1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Nghiên cứu đề xuất các giải pháp đa lợi ích sử dụng bền vững các hồ nước, sông ngòi thuộc khu vực ngoại thành hà nội (phía nam và phía bắc sông hồng)

28 46 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 863,56 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngoài các hồ nước tự nhiên được hình thành do các hoạt động nội hoặc ngoại sinh, đặc biệt là các hồ nước ở đồng bằng châu thổ do biến đổi dòng chảy, trong quá trình phát triển, con người

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KẾT QUẢ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI KH&CN

CẤP ĐẠI HỌC QUỐC GIA

Tên đề tài: NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP ĐA LỢI ÍCH SỬ DỤNG BỀN VỮNG CÁC HỒ NƯỚC, SÔNG NGÒI THUỘC KHU VỰC NGOẠI THÀNH HÀ NỘI

(PHÍA NAM VÀ PHÍA BẮC SÔNG HỒNG)

Mã số đề tài: QGTĐ.12.05 Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS Đặng Văn Bào

Hà Nội, 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KẾT QUẢ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI KH&CN

CẤP ĐẠI HỌC QUỐC GIA

Tên đề tài: NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP ĐA LỢI ÍCH SỬ DỤNG BỀN VỮNG CÁC HỒ NƯỚC, SÔNG NGÒI THUỘC KHU VỰC NGOẠI THÀNH HÀ NỘI

(PHÍA NAM VÀ PHÍA BẮC SÔNG HỒNG)

Mã số đề tài: QGTĐ.12.05 Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS Đặng Văn Bào

CÁC CÁN BỘ THAM GIA

PGS.TS Nguyễn Hiệu PGS.TS Tạ Hòa Phương PGS.TS Trần Ngọc Anh PGS.TS Lê Văn Thiện

TS Nguyễn An Thịnh

TS Trần Thanh Hà

TS Vũ Kim Chi NCS Nguyễn Văn Thảo ThS Nguyễn Quang Anh ThS Đặng Kinh Bắc ThS Phan Thị Thanh Hải ThS Giang Tuấn Linh

Hà Nội - 2014

Trang 3

PHẦN I THÔNG TIN CHUNG

1.1 Tên đề tài: Nghiên cứu đề xuất các giải pháp đa lợi ích sử dụng bền vững các hồ

nước, sông ngòi thuộc khu vực ngoại thành Hà Nội (phía Nam và phía Bắc sông Hồng)

1.2 Mã số: QGTĐ.12.05

1.3 Danh sách chủ nhiệm, thành viên tham gia thực hiện đề tài

1 PGS.TS Đặng Văn Bào Khoa Địa lý, Trường ĐH KHTN Chủ trì đề tài

2 PGS.TS Nguyễn Hiệu Khoa Địa lý, Trường ĐH KHTN Thư ký đề tài

3 PGS.TS Tạ Hòa Phương Trường ĐH KHTN Khoa Địa chất, Thành viên tham gia

4 PGS.TS Trần Ngọc Anh Khoa KT-TV-HDH, Trường ĐH KHTN Thành viên tham gia

5 PGS.TS Lê Văn Thiện Trường ĐH KHTN Khoa Môi trường, Thành viên tham gia

6 TS Vũ Kim Chi Viện Việt Nam học và KHPT Thành viên tham gia

7 TS Nguyễn An Thịnh Khoa Địa lý, Trường ĐH KHTN Thành viên tham gia

8 TS Trần Thanh Hà Viện Việt Nam học và KHPT Thành viên tham gia

9 ThS Phan Thị Thanh Hải Trung tâm Nghiên cứu đô thị, ĐHQGHN Thành viên tham gia

10 ThS Đặng Kinh Bắc Khoa Địa lý, Trường

11 ThS Giang Tuấn Linh nghiệp nhiệt đới quốc Trung tâm nông

tế

Thành viên tham gia

12 NCS Nguyễn Văn Thảo Viện Tài nguyên và môi trường biển Thành viên tham gia

1.4 Đơn vị chủ trì: Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, ĐHQGHN

1.5 Thời gian thực hiện:

5.1 Theo hợp đồng: 24 tháng, từ tháng 10 năm 2012 đến tháng 10 năm 2014

5.2 Gia hạn (nếu có): đến tháng… năm…

5.3 Thực hiện thực tế: 24 tháng, từ tháng 10 năm 2012 đến tháng 10 năm 2014

1.6 Những thay đổi so với thuyết minh ban đầu (nếu có):

Không thay đổi

1.7 Tổng kinh phí được phê duyệt của đề tài: 450 triệu đồng

Trang 4

PHẦN II TỔNG QUAN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Viết theo cấu trúc một bài báo khoa học tổng quan từ 6-15 trang (báo cáo này sẽ được đăng trên tạp chí khoa học ĐHQGHN sau khi đề tài được nghiệm thu), nội dung gồm các phần:

1 Đặt vấn đề

Hồ nước và sông ngòi là những thực thể tự nhiên hoặc tự nhiên – nhân sinh, cũng là những dạng tài nguyên quý giá bởi nó đem đến cho con người lợi ích từ nhiều mặt khác nhau Các hồ nước tạo cảnh quan môi trường, điều hòa không khí, phục vụ mục đích du lịch, thể thao dưới nước, nghiên cứu khoa học và học tập; chứa và điều tiết nước; cung cấp nước sinh hoạt và sản xuất; cung cấp nguồn lợi thủy sản

Ngoài các hồ nước tự nhiên được hình thành do các hoạt động nội hoặc ngoại sinh, đặc biệt

là các hồ nước ở đồng bằng châu thổ do biến đổi dòng chảy, trong quá trình phát triển, con người

đã xây dựng nên nhiều công trình thủy điện, thủy lợi với các hồ nước có quy mô khác nhau Các

hồ thủy lợi đóng vai trò hết sức quan trọng trong phát triển bền vững Trong những năm trước đây, tại nhiều nước trên thế giới và ở Việt Nam, các hồ thủy lợi được xây dựng chủ yếu phục vụ tưới, tiêu cho các loại cây trồng Tuy nhiên, đồng thời với sự phát triển kinh tế - xã hội và đặc biệt

là nhận thức và nhu cầu của con người, các hệ thống thủy lợi nói chung và hồ thủy lợi được xác

định là đa chức năng hay đa mục tiêu

Là một thành phố sông nước, hệ thống sông hồ đóng vai trò hết sức quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường của thành phố Hà Nội Tuy nhiên, đứng trước xu hướng công nghiệp hóa và hiện đại hóa thì hàng loạt vấn đề đang đặt ra giữa kiến trúc đô thị và môi trường Hà Nội mở rộng và sẽ hiện đại hơn, nhưng sông hồ thì ngày càng bị san lấp, thu hẹp

và ô nhiễm hơn Sau quyết định mở rộng địa giới hành chính của thủ đô Hà Nội về phía tây và

việc phê duyệt dự án “Quy hoạch chung xây dựng thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến

năm 2050”, hệ thống sông, hồ, đặc biệt là sông Đáy, sông Nhuệ, sông Cà Lồ,… trở thành những

dòng sông có vị trí và vai trò hết sức quan trọng của Hà Nội Ngoài chức năng thoát lũ hiện nay, chúng sẽ phải “gánh vác” những trọng trách mới cho sự phát triển phồn thịnh của thủ đô trong tương lai, trở thành những trục cảnh quan, hành lang xanh, điều hoà không khí và môi trường của thủ đô Hà Nội, hay tạo cảnh quan môi trường cho các đô thị sinh thái bên sông v.v Chính bởi vậy, sự hiểu biết về những con sông và hồ nước này, đặc biệt về sự hình thành và phát triển của chúng trong quá khứ cũng như hiện nay là hết sức cấp thiết

