1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Nghiên cứu biến đổi xã hội vùng tây bắc phục vụ xây dựng mô hình phát triển bền vững

280 51 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 280
Dung lượng 2,73 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thứ tư, nghiên cứu về biến đổi xã hội và quản trị biến đổi xã hội vùng Tây Bắc phục vụ mô hình phát triển bền vững xuất phát từ những đặc thù của vùng: + Tây Bắc là địa bàn có sự đa dạng

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

CHƯƠNG TRÌNH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRỌNG ĐIỂM CẤP NHÀ NƯỚC GIAI ĐOẠN 2013-2018 "KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VÙNG TÂY BẮC"

Mã số: KHCN-TB/13-18

BÁO CÁO TỔNG HỢP ĐỀ TÀI

ĐỀ TÀI: NGHIÊN CỨU BIẾN ĐỔI XÃ HỘI VÙNG TÂY BẮC

Mã số: KHCN-TB.12X/13-18/2014

Cơ quan chủ trì đề tài: HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

Chủ nhiệm đề tài: PGS, TS Nguyễn Tất Giáp

Hà Nội – 2017

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ QUẢN TRỊ BIẾN ĐỔI XÃ HỘI VÌ MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG TẠI CÁC VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ 47

1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM 47

1.2 CÁC GIÁ TRỊ THAM CHIẾU VÀ MỘT SỐ LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU VỀ BIẾN ĐỔI XÃ HỘI 55

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG BIẾN ĐỔI XÃ HỘI PHỤC VỤ MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN XÃ HỘI BỀN VỮNG VÙNG TÂY BẮC TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 2015 96

2.1 BIẾN ĐỔI VỀ DÂN SỐ, LAO ĐỘNG, VIỆC LÀM 96

2.2 BIẾN ĐỔI CƠ CẤU XÃ HỘI VÀ TÌNH HÌNH ĐÓI NGHÈO 111

2.3 VẤN ĐỀ DI CƯ VÀ DI CƯ QUỐC TẾ 116

2.4 BIẾN ĐỔI THIẾT CHẾ GIA ĐÌNH, LÀNG BẢN TRONG CỘNG ĐỒNG CÁC DÂN TỘC 123

2.5 QUAN HỆ TỘC NGƯỜI TRONG CÁC CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ VÙNG TÂY BẮC 132 2.6 VẤN ĐỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI Ở TÂY BẮC 135

2.7 VẤN ĐỀ TÔN GIÁO, TÍN NGƯỠNG TRONG CÁC CỘNG ĐỒNG DÂN CƯ VÙNG TÂY BẮC 137

2.8 CÁC VẤN ĐỀ XÃ HỘI KHÁC 145

2.9 HỆ THỐNG CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN VÙNG TÂY BẮC 163

CHƯƠNG III: MỘT SỐ NHÂN TỐ CƠ BẢN TÁC ĐỘNG ĐẾN BIẾN ĐỔI XÃ HỘI VÙNG TÂY BẮC 183

3.1 NHỮNG TÁC ĐỘNG TỪ TÌNH HÌNH THẾ GIỚI VÀ KHU VỰC 183

3.2 CÁC YẾU TỐ TRONG NƯỚC CHƯƠNG IV: MỤC TIÊU, QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP VỀ QUẢN TRỊ BIẾN ĐỔI XÃ HỘI PHỤC VỤ MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN BỀN VỮNGVÙNG TÂY BẮC ĐẾN NĂM 2020, TẦM NHÌN 2030 222

4.1 MỤC TIÊU, QUAN ĐIỂM VÀ ĐỊNH HƯỚNG QUẢN TRỊ BIẾN ĐỔI XÃ HỘI PHỤC VỤ MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VÙNG TÂY BẮC ĐẾN NĂM 2020 VÀ 2030 224

4.2 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN TRỊ BIẾN ĐỔI XÃ HỘI PHỤC VỤ MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VÙNG TÂY BẮC ĐẾN NĂM 2030 229

KẾT LUẬN 260

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 263

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nghiên cứu về biến đổi xã hội phục vụ xây dựng mô hình phát triển bền vững ở vùng vùng Tây Bắc xuất phát từ tính cấp thiết của yêu cầu nghiên cứu khoa học và thực tiễn bởi các lý do sau:

Thứ nhất, phát triển bền vững là chủ trương lớn, giữ vị trí chủ đạo trong

công cuộc đổi mới ở nước ta Việc đổi mới mô hình tăng trưởng của Việt Nam từ

tăng trưởng bề rộng sang tăng trưởng chiều sâu, thực hiện hài hòa các quan hệ lợi ích, hài hòa trong phát triển bền vững mà thực chất của phát triển bền vững là phát triển bền vững con người đã đặt ra yêu cầu to lớn đối với quản trị biến đổi xã hội về xây dựng

cơ cấu xã hội hợp lý Kèm theo đó là xây dựng các chiến lược và các chính sách quốc gia đối với phát triển các giai cấp, các tầng lớp, các giai tầng xã hội Do đó, phát triển bền vững về xã hội được xác định là một trong 3 lĩnh vực ưu tiên trong Chương

trình nghị sự 21 "Về việc ban hành định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam” (Quyết định 153-2004/QĐ TTg ngày 17-8-2004) Trên cơ sở định

hướng chiến lược, gắn với đặc thù từng vùng, tỉnh, thành, việc xây dựng mô hình phát triển bền vững với những tiêu chí cụ thể, phù hợp là yêu cầu bức thiết đặt ra cho các địa phương trên cả nước Nghiên cứu biến đổi xã hội để tiếp tục hoàn thiện mô hình phát triển xã hội bền vững tại vùng Tây Bắc đến năm 2020

và tầm nhìn 2030 là nhiệm vụ khoa học xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn công cuộc xây dựng đất nước

Thứ hai, biến đổi xã hội (Social change) là một quá trình qua đó những

khuôn mẫu của các hành vi xã hội, các quan hệ xã hội, các thiết chế xã hội và các hệ thống phân tầng xã hội được thay đổi theo thời gian Biến đổi xã hội diễn ra thường xuyên trong đời sống, vừa bao hàm những biến đổi nội tại của lĩnh vực xã hội,

của từng yếu tố cấu thành lĩnh vực này lại vừa bao hàm những biến đổi với tư cách là hệ quả xã hội từ những biến đổi ngoài lĩnh vực xã hội, của kinh tế, chính trị, văn hóa và

Trang 4

môi trường tác động vào con người, vào các quan hệ và cơ cấu xã hội của con người Công cuộc đổi mới toàn diện của Việt Nam đã tạo ra những biến đổi toàn diện trện các lĩnh vực, trong đó đặc biệt là những biến đổi về xã hội Biến đổi xã hội được nảy sinh căn gốc là biến đổi kinh tế, chính trị, văn hóa Đến lượt nó, biến đổi xã hội lại tác động mạnh mẽ, toàn diện đến các lĩnh vực của đời sống Thực

tế cho thấy, tại các vùng, các tỉnh, thành trong cả nước đang diễn ra quá trình

biến đổi xã hội sâu sắc trên cả hai phương diện: tích cực và tiêu cực; thuận chiều

và nghịch chiều với việc thực hiện mục tiêu phát triển bền vững Do đó, phát

huy những yếu tố thuận lợi, tích cực và ứng phó kịp thời với những thách thức đặt ra từ quá trình biến đổi xã hội phục vụ xây dựng mô hình phát triển bền vững

là yêu cầu bức thiết mà khoa học và thực tiến đang đặt ra Nghiên cứu biến đổi

xã hội và quản trị biến đổi xã hội tại vùng Tây Bắc vốn là vùng giữ vị trí đặc biệt quan trọng về địa – chính trị, địa – kinh tế của Việt Nam phục vụ xây dựng

mô hình phát triển bền vững xuất phát từ yêu cầu bức thiết thiết đó

Thứ ba, toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ, Việt Nam đang hội nhập sâu

và toàn diện với thế giới, đã và đang tác động nhiều chiều đến sự phát triển của đất nước, tới mọi vùng miền Biên giới quốc gia mở cửa; kinh tế phát triển; hàng hóa, dịch vụ, lao động lưu thông mạnh mẽ; các phương tiện hiện đại ngày càng thu hẹp không gian và thời gian; các giá trị văn hóa lan tỏa và hội nhập… cũng đồng thời mang đến những thách thức đối với sự phát triển xã hội Vấn đề dân tộc, tôn giáo, văn hóa, đạo đức, phong cách, lối sống, kết cấu gia đình, cộng đồng cũng có nhiều thay đổi nhanh chóng Đối với vùng Tây Bắc, có đường biên giới quốc gia với Lào và nhất là với Trung Quốc - một quốc gia rất khó lường về chính sách đối ngoại thì những biến đổi xã hội cũng chịu những tác động đặc thù Điều này đang đặt ra cấp thiết việc nghiên cứu biến đổi xã hội của vùng, xác định những tiêu chí cơ bản mô hình phát triển xã hội bền vững và đưa ra phương hướng, mục tiêu nhằm xây dựng thành công mô hình phát triển xã hội bền vững vùng Tây Bắc

Trang 5

Thứ tư, nghiên cứu về biến đổi xã hội và quản trị biến đổi xã hội vùng Tây

Bắc phục vụ mô hình phát triển bền vững xuất phát từ những đặc thù của vùng:

+ Tây Bắc là địa bàn có sự đa dạng về tộc người, văn hoá tộc người và tôn giáo, chủ yếu là các tộc người xuyên biên giới Từ những tộc người thiểu số

có dân số tương đối lớn như Thái, Mường, Mông, Dao, đến những tộc người có dân số ít như Xinhmun, Kháng, La Ha, Pu Péo,… cư trú đan xen nhau không chỉ trong phạm vi xã mà có khi cả bản/làng Thực tế cho thấy, nếu như quản lý biến đổi xã hội ở vùng thuần nhất một tộc người đã khó khăn thì quản lý biến đổi xã hội theo mô hình phát triển bền vững ở vùng đa tộc người lại càng khó khăn và phức tạp bội phần

+ Tây Bắc là vùng có số lượng xã “đặc biệt khó khăn” (thuộc Chương trình 135) nhiều nhất cả nước Thiết chế xã hội, phong tục tập quán, định kiến tộc người chi phối rất lớn đến phong cách, lối sống, nếp làm việc của cán bộ, và nhân dân… Đói nghèo, thất học ở Tây Bắc chiếm tỷ lệ cao nhất cả nước, hạn

chế rất lớn đến phát triển xã hội theo mô hình phát triển bền vững

+ Trên địa bàn Tây Bắc đang đặt ra nhiều vấn đề xã hội cần phải giải quyết: Động thái dân số tộc người diễn ra phức tạp, di cư tự do, xuyên vùng,

xuyên biên giới; động thái tôn giáo, tin ngưỡng, nhất là đạo Tin lành ở một số tộc người; một số vấn đề tiềm ẩn về dân tộc, đáng chú ý là tư tưởng tự ti, ly khai; các vấn đề tệ nạn xã hội có chiều hướng gia tăng, nhất là tình trạng buôn bán và sử dụng ma tuý, buôn người qua biên giới… Các thế lực thù địch đã và đang ra sức chống phá, lợi dụng chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc

+ Tây Bắc đã và tiềm ẩn nhiều thách thức về môi trường, nhất là biến đổi

khí hậu, lũ quét, lũ ống, dị biệt của thời tiết như rét đận, rét hạn, sương muốn,… không chỉ tác động đến đời sống kinh tế mà còn tác động ngày càng nhiều đến đời sống xã hội, phát triển bền bững

+ Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Tây Bắc trong những năm qua đã đạt được những thành tựu rất to lớn nhưng nhìn chung những thế mạnh,

Trang 6

tiềm năng của vùng chưa được khai thác có hiệu quả, thiếu tính bền vững; đồng thời cũng đặt ra nhiều vấn đề đối với ổn định xã hội và phát triển bền vững, trong

đó có những vấn đề nóng bỏng như tái định cư các dự án thuỷ điện Sự phát triển

của nhiều công trình thuỷ điện buộc Tây Bắc phải thực hiện nhiều dự án tái định cư với một số lượng dân cư khỏi các làng/bản truyền thống, mất những diện tích

ruộng đất thung lũng tốt nhất cho sản xuất nông nghiệp, biến động về địa bàn cư trú, xáo trộn về đời sống, văn hóa, tâm tư tình cảm của đồng bào…

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài

CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA NGƯỜI NƯỚC NGOÀI

Nhóm 1: Những nghiên cứu chung về lý thuyết "biến đổi xã hội" và

"quản trị biến đổi xã hội" vì mục tiêu phát triển bền vững ở các quốc gia, các nền chính trị

Xã hội loài người luôn biến đổi với tính chất, phương thức và trình độ quản lý phát triển xã hội ở mỗi thời kỳ rất khác nhau Đến thời cận đại, gắn liền với trào lưu cách mạng dân chủ tư sản với chủ trương thay thế xã hội phong kiến bằng xã hội dân chủ tư sản thì các học thuyết về phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội tạo được bước ngoặt phát triển, gắn liền với tên tuổi của

Montesquieu (Pháp) với thuyết Tam quyền phân lập, Jean Jacques Rousseau

(Pháp) với thuyết Chủ quyền nhân dân Khi xã hội tư bản chủ nghĩa chứa đựng

nhiều mâu thuẫn đối kháng, K Marx và F Enghen đã xây dựng lý thuyết xung

đột đối kháng nhằm kiến giải sự vận động, biến đổi của xã hội Theo quan điểm của các ông, dựa vào sự thay đổi liên tục trong kỹ thuật mà các xã hội tiến từ đơn giản đến phức tạp Ở mỗi một trạng thái, một xã hội tiềm ẩn những điều kiện tự hủy diệt, và những điều kiện này cuối cùng sẽ dẫn đến sự biến đổi và đưa xã hội vào trạng thái tiếp sau đó Marx tin rằng mẫu thuẫn xã hội trong xã hội tư bản sẽ đem lại một cuộc cách mạng xã hội, và rồi theo quy luật tiến hóa,

xã hội này sẽ được thay thế bằng một xã hội khác công bằng hơn, nhân đạo hơn

Trang 7

Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, khi chủ nghĩa tƣ bản ở Tây Âu và Bắc

Mỹ đã phát triển ở trình độ mới, theo đó cũng nảy sinh những mâu thuẫn, xung đột giữa các nhóm lợi ích, vùng miền, cộng đồng dân cƣ, nên đã xuất hiện

những lý thuyết quản lý xã hội mới gắn liền với tên tuổi của E Durkheim, M Weber, Fredick Winslow Taylor, Henry Grantt, Frank Gilberth, Henry Faylol Nhờ coi trọng khoa học thực nghiệm, nên nghiên cứu của các ông

không những đã đúc kết đƣợc những nguyên lý phổ biến, mà còn cố gắng tìm tòi các biện pháp kỹ thuật trong quản lý phát triển xã hội

Vào thời kỳ hiện đại, những nghiên cứu về chính sách phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội càng có điều kiện đi sâu lý giải các kỹ thuật tác nghiệp

với tính cụ thể của nó Có thể kể đến tên tuổi của Mary Tarkerr Follet (Mỹ)

với “Nhà nước mới” [1920] và “Kinh nghiệm sáng tạo” đã nêu lên những mâu

thuẫn và cơ chế giải quyết mâu thuẫn, quan điểm áp chế, thoả hiệp, mệnh lệnh, những cản trở về mặt tâm lý trong quản lý xã hội Sau Mary Tarkerr Follet

phải kể đến Elton Mayo (Austraylia) với một loạt công trình nhƣ “Các vấn đề

nhân văn của một nền văn minh công nghiệp” [1933], “Các phương thức thay đổi trong công nghiệp” [1930], “Sự sa sút của tình trạng hỗn độn và căng thẳng của nhóm trong sản xuất công nghiệp” [1945], đã nêu lên các nguyên tắc hài

hoà lợi ích khi giải quyết các xung đột giữa các nhóm lợi ích trong xã hội Xã hội hiện đại càng biến đổi với tốc độ nhanh chóng bao nhiêu thì càng thúc đẩy

sự phát triển của khoa học quản lý xã hội nhanh chóng bấy nhiêu và sau năm

1945 đã hình thành các lý thuyết hệ thống về chính sách xã hội và quản lý phát

triển xã hội, nhƣ trường phái cấu trúc luận hiện đại với đại biểu là Robert Dubin, lý thuyết hành vi trong quản lý xã hội với đại biểu là Gregor (“Mặt nhân

văn của xí nghiệp” [1960], “Nhà quản lý chuyên môn” [1967], lý thuyết về nhu

cầu hành vi của Maslow, lý thuyết về “hai yếu tố thúc đẩy” của Hezbeg, lý thuyết động cơ thúc đẩy hành vi của Victo H và Wroom W, lý thuyết quản lý theo văn hóa của William Ouchi, lý thuyết quản lý định lượng của Drucker

Trang 8

Đặc biệt, trong những thập niên gần đây, lý thuyết về chính sách phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội tiếp tục có bước phát triển mới với những nghiên

cứu liên ngành giữa tâm lý học, xã hội học, hành chính học, khoa học tổ chức,

với tính đa chiều cạnh của nó Cụ thể có thể kể tới các nội dung:

Về mối quan hệ giữa tổ chức với hoạt động quản lý xã hội có nghiên cứu

của Fermont E Kast, James Rosenzweig [1976]: Organization and management (“Tổ chức và quản lý”); của Martin J.Gannon [1979]: Organization Behavior (“Hành vi học tổ chức”); của Guy Rocher [1989]:

Organnization Sociale (“Thiết chế xã hội”) Cũng có những nghiên cứu đề cập sâu hơn các nguyên lý, cơ chế vận hành của tổ chức và hệ thống quản lý phát

triển xã hội như công trình của Frank S.Budnick, Dennis Mc Leavey, Richard Mojena [1988]: Principle of Operations Research for Management (“Nguyên lý trong hoạt động nghiên cứu quản lý”); của T.Parsons [1966]: The Social System (“Hệ thống xã hội”); của Haold Koontz và một số tác giả khác [1993]: “Những vấn đề cốt yếu của quản lý”; của Guiter Buschges [1996]: “Nhập môn xã hội

học tổ chức” Về kết cấu của các yếu tố và phát triển và quản lý phát triển xã hội, nhất là những khía cạnh hành vi xã hội, tâm lý học quản lý, được đề cập

trong nghiên cứu của T Parsons [1988]: The Structure of Social Action (“Kết cấu hành vi xã hội); của Harold J Leavitt [1978]: Managerial Psychology (“Tâm lý học quản lý”); của Raymond Firth [1964]: Element of Social

organization (“Yếu tố của quản lý xã hội”)

Nghiên cứu về con người với tư cách là đối tượng của chính sách phát triển xã hội được nhiều tác giả quan tâm, có khi được đề cập với tư cách cá thể,

có khi là nhóm lợi ích với những động lực phát triển hoặc xung đột lợi ích đòi hỏi phải có cơ chế phát huy hoặc hoá giải Đáng chú ư là các nghiên cứu của

A.H Maslow [1978]: A theory of Human Motivation (“Học thuyết về động lực con người”); của John Gillin [1954]: V.G Asanxep [1979]: “Con người trong quản lý xã hội”; của John Gillin [1954]: For a science of Social man (“Khoa

Trang 9

học về con người xã hội”) Những nghiên cứu này là không chỉ nhấn mạnh động lực vật chất - kinh tế, mà hết sức coi trọng các động lực tình cảm - tinh thần mà

bất cứ hệ thống quản lý nào cũng không thể bỏ qua

Về những khác biệt về văn hoá của từng cộng đồng dân tộc, tôn giáo, nhóm dân cư và tác động của nó đối với quản lý phát triển xã hội ở từng quốc

hoặc liên quốc gia được đề cập trong nghiên cứu của Bacionne P.Sherer D

Attigt [1978]: Values and Society (“Các giá trị và xã hội”); Samuel Hungtington [2001]: The clash of civilization and the remaking of world order (“Sự va chạm của các nền văn minh”); của Philip R.Harris [1987]: Managing Cultural differences (“Khắc phục các khác biệt về văn hoá”); của Joost Kuitenbrnwer [1973]: Continuity and discontinuity in community development

theory (“Lý thuyết về tính liên tục và tính gián đoạn trong sự phát triển của cộng đồng”) Nhóm nghiên cứu này đã lưu ý đến đặc tính văn hoá tộc người trong

phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội Tác giả người Trung Quốc

Trương Lập Văn, thông qua tác phẩm “Khái luận hoà hợp học - tư tưởng chiến

lược văn hoá thế kỷ XXI “[1996] còn đưa ra khái niệm hoà hợp học và xem đó là

xu thế của nhân loại trong thế kỷ XXI

Triết lý phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội hiện đại được bàn

luận trong các nghiên cứu của Điểu Kiệt [1997]: Lý luận quản lý chỉnh thể; của Chiếm Bộ Đô Mỹ [1984]: Lý luận quản lý hiện đại; của Checkland: Tư tưởng

và thực tiễn của lý luận hệ thống; của Lê Hồng Lôi [2004]: Đạo Quản lý Các

tác giả Trung Quốc đã nêu lên nhiều điểm về lối suy nghĩ và văn hoá quản lý phát triển xã hội tương đồng với truyền thống xã hội Việt Nam

Những lý thuyết, quan niệm nêu trên có ý nghĩa rất quan trọng, mở ra cách

nhìn đa chiều, đa diện, đa trị khi vận dụng cụ thể vào sự phát triển xã hội và quản

lý phát triển xã hội với mục tiêu bền vững ở từng cộng đồng xã hội, từng nhóm lợi ích nước ta Tuy vậy, đây chỉ là những nghiên cứu chung, ít liên hệ với quản lý

xã hội vùng đa tộc người như miền núi Tây Bắc với những đặc thù về trình độ

Trang 10

phát triển, mâu thuẫn và xung đột xã hội, đòi hỏi những hình thức và phương pháp thích ứng trong hoạch định, thực thi chính sách phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội vì mục tiêu phát triển ổn định, bền vững tại đây

Nhóm 2: Những nghiên cứu tổng quan về “phát triển bền vững”: quan niệm, cách tiếp cận, những tiêu chí, nội dung cơ bản

