạt động cơ bản của NHTM Ngân hàng nhận được các khoảntiền gửi của khách hàng dưới các hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳhạn, tiền gửi tiết kiệm và các hình thức khác Ngân hàng nhận tiền gửi của cá nhân,của tổ chức và các doanh nghiệp Ngân hàng phải hoàn trả gốc và lãi cho kháchhàng khi đến hạn hoặc khi khách hàng có nhu cầu sử dụng đến rút tiền ở ngân hàng
1.1.3.2 Nghiệp vụ tín dụng của ngân hàng
Nguồn vốn huy động sau khi đã thực hiện nghiệp vụ ngân quỹ (nghiệp vụ liênquan đến việc điều hành ngân quỹ của ngân hàng nhằm duy trì năng lực thanh toánbình thường), sẽ được sử dụng để cho vay Nghiệp vụ cho vay là nghiệp vụ đặctrưng nhất của NHTM Nó tạo ra hình thức tín dụng ngân hàng và ngân hàng sẽ tiếnhành phân phối có trọng điểm nguồn vốn đã hình thành trong nghiệp vụ huy động,điều tiết vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu, bổ sung vốn cho sản xuất kinh doanh Đốivới ngân hàng, đây là nghiệp vụ quan trọng nhất, sử dụng phần lớn nguồn vốn vàtạo ra thu nhập chủ yếu
Dựa vào tính chất và hình thức cho vay nghiệp vụ tín dụng được phân thành:
- Cho vay nông nghiệp
- Thuê mua và các loại khác
Căn cứ vào thời hạn cho vay
- Cho vay ngắn hạn: Loại cho vay này có thời hạn dưới 12 tháng, chủ yếuđược sử dụng để bù đắp thiếu hụt vốn lưu động và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạncủa các doanh nghiệp
Trang 22- Cho vay trung hạn: Theo quy định hiện nay của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thì loại cho vay này có thời hạn từ 1 đến 3 năm.
Tín dụng trung hạn thường sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiếnhoặc đổi mới thiết bị công nghệ, mở rộng sản xuất, xây dụng các dự án mới có quy
mô nhỏ với thời hạn thu hồi vốn nhanh
- Cho vay dài hạn: Cho vay dài hạn là loại cho vay có thời hạn trên 3 năm (theo quy định của NHNN Việt Nam)
Loại tín dụng này thường để đáp ứng các nhu cầu dài hạn như: xây dựng nhà
ở, các thiết bị, phương tiện vận tải có quy mô lớn, xây dựng các xí nghiệp mới
Căn cứ vào mức độ tín nhiệm đối với khách hàng
- Cho vay không bảo đảm: là loại cho vay không có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc sự bảo lãnh của bên thứ ba mà chỉ dựa vào sự uy tín của bản thân khách hàng
- Cho vay có bảo đảm: là loại cho vay được ngân hàng cung ứng nhưng phải
có tài sản thế chấp, cầm cố, hoặc phải có sự bảo lãnh của bên thứ ba
Căn cứ vào hình thái giá trị của tín dụng
- Cho vay bằng tiền: là loại cho vay mà hình thái giá trị của tín dụng đượccung cấp bằng tiền Đây là loại cho vay chủ yếu của các ngân hàng và được thựchiện bằng các kỹ thuật như tín dụng ứng trước, thấu chi, tín dụng thời vụ,
- Cho vay bằng tài sản: là hình thức cho vay bằng tài sản rất phổ biến và đa dạng, ví dụ như tài trợ thuê mua
Căn cứ vào phương pháp hoàn trả
- Cho vay trả góp: là loại cho vay mà khách hàng phải hoàn trả vốn gốc và lãi theo định kỳ
- Cho vay hoàn trả theo yêu cầu
Ngoài các loại cho vay trên, ngân hàng còn thực hiện các nghiệp vụ bảo lãnhcho khách hàng bằng uy tín của mình Đối với loại nghiệp vụ này, ngân hàng khôngphải cung cấp tiền, nhưng khi người được bảo lãnh không thực hiện được nghĩa vụ
Trang 23theo hợp đồng thì ngân hàng phải thay thế để thực hiện nghĩa vụ thanh toán Vì thế,nghiệp vụ này còn được gọi là tín dụng bằng chữ ký Tín dụng bằng chữ ký baogồm: tín dụng chấp nhận, tín dụng chứng từ, bảo lãnh của ngân hàng.
1.1.3.3 Nghiệp vụ đầu tư
Ngân hàng tham gia vào đầu tư, mua bán chứng khoán trên thị trường chứngkhoán nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận từ lợi tức chứng khoán và từ chêch lệchthị giá chứng khoán mua bán trên thị trường
Ngoài ra, ngân hàng còn thực hiện hùn vốn, liên doanh qua đó trực tiếp gópvốn vào các doanh nghiệp để thành lập công ty, xí nghiệp mới
1.1.3.4 Nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối
Nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối (KDNH) của NHTM là việc mua bán các loạingoại tệ khác nhau nhằm đảm bảo cân đối các nhu cầu về ngoại tệ cho ngân hàng vàtìm cách thu lợi nhuận thông qua chênh lệch tỷ giá và lãi suất giữa các loại tiền tệkhác nhau
Ngoại hối là hàng hóa mua bán trên thị trường ngoại hối (TTNH), nhưng trênthực tế tại Việt Nam chỉ giao dịch mua bán ngoại tệ, còn các loại hình khác củangoại hối như giấy tờ có giá ghi bằng ngoại tệ và vàng không được giao dịch trựctiếp trên TTNH Chính vì vậy, TTNH Việt Nam được hiểu theo nghĩa hẹp là thịtrường mua bán và kinh doanh ngoại tệ, và nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối tại cácNHTM có thể được hiểu là kinh doanh ngoại tệ
So với các nghiệp vụ kinh doanh khác của NHTM, nghiệp vụ kinh doanhngoại hối có những đặt trưng riêng, đó là :
- Nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối được phân thành hai loại là nghiệp vụ KDNH
sơ cấp (hay còn gọi là nghiệp vụ KDNH gốc) và nghiệp vụ phái sinh ngoại hối
- Nghiệp vụ KDNH là một trong những loại hình kinh doanh chứa đựng nhiềurủi ro nhất, có thể kể đến như rủi ro tỷ giá, rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi rohoạt động,…
Trang 24- Nghiệp vụ KDNH là một nghiệp vụ phức tạp, đặc trưng cho sự phát triển củamột ngân hàng hiện đại Nghiệp vụ này đòi hỏi phải có đầy đủ cơ sở vật chất, cácthiết bị hiện đại, các phương tiện thông tin và hệ thống công nghệ tân tiến mớimang lại hiệu quả kinh doanh cao.