Quá trình hình thành và phát triển của sông Hồng và các chi lưu của nó (sông Đáy, sông Nhuệ, Cà Lồ, sông Đuống,…) đã diễn ra từ hàng nghìn năm Trong suốt quá trình phát triển, chúng đã tạo nên các đới biến động rộng lớn, đồng thời cũng để lại những dấu ấn của mình trên địa hình, là các hồ móng ngựa, dải trũng hay các gờ cao ven lòng Các dấu vết này, một phần còn tồn tại cho đến ngày nay, còn phần lớn đã bị các hoạt động phát triển kinh tế, đặc biệt là quá trình

đô thị hoá, làm cho không còn nhận ra được nữa hay biến mất trên thực địa Điều đáng lưu tâm là,

đi cùng với những di vết mà các con sông để lại tiềm ẩn những vấn đề liên quan tới các tầng đất yếu hay các trục thoát lũ trên vùng đồng bằng…, có ảnh hưởng trực tiếp và quan trọng đến quá trình quy hoạch và phát triển đô thị Sự thiếu hiểu biết cũng như các hoạt động quy hoạch không phù hợp với sự phân bố của các lòng sông cổ, cũng như đới biến động của chúng, có thể dẫn tới những hậu quả đáng tiếc, như sụt lún nền móng công trình, gây ngập úng cục bộ

Đã có một số công trình nghiên cứu liên quan với hệ thống sông hồ Hà Nội, nhưng phần lớn chỉ là các công trình nghiên cứu đơn ngành, hoặc các công trình chỉnh trị cho từng khu vực (sông Đáy, sông Nhuệ,…) Cũng cần nhận thức rằng cho tới nay, những hồ nước và các sông suối nhỏ ở ngoại thành Hà Nội có mức độ ô nhiễm chưa cao; đã có sự đầu tư tôn tạo cảnh quan, môi trường,

Trang 5

song hầu hết còn mang tính nhỏ lẻ, thực hiện cho từng khu vực, từng hồ, từng sông suối Trước khi quá trình đô thị hóa làm biến đổi sâu sắc các sông hồ này, cần có công tác điều tra, nghiên cứu đầy đủ, đồng bộ nhằm đưa ra những giải pháp tổng thể cho việc bảo vệ và phát triển một dạng tài nguyên thiên nhiên có giá trị lớn lao này của Hà Nội

Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề, ĐHQGHN đã cho triển khai thực hiện đề tài

“Nghiên cứu đề xuất các giải pháp đa lợi ích sử dụng bền vững các hồ nước, sông ngòi thuộc khu

vực ngoại thành Hà Nội (phía Nam và phía Bắc sông Hồng)” Các kết quả nghiên cứu của đề tài

sẽ góp phần tích cực cho công tác quy hoạch và xây dựng các phương án sử dụng bền vững hệ thống sông hồ của thủ đô Hà Nội

Về không gian nghiên cứu, theo tên đề tài chỉ giới hạn ở khu vực ngoại thành Hà Nội, song lại tập trung ở phía Bắc và Nam sông Hồng Đề tài sẽ giới hạn không gian nghiên cứu gồm các huyện, thị ngoại thành ở Bắc và Nam sông Hồng như: Ba Vì, Sơn Tây, Phúc Thọ, Đan Phượng,

Từ Liêm, Thạch Thất, Quốc Oai, Hà Đông, Hoàng Mai, Mê Linh, Đông Anh Cũng phải thấy rằng các sông hồ ở nội thành cũng không nên tách khỏi phạm vi không gian, song đề tài sẽ không tập trung nghiên cứu mà chỉ thu thập các kết quả nghiên cứu từ những đề tài khác

3 Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở các tiếp cận phát triển bền vững, tiếp cận tổng hợp và hệ thống, tiếp cận địa lý và lịch sử, tiếp cận liên ngành, đa ngành, đề tài đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:

a Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu

Thu thập, hệ thống hoá, xử lý, phân tích, đánh giá các tài liệu, số liệu sẵn có từ các cơ quan Trung ương và Hà Nội, Hà Tây (trước đây) theo định hướng các nội dung nghiên cứu Bên cạnh đó, đề tài sẽ kế thừa những vấn đề lý luận khoa học, quan điểm tiếp cận và kinh nghiệm thực tiễn của các công trình khoa học, đề tài nghiên cứu đã thực hiện ở trên thế giói và trong nước, đặc biệt chú ý tới các công trình liên quan đến địa bàn nghiên cứu

b Các phương pháp khảo sát và điều tra thực địa

Các phương pháp khảo sát và điều tra thực địa nhằm thu thập và bổ sung, cập nhật các số liệu tại các khu vực, tuyến, điểm nghiên cứu được lựa chọn để xây dựng và hoàn thiện cơ sở dữ liệu về đặc điểm điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, chất lượng môi trường và hiện trạng phát triển kinh tế - xã hội…phục vụ các nội dung nghiên cứu của đề tài

c Các phương pháp địa lý, địa chất truyền thống

Để xác lập đầy đủ luận cứ cho việc đề xuất giải pháp sử dụng bền vững hệ thống sông hồ

Hà Nội, cần phải sử dụng đồng bộ các phương pháp địa lý – địa chất truyền thống, bao gồm cả các phương pháp chuyên sâu thuộc các lĩnh vực địa mạo, địa chất, khí hậu, thủy văn,…

Trang 6

d Phương pháp bản đồ, viễn thám và GIS

Bản đồ có khả năng thể hiện rõ và trực quan nhất những đặc trưng không gian của các đối tượng nghiên cứu Phương pháp Viễn thám và GIS có ý nghĩa đặc biệt đối với nghiên cứu biến động lòng sông, cả biến động hiện đại và biến động trong quá khứ Tuy nhiên, để vẽ lại được các lòng sông cần phải có công tác kiểm tra kết hợp với những nghiên đồng bộ về địa chất, địa mạo

Đ Các phương pháp phỏng vấn, lịch sử và khảo cổ

Đây là phương pháp được sử dụng chính trong quá trình phân tích, đánh giá các dấu vết của quá trình biến động lòng sông trên địa bàn thành phố Hà Nội, làm cơ sở cho việc luận giải quy luật phân bố các lòng sông cổ, mối quan hệ của chúng với các di tích văn hóa, lịch sử, khảo cổ

e Phương pháp thống kê, xử lý, phân tích các tư liệu thống kê

Phương pháp này được thực hiện ở nhiều giai đoạn của đề tài Thống kê là phương pháp

xử lý số liệu định lượng: thống kê qua các số liệu khảo sát, đo đạc ngoài thực địa; thống kê qua đo đạc, tính toán trên bản đồ; xử lý thống kê các phiếu điều tra kinh tế hộ gia đình cũng như đánh giá khả năng thích nghi sinh thái và phân tích hiệu quả kinh tế của từng loại hình sử dụng đất theo mục tiêu của đề tài.Trong xử lý và phân tích các số liệu thống kê dân số, kinh tế xã hội của các huyện, xã trong khu vực nghiên, đề tài dự kiến ứng dụng phầm mềm SPSS

f Phương pháp chuyên gia

Trong quá trình thực hiện, đề tài thường xuyên tổ chức các buổi xeminar nhằm trao đổi

các thông tin về lý luận cũng như thực tiễn với các chuyên gia giàu kinh nghiệm về lĩnh vực có liên quan từ góc độ của các khoa học khác nhau Các ý kiến góp ý của các chuyên gia góp phần định hướng cách giải quyết vấn đề để đạt được mục tiêu đề và sản phẩm đề ra Mặt khác, đề tài sẽ

tổ chức các buổi hội thảo tại các địa phương nhằm thu thập ý kiến đóng góp từ các nhà quản lý, cộng đồng địa phương về thực tiễn khai thác, sử dụng tài nguyên và tính liên kết vùng trong phát triển và bảo vệ môi trường