Tiêu biểu có các nghiên cứu của: Soubbotina Tatyana P [2005]: Không

chỉ là tăng trưởng kinh tế: Nhập môn về phát triển bền vững đã trình bày tổng

quan về vấn đề phát triển bền vững: Khái niệm phát triển, so sánh trình độ phát triển giữa các quốc gia Vấn đề tăng dân số thế giới và tốc độ tăng trưởng kinh

tế, bất bình đẳng về thu nhập, nghèo và đói Vấn đề giáo dục, sức khoẻ và tuổi thọ Công nghiệp hoá và hậu công nghiệp hoá Toàn cầu hoá và ảnh hưởng của

nó tới nền kinh tế các nước Vấn đề ô nhiễm và nguy cơ thay đổi khí hậu toàn cầu Đưa ra các chỉ tiêu về tính bền vững của phát triển

Audrey Akinin, Catherine Aubertin, Luc Cambrézy [2007]: Phát triển

bền vững?: Học thuyết thực tiễn đánh giá đã giới thiệu các bài khoa học của

nhiều tác giả về sự phát triển bền vững của xã hội qua các học thuyết thực tiễn đánh giá về: môi trường, đa dạng sinh học, dân số, chính trị, y tế, kinh tế

Korten David C [1996]: Bước vào thế kỷ XXI hành động tự nguyện và

chương trình nghị sự toàn cầu đã phân tích, so sánh quan điểm phát triển xã hội

lấy tăng trưởng làm trọng tâm để thực hiện các vấn đề trên bình diện quốc tế: mọi người trên thế giới sống bình đẳng, hưởng thành qủa lao động như nhau trong điều kiện tài nguyên hạn hẹp, các tổ chức phi chính phủ với vai trò phát triển thế giới

Ngân hàng Thế giới: Báo cáo phát triển thế giới năm 2003: Phát triển

bền vững trong một thế giới năng động đã xác định một số yếu tố của quá trình

phát triển toàn cầu trong khuôn khổ dài hạn và khái quát hơn để thấy rõ bối cảnh

và đề ra các thể chế quản lý bối cảnh, bảo đảm phát triển bền vững trong một thế giới năng động

Trang 11

Raxchiannhicop V G [1978]: Các nước đang phát triển với "cuộc cách

mạng xanh” đã phân tích những mâu thuẫn của cuộc cách mạng xanh; Quá trình

hình thành, hậu quả và kinh tế của cuộc cách mạng xanh; Cuộc cách mạng xanh với vấn đề phá vỡ những mối liên hệ cổ truyền, cách mạng xanh với các nước đang phát triển ở Châu Á

Nhóm 3: Những nghiên cứu về biến đổi xã hội tại một số quốc gia, khu vực trên thế giới Những nghiên cứu này cung cấp những cứ liệu, cơ sở và kinh nghiệm cho vấn đề quản trị biến đổi xã hội vì mục tiêu phát triển ổn định, bền vững tại vùng Tây Bắc nước ta

Các nghiên cứu của Jason L Finkle [1966]: Political development and social change (“Sự phát triển chính trị và thay đổi xã hội”); Richard Bessel; E.J Feuchtwanger [1981]: Social change and political development in Weimar Germany (“Thay đổi xã hội và phát triển chính trị ở Weimar Đức”); Frank K Upham [1987]: Law and social change in Postwar Japan (“Pháp luật và thay đổi xã hội trong thời hậu chiến Nhật Bản”); Tony Spybey [1992]: Social

change, development and dependency: Modernity, colonialism and the development of the West (“Thay đổi xã hội, phát triển và phụ thuộc: hiện đại,

chủ nghĩa thực dân và sự phát triển của phương Tây”); Arland Thornton,

Hui-Sheng Lin [1994]: Social change and the family in Taiwan (“Thay đổi xã hội và gia đình tại Đài Loan”); John Solomos [1995]: Race, Politics and Social

Change (“Chủng tộc, chính trị và thay đổi xã hội”); v.v Các công trình này đã

nghiên cứu sự biến đổi xã hội các nước, các khu vực nói riêng và thế giới nói chung trong mối quan hệ tác động của các yếu tố chủng tộc, chính trị, chiến tranh, sự xuất hiện và mở rộng nền văn minh phương Tây, pháp luật, hôn nhân gia đình, di cư, sự phân chia lao động quốc tế mới, khủng hoảng dầu lửa Đồng thời, những cách thức quản lý các xung đột và thay đổi trong xã hội cũng bước đầu được đề cập, trong đó đặc biệt nhấn mạnh tới vấn đề môi trường, dân sự,

việc làm, chính sách công nghiệp, sự chênh lệch giàu nghèo

Trang 12

Alexander Weilenmamn trong công trình nghiên cứu: Evaluation research and social change (“Đánh giá nghiên cứu và thay đổi xã hội”) [1970]

đã trình bày nhu cầu phát triển, biến đổi và thay đổi của xã hội trong các nước đang phát triển Tác giả cũng có những nhận xét, phê phán các học thuyết, lý thuyết về đánh giá các biến đổi xã hội, các dự án khác nhau nhằm thay đổi xã hội ở các vùng nông thôn, thành phố và những tiêu chuẩn, nội dung cũng như hệ

phương pháp đánh giá các dự án phát triển xã hội

Kim Kyong-dong, Korea Herald [2008]: Social change in Korea (Thay

đổi xã hội ở Hàn Quốc) đã trình bày tổng quan về sự thay đổi xã hội ở Hàn Quốc, với nổi bật là các vấn đề hôn nhân, gia đình và phụ nữ trong xã hội, sự phân tầng xã hội và biến đổi xã hội Việc quản trị biến đổi xã hội cũng được các giả bước đầu đề cập, trong đó nhấn mạnh đặc biệt vai trò của các nhóm xã hội,

các tổ chức và thể chế Youn-Ok Park và các nhà nghiên cứu thuộc Trung tâm

Chính sách Hàn Quốc (OECD) trong nhiều công trình, bài viết nghiên cứu của

mình như Khung phát triển và gắn kết xã hội của Hàn Quốc [2011], Xã hội qua các nhìn tổng quan 2011 - Các chỉ số xã hội OECD [2011] và Biến đổi xã hội và quản trị biến đổi xã hội ở Hàn Quốc [2013] đã cung cấp những cứ liệu về quá

trình biến đổi xã hội ở Hàn Quốc Các vấn đề nổi bật của xã hội Hàn Quốc hiện nay như: thâm hụt ngân sách trầm trọng, nợ tích luỹ gia tăng, tỷ lệ thất nghiệp cao trong tầng lớp thanh niên, tỷ lệ đói nghèo tăng, sự già hoá dân số, chênh lệch giàu

- nghèo gia tăng được đưa ra phân tích sâu sắc Đồng thời, tác giả và các nhà nghiên cứu của Trung tâm đã đề xuất bảy chiến lược về chính sách xã hội nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và gắn kết xã hội, trong đó, nhấn mạnh đặc biệt tới giải quyết vấn đề phân cực, đảm bảo cơ hội bình đẳng cho tất cả mọi người

Báo cáo của các chuyên gia Harvard University về Việt Nam [2008]:

Lựa chọn thành công: Bài học từ Đông Á và Đông Nam Á cho tương lai của Việt Nam Một khuôn khổ chính sách phát triển kinh tế - xã hội cho Việt Nam

trong giai đoạn 2011-2020; Gill Indermit, Kharas Homi[2007]: Đông Á phục

Trang 13

hưng - Ý tưởng phát triển kinh tế; J E Spence: Du canh ở Đông Nam Á, ,

nghiên cứu về biến đổi xã hội của các quốc gia tại khu vực Đông Nam Á, trên nhiều chiều cạnh khác nhau, tác động của những biến đổi đó đối với từng quốc gia và khu vực Những đề xuất, giải pháp là những tham khảo có ý nghĩa cho việc nghiên cứu biến đổi xã hội và quản trị biến đổi xã hội tại các vùng dân tộc

thiểu số ở nước ta

Nhóm 4: Những nghiên cứu về các khu vực miền núi và các tộc người thiểu số ở Việt Nam, trong đó, thực trạng biến đổi xã hội và quản trị biến đổi

xã hội vì mục tiêu phát triển ổn định, bền vững ở vùng Tây Bắc

Là nơi tập trung nhiều thành phần dân tộc thiểu số và có nền văn hoá đa dạng, đậm đà bản sắc của các dân tộc thiểu số nên từ lâu khu vực miền núi Tây Bắc đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học nước ngoài

Trong đó có những công trình nghiên cứu từ rất sớm của các nhà nhân học văn hoá, nhân học xã hội như: The Muong Langguae (“Ngôn ngữ Mường) [1891]

của Parke E.H; Le Muong Geographic humaine et Sociologie (“Địa nhân văn -

xã hội dân tộc Mường”) [1948] của CuisinerJ Những nghiên cứu này đề cập

tới phong tục, tập quán, ngôn ngữ, đặc điểm nhân chủng học, dân tộc học của một số tộc người dân tộc thiểu số ở miền núi phía Bắc Từ đó đến nay tiếp tục có những nghiên cứu của các học giả nước ngoài về sự biến đổi xã hội tại các tỉnh miền núi Tây Bắc Việt Nam thông qua các hoạt động nghiên cứu đào tạo, trao đổi, hợp tác khoa học, hoạt động trong hợp tác thực hiện các dự án xoá đói giảm nghèo, bảo vệ môi trường - sinh thái giữa nước ta với các tổ chức quốc tế Tiêu

biểu có công trình nghiên cứu của A.G.Haudricour [1973]: Mấy nhận xét về lý luận và thực tiễn chuyến đi thăm các dân tộc thiểu số ở Tây Bắc và Việt Bắc

Gần đây, Donovan D., Rambo T.A, Fox J và nhóm cộng sự đã công bố hai

công trình nghiên cứu quan trọng về vùng núi phía Bắc Việt Nam Trong công

trình đầu tiên Những xu hướng phát triển ở vùng núi phía Bắc Việt Nam [1997],

khi tiếp cận tới thực trạng quản lý phát triển xã hội ở vùng dân tộc thiểu số, các

Trang 14

nhà nghiên cứu đã chỉ ra một hạn chế phổ biến là xu hướng áp đặt ý chí của nhà nước đối với người dân thay vì phát huy năng lực nội sinh của từng cộng đồng tộc người thiểu số, cường điệu hoá vai trò quản lý nhà nước thay vì phát huy quyền tự quản của cộng đồng làng/bản, đề cao vai trò của tri thức phi bản địa thay vì khai thác, phát huy vai trò của tri thức bản địa trong quản lý xã hội tộc người Điều này đã gợi mở cách tiếp cận mới trong đổi mới chính sách phát triển

xã hội tộc người và quản lý phát triển xã hội tộc người ở Tây Bắc trong những

năm tiếp theo Tiếp đó, trong công trình nghiên cứu Vùng núi phía bắc Việt Nam: Một số vấn đề về môi trường và kinh tế - xã hội [2001], các tác giả đã xem xét cụ thể mỗi cộng đồng tộc người gắn với hệ sinh thái tộc người (rẻo cao, rẻo

giữa, thung lũng), mối tương quan giữa sự thay đổi môi trường và xã hội trong các cộng đồng, các quá trình cơ bản của sự thay đổi về mặt môi trường và xã hội vùng núi phía Bắc Với những thay đổi riêng ở từng khu vực, gắn với đặc điểm riêng của các dân tộc, các nhà nghiên cứu đã chỉ rõ cần phải có những tính toán

cụ thể trong việc hoạch định chính sách quản trị xã hội đối với cả vùng và đối với từng tỉnh, từng dân tộc