- Nghiệp vụ KDNH là một hoạt động đòi hỏi các nhà kinh doanh cũng như cácgiao dịch viên phải có đủ chuyên môn về nhiều lĩnh vực, phải có những kỹ năngnhất định, phải có trình độ quản lý, tiếp cận thông tin và khả năng nắm bắt thịtrường một cách linh hoạt để theo kịp những biến động tức thời từ thị trường và cácnhân tố ngoại lai khác
Các ngân hàng có thể tham gia mua bán ngoại tệ, huy động vốn ngoại tệ nhằmđáp ứng nhu cầu của đầu tư cho vay cũng như kiếm lời Việc kinh doanh ngoại tệcòn góp phần thúc đẩy trong công tác thanh toán quốc tế, tài trợ cho xuất nhậpkhẩu, v.v…
1.1.3.5 Các hoạt động dịch vụ khác của ngân hàng
- Dịch vụ chuyển tiền: Ngân hàng theo sự uỷ nhiệm của khách hàng sẽ chuyểntiền để đáp ứng nhu cầu chi dùng của họ Có hai phương thức chuyển tiền là chuyểntiền bằng điện và chuyển tiền bằng thư
- Thu chi hộ tiền hàng: là nghiệp vụ ngân hàng sẽ tiến hành trích tiền trên tàikhoản tiền gửi của khách hàng theo lệnh ủy nhiệm chi hoặc ủy nhiệm thu để chuyểntrả tiền hàng hoá, dịch vụ đã nhận hoặc thực hiện thu hộ tiền hàng khi nhận đượcchứng từ khách hàng nhờ thu hộ
- Nghiệp vụ uỷ thác: là nghiệp vụ mà ngân hàng thực hiện theo sự uỷ thác củakhách hàng trong việc quản lý tài sản, chuyển giao tài sản thừa kế, bảo quản chứngkhoán, vàng bạc, giấy tờ có giá để hưởng hoa hồng
- Mua bán hộ: theo sự uỷ nhiệm của khách hàng, ngân hàng thực hiện nghiệp
vụ phát hành hộ trái phiếu hoặc chứng khoán cho các công ty, hoặc phát hành tráiphiếu Chính phủ Thực hiện nghiệp vụ này, ngân hàng có được một khoản thu nhậpdưới hình thức hoa hồng phát hành
Trang 251.2 Nghiệp vụ phái sinh ngoại hối tại Ngân hàng thương mại
1.2.1 Khái niệm nghiệp vụ phái sinh
Công cụ phái sinh là những công cụ tài chính mà giá trị của nó phụ thuộc(hoặc bắt nguồn từ) giá trị của những biến số cơ sở (John Hull, 2009) Ở đây, biến
số cơ sở là những yếu tố (như giá trị, mức độ biến động giá…) của một tài sản cơ sở(underlying asset) được giao dịch trong hợp đồng phái sinh (hay còn gọi là tài sảngốc) Tài sản gốc có thể là bất cứ thứ gì (hàng hóa, cổ phiếu, USD…) Giá trị của tàisản gốc là giá trị của tài sản được giao dịch, giá trị này luôn biến động Như vậy,công cụ phái sinh gắn kết người thực hiện nó với những rủi ro và lợi nhuận của mộttài sản cơ sở nào đó mà họ không cần phải trực tiếp sở hữu tài sản cơ sở đó
Nghiệp vụ tài chính phái sinh là nghiệp vụ sử dụng các công cụ tài chính pháisinh nhằm nhiều mục tiêu khác nhau như phân tán, phòng ngừa rủi ro về lãi suất,chứng khoán, ngoại tệ…; kinh doanh, bảo vệ lợi nhuận hoặc tạo lợi nhuận; lợi dụngchênh lệch giá và đầu cơ
Nghiệp vụ phái sinh ngoại hối (hay còn gọi là nghiệp vụ kinh doanh ngoại hốiphái sinh) là nghiệp vụ mua bán ngoại tệ dựa trên tỷ giá bắt nguồn từ tỷ giá giaongay và mức chênh lệch lãi suất giữa hai đồng tiền chứ không phải hình thành trựctiếp từ quan hệ cung cầu trên thị trường (Nguyễễ̃n Văn Tiến, 2005) Nghiệp vụ pháisinh ngoại hối chính là một loại hình bảo hiểm rủi ro tài chính khi thực hiện các hợpđồng kinh tế mà bản chất là phân tán rủi ro tiềm ẩn và đương nhiên, lợi nhuận củacác giao dịch cùng được chia sẻ cho các bên tham gia
Từ các định nghĩa trên, có thể thấy, nghiệp vụ phái sinh ngoại hối của NHTM
là việc mua bán các loại ngoại tệ khác nhau thông qua các công cụ phái sinh nhằmđảm bảo cân đối về nhu cầu ngoại tệ cho ngân hàng và tìm cách thu lợi nhuận thôngqua chênh lệch tỷ giá và lãi suất giữa các loại tiền tệ khác nhau, đồng thời phòng vệrủi ro cho khách hàng và cho ngân hàng Đây là những công cụ tài chính có thể đemlại lợi nhuận rất cao cho NHTM, nhưng nó cũng chứa đựng nhiều rủi ro, vì khitham gia hoạt động kinh doanh tiền tệ này, ngân hàng sẽ tạo ra trạng thái ngoại tệ
mở và dẫn đến rủi ro về tỷ giá cho ngân hàng (Nguyễễ̃n Thị Loan, 2013)
Trang 261.2.2 Phân loại nghiệp vụ phái sinh
Trên thị trường ngoại hối và tại các ngân hàng thương mại hiện nay có nămnghiệp vụ kinh doanh ngoại hối phổ biến là: giao ngay, kỳ hạn, tương lai, hoán đổi
và quyền chọn, trong đó, nghiệp vụ giao ngay là nghiệp vụ gốc (hay còn gọi lànghiệp vụ sơ cấp), còn các nghiệp vụ khác là phái sinh, tức là được bắt nguồn từnghiệp vụ giao ngay Nghiệp vụ giao ngay được gọi là nghiệp vụ gốc bởi vì tỷ giá