4 TổNG KếT KếT QUả NGHIÊN CứU:

1 Quá trình hình thành và đặc điểm phân bố của hệ thống hồ nước, sông ngòi thành phố Hà Nội

1.1 Các nhân tố ảnh hưởng tới quá trình hình thành và phát triển của hệ thống sông –

hồ Hà Nội

1.1.1 Cấu trúc địa chất

Các nghiên cứu lý thuyết và thực tế đều thống nhất đánh giá cấu trúc địa chất – tân kiến tạo

có ý nghĩa đặc biệt đối với sự định hướng các dòng chảy và hồ nước Đá cổ nhất của Hà Nội là các thành tạo biến chất thuộc phức hệ Núi Con Voi tuổi Proterozoi, phân bố thành dải từ Sơn Tây đến Thạch Thất Quá trình laterit hóa phát triển mạnh trên đá này tạo các tầng đá ong khá dày Các thành tạo tuổi Triat là thành phần chủ yếu cấu tạo nên các khối núi ở phía tây Hà Nội Ba khối núi được tạo nên bởi 3 kiểu trầm tích khác nhau: i) Khối núi Ba Vì được cấu tạo chủ yếu bởi phun trào hệ tầng Viên Nam với vật chất phân dị từ bazơ đến axit, đặc biệt là các thành tạo phun

nổ với các lớp cuội kết còn được bảo tồn trên đỉnh núi Ba Vì; ii) Khối núi Sóc Sơn cấu tạo bởi các trầm tích lục nguyên tuổi Triat giữa; iii) Các khối núi tạo nên cảnh quan độc đáo ở Hương Sơn cấu tạo bởi đá vôi hệ tầng Đồng Giao Trầm tích Miocen hệ tầng Phan Lương là vật chất chính cấu tạo nên đáy hồ Suối Hai Các thành tạo hạt thô như cuội sỏi thuộc hệ tầng Hà Nội tuổi Pleistocen giữa – muộn cấu tạo nên các bậc thềm cao 20-30 khá phổ biến, chúng cũng tạo nên lớp phủ ở đáy đồng bằng với độ sâu từ 20-50m, là tầng chứa nước ngầm quan trọng của đồng bằng Hà

Trang 7

Nội Các thành tạo tuổi Pleistocen muộn – Holocen là trầm tích mềm bở, sông suối có thể xâm thực dễ dàng và tạo nên các khúc uốn lòng sông và hồ móng ngựa

1.1.2 Địa hình và quá trình địa mạo

Về khái quát, địa hình thành phố Hà Nội có hướng nghiêng từ bắc xuống nam và từ tây sang đông, phù hợp với bề dày tăng dần của các thành tạo bở rời tuổi Đệ Tứ Địa hình núi chiếm diện tích nhỏ ở phía tây bắc, tây và tây nam thành phố Địa hình đồng bằng phân bố ở phía đông, đông nam Chuyển tiếp giữa hai nhóm địa hình trên là bề mặt gò đồi trung du [1]

Phần cực bắc của thành phố thuộc phạm vi huyện Sóc Sơn phân bố các dải núi thấp, là phần

kéo dài về đông nam của hệ thống núi Tam Đảo Dãy núi Sóc gồm nhiều ngọn nằm trên hai huyện

Mê Linh (Vĩnh Phúc) và Sóc Sơn, tạo thành ranh giới thiên nhiên giữa Hà Nội với các tỉnh Vĩnh Phúc và Thái Nguyên Theo chiều từ bắc xuống nam, có thể dễ dàng nhận thấy sự giảm độ cao đáng kể từ các dải đồi núi thấp ở khu vực Sóc Sơn với địa hình bóc mòn chiếm ưu thế xuống khu vực Phù Lỗ - Đông Anh với địa hình được hình thành bởi hoạt động tích tụ của sông và biển trong

Đệ Tứ Các dải đồi núi cao 200 – 300m tại Sóc Sơn với sườn dốc trên 200, về phía nam được chuyển tiếp nhanh xuống các đồi thoải ở độ cao 40 – 60m rồi đến bề mặt gò đồi thoải lượn sóng với độ cao chỉ 12 – 20m Điều đáng chú ý là dải gò đồi này đều có có dạng vòng cung với bán kính cong rộng như ôm lấy vùng đồi núi Sóc Sơn Qua sông Cà Lồ, dải gò đồi có độ cao tuyệt đối khoảng 8 – 15m, song mức độ phân cắt lại lớn hơn

Phần cực tây – tây bắc của thủ đô Hà Nội là khối núi Ba Vì, nơi có 3 đỉnh cao trên 1100m,

trong đó đỉnh Tản Viên cao 1287m Núi được cấu tạo bởi tập hợp đá phức tạp, song chủ yếu là đá phun trào từ bazơ đến axit tuổi Triat Phía nam – đông nam Ba Vì là dãy núi Viên Nam cũng được cấu tạo bởi đá trầm tích phun trào với đỉnh cao 1031m, là ranh giới tự nhiên của Hà Nội với tỉnh Hòa Bình Đó cũng là đường chia nước thuộc lưu vực hệ thống sông Tích – sông Đáy và sông Đà

Phía tây nam của Hà Nội phân bố các khối núi đá vôi với địa hình karst đặc trưng trên trầm

tích carbonat hệ tầng Đồng Giao Hệ thống hang động và thung lũng karst đã tạo cho nơi đây một điểm du lịch sinh thái – tâm linh đặc sắc

Khu vực chuyển tiếp giữa vùng đồi núi xuống đồng bằng phân bố khá địa hình đồi và đồng

bằng dạng gò đồi thoải khá đặc biệt Đó là đồng bằng aluvi - proluvi cổ rất đặc trưng, phân bố ở khu vực Sóc Sơn, Hòa Lạc, Xuân Mai – Miếu Môn Đồng bằng aluvi – proluvi Hoà Lạc có dạng địa hình quạt, đường đáy dài 6 – 8 km, đường cao 4 – 5km Độ cao tuyệt đối của địa hình giảm dần từ 25 -28m ở tây nam đến 12- 13m ở phía đông bắc Trên bề mặt này quá trình phong hóa laterit rất phát triển, tạo tầng đá ong dày, khá rắn chắc

Địa hình đồng bằng chiếm diện tích lớn nhất của thành phố Hà Nội, phân bố ở các huyện

Hoài Đức, Quốc Oai, Từ Liêm, Thanh Trì, Gia Lâm, các quận nội thành và ở huyện Đông Anh

Độ cao của bề mặt địa hình này đạt từ 4-5 đến 8-10 mét so với mực nước biển hiện nay Nhìn đại thể, địa hình đồng bằng tương đối bằng phẳng, trên đó phân bố các dải trũng có nước thường xuyên (sông, hồ) hoặc trong mùa mưa, nhiều dải trũng nguyên là dấu vết các lòng sông cổ Nằm bên cạnh các dải trũng thường là các dải đất cao dạng con trạch, nơi cư trú của người dân lâu đời nhất của vùng đất này Đó chính là các gờ cao ven lòng sông, một trong các dấu hiệu để nhận dạng các lòng sông cổ Bề mặt địa hình đồng bằng hiện nay bị chia cắt mạnh bởi các hệ thống sông, kênh mương và đê đập So với trước đây, hiện nay bề mặt địa hình đồng bằng của Hà Nội