Bob Baulch and Nguyen Thi Thu Phuong [2007]: A review of ethnic

minority policies and programs in Vietnam (Tổng quan các chính sách và chương trình cho người dân tộc thiểu số ở Việt Nam) đã tổng kết lại toàn bộ các

chính sách, chương trình có liên quan đến người dân tộc thiểu số Với 47 trang báo cáo, các tác giả đã bao quát các chính sách gần đây cũng như các chính sách

đã, đang được thực hiện trong 10 năm qua và những hiệu quả đã đạt được cũng như chưa đạt được từ các dự án, chương trình đối với người dân tộc thiểu số trên các lĩnh vực: xóa đói, giảm nghèo, tạo việc làm, chính sách về giao đất, giao rừng, trồng rừng, các chính sách về giáo dục, y tế, trợ cấp, giao thông và thông tin liên lạc…

Bên cạnh những công trình của các nhà nghiên cứu, không thể không nhắc tới những nghiên cứu của các tổ chức phi chính phủ trong quá trình tham

Trang 15

dự các chương trình, dự án xoá đói giảm nghèo, bảo vệ môi trường sinh thái, cải cách hành chính, ở vùng dân tộc thiểu số nước ta, trong đó, vùng Tây Bắc là

một trong những trọng điểm nghiên cứu Những nghiên cứu này có xu hướng

tham dự vào những vấn đề mà xã hội tộc người đang đặt ra cấp bách Tiêu biểu

cho nhóm nghiên cứu này là công trình của Judy L Backer [2002]: Đánh giá tác động của các dự án phát triển tới đói nghèo; Oxfam, Actionaid Vietnam[2008]: Theo dõi nghèo theo phương pháp cùng tham gia tại một số cộng đồng dân cư nông thôn Việt Nam; Viện Nghiên cứu và phát triển - Đại học Sussex[2008]: The economic development of ethnic minorities in Vietnam-

Policy Brief (Phát triển kinh tế người dân tộc thiểu số ở Việt Nam-Tóm lược

chính sách); Công ty ADUKI Pty Ltd [1995]: Poverty in Vietnam (Vấn đề nghèo đói ở Việt Nam); Ngân hàng Thế giới (WB): Báo cáo phát triển Việt

Nam của Ngân hàng thế giới với chủ để: Nghèo đói (2004) Các công trình trên

đã trình bày một cách toàn diện về tình hình nghèo đói và bất bình đẳng ở Việt Nam nói chung và giữa người dân tộc thiểu số ở tỉnh Tây Bắc với các khu vực còn lại của đất nước nói riêng Qua các báo cáo, có thể thấy được phần nào bức tranh về thực trạng những thành quả, thách thức và giải pháp cho xóa đói giảm nghèo ở các tỉnh miền núi Tây Bắc; sự khác biệt về mức sống ngày một gia tăng giữa người Kinh với các tộc người thiểu số cũng như giữa các tộc người thiểu số với nhau ở vùng Tây Bắc nước ta trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa Những giải pháp được đưa ra trong các báo cáo là những tài liệu tham khảo quan trọng cho các nhà hoạch định chính sách nhằm cải thiện mức sống của người dân tộc thiểu số, hướng tới mục tiêu phát triển bình đẳng, ổn định, bền vững của vùng Tây Bắc Việt Nam

Tóm lại, các nhóm nghiên cứu của người nước ngoài nêu trên đã cung cấp cách nhìn tổng quan về các quan niệm, lý thuyết tiếp cận về biến đổi xã hội, phát triển bền vững xã hội ; các nghiên cứu so sánh về thực trạng biến đổi xã hội và kinh nghiệm quản trị biến đổi xã hội ở nhiều quốc gia có tính chất tham khảo

Trang 16

cho Việt Nam nói chung và vùng Tây Bắc Việt Nam nói chung trong việc hoạch định chính sách phù hợp Đặc biệt, những thay đổi xã hội ở khu vực miền núi Tây Bắc cũng đã được trình bày trong một số nghiên cứu của các nhà khoa học

và các tổ chức nước ngoài Bước đầu các nghiên cứu đã phản ánh được thực

trạng thay đổi xã hội trên một số khía cạnh cụ thể; quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam đối với vấn đề quản trị xã hội tại vùng dân tộc thiểu

số Tây Bắc; những thành công - hạn chế trong thực tiễn thực hiện quản trị xã hội tại vùng Tây Bắc Các nghiên cứu này đã cung cấp những cách tiếp cận và tư liê ̣u quan tro ̣ng cho triển khai nghiên cứu về biến đổi xã hội và quản trị biến đổi

xã hội tại vùng miền núi Tây Bắc nước ta Tuy nhiên, nghiên cứu nước ngoài mới chủ yếu đề cập tới những biến đổi xã hội ở một số lĩnh vực cụ thể , phạm vi nghiên cứu cũng chưa được mở rộng , tính đa diện và chuyên sâu trong các nghiên cứu vẫn còn khá hạn chế Dù vậy, những công trình nghiên cứu thuô ̣c nhóm này đã cung cấp cho đề tài sự đánh giá khách quan , nhiều chiều về những vấn liên quan đến nhận thức luận, thực trạng phát triển, cơ chế, chính sách đối với những biến đổi xã hội và sự lựa chon quản trị xã hội phù hợp đối với khu vực có nhiều nét đặc trưng cơ bản như vùng miền núi Tây Bắc nước ta

NGHIÊN CỨU TRONG NƯƠC

Nhóm 1: Lý thuyết xã hội học về sự phát triển, biến đổi xã hội, quản trị biến đổi xã hội hướng tới mục tiêu bền vững

Cũng giống như tự nhiên, mọi xã hội không ngừng biến đổi Sự ổn định của xã hội chỉ là sự ổn định của bề ngoài, còn thực tế nó không ngừng thay đổi bên trong bản thân nó Bất cứ xã hội nào và bất cứ nền văn hóa nào, cho dù nó

có bảo thủ và cổ truyền đến đâu chăng nữa cũng luôn biến đổi; sự biến đổi trong

xã hội hiện đại ngày càng rõ hơn, nhanh hơn, và điều này cho thấy rõ hơn là sự biến đổi đó không còn là điều mới mẻ, nó đã trở thành chuyện thường ngày Nghiên cứu quy luật vận động, biến đổi xã hội cũng như vấn đề quản trị những biến đổi xã hội đó thu hút nhiều nhà khoa học trong nước với mức độ tham gia

Trang 17

ngày càng tăng Tiêu biểu có thể kể tới các nghiên cứu của: Nguyễn Tuấn Anh,

Tống Văn Chung, Annuska Derks [2011]: Những vấn đề xã hội học trong biến

đổi xã hội; Đặc biệt, gần đây có các nghiên cứu trực diện về biến đổi xã hội và

quản trị biến đổi xã hội của TS Lô Quốc Toản [2013]: Nhận thức về biến đổi xã hội và quản trị biến đổi xã hội ở Việt Nam; PGS, TS Ngô Ngọc Thắng [2013]: Phân tầng xã hội và quản trị phân tầng xã hội ở Việt Nam hiện nay; GS, TSKH Phan Xuân Sơn [2013]: Xung đột xã hội và quản lý, giải toả xung đột xã hội -

một số vấn đề lý luận và thực tiễn;

Những nghiên cứu này đã làm rõ nhiều nội dung của biến đổi xã hội, các cấp độ biến đổi xã hội, đặc điểm của biến đổi xã hội, các khái niệm liên quan; làm rõ cách tiếp cận xã hội học về sự biến đổi xã hội, trong đó quen thuộc nhất

là những cách tiếp cận theo chu kỳ, quan điểm tiến hoá, quan điểm xung đột; phân tích những nhân tố và điều kiện của sự biến đổi xã hội Các tác giả về cơ bản đều thống nhất với nhau ở một số điểm:

- Biến đổi xã hội diễn ra thường xuyên, theo nhiều chiều và với những trạng thái khác nhau;

- Biến đổi xã hội có thể tiệm tiến, từ từ nhưng cũng có thể đột biến Nó không song hành, thuận chiều và đồng nhất tự nhiên với phát triển và tiến bộ;

- Biến đổi xã hội có thể dẫn tới phát triển và tiến bộ mà cũng có thể ngược lại, tác động tiêu cực tới phát triển và tiến bộ

- Trong điều kiện phát triển mạnh mẽ nền kinh tế thị trường, đẩy mạnh dân chủ hoá, xây dựng nhà nước pháp quyền, chủ động và tích cực mở cửa, hội nhập quốc tế, muốn nâng cao chất lượng và hiệu quả quản trị xã hội, phải xác

lập được mối liên hệ mật thiết, sự chi phối đúng lúc, đúng cách giữa quản trị kinh tế với quản trị xã hội trên những nguyên tắc chủ đạo của chính trị

Nghiên cứu về triết lý, các tiêu chí phát triển bền vững gắn với điều kiện của Việt Nam thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Có thể kể đến

nghiên cứu của Hồ Sĩ Quý [2000]: Mối quan hệ giữa con người và tự nhiên

Trang 18

trong phát triển xã hội đã đi sâu phân tích về mối quan hệ, tác động qua lại giữa

con người với tự nhiên Gắn với những yêu cầu mới về sự phát triển xã hội theo tiêu chí mới hiện nay, nghiên cứu đã đề ra những nguyên tắc cơ bản trong nhận thức, hoạt động, cách thức đối xử của con người với tự nhiên, bảo vệ môi trường sinh thái để đảm bảo sự phát triển xã hội theo hướng ổn định, bền vững Nghiên cứu này đã cung cấp những kiến thức lý luận chung hết sức cần thiết cho việc tìm hiểu các vấn đề có liên quan đến phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng bền vững ở nước ta hiện nay

Hoàng Văn Luân [2000]: Lợi ích động lực của sự phát triển xã hội bền

vững đã phân tích, hoàn thiện thêm một bước quan niệm về lợi ích, sự hình

thành và vai trò của lợi ích đối với sự phát triển xã hội nói chung, sự phát triển

xã hội bền vững nói riêng Đồng thời trong luận án, tác giả bước đầu đưa ra một

số nguyên tắc, biện pháp và công cụ góp phần nâng cao hiệu quả điều chỉnh các quan hệ lợi ích vì sự phát riển xã hội bền vững

Nghiên cứu của Lê Cao Đoàn [2001]: Triết lý phát triển: Quan hệ công

nghiệp - nông nghiệp, thành thị và nông thôn trong quá trình CNH, HĐH ở Việt Nam, trên cơ sở phân tích thực trạng, những yêu cầu đặt ra đối với sự nghiệp

CNH, HĐH ở Việt Nam hiện nay đã tập trung phân tích về những vấn đề có tính nguyên tắc, triết lý trong xử lý mối quan hệ giữa phát triển công nghiệp với phát triển nông nghiệp; giữa quá trình đô thị hóa với việc đảm bảo cho sự phát triển