áp dụng cho các hợp đồng giao ngay được hình thành trực tiếp từ quan hệ cung cầutrên thị trường, trong khi đó, bốn nghiệp vụ phái sinh còn lại áp dụng tỷ giá khôngđược hình thành trực tiếp từ quan hệ cung cầu trên thị trường mà được bắt nguồn từ
tỷ giá giao ngay và chênh lệch lãi suất giữa hai đồng tiền Sau đây ta sẽ đi vàonghiên cứu cụ thể từng loại nghiệp vụ phái sinh ngoại hối đó
1.2.2.1 Nghiệp vụ kỳ hạn (Forward)
Hợp đồng kỳ hạn (Forward Contract) là một thỏa thuận mua hoặc bán một tàisản tại một thời điểm ấn định trong tương lai, với mức giá đã được định trước(Eugene F Brigham, Joel F Houston, 2009)
Trong thực tế kinh doanh, ngày giá trị (tức ngày thanh toán) có thể là bất cứkhi nào kể từ ngày ký kết hợp đồng cho đến vài năm sau trong tương lai Ví dụ, đó
có thể là ngày giá trị hôm nay (today value date), ngày mai (tomorrow value date),ngày kia (spot value date), hay kỳ hạn (forward value date) Trong đó, ngày giá trịgiao ngay là quan trọng nhất, nó được xem là cơ sở để xác định các ngày giá trị
khác Căn cứ vào mốc là ngày giá trị giao ngay, ta định nghĩa: “Những giao dịch có ngày giá trị xa hơn ngày giá trị giao ngay được gọi là giao dịch kỳ hạn (Forward Transaction)” (Nguyễễ̃n Văn Tiến, 2008).
Trên thị trường ngoại hối, hợp đồng kỳ hạn được định nghĩa là một giao dịchtrong đó hai bên cam kết sẽ mua hoặc bán một đồng tiền cụ thể với khối lượng xácđịnh, vào một thời điểm xác định trong tương lai, tại mức giá được ấn định ở hiệntại (Jeff Madura, 2006) Tại NHTM, các hợp đồng ngoại hối kỳ hạn được ký kết vàgiao dịch giữa các ngân hàng và khách hàng, hay giữa hai ngân hàng với nhau.Nghiệp vụ giao dịch ngoại hối kỳ hạn là giao dịch trong đó hai bên (Ngân hàng với
Trang 27tổ chức kinh tế hoặc định chế tài chính khác) cam kết mua, bán với nhau một sốlượng ngoại tệ theo một tỷ giá cụ thể được xác định vào thời điểm cam kết mua bán
và việc thanh toán sẽ được thực hiện vào thời điểm xác định trong tương lai
Ngày nay, giao dịch kỳ hạn đã phát triển mạnh mẽ và đóng vai trò quan trọngtrên thị trường ngoại hối Giao dịch kỳ hạn rất hiệu quả trong việc phòng ngừa rủi
ro tỷ giá hối đoái đối với công ty khi tham gia xuất nhập khẩu, vay nợ nước ngoàihay thực hiện đầu tư nước ngoài Thị trường kỳ hạn còn là nơi hoạt động tích cựccủa các nhà đầu cơ để kiếm lời
Thị trường ngoại hối kỳ hạn có liên quan chặt chẽ với thị trường giao ngay.Hai thị trường này có những đặc điểm chung về: phạm vi nhân sự tham dự và tổchức thị trường, kỹ thuật ký kết các hợp đồng, đồng USD được chấp nhận là đồngtiền quy đổi, là đơn vị hạch toán Tuy nhiên, hai thị trường này cũng có những đặctính khác nhau và chúng bị tách ra độc lập do thời hạn thực hiện hợp đồng khácnhau Điểm khác biệt sâu sắc nhất giữa chúng thể hiện ở chỗ, trên thị trường kỳ hạn
tỷ giá giao dịch ít phụ thuộc vào mức độ cung cầu thời hạn, mà phụ thuộc lớn vàomức chênh lệch lãi suất giữa hai đồng tiền giao dịch
Trang 28Bảng 1.2: Công thức xác định tỷ giá kỳ hạn
Theo lãi kép:
F =S x
(1+R T t ) (1+ R C t)
Theo dạng phân tích từ công thức trên:
Tỷ giá kỳ hạn = Tỷ giá giao ngay + Điểm kỳ hạn
F =S +P=S x
Điểm kỳ hạn: P = S
Trong đó:
- Nếu R T > R C : Điểm kỳ hạn > 0 được gọi là mức điểm kỳ hạn gia tăng
- Nếu R T < R C : Điểm kỳ hạn < 0 được gọi là điểm kỳ hạn khấu trừ
Nguồn: Nguyễn Văn Tiến, 2011
- Kỳ hạn hợp đồng ngoại hối kỳ hạn thường là bội số của 30 ngày: 1; 2; 3; 4;
5; 6; 9; 12 tháng Tuy nhiên, hai bên có thể thỏa thuận các kỳ hạn lẻ hay kỳ hạn
nhiều hơn 1 năm Thông thường kỳ hạn tối thiểu của hợp đồng kỳ hạn đối với các
cá nhân và doanh nghiệp (khách hàng bán lẻ) là 1 tháng, và từ 7 đến 15 ngày đối
với thị trường liên ngân hàng Ngoài ra cũng có một số ít hợp đồng với thời hạn
không phải là bội số của 30 ngày nhưng loại hợp đồng này thường khó thỏa thuận
hơn loại hợp đồng có thời hạn là bội số của 30 ngày
Đối với hợp đồng mua kỳ hạn, người mua sẽ có lãi khi mà giá giao ngay khi đáo
hạn lớn hơn mức giá đã ký kết trong hợp đồng đúng một khoản bằng mức chênh lệch
giữa hai loại giá đó trừ đi phí thực hiện hợp đồng Ngược lại, đối với hợp đồng bán kỳ
hạn, nếu giá giao ngay khi đáo hạn lớn hơn giá trong hợp đồng thì người mua sẽ bị lỗ
bằng với mức chênh lệch giữa hai mức giá cộng với phí thực hiện hợp đồng
Các ứng dụng của giao dịch ngoại hối kỳ hạn
- Bảo hiểm rủi ro tỷ giá