đã bị biến đổi rất nhiều do tác động của con người Quá trình địa mạo chiếm ưu thế hiện nay là rửa trôi bề mặt, xói lở bờ, tích tụ do sông dưới tác động của cả các nhân tố địa mạo tự nhiên và lẫn hoạt động của con người

Trang 8

1.1.3 Điều kiện khí hậu

a Cổ khí hậu: Bề mặt địa hình và hệ thống sông hồ tại đồng bằng Hà Nội được hình thành

và biến đổi liên quan chặt chẽ với những đợt biển tiến – biển lùi xen kẽ và chúng chính là kết quả của biến đổi khí hậu trong quá khứ thông qua những chu kỳ băng hà – gian băng Vào thời kỳ băng hà, mực nước đại dương thế giới bị hạ thấp, tức là hạ thấp mực cơ sở xâm thực của các con sông đổ ra đại dương, vì thế hoạt động xâm thực sâu của các con sông được tăng cường mạnh mẽ, dẫn tới sự chia cắt bề mặt địa hình Các máng xói đào khoét, cải tạo lại các dải đất thấp tự nhiên của các thềm sông bậc I tại Mê Linh, Đông Anh được hình thành Trái lại, vào thời kỳ gian băng, mực nước biển dâng cao làm xuất hiện các biển ven lục địa, các vũng vịnh và những vùng lục địa hay các đảo bị phân rời Biển tiến cực đại Holocen giữa đã biến đồng bằng Hà Nội thành các vịnh

và đầm lầy cổ, với biểu hiện là các tầng than bùn ở Đông Anh, Cầu Giấy và các tầng sét mịn dẻo thuộc hệ tầng Hải Hưng Sau biển tiến cực đại, khoảng 3-4 nghìn năm trước bắt đầu giai đoạn aluvi là giai đoạn cuối cùng của chu kì phát triển đồng bằng châu thổ Hoạt động uốn khúc lòng sông trên nền vật chất bở rời đã tạo điều kiện hình thành nhiều hồ móng ngựa

b Khí hậu hiện đại: Khí hậu Hà Nội tiêu biểu cho vùng Bắc Bộ với đặc điểm của khí hậu

nhiệt đới ẩm gió mùa, mùa hè nóng, mưa nhiều và mùa đông lạnh, ít mưa Thuộc vùng nhiệt đới, thành phố quanh nǎm tiếp nhận lượng bức xạ Mặt Trời rất dồi dào và có nhiệt độ cao Do tác động của biển, Hà Nội có độ ẩm và lượng mưa khá lớn, trung bình 114 ngày mưa một năm Một đặc điểm rõ nét của khí hậu Hà Nội là sự thay đổi và khác biệt của hai mùa nóng, lạnh Mùa nóng kéo dài từ tháng 5 tới tháng 9, kèm theo mưa nhiều, nhiệt độ trung bình 29,2 ºC Từ tháng 11 tới tháng

3 năm sau là khí hậu của mùa đông với nhiệt độ trung bình 15,2 ºC Cùng với hai thời kỳ chuyển tiếp vào tháng 4 và tháng 10, thành phố có đủ bốn mùa xuân, hạ, thu và đông

1.1.4 Các hoạt động nhân sinh

Một trong những tác động lớn nhất của con người ở vùng đất Hà Nội là việc đắp đê và xây dựng thành lũy Các tác động của con người đến tự nhiên ở vùng Hà Nội thấy rõ nét nhất là từ sau Công nguyên đến nay Đó là việc xây dựng thành Cổ Loa, Đại La, cải tạo vùng đất thấp ở đồng bằng và Thiên niên kỷ thứ nhất sau Công nguyên Công việc tu bổ hệ thống đê cũ và đắp các đê mới đồng thời đào kênh dẫn nước được đặc biệt quan tâm từ sau khi hòa bình lập lại (1954) Có thể nói, hệ thống đê điều ở Hà Nội nói riêng và đồng bằng Bắc Bộ nói chung là một công trình mang tính văn hóa-nhân văn rất lớn thể hiện tinh thần mở nước và giữ nước của dân tộc ta

Phân tích hệ thống đê ở Hà Nội có thể nhận thấy rằng việc đắp đê sông Hồng là quyết định đúng đắn, song dưới khía cạnh địa chất – địa mạo thì công trình này đã là sự can thiệp lớn vào tự nhiên Các con đê gần như bị cắt đứt liên hệ của các hồ móng ngựa và thậm chí cả một số sông như sông Đáy, sông Nhuệ, sông Tô Lịch với chính con sông từng tạo ra và nuôi dưỡng nó Dòng nước chứa nhiều phù sa của sông Hồng không còn tràn vào đồng bằng mà bị nhốt giữa hai thân

đê Do vậy đáy sông không ngừng bị nâng cao, nhiều doi cát giữa dòng và bãi bồi được hình thành, đặc biệt trong đoạn từ Sơn Tây đến Nam Định Từng phần đáy sông và bề mặt các doi cát ở nhiều nơi đã cao hơn mặt ruộng trong đê Đó là nguyên nhân khiến cho từ đời này qua đời khác các con đê cứ phải được tôn tạo, đắp cao lên mãi [2]

Một trong các tác động mạnh của con người tới biến đổi các dòng sông đáng kể nữa là việc xây dựng hệ thống thủy lợi và chống lũ Đập Đáy (đập Phùng), cống Liên Mạc đã tác động lớn tới đặc trưng thủy văn và môi trường của sông Đáy, sông Nhuệ

1.2 Phân loại hệ thống sông – hồ và đất ngập nước khác ở thành phố Hà Nội

Có nhiều cách phân loại hồ nước và sông ngòi, tuy nhiên cách phân loại trên cơ sở nguồn gốc là khoa học nhất Việc phân chia các hồ nước, sông ngòi theo nguồn gốc không những để hiểu

Trang 9

được lịch sử hình thành, quá trình phát triển mà còn là cơ sở để đánh giá một cách đúng đắn nhất

về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên của hồ nước, sông ngòi, cũng như là cơ sở cho dự báo xu hướng biến đổi chúng

Hiện nay, theo thống kê chưa đầy đủ Hà Nội có trên 110 hồ với tổng diện tích mặt nước khoảng 2180 ha Việc xác định và phân loại các hồ nước thành phố Hà Nội được thực hiện trên cơ

sở phân tích ảnh viễn thám, các tư liệu lịch sử và khảo sát thực địa kiểm tra [3] Trên cơ sở phân tích đặc điểm hình thành và phát triển, hệ thống hồ đầm Hà Nội được phân theo hai nhóm: hồ tự

nhiên và hồ nhân tạo (Hình 2)

Nhóm hồ tự nhiên được hình thành chủ yếu bởi quá trình biến động lòng sông và trên nền

tự nhiên đó, con người đã có những tác động vào các vùng đất vốn thấp trũng, gồm: 1) Hồ do biến động lòng sông là các hồ được hình thành do quá trình uốn khúc của dòng sông Sông Hồng và các chi lưu khi chảy trên đồng bằng do vẫn có năng lượng lớn, song do độ dốc địa hình nhỏ, vật chất cấu tạo đồng bằng chủ yếu là mềm bở bên uốn khúc mạnh Trên các đai uốn khúc hình thành nhiều hồ móng ngựa Bằng phân tích địa chất, địa mạo đã xác định được ba thế hệ lòng sông cổ và tương ứng với chúng là ba thế hệ hồ móng ngựa: i) Các hồ được hình thành trên các lòng sông cổ tuổi Pleistocen (hồ phân bố ở Đông Anh, Mê Linh, điển hình nhất là đầm Vân Trì); ii) Các hồ hình thành trên các lòng sông cổ thuộc giai đoạn Holocen sớm – giữa (phân bố ở phía đông Thạch Thất); iii) Các hồ móng ngựa được hình thành vào giai đoạn Holocen muộn (điểm hình là hồ Tây,

hồ Yên Sở,…) 2) Các vùng đất ngập nước theo mùa: Vùng trũng Chương Mỹ - Ứng Hòa đã được nhắc tới trong nhiều công trình Đó là các bề mặt đồng bằng khá phẳng, phân bố ở trung tâm bãi bồi tuổi Holocen, được hình thành do sự thiếu hụt trầm tích Việc ngập nước trong thời gian khá dài mùa mưa cũng là cơ hội cho khai thác chúng vào mục đích phát triển các cây trồng, vật nuôi ngắn ngày ưa nước [4]