ổn định, lâu dài của nông nghiệp, nông thôn Phát triển bền vững được nghiên cứu tập trung đề cập, coi là một triết lý có ý nghĩa sống còn đối với quá trình CNH, HĐH ở Việt Nam hiện nay

Phạm Xuân Nam [2008]: Triết lý phát triển ở Việt Nam - Mấy vấn đề cốt

yếu tuy không đề cập trực diện đến lý thuyết phát triển bền vững nhưng gắn với

thực tiễn điều kiện của Việt Nam, những vấn đề cốt lõi đảm bảo sự phát triển lâu dài, ổn định, phồn vinh của đất nước đã được nghiên cứu định hình rõ như: phát huy lợi thế về địa kinh tế, địa chính trị, đặc điểm văn hóa dân tộc, đặc điểm cư

Trang 19

dân Nghiên cứu này cung cấp những vấn đề mang tính phương pháp luận, những “triết lý” nền tảng về những yêu cầu đặt ra đối với sự phát triển bền vững của đất nước trong giai đoạn hiện nay

Bên cạnh các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học, có thể kể tới một số công trình nghiên cứu của các Bộ, Viện có liên quan trong hoạch định

đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước như: Viện Chiến lược phát triển

[2001]: Cơ sở khoa học của một số vấn đề trong chiến lược phát triển kinh tế -

xã hội Việt Nam đến năm 2010 và tầm nhìn 2020; Bộ Kế hoạch và Đầu tư

[1999]: Những vấn đề chung của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001- 2010: Vị trí, tính chất, đặc điểm của thời kỳ chiến lược; quan điểm, tư tưởng chỉ đạo và mục tiêu phát triển Các nghiên cứu này đều nhấn mạnh tới sự cần thiết,

cấp bách phải quy hoạch, chỉ đạo phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam theo

hướng phát triển bền vững

Nhóm 2: Nghiên cứu tổng quan về vấn đề phát triển bền vững, phát triển bền vững ở Việt Nam và tại các vùng dân tộc thiểu số

Những nghiên cứu chung về lý thuyết phát triển bền vững có nghiên cứu

của: Nguyễn Văn Huyên [2009]: Phát triển bền vững: Một lý thuyết phát triển trong thế giới đương đại; Tạp chí Tư tưởng Văn hoá: [2004]: Tiếp cận khái niệm phát triển bền vững; Trần Văn Lộc [2004]: Các chỉ tiêu về phát triển bền

vững Các nghiên cứu trên bước đầu phân tích, chỉ rõ nội dung, quan điểm và

những phân tích, luận giải về sự hình thành, phát triển lý thuyết bền vững trên thế giới cũng như ở Việt Nam

Nghiên cứu vấn đề phát triển bền vững ở Việt Nam thu hút sự quan tâm

của nhiều nhà khoa học Tiêu biểu như: Lê Minh Đức [2004]: Về định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam; Nguyễn Văn Sử [2007]: Những vấn

đề cấp bách đặt ra cho sự phát triển bền vững ở Việt Nam đã trình bày tổng

quan nhiều vấn đề về phát triển bền vững ở Việt Nam

Trang 20

Nghiên cứu tổng quan những vấn đề tác động tới mục tiêu phát triển bền

vững có một số công trình tiêu biểu: Lê Thế Giới, Võ Xuân Tiến, Trương Bá

Thanh (đồng chủ biên): [2005]: Hội nhập kinh tế quốc tế với phát triển bền

vững đã đề cập những vấn đề lí luận chung liên quan đến hội nhập kinh tế quốc

tế và phát triển bền vững Phân tích những vấn đề thực tiễn và pháp lý, nhân lực, môi trường, liên quan trực tiếp đến hiệu quả của hội nhập kinh tế quốc tế và phát triển bền vững ở nước ta nói chung, cũng như một số ngành kinh tế địa phương khu vực miền trung nói riêng

Nghiên cứu của Nguyễn Văn Động (chủ biên) [2010]: Xây dựng và hoàn

thiện pháp luật nhằm bảo đảm phát triển bền vững ở Việt Nam hiện nay đã phân

tích, đánh giá thực trạng xây dựng và hoàn thiện pháp luật theo hướng đảm bảo phát triển bền vững của nước ta trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống kinh

tế, tài chính - ngân hàng, đất đai, môi trường, lao động - việc làm, an sinh xã hộ, chăm sóc sức khoẻ, bình đẳng giới, văn hoá, giáo dục, khoa học, an ninh - quốc phòng, đối ngoại

Các nghiên cứu của Lê Thi [2004]: Gia đình, phụ nữ Việt Nam với dân

số, văn hoá và sự phát triển bền vững; Nguyễn Nhâm [2005]: An ninh kinh tế,

an ninh quân sự với sự phát triển bền vững của nền kinh tế nước ta đã phân

tích một số nhân tố, yếu tố tác động tới sự phát triển ổn định, bền vững

Tổng quan của Nguyễn Mạnh Hùng [2004]: Kinh tế - Xã hội Việt Nam

hướng tới chất lượng tăng trưởng, hội nhập - phát triển bền vững tiếp cận vấn

đề phát triển bền vững ở Việt Nam thông qua việc trình bày tổng quan tình hình kinh tế - văn hoá - xã hội Việt Nam Tình hình thực hiện nhiệm vụ năm 2003 và các chỉ tiêu giải pháp thực hiện nhiệm vụ công tác năm 2004 của các ngành công nghiệp, thương mại, nông nghiệp, xây dựng, thủy sản Trên cơ sở đó, tác giả đã có những đánh giá về tốc độ phát triển của các ngành này, sự tác động từ những phát triển đó tới sự phát triển ổn định, bền vững của các ngành này cũng như tới tổng thể nền kinh tế - xã hội đất nước

Trang 21

Nghiên cưu của Lưu Bách Dũng (chủ biên) [2011]: Khung thể chế phát

triển bền vững cho một số nước Đông Nam Á và bài học cho Việt Nam đã trình

bày một số vấn đề lý luận về khung thể chế phát triển bền vững Cấu trúc và hoạt động của khung thể chế phát triển bền vững một số nước Đông Nam Á Những thành công và chưa thành công của các khung thể chế phát triển bền vững, nguyên nhân, bài học cho Việt Nam

Phát triển bền vững ở vùng dân tộc thiểu số, miền núi nước ta thu hút nhiều hướng nghiên cứu với nhiều cách tiếp cận ở nhiều lĩnh vực khác nhau Tiêu biểu

có thể kể tới nghiên cứu của: Phan Văn Hùng (chủ biên) [2007]: Phát triển bền vững vùng dân tộc thiểu số và miền núi Việt Nam; Nguyễn Văn Động (chủ biên)

[2010]: Xây dựng và hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm phát triển bền vững ở

Việt Nam hiện nay; Nguyễn Bá Quân [2006]: Nội dung chủ yếu của phát triển

bền vững vùng dân tộc thiểu số ở nước ta đã phân tích, đánh giá thực trạng xây

dựng và hoàn thiện pháp luật theo hướng đảm bảo phát triển bền vững của nước

ta trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống kinh tế, tài chính - ngân hàng, đất đai, môi trường, lao động - việc làm, an sinh xã hộ, chăm sóc sức khoẻ, bình đẳng giới, văn hoá, giáo dục, khoa học, an ninh - quốc phòng, đối ngoại

Phan Văn Hùng, Lê Hải Đường, Hoàng Công Dũng [2006]: Hỏi - đáp

về phát triển bền vững vùng dân tộc thiểu số đã tập hợp những câu hỏi và lời

giải đáp về các vấn đề liên quan tới việc phát triển bền vững dân tộc thiểu số như: phát triển môi trường, nông-lâm nghiệp, bảo tồn văn hoá truyền thống trong phát triển bền vững

Trần Văn Thuật [2002]: Kỷ yếu diễn đàn phát triển bền vững miền núi

Việt Nam đã tập hợp những ý kiến tham luận nêu những thành tựu phát triển

kinh tế-xã hội, văn hoá, bảo vệ môi trường của miền núi Việt Nam, Đồng thời đề cập những khó khăn thách thức của công cuộc phát triển bền vững miền núi, những giải pháp trên từng lĩnh vực

Trang 22

Lê Văn Khoa [1997]: Môi trường và phát triển bền vững ở miền núi đã

trình bày những nhận thức cơ bản về môi trường và phát triển bền vững ở miền núi Đặc trưng cơ bản, các vấn đề về môi trường, phương pháp tiếp cận và công nghệ trong sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường, quản lý tổng hợp các hệ thống nông nghiệp, khuyến nông ở miền núi Các chỉ thị cho khả năng bền vững

ở miền núi

Nhóm 3: Nghiên cứu về biến đổi xã hội và quản trị biến đổi xã hội của các quốc gia trên thế giới, kết quả và kinh nghiệm đối với các vùng dân tộc thiểu số Tây Bắc trong quản trị vì mục tiêu phát triển ổn định, bền vững

Việc nghiên cứu về quá trình biến đổi xã hội ở các quốc gia trên thế giới

và “thái độ ứng xử” của Chính phủ các quốc gia, các nền chính trị này trong việc quản trị biến đổi xã hội luôn là đề tài hấp dẫn, mới mẻ, thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong nước Tiêu biểu có thể kể tới các nghiên cứu của:

Mai Ngọc Cường [2006]: Chính sách xã hội nông thôn - Kinh nghiệm CHLB Đức và thực tiễn Việt Nam; Nguyễn Quang Thuấn, Bùi Nhật Quang [2011]:

Mô hình phát triển xã hội của một số nước phát triển Châu Âu - Kinh nghiệm và

ý nghĩa đối với Việt Nam Các nghiên cứu đề cập đến thực trang và những vấn

đề đặt ra đối với biến đổi xã hội ở một số nước công nghiệp phát triển Châu Âu

và gợi mở những kinh nghiệm có thể vận dụng đối với Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Nghiên cứu về biến đổi xã hội và quản trị biến đổi xã hội ở Trung Quốc, Hàn Quốc và một số nước Đông Nam Á, là những nước đang phát triển, có điều kiện kinh tế, xã hội gần với Việt Nam, có những công trình nghiên cứu của:

Hoàng Thế Anh [2009]: Vấn đề xây dựng xã hội hài hòa xã hội chủ nghĩa ở Trung Quốc; Nguyễn Thị Thanh Giang [2013]: Tình hình phát triển xã hội Trung Quốc năm 2012 và triển vọng năm 2013; PGS, TS Nguyễn Thị Huệ [2010]: Phát triển xã hội ở Trung Quốc và một số nước Đông Nam Á; Dương Minh Tuấn [2012]: Một số vấn đề cơ bản về con đường phát triển hiện đại của

Trang 23

nông nghiệp và nông thôn Nhật Bản; Ngô Xuân Bình [2006]: Giải quyết các vấn

đề xã hội trên cơ sở phát triển kinh tế - Kinh nghiệm Hàn Quốc và gợi ý cho Việt

Nam; Hồ Sĩ Quý [2012]: Tiến bộ xã hội: Một số vấn đề về mô hình phát triển ở Đông Á và Đông Nam Á; PGS, TSKH Trần Khanh: Phân phối thu nhập và

quản lý xã hội bằng chính sách lao động, tiền lương và nhà ở công cộng: Kinh

nghiệm ở Singapo; các công trình nghiên cứu của Phạm Thị Vinh: Người Moro trong lịch sử Philippin; Người Melayu Muslim và phong trào ly khai ở Thái Lan;