Trang 29Hợp đồng kỳ hạn được sử dụng phổ biến để bảo hiểm rủi ro tỷ giá trong kinhdoanh quốc tế Nếu doanh nghiệp có một khoản phải thu, một tài sản hay một thunhập trong tương lai định giá bằng ngoại tệ (gọi tắt là tài sản định giá bằng ngoạitệ), giá ngoại tệ đang có xu hướng giảm xuống, doanh nghiệp có thể bảo hiểm rủi ronày bằng cách tạo ra một tình trạng đóng (offsetting) cho tài sản này thông qua thịtrường kỳ hạn Cụ thể là doanh nghiệp sẽ bán kỳ hạn tài sản này Do tỷ giá trên hợpđồng kỳ hạn được xác định vào ngày ký kết hợp đồng nên dù tỷ giá hối đoái trên thịtrường giao ngay thay đổi như thế nào, giá trị của tài sản tính bằng đồng bản tệ vẫnkhông thay đổi Ngược lại, nếu doanh nghiệp có một khoản nợ định giá bằng ngoại
tệ, doanh nghiệp sẽ mua kỳ hạn ngoại tệ để tạo ra một trạng thái đóng bằng đồngbản tệ cho khoản nợ của mình Nếu sự biến động của tỷ giá giao ngay đúng như dựđoán của doanh nghiệp, doanh nghiệp đã bảo hiểm được cho tài sản (nợ) của mình.Nếu ngược lại, sự thiệt hại trên hợp đồng kỳ hạn được xem như là chi phí bảo hiểm
- Đầu cơ
Hoạt động đầu cơ không thể thiếu được trong kinh doanh tiền tệ và là một yếu
tố giúp làm tăng tính thanh khoản của thị trường ngoại hối Ở các quốc gia có thịtrường ngoại hối kém phát triển, chưa đủ điều kiện để áp dụng các nghiệp vụ phứctạp như tương lai hay quyền chọn, ban đầu có thể thực hiện đầu cơ thông quanghiệp vụ kỳ hạn Việc đầu cơ có thể được tiến hành như sau: Nếu một nhà đầu tưcho rằng tỷ giá kỳ hạn trong tương lai sẽ tăng, họ sẽ mua một hợp đồng kỳ hạn với
tỷ giá cố định thỏa thuận ngày hôm nay Đến ngày hợp đồng đáo hạn, nếu tỷ giágiao ngay cao hơn tỷ giá kỳ hạn của hợp đồng có nghĩa là nhà đầu tư đã mua rẻ hơngiá thị trường tại thời điểm đó, như vậy là anh ta có lãi
- Kinh doanh chênh lệch lãi suất có bảo hiểm rủi ro tỷ giá
Nhược điểm của giao dịch kỳ hạn
Giao dịch ngoại tệ kỳ hạn thỏa mãn nhu cầu mua bán ngoại tệ của khách hàng
mà việc chuyển giao ngoại tệ được thực hiện trong tương lai Tuy nhiên, do giaodịch kỳ hạn là giao dịch bắt buộc nên khi đến ngày đáo hạn dù bất lợi hai bên vẫnphải thực hiện hợp đồng
Trang 30Một điểm hạn chế nữa là hợp đồng kỳ hạn chỉ đáp ứng được nhu cầu khi nàokhách hàng mua hoặc bán ngoại tệ trong tương lai còn ở hiện tại không có nhu cầumua hoặc bán ngoại tệ Đôi khi trên thực tế khách hàng vừa có nhu cầu mua hoặcbán ngoại tệ ở hiện tại đồng thời vừa có nhu cầu mua hoặc bán ngoại tệ ở tương lai.
1.2.2.2 Nghiệp vụ tương lai (Future)
Hợp đồng tương lai (Future Contract) là một thỏa ước pháp lý giữa một bên làngười mua (hoặc bán) và một bên là sở giao dịch hoặc một trung tâm thanh toán(Clearing House) về việc giao và nhận một khối lượng tài sản xác định tại một thờiđiểm nhất định trong tương lai với một mức giá đã được ấn định sẵn (Jeff Madura,2006) Về bản chất, giao dịch tương lai chính là một giao dịch kỳ hạn được thựchiện tại Sở giao dịch và đối tượng giao dịch là các hợp đồng đã được tiêu chuẩn hóa
về loại, số lượng các đơn vị tài sản cơ sở, phương thức và thời gian thanh toán…
Từ định nghĩa trên, có thể nói giao dịch ngoại hối tương lai (hay còn gọi làgiao dịch ngoại hối giao sau) là một thỏa thuận giữa hai đối tác mua bán một sốlượng tiền ngoại tệ định sẵn vào thời điểm hợp đồng được ký kết và ngày giao hàngđược ấn định sẵn trong tương lai được thực hiện tại sở giao dịch Thực chất của giaodịch ngoại hối giao sau chính là giao dịch có kỳ hạn nhưng được chuẩn hoá về: Loạingoại tệ giao dịch, thời hạn giao dịch và trị giá hợp đồng
Tại Việt Nam, nghiệp vụ giao dịch ngoại hối tương lai hiện vẫn chưa được cácNHTM sử dụng như các nghiệp vụ phái sinh khác trong mục đích phòng vệ Tuynhiên, sau khi Việt Nam trở thành thành viên thứ 150 của WTO, dịch vụ ngân hàng
đã được cam kết mở cửa cho các ngân hàng nước ngoài, đồng thời xuất phát từ yêucầu của các NHTM trong nước, các doanh nghiệp về nâng cao hiệu quả kinh doanh
và phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh, loại hình giao dịch này sẽ sớm được đưa vàothực hiện Nhận thức về giao dịch tương lai đã rõ ràng hơn, trình độ của các nhàkinh doanh được nâng lên, cơ sở hạ tầng công nghệ và pháp lý cho giao dịch tươnglai đang được hoàn thiện và mức độ hiệu quả của giao dịch tương lai đã được khẳngđịnh là cơ sở để đưa giao dịch tương lai vào thực hiện (Trần Văn Hòe, 2009)
Trang 31Đặc điểm