Thuộc nhóm hồ tự nhiên – nhân sinh khá phổ biến, cả trên vùng gò đồi và đồng bằng của thành phố Hà Nội, gồm ba kiểu hồ sau: 1 Hồ do đắp đập chắn trên vùng gò đồi: Đó là các hồ đã được xây dựng từ lâu, ban đầu chủ yếu nhằm mục đích thủy lợi Sự phát triển kinh tế - xã hội với nhu cầu ngày càng cao của con người, đặc biệt là nhu cầu vui chơi, giải trí, các hồ thủy lợi dần được thay thế chức năng chính là du lịch Điển hình cho nhóm hồ này là hồ Suối Hai, hồ Đồng Mô,… 2 Hồ do đắp đập chắn và sụt lún karst: Một trong những đặc trưng cơ bản của vùng karst

là các dạng địa hình âm được hình thành do quá trình rửa lũa, hòa tan đá vôi và có thể do quá trình sụp đổ các hang động karst nguyên là các hang sông Các hồ nước ở phần rìa khối karst Hương Sơn là những dải đất trũng, chỉ cao hơn mực nước biển 0,5-1m, tạo địa hình âm trên nền đồng bằng cao 3-6m Việc đắp các đập chứa nước ở đây ban đầu cũng chỉ với mục đích thủy lợi Hiện nay hồ Quan Sơn thuộc huyện Mỹ Đức đã trở thành điểm tham quan du lịch hấp dẫn 3 Trên vùng đồng bằng thấp trũng còn phân bố các hồ do đào đất hạ độ cao Có hai mục tiêu chính để đào, tạo nên hai kiểu hồ: i) đầm, hồ, ao do đào và đắp bờ phục vụ nuôi trồng thủy sản, chúng có

độ sâu không lớn; ii) hồ do khai thác khoáng sản, chủ yếu là khai thác đất sét làm gạch ngói, tạo nên những hồ có đáy sâu trên 10m, điển hình là các hồ ở khu vực Canh [5]

2 Đặc điểm tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, môi trường và thực trạng khai thác, sử dụng, quản lý hệ thống hồ nước, sông ngòi thành phố Hà Nội

2.1 Hệ thống sông chính ở Hà Nội

1 Sông Hồng: là dòng sông lớn nhất ở Miền Bắc và đứng thứ 2 ở Việt Nam (sau sông Mê

Kông) Sông bắt nguồn từ những đỉnh núi cao của dãy Ai Lao San (tỉnh Vân Nam, Trung Quốc) Diện tích toàn lưu vực khoảng 143.700 km2 (trong đó phần thuộc lãnh thổ Việt Nam là 61.400

km2) với chiều dài là 1.126 km (phần thuộc Việt Nam là 556 km) Đến khu vực Việt Trì, sông Hồng nhận thêm các phụ lưu là sông Đà và sông Lô, trong đó lượng nước từ sông Đà chiếm tới

Trang 10

gần một nửa Sông Hồng chảy vào địa phận Hà Nội ở huyện Ba Vì và ra khỏi Hà Nội ở huyện Phú Xuyên với chiều dài khoảng 130 km Chiều rộng chỗ hẹp nhất tính đến hai bờ đê là 1.500m, chỗ rộng nhất là 4.600m Hệ số uốn khúc khá lớn, đến 1,56 Đoạn sông chảy qua thủ đô Hà Nội, ngoài các tác động thường xuyên và mạnh mẽ của con người (đê, kè, cầu, phà, v.v.), nó cũng là đoạn phân lưu cho các sông thuộc phạm vi thành phố là Sông Đuống, Sông Nhuệ và trước đó là Sông Đáy Chế độ thủy văn của hệ thống sông ở Hà Nội, điển hình là sông Hồng hoàn toàn phụ thuộc theo mùa: mùa lũ và mùa cạn Mùa lũ xảy ra từ tháng VI đến tháng X, mùa cạn kéo dài từ tháng XI đến tháng V năm sau Sông Hồng có lưu lượng nước lớn nhất ở Việt Nam Giá trị lưu lượng trung bình khoảng 3.800 m3/s, 122x109 m3/năm tại trạm thủy văn Sơn Tây Lưu lượng cực đại có thể đạt tới 38,560 m3/s (tháng 8/1971) Khoảng 75-80% lưu lượng trung bình năm xảy ra vào mùa mưa (từ tháng 6 đến tháng 10 hàng năm) và chỉ 20-25% xảy ra vào mùa khô (từ tháng 11 đến tháng 5 năm sau)

2 Sông Đuống: Một trong các chi lưu lớn của sông Hồng hiện tại là sông Đuống (trước đây

gọi là sông Thiên Đức) Sông bắt đầu từ khu vực thôn Xuân Trạch, xã Xuân Canh, huyện Đông Anh, còn phía bên kia là thôn Bắc Cầu, xã Ngọc Thụy, huyện Gia Lâm Ở đoạn đầu (khoảng trên

4 km), sông Đuống chảy theo hướng đông nam và tạo với dòng chính sông Hồng một góc nhọn phù hợp với quy luật phân nhánh của sông Sông Đuống vừa là tuyến giao thông đường thủy ra vùng biển đông bắc, vừa là hành lang thoát lũ của sông Hồng Có khoảng 23% nước từ sông Hồng được chuyển qua sông Đuống Trong lịch sử đã có ít nhất 3 lần nạo vét sông Đuống ở đọan từ sông Hồng đến cầu Đuống và các năm 1515, 1729 (thời Lê) và 1860 (thời Nguyễn)

3 Sông Đà: còn gọi là sông Bờ hay Đà Giang là phụ lưu lớn nhất của sông Hồng Sông bắt

nguồn từ tỉnh Vân Nam, Trung Quốc chảy theo hướng tây bắc – đông nam để rồi nhập với sông Hồng ở Phú Thọ Sông Đà dài 910 km (có tài liệu ghi 983 km), diện tích lưu vực là 52.900 km² Đoạn ở Việt Nam dài 527 km Điểm đầu là biên giới Việt Nam-Trung Quốc tại huyện Mường Tè (Lai Châu) Sông có lưu lượng nước lớn, cung cấp gần 50% lượng nước cho sông Hồng và là một nguồn tài nguyên thủy điện lớn cho ngành công nghiệp điện Việt Nam Một trong những tác động lớn nhất của con người đối với sông Đà là xây dựng các nhà máy thủy điện Kể từ 1987 công trình

hồ thủy điện đi vào hoạt động , khu vực hạ lưu đập thủy điện có sự biến động hết sức phức tạp theo không gian và thời gian Quá trình biến động theo chiều ngang vẫn tiếp diễn mă ̣c dù hai bên

bờ sông nhiều đoa ̣n đã được xây kè bảo vê ̣ , còn lòng sông biến đổi theo chiều sâu diễn ra cũng khá phức tạp