Vấn đề Aceh ở Indonesia; Tính cộng đồng, tính cá nhân và thành công trong phát triển đất nước: Trường hợp Singapore; Liên bang Malaysia: Con đường tiến tới

một xã hội ổn định, phồn vinh; các công trình nghiên cứu của Nguyễn Huy Hồng: Khủng bố ở Đông Nam Á: Thực trạng và những vấn đề đặt ra; Liên bang Malaysia: Lịch sử, văn hoá và các vấn đề hiện đại; Vũ Quang Thiện: Vấn đề

dân tộc ở Mianma Các tác giả đã làm bật nổi tính đa dân tộc, đa tôn giáo và đa

văn hoá của các các nước trên thế giới Xuất phát từ những sự khác biệt về dân tộc, tôn giáo và văn hoá, sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế, xã hội là cơ

sở tiềm ẩn những mâu thuẫn, cạnh tranh giữa các cộng đồng dân cư, các vùng dân

cư, dẫn tới những biến đổi xã hội trên nhiều mặt với nhiều mức độ, cấp độ khác nhau Đồng thời thông qua các nghiên cứu về các quốc gia có những điểm tương đồng với Việt Nam, các tác giả đã cung cấp những kinh nghiệm có tính chất tham khảo bổ ích cho Việt Nam trong việc quản trị biến đổi xã hội hướng tới mục tiêu phát triển ổn định, bền vững, đặc biệt tại các vùng dân tộc thiểu số với nhiều nét đặc thù như khu vực miền núi Tây Bắc

Nhóm 4: Nghiên cứu về biến đổi xã hội và quản trị biến đổi xã hội ở Việt Nam vì mục tiêu phát triển bền vững trong những năm đổi mới, đặc biệt sau khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên của WTO: thành tựu, kết quả và kinh nghiệm đối với các tỉnh miền núi Tây Bắc

Đây là nhóm nghiên cứu tập trung rất nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học Có thể chia thành những nhóm nhỏ sau:

Trang 24

Thứ nhất: Nhóm các công trình nghiên cứu về biến đổi xã hội và quản trị biến đổi xã hội trong mục tiêu phát triển bền vững: quan niệm, cách tiếp cận và nhận diện một số yếu tố tác động

Trong công trình nghiên cứu: Biến đổi xã hội và quản trị biến đổi xã hội - quan niệm và cách tiếp cận và Phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội:

quan niệm, vấn đề, sự cần thiết cho Việt Nam và xác định logíc nghiên cứu, GS,

TS Hoàng Chí Bảo trình bày quan niệm về biến đổi xã hội và quản trị biến đổi

xã hội qua hệ thống các tài liệu khoa học và quan sát thực tiễn; đề cập đến bảy vấn đề đặt ra trong việc quản lý sự phát triển xã hội, trong đó có: tính đa nghĩa

và nhiều cấp độ biểu hiện của phạm trù xã hội, tính liên kết chỉnh thể trong quan niệm phát triển xã hội, phát triển bền vững; phân tích một số xuất phát điểm để khẳng định tính cấp thiết phải nghiên cứu vấn đề phát triển xã hội và quản lý sự phát triển xã hội ở Việt Nam Đặc biệt, khi đề cập tới triết lý phát triển, triết lý quản trị biến đổi xã hội, tác giả đặc biệt nhấn mạnh tới: tầm nhìn; những giá trị cốt lõi (mục tiêu); hành động và chương trình hành động; chủ thể tổ chức thực hiện; lực lượng xã hội tham gia (cộng đồng xã hội); những điều kiện thúc đẩy,

hỗ trợ phát triển; hiệu ứng xã hội, hiệu quả, kết quả để thụ hưởng, để tiếp tục tái sinh sự phát triển theo hướng tiến bộ, tích cực

Nghiên cứu của Bùi Thế Cường [2010]: Góp phần tìm hiểu biến đổi xã

hội ở Việt Nam hiện nay đã trình bày nhiều vấn đề lý luận và phương pháp luận

về biến đổi cơ sở xã hội ở Việt Nam như: động thái dân số, văn hoá và biến đổi

xã hội; bất bình đẳng và kết cấu xã hội, phúc lợi xã hội; những mô hình xã hội

và quản lý xã hội

Về tác động của xu thế toàn cầu hoá và việc ra nhập các tổ chức quốc tế đối

với sự biến đổi xã hội Việt Nam có các nghiên cứu của: Trung tâm Khoa học xã

hội và Nhân văn Quốc gia [2003]: Toàn cầu hoá và phát triển bền vững; Lê Thế Giới, Võ Xuân Tiến, Trương Bá Thanh [2005]: Hội nhập kinh tế quốc tế với phát triển bền vững; Trần Ngọc Hiên [2007]: Những biến đổi về mặt xã hội của

Trang 25

Việt Nam dưới tác động của hội nhập WTO; TS Nguyễn Xuân Dũng [2010]: Dự

báo xu hướng toàn cầu hoá và những tác động đối với phát triển xã hội và quản

lý phát triển xã hội; PGS, TS Phạm Thành Dung [2013]: Tác động của toàn cầu

hoá đối với biến đổi xã hội và quản trị biến đổi xã hội đã khẳng định toàn cầu

hoá, khu vực hoá tạo ra nhiều cơ hội phát triển xã hội toàn cầu, tiếp cận hài hoà những giá trị biến đổi xã hội, đồng thời cũng đặt ra những thách thức không nhỏ đối với xã hội và quản trị xã hội của từng quốc gia, dân tộc trên nhiều khía cạnh Điều này đòi hỏi các nhà hoạch định chính sách ở Việt Nam phải nhận thức đúng

và tìm ra các giải pháp phù hợp để phát triển bền vững, ổn định đất nước, đặc biệt

là tại những khu vực đặc thù như miền núi Tây Bắc

Ngoài ra, trong các nghiên cứu của: PGS.TS Phạm Ngọc Thanh [2013]:

Ảnh hưởng của văn hoá lãnh đạo, quản lý đối với việc kiểm soát tác động tiêu

cực của biến đổi xã hội ở Việt Nam hiện nay; Ths Nguyễn Thanh Bình [2013]:

Môi trường tự nhiên như một nguồn của biến đổi xã hội và những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam; một số yếu tố tác động quan trọng khác tới biến đổi xã hội

và quản trị biến đổi xã hội ở Việt Nam cũng đã được phân tích, luận chứng

Thứ hai: Nhóm các công trình nghiên cứu về thực trạng biến đổi xã hội trong mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam

Nguyễn Văn Tiến [2000]: Số liệu về sự biến đổi xã hội ở Việt Nam thời

kỳ đổi mới không chỉ thống kế, điều tra kinh tế - xã hội mà còn là một công

trình nghiên cứu khoa học Nhóm tác giả của công trình trên cơ sở tập hợp các nguồn báo cáo và điều tra xã hội học đã xây dựng hệ thống cứ liệu, số liệu tương đối toàn diện, chi tiết về tình hình kinh tế, xã hội Việt Nam trên nhiều lĩnh vực giai đoạn 1986-2000 Đồng thời, thông qua sự chuyển dịch, thay đổi của các số liệu, nhóm tác giả cũng bước đầu đưa ra những phân tích, đánh giá khá sâu sắc về tình hình phát triển, biến đổi của từng lĩnh vực kinh tế, xã hội cũng như của cả nền kinh tế - xã hội Việt Nam trong chặng đường đầu 25 năm tiến hành công cuộc đổi mới

Trang 26

Nghiên cứu của Lê Ngọc Hùng [2010]: Các cấp độ và xu hướng biến đổi

xã hội Việt Nam hiện nay: nhìn từ góc độ xã hội học; GS, TS Hoàng Chí Bảo

[2013]: Biến đổi xã hội ở Việt Nam quan hơn 20 năm đổi mới đã nhận diện

những biến đổi xã hội, ngoài việc xem xét quy mô rộng lớn và tính phức tạp của những biến đổi đó, gắn liền với những nhân tố tác động tới biến đổi xã hội đã xác định cụ thể nội dung của những biến đổi này

Kết quả dự án Một số vấn đề kinh tế - xã hội sau 20 năm đổi mới ở Việt

Nam: Dự án hỗ trợ tổng kết 20 năm Đổi mới ở Việt Nam của Nguyễn Văn

Thường, Thang Văn Phúc, Nguyễn Minh Phương [2007] đã phân tích, lý giải

những thành tựu quan trọng của các lĩnh vực đời sống xã hội qua 20 năm tiến hành đổi mới đất nước: điều chỉnh chức năng quản lí của Nhà nước, phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN, tích cực chủ động hội nhập kinh tế quốc

tế của Việt Nam, đổi mới chính sách công nghiệp, phát triển kinh tế tư nhân, hệ thống an sinh xã hội, các giải pháp thúc đẩy hội nhập quốc tế của giáo dục đại học Việt Nam

Nguyễn Quang Thái, Ngô Thắng Lợi [2007]: Phát triển bền vững ở Việt

Nam: Thành tựu, cơ hội, thách thức và triển vọng đã trình bày tổng quan về đất

nước Việt Nam, những thời cơ cũng như nguy cơ đối với nền kinh tế - xã hội nước ta

Ngoài những nghiên cứu tổng quan về thực trạng biến đổi xã hội và phát triển ổn định, bền vững ở Việt Nam, nhiều nghiên cứu đã tập trung sâu vào một

số lĩnh vực biến đổi trong đời sống xã hội ở nước ta trong giai đoạn đổi mới và đẩy mạnh hội nhập quốc tế hiện nay Cụ thể:

- Nghiên cứu về biến đổi giai tầng, cơ cấu xã hội Việt Nam: có các nghiên

cứu của GS, TS Nguyễn Đình Tấn [2010]: Biến đổi cơ cấu xã hội ở Việt Nam

trong tiến trình đổi mới và Bàn luận về giai tầng xã hội, cơ cấu xã hội - giai tầng

xã hội; TS Phạm Việt Dũng [2010]: Một số tác động của sự biến đổi cơ cấu xã hội trong 25 năm đổi mới đến sự phát triển đất nước; PGS,TS Ngô Ngọc Thắng:

Trang 27

Phân tầng xã hội và quản trị phân tầng xã hội ở Việt Nam hiện nay; Tạ Ngọc Tấn [2013]: Xu hướng biến đổi cơ cấu xã hội Việt Nam Các nghiên cứu đã tập

trung phân tích thực trạng biến đổi cơ cấu xã hội Việt Nam từ năm 1945 đến nay; nghiên cứu và phát hiện các nguyên nhân khách quan - chủ quan đã tác động làm biến đổi cơ cấu xã hội Từ những tổng kết, đánh giá, các nghiên cứu với cách nhìn

đa chiều đã rút ra các bài học kinh nghiệm và đưa ra các giải pháp giúp sự biến đổi cơ cấu xã hội theo hướng tích cực, bền vững ở Việt Nam nói chung và các khu vực dân tộc thiểu số, miền núi khó khăn như Tây Bắc nói riêng