Hợp đồng tương lai là hợp đồng được tiêu chuẩn hóa, chỉ có giá là được thỏathuận, mỗi hợp đồng đều được quy định một số lượng hàng hóa nhất định (contractsize), ngày giao hàng và nơi giao hàng được ấn định cụ thể trên thị trường, không
có sự đàm phán giữa hai bên tham gia vào hợp đồng
Hợp đồng tương lai được giao dịch trên các thị trường tương lai (sàn của Sởgiao dịch): người mua và người bán đặt lệnh (place order) thông qua nhà môi giới(broker) hay các thành viên của sàn giao dịch (exchange members) Giá của một sốlượng nhất định hợp đồng tương lai được xác định qua phương pháp đấu giá côngkhai (open outery), phản ánh mức cân bằng trạng thái Long và Short trên thị trường.Khả năng bị phá vỡ hợp đồng trong hợp đồng tương lai thấp hơn nhiều so vớihợp đồng kỳ hạn, thậm chí nó còn bằng không Các trung tâm thanh toán bù trừ(Clearing House) sẽ đóng vai trò như là một bên trung gian cho cả người bán vàngười mua Nghĩa là, nếu bên A muốn mua một hợp đồng tương lai, anh ta có thểmua nó từ trung tâm thanh toán bù trừ; nếu bên B muốn bán một hợp đồng tươnglai, anh ta có thể bán nó cho trung tâm thanh toán bù trừ Trung tâm thanh toán bùtrừ là một bên trong hợp đồng tương lai, nó luôn công bằng cho cả người bán vàngười mua theo những quy tắc đã được đặt ra
Chỉ khoảng từ 1-5% số hợp đồng tương lai trên thị trường thực sự được giao dịch(tức là diễễ̃n ra việc giao hàng giữa hai bên), còn lại hầu như chỉ diễễ̃n ra việc thanh toánlãi lỗ giữa các bên Hợp đồng tương lai được tái thanh toán hàng ngày, và được ấnđịnh, ghi nhận trên thị trường, nên các khoản lời lỗ được nhận biết hàng ngày
Yêu cầu về ký quỹ (margin requirement): đây là yêu cầu mà người đặt lệnhphải ký quỹ một số tiền ban đầu (intial margin) theo tỷ lệ ký quỹ nhất định vào tàikhoản ký quỹ trước khi tiến hành giao dịch và phải duy trì một số dư tối thiểu trong
kỳ hạn hợp đồng (maintance margin)
Để phân biệt giữa hai loại hợp đồng kỳ hạn và hợp đồng tương lai, ta có thểtheo dõi trong bảng sau:
Trang 32Bảng 1.3: So sánh giữa hợp đồng kỳ hạn và hợp đồng tương lai
Phải thanh toán lúc đáoCó thể đóng vị thế mua hoặc
Yêu cầu ký quỹ
Nguồn: Lưu Thu Hương, Đại học Duy Tân, 2013
Các ứng dụng của giao dịch ngoại hối tương lai
Phòng ngừa rủi ro tỷ giá
Cũng giống như hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai cũng được xem là một công cụ phòng ngừa rủi ro tỷ giá hiệu quả Với hợp đồng tương lai, người mua phòng
Trang 33ngừa được các rủi ro tỷ giá một cách hiệu quả hơn, đặc biệt là loại bỏ hoàn toànđược rủi ro đối tác nhờ vào tài khoản ký quỹ Người ta thường tiến hành nghiệp vụnày để phòng ngừa rủi ro khi cần mua bán một số lượng ngoại tệ nhất định, vào mộtthời điểm cố định trong tương lai phù hợp với tiêu chuẩn của Sở giao dịch.
Công cụ để đầu cơ
So với công dụng phòng ngừa rủi ro tỷ giá thì công dụng thứ hai này của hợpđồng tương lai có xu hướng được các nhà đầu cơ ưa chuộng hơn bởi vì:
- Các khoản lãi phát sinh từ hợp đồng tương lai nhận được trong ngày, có nghĩa là chốt lãi và cắt lỗ được nhanh chóng
- Chi phí giao dịch thấp hơn nhiều so với hợp đồng kỳ hạn
- Hợp đồng tương lai không đòi hỏi người tham gia phải thực hiện giao dịchvào ngày đáo hạn, mà họ có thể thanh lý nó vào bất cứ thời điểm nào mà họ chorằng có lợi nhất Và không phải mất thời gian cho việc giao hàng vì mục đích chínhcủa họ là đầu tư kiếm lời chứ không nhằm giao dịch và nhận hàng hóa thực sự
Hợp đồng tương lai còn là công cụ để các nhà đầu tư nhận biết được tín hiệu tỷ giá trong tương lai
Giá của hợp đồng tương lai phán ánh dự đoán của thị trường về giá giao ngaytrong tương lai Trong một thị trường hiệu quả thì giá tương lai sẽ tiến tới xấp xỉ vớigiá giao ngay tại thời điểm đáo hạn Vì thế, giá tương lai sẽ giúp các nhà sản xuất cóđược những quyết định đúng đắn trong việc phân bổ nguồn lực
Nhược điểm của giao dịch tương lai
Rủi ro tỷ giá không được triệt tiêu một cách hoàn toàn bởi các khoản lãi từ tàikhoản ký quỹ không phải lúc nào cũng đủ bù đắp cho sự tăng giá giao ngay mộtcách hoàn hảo Đây gọi là rủi ro điều chỉnh giá trị hợp đồng theo điều kiện thịtrường Nếu xét theo góc độ này thì hợp đồng tương lai có độ rủi ro cao hơn so vớihợp đồng kỳ hạn
Do số lượng, thời gian và địa điểm trong mỗi hợp đồng tương lai là cố địnhnên việc sử dụng hợp đồng tương lai làm công cụ phòng ngừa rủi ro bị cản trở vì
Trang 34nhiều khi nhu cầu của doanh nghiệp về số lượng hay thời gian không khớp với quyđịnh trên hợp đồng.