4 Sông Tích: bắt nguồn từ sườn phía Đông Bắc núi Ba Vì đổ xuống giữa hai xã Cẩm Lĩnh

và Thụy An mà trong sự tích Sơn Tinh – Thủy Tinh gọi là mười sáu cửa của Đầm Đượng, đoạn sông này còn được là là sông Đầm Long Sông Tích chảy xuôi về ngã ba Ba Thá và đổ vào sông Đáy Bên hữu ngạn sông Tích có rất nhiều suối nhỏ từ núi Ba Vì, Viên Nam đổ xuống như Bến Tam, Cầu Tân, Sông Hang, sông Giếng, suối Vai Ca…; bên tả ngạn có sông Cửu Khê từ đầm làng Phương Khê chảy vào Lòng sông Tích nhiều đá ngầm và bãi cạn

5 Sông Đáy: dài khoảng 250 km, với lưu vực (cùng với phụ lưu sông Nhuệ) hơn 7.500 km²

trên địa bàn các tỉnh thành Hà Nội, Hòa Bình, Hà Nam, Ninh Bình và Nam Định Là một phân lưu của sông Hồng, sông Đáy nhận nước của sông Hồng ở địa phận Hà Nội giữa huyện Phúc Thọ và huyện Đan Phượng Quãng sông này còn có tên là sông Hát hay Hát Giang Xuôi đến Vân Đình, sau khi nhận nước từ sông Tích thì lòng sông rộng ra Đến địa phận huyện Mỹ Đức, sông Đáy tiếp nhận dòng suối Yến (thủy lộ vào chùa Hương) Việc người Pháp đắp đập Phùng đã tác động mạnh tới dòng chảy và môi trường sông Đáy Kể từ năm 1937, khi được xây dựng xong cho đến

1954, đập Đáy mới vận hành ba lần vào các năm 1940, 1945, 1947 Khi đập Đáy không làm việc thì mực nước và lưu lượng trong đoạn sông từ Tân Lang trở lên phụ thuộc hoàn toàn vào lượng

Trang 11

nước mưa và nước tiêu trong lưu vực Từ sau năm 1971 đến nay, mặc dù chưa phải phân lũ nhưng

do có nhiều công trình tiêu úng trực tiếp vào sông nên mực nước về mùa lũ tăng lên rất cao Hiện nay sông Đáy vẫn là nguồn chính cấp cho nhiều sản xuất tập trung hai bên bờ sông

6 Sông Nhuệ: cũng là một chi lưu của sông Hồng và cũng có vai trò nhất định trong việc

thoát lũ khi mùa mưa tới Vị trí sông Nhuệ tách ra từ sông Hồng ở khu vực xã Liên Mạc, huyện

Từ Liêm Hiện nay, ở đây cũng đã xây dựng hệ thống cống như cống Liên Mạc, vừa phục vụ tưới tiêu, đồng thời giúp cho việc tiêu thoát lũ vào mùa mưa Trong địa phận Hà Nội, sông này chảy qua 3 quận huyện là quận Bắc Từ Liêm, quận Nam Từ Liêm và Thanh Trì (ở phần phía tây huyện) Sau khi qua Từ Liêm và trước lúc vào Thanh Trì, sông có một đoạn sông chảy qua quận

Hà Đông nhưng sông chảy theo hướng nam là chính

7 Sông Tô Lịch: gồm các phân lưu: Kim Ngưu, sông Lừ và sông Sét, trong đó sông Tô Lịch

dài 13,346km từ cống Bưởi đến đập Thanh Liệt; sông Kim Ngưu dài 11,87 km từ Lò Đúc đến gần cầu Văn Điển; sông Sét dài 5,806 km; sông Lừ dài khoảng 5,242km với tổng chiều dài gần 40km Sông Tô Lịch ngày nay bắt đầu từ phường Nghĩa Đô thuộc quận Cầu Giấy (phía nam đường Hoàng Quốc Việt), chảy cùng hướng với đường Bưởi, đường Láng và đường Kim Giang về phía nam, tây nam rồi ngoặt sang phía đông nam và đổ ra sông Nhuệ ở đối diện làng Hữu Từ thuộc xã Hữu Hòa, Thanh Trì Đây là con sông dài nhất thành phố và cũng là trục chính thoát nước cho khu vực phía tây thành phố Hà Nội, tiếp nhận lượng nước thải 150.000m3/ ngày đêm Xưa kia khi nhắc tới sông Tô Lịch người ta nghĩ ngay đến hình ảnh con sông hiền hoà, sạch sẽ, mát mẻ, là nơi

mà vua chúa thường du ngoạn để thư giãn giải trí Nhưng giờ đây Sông Tô Lịch là nơi tiếp nhận chính nước mưa và đủ loại nước thải chưa qua xử lý của thành phố (nước thải sinh hoạt, nước thải bệnh viện, thậm chí cả nước thải công nghiệp ) khiến dòng chính Tô Lịch cũng như các phân lưu của nó ngày càng ô nhiễm, màu nước đen Điều này làm ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân sống xung quanh và môi trường của thành phố Hiện nay, sông Tô Lịch đã được kè 2 bên bờ, được duy trì vớt rác trên sông, tuy nhiên mức độ ô nhiễm vẫn cao

8 Sông Cà Lồ (còn gọi là sông Phủ Lỗ): là một chi lưu của sông Cầu, hợp lưu với sông Cầu

tại ngã ba Xá, xã Tam Giang, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh, cách không xa chỗ sông Công hợp lưu vào sông Cầu Trước đây sông Cà Lồ đã từng nối với sông Hồng, tuy nhiên đoạn đầu nguồn của Cà Lồ (chỗ phân lưu khỏi sông Hồng) đã bị bịt vào đầu thế kỷ 20, nên sông Cà Lồ hiện nay không còn nối với sông Hồng Đầu nguồn sông Cà Lồ hiện nay ở huyện Mê Linh (Hà Nội) và nguồn nước của sông chủ yếu là từ các dòng suối từ dãy núi Tam Đảo Do điều kiện địa hình, tân kiến tạo, thủy văn và cấu tạo vật chất, tại phần hạ lưu, sông Cà Lồ uốn khúc mạnh, tạo nêu nhiều

hồ móng ngựa đặc trưng

2.2 Khái quát hệ thống hồ ở Hà Nội

Có sự khác biệt đáng kể của điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, môi trường và việc quản lý, khai thác sử dụng các hồ nước ở nội và ngoại thành Hà Nội

Các hồ nước ở nội thành Hà Nội hầu hết là các hồ tự nhiên do biến đổi lòng sông Các hồ

đã hình thành từ nghìn đời nay, đã khá ổn định đến thế kỷ 19, song dưới tác động của quá trình đô thị hóa, chúng bị thay đổi đáng kể, cả về diện tích và cảnh quan, cả về tài nguyên và chất lượng môi trường Đa số các hồ đều bị ô nhiễm bởi nước thải và trầm tích, với độ sâu bùn khoảng 0,5 – 1,5 m Hiện nay, lưu lượng nước thải chảy vào đã vượt quá khả năng tự làm sạch của đa số các

hồ Ô nhiễm và phú dưỡng dẫn đến sự suy thoái chất lượng nước, thiếu oxy và làm tăng trầm tích trong hồ Theo chương trình quan trắc hàng năm của Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội, bắt đầu từ năm 2006 đến 2008 cho thấy: nhìn chung chất lượng nước các hồ vào mùa khô ô nhiễm hơn mùa mưa do mùa khô ít mưa, lượng nước trong hồ cạn, nhìn chung chất lượng nước năm

2008 được cải thiện hơn so với năm 2007, 2006 Các hồ đều có hiện tượng bị phú dưỡng, trong hồ