- Nghiên cứu về biến đổi xã hội - những vấn đề của nông thôn - đô thị Có

các nghiên cứu của: GS, TS Trần Ngọc Hiên [2007]: Nguồn gốc của những biến đổi xã hội nông thôn Việt Nam và phương hướng phát triển; Viện Khoa học xã hội Việt Nam [2008]: Biến đổi xã hội nông thôn Việt Nam dưới tác động

của đô thị hoá, tích tụ ruộng đất và chính sách dồn điền đổi thửa: những vấn đề

lý luận, thực trạng và giải pháp; GS, TS Tô Duy Hợp - Ths Trương Thị Thu Thuỷ [2013]: Quản trị biến đổi xã hội nông thôn Việt Nam thời kỳ đổi mới; Ths Ninh Thị Minh Tâm [2013]: Biến đổi xã hội nông thôn và những vấn đề đặt ra trong quản trị biến đổi xã hội nông thôn Việt Nam thời kỳ đổi mới; PGS, TS Đoàn Minh Huấn [2013]: Biến đổi xã hội và quản trị biến đổi xã hội đô thị ở Việt Nam hiện nay - đặc điểm và một số gợi ý can thiệp chính sách; TS Vũ Văn Hậu [2013]: Biến đổi xã hội đô thị và sự tham gia của người dân trong quản trị

biến đổi xã hội đô thị ở Việt Nam hiện nay Các nghiên cứu tập trung làm rõ

những biến đổi xã hô ̣i nông thôn - đô thị ở Việt Nam trên nhiều khía cạnh : sự thay đổi ngưỡng dân số, hình thái, kết cấu dân cư; sự thay đổi cơ cấu giai - tầng,

cơ cấu dân cư - nhân khẩu, cơ cấu nghề nghiê ̣p ; những thay đổi lối sống , văn hóa đô thị và nhiều vấn đề xã hội mới nảy sinh

- Nghiên cứu về sự biến đổi với những cấu trúc và quan hệ xã hội mới nổi

Hướng nghiên cứu này gần đây phát triển khá mạnh với những nghiên cứu của:

PGS, TS Nguyễn Cúc [2013]: Tầng lớp trung lưu ở Việt Nam trong quá trình

Trang 28

biến đổi xã hội ở Việt Nam hiện nay; TS Nguyễn Khánh Trình [2013]: Doanh

nhân trong sự biến đổi xã hội và quản trị biến đổi xã hội ở Việt Nam hiện nay;

TS Nguyễn Văn Sử [2013]: Biến đổi của lao động và quan hệ lao động trong doanh nghiệp dưới tác động của cơ chế thị trường ở Việt Nam; TS Lê Văn Thái

[2013]: Vấn đề thế hệ và liên thế hệ trong quá trình biến đổi xã hội và quản trị biến đổi xã hội ở Việt Nam

- Nghiên cứu về sự biến đổi xã hội trong nền văn hoá và lối sống ở Việt

Nam Có các nghiên cứu của: Nguyễn Thanh Tuấn [2007]: Biến đổi văn hoá đô thị Việt Nam hiện nay; Nguyễn Duy Bắc [2008]: Sự biến đổi các giá trị văn hóa trong bối cảnh xây dựng nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay; Nguyễn Văn Dân: Đời sống văn hoá của người Việt Nam sau hai mươi năm đổi mới; Mai Văn Hai, Phạm Việt Dũng: Xu hướng biến đổi trong văn hóa và lối sống

ở Việt Nam; Hoàng Cầm, Phạm Quỳnh Phương [2012]: Diễn ngôn, chính

sách & sự biến đổi văn hoá - sinh kế tộc người Các nghiên cứu đã phân tích,

chỉ ra những biến đổi của văn hoá, lối sống người Việt Nam cả ở đô thị cũng như nông thôn, sau gần 30 năm đổi mới và hội nhập theo hướng nâng cao, trở nên phong phú hơn, cởi mở hơn Đây chính là quá trình chuyển tiếp từ xã hội truyền thống sang xã hội hiện đại được đặc trưng bởi lôgic chuyển tiếp từ văn hoá đơn phong cách sang văn hoá đa phong cách Điều đó thể hiện ở sự tiếp thu các giá trị văn hoá thế giới làm giàu cho văn hoá Việt Nam; ở sự phục hồi và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống

- Những nghiên cứu về biến đổi xã hội và quản trị biến đổi xã hội trong mục tiêu giải quyết vấn đề xã hội, bảo đảm an sinh xã hội ở Việt Nam hiện nay

Tiêu biểu cho nhóm nghiên cứu này là bài viết của Đỗ Thiên Kính [1999]: Tác

động của chuyển đổi cơ cấu lao động nghề nghiệp xã hội đến phân tầng mức

sống; Phạm Dương [2008]: Ổn định kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội Hoa Linh Lan: Việc làm và an sinh xã hội; Đỗ Văn Quân [2008]: Bảo đảm an sinh xã hội

cho nông dân - một vấn đề xã hội cấp bách ở nước ta hiện nay Nghiên cứu

Trang 29

hướng vào những vấn đề quan trọng trong an sinh xã hội ở nước ta hiện nay như: thất nghiệp, thiếu việc làm, mưu sinh, phân hóa giàu nghèo, bất bình đẳng,

tệ nạn xã hội, tội phạm, ô nhiễm môi trường Trong quan điểm giải quyết vấn

đề xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, tác giả lưu ý: các vấn đề xã hội nan giải không thể hóa giải bằng các giải pháp đơn giản hoặc cực đoan; các vấn đề xã hội đều phải được nghiên cứu, giải quyết theo quan điểm hệ thống; giải quyết vấn đề

xã hội, bảo đảm an sinh xã hội là dùng hệ thống an sinh xã hội để giải quyết các vấn đề xã hội

Nhóm 5: Nghiên cứu thực trạng biến đổi xã hội vùng Tây Bắc và những giải pháp đảm bảo sự phát triển ổn định, bền vững của vùng

Đây là nhóm nghiên cứu phục vụ chính cho các nghiên cứu của đề tài Có thể chia thành những nhóm nhỏ sau:

* Thứ nhất: Các nghiên cứu về thực trạng biến đổi xã hội và quản trị biến đổi xã hội ở miền núi Tây Bắc

- Các nghiên cứu về vấn đề văn hoá truyền thống và yêu cầu bảo tồn văn hoá truyền thống trước sự du nhập các văn hoá ngoại lai

Hướng nghiên cứu này thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu từ rất

sơm, tiêu biểu có thể kể đến các công trình Một số vấn đề phát triển văn hoá các dân tộc thiểu số: Cái chung và cái riêng trong nền văn hoá Việt Nam của Nxb

Văn hoá dân tộc Đây là tuyển tập các bài tham luận tại hội thảo "Văn hoá dân tộc" của các giáo sư, tiến sỹ và các nhà khoa học đầu ngành về những vấn đề văn hoá, văn nghệ các dân tộc thiểu số trong nền văn hoá Việt Nam; Kiểm điểm đánh giá những mặt đã làm được cũng như chưa làm được của ngành trong thời gian qua, đề xuất những biện pháp mới thúc đẩy sự phát triển văn hoá nước nhà

Ngô Ngọc Thắng [2002]: Văn hoá bản làng truyền thống các dân tộc Thái,

Mông vùng Tây Bắc Việt Nam đã phân tích, chỉ ra một số đặc điểm chung và riêng

của bản làng truyền thống của các dân tộc Thái, Mông vùng Tây Bắc; thực trạng

Trang 30

biến đổi của văn hoá bản làng Thái, Mông trong điều kiện đổi mới và việc kế thừa, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc từ truyền thống văn hoá bản làng

Trần Văn Bính [2004]: Văn hoá các dân tộc Tây Bắc: Thực trạng và

những vấn đề đặt ra đã đánh giá, phân tích toàn diện và khách quan về thực

trạng đời sống văn hoá của một số dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc; đề xuất các giải pháp nhằm tiếp tục phát triển đời sống văn hoá các dân tộc trên địa bàn thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước

Hoàng Lương [2005]: Văn hoá các dân tộc vùng Tây Bắc Việt Nam đã

phân tích đặc điểm môi trường tự nhiên và những tộc người vùng Tây Bắc Việt Nam Các dạng văn hoá vật thể và phi vật thể của các dân tộc vùng Tây Bắc Tục lệ vòng đời của các dân tộc vùng Tây Bắc Nghiên cứu đã cung cấp một góc nhìn về bức tranh văn hoá ở các tỉnh miền núi Tây Bắc với những nét biến đổi trong thời gian qua

Nguyễn Thị Huế [2011]: Những xu hướng biến đổi văn hoá các dân tộc

miền núi phía Bắc Việt Nam đã giới thiệu một số nét tiêu biểu trong văn hoá vật

chất và văn hoá tinh thần như: nhà cửa, trang phục, ẩm thực, tín ngưỡng, phong tục tập quán, nghệ thuật, ngôn ngữ, chữ viết., văn học dân gian của các dân tộc miền núi phía Bắc và xu hướng biến đổi văn hoá ở một số dân tộc như Thái, Mường, Mông, Dao, Tày, Nùng, Hà Nhì, Pu Péo, Lô Lô

- Các nghiên cứu về thực trạng biến đổi kinh tế - xã hội miền núi Tây Bắc trong sự hài hoà, thống nhất với vấn đề an ninh biến giới Tiêu biểu có nghiên

cứu của Đinh Trọng Ngọc [2001]: Phát triển kinh tế - xã hội miền núi biên giới

phía Bắc và tác động của nó tới tăng cường sức mạnh bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới ở vùng này đã trình bày có hệ thống về phát triển kinh tế xã hội miền

núi biên giới phía Bắc trong mối quan hệ tới việc tăng cường sức mạnh bảo vệ

an ninh vùng này

- Các nghiên cứu về thực trạng công tác xoá đói giảm nghèo, phát triển

bình đẳng giữa các dân tộc Tiêu biểu có nghiên cứu của: Lê Ngọc Thắng, Lê

Trang 31

Hải Đường, Phan Văn Hùng [2004]: Kỷ yếu Hội thảo xoá đói giảm nghèo vấn

đề và giải pháp ở vùng dân tộc thiểu số phía bắc Việt Nam đã làm rõ những thay

đổi trong nhận thức về nghèo đói, chuẩn nghèo, đặc điểm nghèo đối các vùng dân tộc thiểu số ở Việt Nam, giải pháp và vai trò của chính phủ và các tổ chức quốc tế trong xoá đói giảm nghèo ở vùng dân tộc thiểu số phía Bắc nước ta, trong đó có các tỉnh miền núi Tây Bắc

Phạm Thị Hoàng Hà [2012]: Bình đẳng dân tộc trên lĩnh vực văn hoá ở

các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam hiện nay Công trình nghiên cứu đã trình

bày những nhận thức lý luận về bình đẳng dân tộc trên lĩnh vực văn hoá và những nội dung cơ bản của bình đẳng dân tộc về văn hoá ở Việt Nam hiện nay Nghiên cứu thực trạng, phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện bình đẳng dân tộc trên lĩnh vực văn hoá ở các tỉnh miền núi phía Bắc nói chung, các tỉnh miền núi Tây Bắc Việt Nam nói riêng hiện nay