1.2.2.3 Nghiệp vụ hoán đổi (Swap)
Để khắc phục những hạn chế của các giao dịch kỳ hạn về thời gian thực hiệngiao dịch, các ngân hàng đã cung cấp các hợp đồng hoán đổi cho phép các nhà kinhdoanh dễễ̃ dàng luân chuyển trạng thái tiền tệ, kéo dài hoặc rút ngắn thời hạn hợpđồng kỳ hạn cho phù hợp với nhu cầu thu chi ngoại tệ hoặc cung cầu vốn thực tếtrong kinh doanh
Hợp đồng hoán đổi (Swaps contract) là một thỏa thuận trong đó hai bên đồng
ý thực hiện các thanh toán định kỳ Hợp đồng hoán đổi có hai loại chính là hợp đồng hoán đổi lãi suất và hợp đồng hoán đổi ngoại hối
Trong đó, hợp đồng hoán đổi ngoại hối là hợp đồng diễễ̃n ra việc đồng thời muavào và bán ra một tiền tệ nhất định đối với mỗi bên, trong đó ngày giá trị mua vào vàngày giá trị bán ra là khác nhau Hợp đồng hoán đổi tiền tệ là loại hợp đồng hoán đổingoại hối có thời hạn dài (thường từ vài năm trở lên) và lãi suất phát sinh được thanhtoán định kỳ trong thời gian hiệu lực của hợp đồng, khoản gốc chỉ được hoán đổi khihợp đồng đáo hạn (David A.Dubofsky và Thomas W.Miller, 2003) Sự khác nhau giữahai loại hợp đồng này là: trong hợp đồng hoán đổi ngoại hối, gốc và lãi được thanhtoán một lần tại thời điểm hợp đồng đến hạn, còn trong hợp đồng hoán đổi tiền tệ, lãiđược thanh toán định kỳ còn gốc được thanh toán một lần tại thời điểm hợp đồng đếnhạn Ngoài ra, hợp đồng hoán đổi ngoại hối được giao dịch trên FOREX, còn hợp đồnghoán đổi tiền tệ được giao dịch trên thị trường hoán đổi (Swap Market)
Tại các NHTM, nghiệp vụ giao dịch ngoại hối hoán đổi là giao dịch đồng thờimua và bán cùng một lượng ngoại tệ (chỉ có hai đồng tiền được sử dụng trong giaodịch), trong đó kỳ hạn thanh toán của hai giao dịch là khác nhau và tỷ giá của hai giaodịch được xác định tại thời điểm ký kết hợp đồng Giao dịch hoán đổi ngoại hối có thểthực hiện trên thị trường liên ngân hàng hoặc giữa ngân hàng với một khách hàng (cánhân hoặc doanh nghiệp) Giao dịch hoán đổi ngoại tệ điển hình nhất là hoán đổi giaongay với có kỳ hạn (Spot againt forward) (Trần Văn Hòe, 2009)
Trang 35Đặc điểm
Phân loại: Hợp đồng hoán đổi ngoại hối gồm hai loại:
- Spot – Forward Swap: gồm một giao dịch giao ngay và một giao dịch kỳ hạn
- Forward – Forward Swap: gồm hai giao dịch đều là giao dịch kỳ hạn được
ký kết đồng thời tại ngày hôm nay nhưng có ngày giá trị khác nhau
Còn một cách phân loại khác là hoán đổi đồng nhất (Pure Swap) và hoán đổi ghép (Engineered Swap):
- Hoán đổi đồng nhất là giao dịch trong đó vế giao ngay và vế kỳ hạn thuộc một hợp đồng hoán đổi
- Hoán đổi ghép là giao dịch trong đó vế giao ngay và vế kỳ hạn thuộc hai hợp đồng độc lập
Tỷ giá hoán đổi: Là tỷ giá được yết trong giao dịch nghiệp vụ hoán đổi và
thường được yết là số điểm kỳ hạn (swap/forward rate/points), phản ánh mức chênhlệch lãi suất của hai đồng tiền tham gia giao dịch
Tỷ giá giao ngay trong giao dịch hoán đổi thường được ngân hàng yết giá quyđịnh và thường là tỷ giá trung bình giữa tỷ giá mua vào và tỷ giá bán ra
Tỷ giá kỳ hạn hoán đổi mua vào = Tỷ giá giao ngay trung bình + Điểm kỳ hạn mua vào
Tỷ giá kỳ hạn hoán đổi bán ra = Tỷ giá giao ngay trung bình + Điểm kỳ hạn bán ra
Các ứng dụng của giao dịch hoán đổi
- Phòng ngừa rủi ro hối đoái
Nếu không sử dụng nghiệp vụ hoán đổi, các doanh nghiệp tham gia thị trườngngoại hối buộc phải mua hoặc bán các loại ngoại tệ để có được loại tiền tệ đáp ứngnhu cầu kinh doanh và do đó phải gánh chịu hai khoản thiệt hại là chênh lệch giámua, giá bán và khi cần lại loại ngoại tệ ban đầu lại phải tiếp tục bán mua trên thịtrường Nghiệp vụ hoán đổi sẽ cho phép tránh được thiệt hại này do các bên thamgia sẽ cho phép tránh được thiệt hại là chênh lệch giá mua, giá bán và khi cần lạiloại ngoại tệ ban đầu lại phải tiếp tục bán mua trên thị trường
Trang 36- Kiểm soát nguồn vốn khả dụng.