Trang 12

có rất nhiều tảo xanh (đặc biệt là hồ Ba Mẫu), các hồ gần khu vực dân cư như hồ Đống Đa, hồ Giảng Võ, hồ Thành Công, hồ Thanh Nhàn Số lượng coliform rất lớn vượt tiêu chuẩn cho phép (QCVN 08:2008/BTNMT cột B) từ 100 đến trên 200 lần, vào mùa khô có thể vượt tới 715 lần (hồ Đống Đa năm 2006);1750 lần (hồ Giảng Võ 2006); 2330 lần ( hồ Khương Trung 2006)

Chất lượng nước mặt các hồ khu vực ngoại thành Hà Nội nhìn chung còn tương đối sạch

hơn, song một số chỉ tiêu cũng cần chú ý, tại các vị trí quan trắc trong cùng một hồ ít có sự đột biến về giá trị của các thông số quan trắc giữa mùa mưa và mùa khô Độ pH: Nước các hồ dao động từ 6-8,5, tại các vị trí đa số có xu thế ngả sang kiềm yếu với độ pH dao động từ 7,0-8,5 Các hợp chất dinh dưỡng: i) Hàm lượng NH4+ tại các vị trí quan trắc tương đối thấp, hầu hết là nằm trong giới hạn quy chuẩn cho phép, dao động từ 0,082-0,717mg/L Tại hồ Tân Xã vào mùa mưa hàm lượng amoni là 0,717mg/L vượt giới hạn quy chuẩn cho phép 1,4 lần; ii) Hàm lượng NO3- tại các vị trí quan trắc tương đối thấp, đều nằm trong giới hạn quy chuẩn cho phép, dao động từ 1,3-3,1 mg/L; iii) Hàm lượng NO2- tại các vị trí quan trắc tương đối thấp, đều nằm trong giới hạn quy chuẩn cho phép, dao động từ 0,004-0,038 mg/L; iv) Hàm lượng PO43- tại các vị trí quan trắc rất thấp, đều nằm trong giới hạn quy chuẩn cho phép, dao động từ 0,07-1,31mg/L Các thông số bị ảnh hưởng bởi hợp chất hữu cơ như oxy hòa tan (DO), BOD5, COD: Vào mùa mưa hàm lượng COD và BOD5 đều nằm trong giới hạn quy chuẩn cho phép và vượt giới hạn quy chuẩn cho phép

ở mùa khô Diễn biến hàm lượng COD và BOD5 giữa mùa khô và mùa mưa cho thấy các nguồn thải ra các sông ổn định và hàm lượng thay đổi là do nước hồ bị pha loãng bởi nước mưa Các kim loại nặng trong nước: Nhìn chung hàm lượng của các kim loại nặng trong nước rất thấp, chỉ Fe là vượt giới hạn quy chuẩn cho phép tại một số vị trí quan trắc Các chất khác: Hàm lượng dầu mỡ tại các hồ dao động từ <0,02-2 mg/L, trong đó hàm lượng dầu mỡ cao nhất và vượt giới hạn quy chuẩn cho phép là hồ Mèo Gù (vượt 20,2 lần), hồ Tân Xã (vượt 20 lần), hồ Suối Hai Hàm lượng coliform chỉ có tại hồ Quan Sơn là vượt giới hạn quy chuẩn cho phép, vượt 3,2 lần, các hồ khác đều nằm trong giới hạn quy chuẩn cho phép [6]

3 Đặc điểm biến động của hệ thống hồ nước, sông ngòi khu vực thành phố Hà Nội

Việc sử dụng ảnh đa thời gian giúp phát hiện các đối tượng không biến động, ít biến động hoặc hoặc biến động mạnh trong một khoảng thời gian dài Các ảnh vệ tinh Landsat được sử dụng gồm các thế hệ ảnh được chụp ở 8 năm (từ 1989 – 2009) khác nhau vào mùa khô hoặc mùa mưa Việc sử dụng ảnh viễn thám đa thời gian còn giúp xác định được sự biến động của các lòng hồ, dải trũng theo thời gian Nhờ đó có thể xác định được những tác động của chính sách phát triển, quy hoạch đô thị của Hà Nội qua nhiều thời kỳ Đặc biệt, với sự quy hoạch và phát triển của thủ

đô Hà Nội, hiện tượng san lấp mặt hồ, dải trũng để xây nhà đang diễn ra nhanh chóng trong vòng

Bên cạnh đó, dữ liệu phân tích biến động sông hồ còn liên quan đáng kể tới sự thay đổi sử dụng đất, liên quan với các thời kỳ mở rộng, thu hẹp ranh giới thủ đô Hà Nội trong 30 năm qua Điều dễ nhận thấy là quá trình đô thị hóa trong những năm qua đã khiến diện tích mặt nước nói chung và lòng hồ ngày càng thu hẹp [7]

Trang 13

Các kết quả phân tích biến động hệ thống hồ nước cho thấy các hồ ở nội thành có sự biến động đáng kể về diện tích, phù hợp với các kết quả được Hoàng Văn Thắng và cộng sự đưa ra năm 2010 [8] Các hồ nước ở ngoại thành ít biến động về diện tích

3.1 Biến động hệ thống sông suối và hồ nước

3.1.1 Xác định các lòng sông cổ

Đã có nhiều công trình nghiên cứu về địa mạo và biến động lòng sông, song chủ yếu đề cập tới biến động trong Holocen và hiện đại [9] Các nghiên cứu của chúng tôi cho thấy quá trình biến động lòng sông được phát triển và bảo tồn từ Pleistocen muộn đến nay

a Các lòng sông cổ giai đoạn Pleistocen

Đầm Vân Trì, sông Hoàng Giang (còn gọi là sông Thiếp) ở huyện Đông Anh vốn là các dòng sông lớn, nay đã không còn được liên hệ với sông chính nữa và trở thành sông cổ Một số tác giả trước đây đã ghép lòng sông liên quan với đầm Vân Trì với lòng sông đã hình thành Hồ Tây Các nghiên cứu của chúng tôi đã cho thấy các quá trình biến động lòng sông để hình thành các hồ này thuộc các giai đoạn hoàn toàn khác nhau Đầm Vân Trì, sông Hoàng Giang và một số đầm, hồ khác ở khu vực Đông Anh, Mê Linh là các dấu vết còn sót lại của các lòng sông hoạt động giai đoạn Pleistocen Về Hồ Tây, không có ý kiến nào khác rằng đó là hồ móng ngựa, được hình thành sau biển tiến Holocen giữa

Kết luận của nhóm tác giả dựa trên phân tích hình thái và cấu tạo địa chất của các hồ và sông Trước tiên có thể dễ dàng nhận thấy là các đầm, hồ và sông Hoàng Giang ở Đông Anh có dạng cong có thể liên hệ với hình thái của các hồ móng ngựa Sự khác biệt ở đây chính là hình thái của các bờ hồ Các bờ hồ tại đây không có đường nét trơn tru, mềm mại như các hồ đã được xác định tuổi Holocen Hình thái bờ khúc khuỷu, bị nhiều mương xói, khe rãnh cắt từ lòng hồ về phía địa hình cao hai bên Đó là dấu hiệu khá quan trọng Các mương xói, khe xói này có gốc xâm thực từ chính đáy hồ, thường được hình thành vào thời kỳ địa hình đồng bằng nổi cao đáng kể so với gốc xâm thực cơ sở, vào giai đoạn biển thoái cuối Pleistocen muộn Dấu hiệu địa chất đã chứng minh cho nhận định trên bởi tất cả bờ, một phần đáy đầm và đáy các mương xói đều được cấu tạo bởi trầm tích sét loang lổ hệ tầng Vĩnh Phúc tuổi Pleistocen muộn Các đầm, hồ này chính