- Kéo dài thời hạn trạng thái ngoại hối
- Kinh doanh chênh lệch lãi suất có bảo hiểm rủi ro tỷ giá
Nếu tỷ giá hoán đổi không nhất quán với tỷ giá giao ngay và lãi suất trên thị
trường thì có thể tận dụng giao dịch hoán đổi để kinh doanh chênh lệch lãi suất mà
không chịu rủi ro
Bảng 1.4: So sánh giữa hợp đồng hoán đổi và hợp đồng kỳ hạn
Tiêu chí
Là hợp đồng mua hay bán
khoản thời gian nhất định
Sử dụng để đáp ứng nhu cầumua hay bán ngoại tệ trong
rủi ro tỷ giá
Nguồn: Lưu Thu Hương, Đại học Duy Tân,
2013 1.2.2.4 Nghiệp vụ quyền chọn (Option)
Như đã đề cập ở trên, các hợp đồng kỳ hạn, tương lai và hoán đổi luôn phải
được thực hiện hoặc thanh lý khi trước hoặc tại thời điểm hợp đồng đến hạn nên đôi
khi nó đánh mất cơ hội kinh doanh nếu như giá cả biến động thuận lợi Để khắc
phục nhược điểm này, hợp đồng quyền chọn đã ra đời
Hợp đồng quyền chọn (Options Contract) là một thỏa thuận trong đó người
bán hợp đồng cho phép người mua có quyền, nhưng không có nghĩa vụ, mua từ
hoặc bán cho người bán hợp đồng một tài sản tại một mức giá nhất định trong một
khoảng thời gian hoặc tại một thời điểm (Jeff Mandura, 2006)
Trang 37Hợp đồng quyền chọn ngoại hối là một công cụ tài chính, cho phép người muahợp đồng có quyền (chứ không phải nghĩa vụ), mua hoặc bán một đồng tiền này vớimột đồng tiền khác tại tỷ giá cố định đã thỏa thuận trước tại một thời gian nhất địnhtrong tương lai (Nguyễễ̃n Văn Tiến, 2008).
Người mua hợp đồng quyền chọn có quyền quyết định thực hiện hay không thựchiện “quyền chọn” của mình Người bán hợp đồng quyền chọn phải thực hiện nghĩa vụhợp đồng nếu người mua yêu cầu Bởi vì quyền chọn là một loại tài sản tài chính nên
nó có giá trị và người mua phải trả một khoản chi phí nhất định khi mua nó
Tại Việt Nam, NHNN đã ban hành quyết định 1452/2004/QĐ-NHNN (ngày10/11/2004) “không cho phép các TCTD mua quyền chọn từ các tổ chức kinh tế, tổchức khác và cá nhân” và công văn 1820/NHNN-QLNH (ngày 18/03/2009) quyđịnh "Các tổ chức tín dụng không được phép cung cấp sản phẩm quyền chọn VND
và ngoại tệ kể từ ngày 23/03/2009" cho nên có thể nói, nghiệp vụ quyền chọn ngoạihối tại các NHTM Việt Nam là giao dịch diễễ̃n ra giữa bên bán quyền chọn là Ngânhàng và bên mua quyền chọn là khách hàng về việc mua bán hai loại ngoại tệ khácnhau (không liên quan đến VND)
Phân loại
Căn cứ vào đặc điểm giao dịch: có hai loại hợp đồng quyền chọn như sau:
Hợp đồng quyền chọn mua tiền tệ (Call option) là thỏa thuận cho phép ngườimua hợp đồng có quyền (chứ không phải nghĩa vụ) mua một tiền tệ (mua tiền tệ yếtgiá) tại một tỷ giá cố định đã thỏa thuận trước trong một khoảng thời gian nhất định.Hợp đồng quyền chọn bán tiền tệ (Put option) là thỏa thuận cho phép ngườimua hợp đồng có quyền (chứ không phải nghĩa vụ) bán một tiền tệ (bán tiền tệ yếtgiá) tại một tỷ giá cố định đã thỏa thuận trước trong một khoảng thời gian nhất định
Căn cứ vào thời điểm thanh toán: có hai hình thức của hợp đồng quyền chọn
là hợp đồng quyền chọn kiểu Mỹ và hợp đồng quyền chọn kiểu châu Âu
Hợp đồng quyền chọn kiểu Châu Âu (European option) là hợp đồng chỉ cho phépthực hiện giao dịch tại thời điểm đáo hạn Việc thanh toán thực tế xảy ra sau khi hợp
Trang 38đồng đến hạn tự một đến hai ngày làm việc giống như trường hợp ngày giá trị trong cácgiao dịch giao ngay Mục đích chính của loại hợp đồng này là để phòng ngừa rủi ro.Hợp đồng quyền chọn kiểu Mỹ (American option) là hợp đồng cho phép thựchiện quyền chọn vào ngày làm việc trong thời gian hiệu lực của hợp đồng và trước khihợp đồng đáo hạn Việc thanh toán thực tế xảy ra sau khi tiến hành quyền chọn từ mộtđến hai ngày làm việc giống như trường hợp ngày giá trị trong các giao dịch giao ngay.Mục đích chính của hợp đồng quyền chọn kiểu này là nhằm đầu cơ tỷ giá.
Đặc điểm
Hợp đồng quyền chọn được giao dịch tại Sở giao dịch hoặc trên thị trường phitập trung OTC, cho nên hợp đồng có thể được chuẩn hóa hoặc được thiết kế riêngcho phù hợp với các bên trong hợp đồng
Người mua hợp đồng quyền chọn không bị bắt buộc phải thực hiện nó nhưng bắtbuộc phải trả một khoản tiền cho người bán hợp đồng quyền chọn để có được quyềnchọn, đó được gọi là phí quyền chọn Phí quyền chọn, chính là giá của hợp đồng quyềnchọn, phải là lượng tiền hợp lý, sao cho đủ bù đắp rủi ro xét từ góc độ người bán vàkhông quá đắt xét từ góc độ người mua Nếu hợp đồng đáo hạn mà không xảy ra giaodịch, thì chỉ có một dòng tiền duy nhất dịch chuyển, đó là khoản phí quyền chọn màngười mua trả cho người bán Phí quyền chọn là khoản tiền không truy đòi và thôngthường được thanh toán một lần tại thời điểm ký kết hợp đồng
Thời hạn hợp đồng quyền chọn cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến phí quyềnchọn bởi vì thời hạn hợp đồng càng dài, ảnh hưởng của yếu tố chênh lệch lãi suấtcàng lớn và xác suất thay đổi đến tỷ giá càng cao
Mục đích chính của hợp đồng quyền chọn là nhằm phòng ngừa rủi ro bất cânxứng thông tin hoặc đầu cơ, kinh doanh chênh lệch giá
Ứng dụng
- Một quyền chọn có thể mang lại lợi nhuận cho người nắm giữ khi thực hiện hợp đồng với tỷ giá hiện thời thì được gọi là sinh lời (in the money)
Trang 39- Một quyền chọn không có khả năng mang lại lợi nhuận cho người nắm giữ khi thực hiện hợp đồng với tỷ giá hiện thời thì được gọi là lỗ vốn (out of the money).