là các lòng sông đã hoạt động trong quá trình tạo trầm tích hệ tầng Vĩnh Phúc, nay một bộ phận lớn đã được nâng cao, tạo nên thềm bậc I

b Các lòng sông cổ thời kỳ Holocen sớm – giữa

Holocen sớm – giữa gắn với thời kỳ đầu biển tiến Flandrian tác động tới đồng bằng Bắc bộ đến biển tiến cực đại Các tài liệu thực tế và kết quả điều tra, nghiên cứu trước đây đều không trả lời được câu hỏi rằng trong thời kỳ biển thoái cuối Pleistocen và đầu biển tiến Holocen, lòng sông Hồng nằm ở đâu Có lẽ mật độ lỗ khoan và các tài liệu địa vật lý chưa đủ dầy để khoanh vẽ được trầm tích tướng lòng sông này bị chôn vùi sâu dưới các thành tạo biển tiến hệ tầng Hải Hưng hoặc bồi tích hệ tầng Thái Bình Việc tìm kiếm dấu tích của thế hệ dòng chảy này được nhóm tác giả lựa chọn ở phần rìa cao của đồng bằng châu thổ sông Hồng, là khu vực Thạch Thất – Sơn Tây

Các kết quả phân tích ảnh viễn thám, được kiểm tra bằng thực địa cho thấy ở phía tây đê sông Đáy có sự phân bố hàng loạt lòng sông cổ và các thành tạo bãi bồi sông Bãi bồi có độ cao lớn hơn các khu vực khác (từ 8-10m), trên đó có những gờ cao và dải trũng kéo dài, ít ngập nước Các lòng sông cổ ở đây có bán kính cong lớn khác thường, là thế hệ cổ nhất mà sông Đáy để lại trong tiến trình chuyển dịch về phía đông

Các lòng sông cổ phía tây sông Đáy cắt vào bề mặt tích tụ cao 10-15m thuộc thềm I cấu tạo bởi trầm tích hệ tầng Vĩnh Phúc tuổi Pleistocen muộn, phía đông – đông bắc chúng chuyển tiếp sang bề mặt bãi bồi cao và bề mặt tích tụ biển hệ tầng Hải Hưng tuổi Holocen giữa Đó là cơ

Trang 14

sở quan trọng cho việc xếp các lòng sông cổ phía tây sông Đáy vào giai đoạn Holocen sớm – giữa, giai đoạn còn bỏ ngỏ trong tiến hóa địa hình dòng chảy sông Hồng tại đồng bằng Hà Nội

c Các lòng sông cổ thời kỳ Holocen muộn

Sau biển tiến Holocen cực đại, biển thoái và lòng sông Hồng vươn xa về phía đông Hoạt động uốn khúc theo quy luật dòng chảy trên đồng bằng bãi bồi đã tạo ra nhiều lòng sông cổ, được thể hiện bằng các hồ móng ngựa hoặc dải trũng

Một trong những sản phẩm rõ ràng nhất của biến động lòng sông Hồng trong Holocen muộn là Hồ Tây và hồ Yên Sở Là một hồ sót được hình thành do sự dịch chuyển của lòng sông Hồng về phía đông bắc, hồ Tây là điển hình của một dạng địa hình được hình thành có tính kế thừa liên tiếp từ hoạt động của dòng chảy, sông – hồ và đầm lầy Về hình thái, hồ Tây có dạng hình móng ngựa điển hình Mặt cắt địa chất được phản ánh khá rõ nét tiến hóa địa chất của hồ Tây

từ giai đoạn phát triển lòng sông đến giai đoạn đầm hồ Theo các mặt cắt này, phần dưới là các thành tạo tướng lòng sông gồm cát lẫn ít bột sét, gặp ở độ sâu 3-3,5m, dày trên 10m, chuyển lên trên là các lớp bột sét nguồn gốc sông – hồ và trên cùng là bùn sét tướng đầm hồ Sự tồn tại của các hồ sót do biến đổi lòng sông như hồ Tây, hồ Yên Sở còn có nguyên nhân là hoạt động đắp đê ngăn các hồ này với dòng sông chính đã được bắt đầu từ gần 1000 năm qua Do có hệ thống đê, bồi tích của sông Hồng đã không phủ để lấp đầy các lòng sông cổ này

Hồ Hoàn Kiếm cùng với một dãy 9 hồ nhỏ được thể hiện trên bản đồ Hà Nội của Phạm Đình Bách vẽ năm 1873 và do người Pháp thành lập các năm 1885, 1898, 1899 xếp thành một tuyến thống nhất hình cung lồi nhẹ về phía sông Hồng và nối với Hồ Trúc Bạch, giống như một lạch sông cổ [2] Nhận xét của Đào Đình Bắc ở trên là phù hợp với cách nhìn nhận về mặt hình thái, có cơ sở, được minh chứng thêm bởi bờ sông ở phía tây hồ (đường Lê Thái Tổ) – nơi được cho là phần sót lại do xâm thực của lòng sông, cấu tạo bởi trầm tích hệ tầng Vĩnh Phúc tuổi Pleistocen – cao hơn hẳn bờ ở phía đông (đường Đinh Tiên Hoàng) – một bộ phận của bãi bồi Holocen muộn Khác với nhận xét trên, trên cơ sở phân tích đặc điểm trầm tích được lấy theo các ống phóng ở hồ Hoàn Kiến, Trần Nghi cho rằng hồ này cũng như hàng loạt các hồ khác ở nội thành Hà Nội có nguồn gốc là các lạch thoát lũ Cần có những kết quả phân tích theo tài liệu lỗ khoan ở đoạn giữa các hồ - được cho là lòng sông cổ để làm rõ sự khác biệt trên

3.1.2 Các đới biến động lòng sông

Do có sự biến đổi liên tục của các dòng chảy trong mỗi đai uốn khúc và thậm chí còn có

sự dịch chuyển của cả đai uốn khúc, việc xác lập các đới biến động của các dòng chảy sẽ có ý nghĩa lớn hơn việc chỉ xác định các lòng sông cổ cụ thể Đằng sau ý nghĩa của việc nghiên cứu đới biến động lòng sông chính là xác định được các khu vực không bị sông cắt qua – các vùng đất

có nền móng ổn định, thuận lợi cho phát triển đô thị Trên cơ sở các tiêu chí xác định đới biến động lòng sông sau biển tiến cực đại Holocen là: sự tập trung cao của các lòng sông cổ; hệ thống

đê và các gờ cao ven lòng nằm kề các thành tạo trầm tích hệ tầng Vĩnh Phúc (a, amQ13vp), hệ tầng

Hải Hưng (am, mlQ22hh), đã xác lập đới biến động lòng sông từ sông Đáy về phía sông Tô Lịch

Đới biến động của các sông này có chiều rộng khá lớn, nhiều đoạn có thể so sánh với đới biến động của sông Hồng hiện nay (trên 3000m) Các đới biến động lòng sông chính gồm:

- Đới biến động lòng sông phía bắc sông Hồng: Bằng các dấu hiệu địa mạo, bước đầu có

thể xác định được thế hệ thứ nhất của đới biến động sông Hồng nằm ở phía bắc sông Hồng, thuộc phạm vi các huyện Mê Linh – Đông Anh Sự phân bố chủ yếu của các trầm tích hệ tầng Vĩnh Phúc ở đây cho thấy thế hệ lòng sông này có tuổi Pleistocen muộn Hướng chung của các dòng chảy ở giai đoạn này là á vĩ tuyến, phù hợp với hướng của sông Cà Lồ hiện nay Trong phạm vi

Ngày đăng: 10/10/2019, 11:29

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w