- Một quyền chọn không đem lại lợi nhuận nhưng cũng không đem lại khoản
lỗ cho người nắm giữ khi thực hiện hợp đồng được gọi là hòa vốn (at the money)
Cụ thể: Gọi E là tỷ giá thực hiện (niêm yết trực tiếp), St là tỷ giá giao ngay, ta có:
Đối với Quyền chọn Mua (Call option)
- Khi St > E: Hợp đồng ở trạng thái In the money
- Khi St = E: Hợp đồng ở trạng thái At the money
- Khi St < E: Hợp đồng ở trạng thái Out of the
money Đối với Quyền chọn Bán (Put option)
- Khi St > E: Hợp đồng ở trạng thái Out of the money
- Khi St = E: Hợp đồng ở trạng thái At the money
- Khi St < E: Hợp đồng ở trạng thái In of the money
Khi hợp đồng ở trạng thái In the money, nhà đầu tư nên thực hiện hợp đồng vàngược lại khi ở trạng thái Out of the money, nhà đầu tư không nên thực hiện hợp đồng.Đối với trường hợp hợp đồng ở trạng thái At the money, nhà đầu tư có thể thực hiệnhoặc không thực hiện hợp đồng, nhưng thông thường nhà đầu tư sẽ thực hiện vì như thế
sẽ giảm thời gian giao dịch so với việc mua ngoại tệ giao ngay trên thị trường
1.3 Phát triển nghiệp vụ phái sinh ngoại hối tại Ngân hàng thương mại
Trong xu thế toàn cầu hóa, quốc tế hóa, xu hướng hội nhập nền kinh tế thế giớimột cách rộng rãi, các NHTM cũng như các doanh nghiệp có nhiều cơ hội thực hiệncác giao dịch tài chính hết sức đa dạng để nâng cao khả năng cạnh tranh, tối đa hóalợi nhuận Nhưng mặt khác, họ phải đối diện với rất nhiều rủi ro về các vấn đề nhưlãi suất, diễễ̃n biến thị trường tiền tệ và đặc biệt là các rủi ro do biến động của tỷ giáhối đoái Vấn đề đặt ra cho TTNH nói chung và các NHTM nói riêng là phải đưavào sử dụng rộng rãi và hoàn thiện các nghiệp vụ phái sinh ngoại hối để đáp ứng kịpthời với nhu cầu bảo hiểm rủi ro tỷ giá, kinh doanh kiếm lời của các ngân hàng, cácdoanh nghiệp cũng như nhiều thành viên khác tham gia vào thị trường ngoại hối
Trang 401.3.1 Khái niệm phát triển nghiệp vụ phái sinh ngoại hối tại NHTM
Trước hết cần làm rõ khái niệm “phát triển”, phát triển là phạm trù triết học kháiquát quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoànthiện đến hoàn thiện Như vậy, sự phát triển là quá trình không ngừng gia tăng về trình
độ, về kết cấu phức tạp của sự vật và do đó làm nảy sinh những quy định mới cao hơn
về chất, hay nói cách khác chính là sự gia tăng cả về chiều rộng và chiều sâu
Căn cứ theo khái niệm về phát triển, có thể nói phát triển nghiệp vụ phái sinhngoại hối tại NHTM cũng đi vào hai hướng chính là phát triển theo chiều rộng vàtheo chiều sâu của nghiệp vụ phái sinh ngoại hối, hay nói cách khác chính là sự giatăng việc triển khai, sử dụng, mở rộng và hoàn thiện các nghiệp vụ phái sinh ngoạihối cả về số lượng và chất lượng
Phát triển nghiệp vụ phái sinh ngoại hối về số lượng được hiểu là việc gia tăng và
sử dụng các sản phẩm phái sinh trong hoạt động KDNH và phòng ngừa rủi ro củaNHTM Phát triển nghiệp vụ phái sinh ngoại hối về chất lượng bao gồm: điều kiện giaodịch thuận lợi, giá cả ưu đãi, tạo thêm nhiều tiện ích, đơn giản quy trình nghiệp vụ, cơchế thực hiện linh hoạt, phong cách phục vụ chuyên nghiệp Ngoài ra, NHTM có thểkết hợp sản phẩm phái sinh ngoại hối với các sản phầm dịch vụ khác như cho vay, bảohiểm tỷ giá, lãi suất tạo tiện ích cho khách hàng Bên cạnh việc đa dạng danh mục sảnphẩm phái sinh ngoại hối, ngân hàng cần tuyên truyền, hướng dẫn và tư vấn kháchhàng về nội dung, tác dụng và cách thức sử dụng các sản phẩm phái sinh ngoại hối
Nhìn chung, phát triển nghiệp vụ phái sinh ngoại hối tại NHTM là việcNHTM mở rộng triển khai và thực hiện các nghiệp vụ phái sinh ngoại hối nhằmđảm bảo cân đối các nhu cầu về ngoại hối của ngân hàng và tìm cách thu lợi nhuậntrực tiếp thông qua chênh lệch về tỷ giá và lãi suất giữa các đồng tiền khác nhautrên cơ sở kiểm soát rủi ro và phục vụ chiến lược kinh doanh của ngân hàng
1.3.2 Điều kiện để phát triển nghiệp vụ phái sinh ngoại hối tại NHTM
Thực tế, để ứng dụng và phát triển công cụ phái sinh tại các NHTM Việt Namcần phải có các điều kiện sau:
Thứ nhất, về các nhân tố khách quan