Về thực trạng công tác bình đẳng giới ở các tỉnh miền núi Tây Bắc, có

nghiên cứu của Nguyễn Văn Đoàn, Đặng Ánh Tuyết [2009]: Bình đẳng giới ở cấp cơ sở miền núi phía Bắc hiện nay nhận thức và chỉ đạo thực hiện

Ngoài ra, trong nhiều bài viết của các nhà nghiên cứu: Dương Minh Hoà

[2005]: Xín Mần với mục tiêu "ổn định đoàn kết, nâng cao dân trí, xoá đói giảm

nghèo, phát triển vững chắc; Nùng Văn Trung [2004]: Điện Biên từng bước vươn lên xoá đói giảm nghèo; Nguyễn Đức Long [2005]: Xung quanh công tác xoá đói giảm nghèo ở Yên Bái; Giàng Thị Dung [2006]: Xoá đói giảm nghèo ở vùng dân tộc Mông tỉnh Lào Cai: Thực trạng và giải pháp; Phạm Ngọc Thắng [2010]: Phát triển du lịch gắn với xoá đói giảm nghèo ở Lào Cai; Cao Bằng

hướng tới mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững gắn liền với xoá đói giảm

nghèo, nâng cao đời sống của nhân dân [2006]; Nguyễn Gia Đa [2005]: Công tác xoá đói giảm nghèo ở Phú Thọ - 4 năm nhìn lại; Nguyễn Thanh Thuỷ

[2009]: Công tác xoá đói giảm nghèo ở cộng đồng các dân tộc thiểu số tỉnh Hoà

Bình; Khánh Duy [2005]: Hà Giang trong công cuộc xoá đói giảm nghèo; đã

Trang 32

đề cập rất cụ thể về nguyên nhân, thực trạng nghèo đói và công tác xoá đói giảm nghèo của các địa phương Tây Bắc

- Các nghiên cứu về thực trạng y tế, giáo dục, chính sách xã hội :

Về thực trạng phát triển hoạt động y tế ở các tỉnh miền núi Tây Bắc có các

nghiên cứu của: Đỗ Nguyên Phương, Nguyễn Đình Thường, Ngô Toàn Định

[2001]: Kỷ yếu hội nghị chuyên đề công tác y tế các tỉnh miền núi phía Bắc đã

tổng kết thực trạng phát triển, biến đổi của công tác y tế, chăm sóc sức khoẻ ở các tỉnh miền núi Tây Bắc trên nhiều vấn đề: nhân lực, trang thiết bị, tài chính, thực trạng tổ chức hoạt động của công tác y tế Ngoài ra, còn có nghiên cứu

của: Nguyễn Thành Trung, Hoàng Khải Lập [2007]: Đánh giá việc thực hiện

chính sách khám chữa bệnh cho người nghèo ở miền núi phía Bắc đã đánh giá

việc thực hiện chính sách khám chữa bệnh cho người nghèo ở miền núi phía

Bắc; Về giáo dục, có nghiên cứu của Nguyễn Văn Lộc [2013]: Phát triển đội

ngũ cán bộ quản lí ngành giáo dục ở vùng đặc biệt khó khăn khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam Mặc dù trọng tâm là nghiên cứu thực trạng đội ngũ cán bộ

quản lí giáo dục ở vùng đặc biệt khó khăn thuộc khu vực miền núi phía Bắc, trên

cơ sở đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao phẩm chất, năng lực, hiệu quả công tác của đội ngũ này trong thời gian tới, tuy vậy, trong nghiên cứu này, các tác giả cũng đã dựng nên bức tranh khá phong phú về thực trạng phát triển giáo

dục ở các tỉnh miền núi Tây Bắc Về chính sách xã hội, có nghiên cứu của Viện

Xã hội học và Tâm lý lãnh đạo [2007]: Những chính sách của Đảng và Nhà

nước về miền núi, khu vực miền núi phía Bắc đã trình bày đặc điểm quá trình

đoàn kết đấu tranh, phát triển của các dân tộc khu vực miền núi phía Bắc Những vấn đề về chính sách xã hội, định canh định cư và phát triển kinh tế xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển kinh tế trang trại, hộ gia đình, công tác quản lí, sử dụng và phát triển rừng, đảm bảo an ninh chính trị, trật tự, khai thác nguồn lực thế mạnh và liên kết kinh tế giữa các tỉnh miền núi phía Bắc nói chung, ở khu vực Tây Bắc nói riêng

Trang 33

- Các nghiên cứu về thực trạng công tác định canh, định cư: Tiêu biểu có

nghiên cứu của Lê Đăng Giảng [1992]: Định canh định cư với phát triển kinh tế

xã hội ở các tỉnh biên giới miền núi phía Bắc đã phân tích khá tổng quan, toàn

diện về cơ sở lý luận và thực tiễn của du canh du cư và định canh định cư ở nước ta; phân tích đánh giá thực trạng ở 6 tỉnh biên giới miền núi phía Bắc; đưa

ra một số giải pháp chủ yếu để hoàn thiện công tác định canh định cư trong điều kiện đỏi mới hiện nay

Cùng nghiên cứu về vấn đề định canh, định cư, tác giả Nguyễn Thuý Hà

lại tiếp cận cụ thể ở cộng đồng người Mông với chuyên khảo Ảnh hưởng của hiện tượng du canh du cư đến cộng đồng người H'Mông ở miền núi phía Bắc

Trong nghiên cứu này, tác giả đã cung cấp hệ thống cơ sở lí thuyết và thực tiễn

về định canh định cư và phát triển nông thôn bền vững Thực trạng, tác động và nguyên nhân dẫn đến du canh du cư của đồng bào Mông Định hướng và giải pháp góp phần định canh định cư cho đồng bào Mông

* Thứ hai: Nhóm nghiên cứu cách thức, giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị biến đổi xã hội ở khu vực miền núi Tây Bắc

Gồm các nhóm nghiên cứu nhỏ:

- Các nghiên cứu nâng cao hiệu quả hoạt động của thiết chế quản lý xã hội ở vùng dân tộc thiểu số Tây Bắc, trong đó có nêu lên tính tộc người, tính địa phương trong quản lý phát triển xã hội

Thiết chế quản lý xã hội phi quan phương được quan tâm đặc biệt của giới

nghiên cứu, nhất là kết cấu bản/làng Đáng chú ý là nghiên cứu của Doãn Hùng

[2001]: Đặc điểm truyền thống dân tộc Mường tỉnh Hoà Bình và dân tộc Thái tỉnh

Sơn La ảnh hưởng tới việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở; của TS Lê Thị Phương Thảo [2004]: Phát huy vai trò của già làng, trưởng bản, người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số; TS Nguyễn Ngọc Hà [2006]: Phát huy vai

trò của già làng, trưởng bản người dân tộc thiểu số trong thực hiện quy chế dân chủ cơ sở tại các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta hiện nay Ngoài ra, nghiên

Trang 34

cứu phát huy có hiệu quả vấn đề luật tục trong quản trị biến đổi xã hội ở vùng

miền núi đa dân tộc như Tây Bắc cũng được đặc biệt đề cao với các công trình

của: Hoàng Lương [2004]: Luật tục với việc bảo tồn và phát huy di sản văn hoá truyền thống một số dân tộc ở Tây Bắc Việt Nam; Nguyễn Quốc Phẩm [2000]:

Luật tục và ý thức pháp luật trong quản lý xã hội các dân tộc thiểu số;

Theo một cách tiếp cận khác, có tác giả lại đi sâu tìm hiểu các thiết chế quan phương do các thể chế nhà nước áp đặt lên vùng dân tộc thiểu số, với

nghiên cứu của Ngô Minh Tuấn [2004]: Tây Bắc đổi mới, nâng cao chất lượng

hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn; Nguyễn Đức Ái [2001]: Năng

lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở Đảng nông thôn vùng cao phía

Bắc trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; Tô Huy Rứa, Nguyễn Cúc, Trần Khắc Việt [2004]: Giải pháp đổi mới hoạt động của

hệ thống chính trị ở các tỉnh miền núi nước ta hiện nay”; Nguyễn Cúc, Ngô Ngọc Thắng, Đoàn Minh Huấn [2006]: Đổi mới kinh tế với đổi mới hệ thống

chính trị ở các tỉnh miền núi phía Bắc - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn) Từ

nghiên cứu thiết chế quản lý quan phương, những chuyên khảo này đã cho thấy những độ “vênh” với thiết chế quản lý phi quan phương và xem đây là một trong những nguyên nhân cản trở hiệu quả quản lý xã hội và hạn chế sự tham gia của

cư dân bản địa vào hoạt động quản lý xã hội Vì vậy, nhiều nghiên cứu đã nêu ra các khả năng kết hợp, lồng ghép giữa thiết chế quản lý quan phương với phi quan phương, nhất là ở hệ thống chính trị cấp cơ sở, để nâng cao hơn năng lực

và hiệu quả quản lý

- Các nghiên cứu về nâng cao hiệu quả chính sách phát triển xã hội đối với vùng dân tộc thiểu số

Nổi bật là nghiên cứu của Hoàng Văn Hoan [2010]: Cơ chế chính sách đặc

thù phát triển các tỉnh thuộc vùng Tây Bắc đã tập trung phân tích thực trạng cơ chế

chính sách kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến sự phát triển các tỉnh thuộc vùng Tây

Trang 35

Bắc Việt Nam thời gian qua, từ đó đề xuất quan điểm, giải pháp đổi mới cơ chế chính sách kinh tế - xã hội các tỉnh thuộc vùng Tây Bắc trong thời gian tới

Nguyễn Thanh Sơn [2010]: Quá trình thực hiện quy chế dân chủ ở xã

trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số Tây Bắc Việt Nam thời kỳ đổi mới đã rút ra

các bài học kinh nghiệm cần thiết trong quá trình thực hiện quy chế dân chủ ở xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số Tây Bắc Việt Nam những năm qua Từ đó đề xuất giải pháp nhằm triển khai có hiệu quả Pháp lệnh dân chủ ở xã trong những năm tới trên địa bàn các tỉnh khu vực này

Bên cạnh những nghiên cứu trực tiếp trên, giải pháp nâng cao hiệu quả chính sách phát triển xã hội trong quản trị biến đổi xã hội tại vùng miền núi Tây Bắc cũng được đề cập gián tiếp trong quan hệ so sánh, đối chiếu với những vùng

còn lại của cả nước ở nhiều nghiên cứu khác Có thể kể tới: Lê Phương Thảo

[2000]: Vai trò chính sách xã hội trong công cuộc đổi mới; Doãn Hùng [1999]: Đảng lãnh đạo thực hiện chính sách xã hội trong thời kỳ đổi mới; Lê Đức Quyết

[2002]: Một số chính sách quốc gia về việc làm và xoá đói và giảm nghèo

Điểm đáng ghi nhận trong những nghiên cứu này là các vùng Tây Bắc luôn được

đề cập với tư cách những địa bàn đặc thù trong thực thi các chính sách xã hội như xoá đói giảm nghèo, nâng cao dân trí, giáo dục - đào tạo, định canh định cư

- Các nghiên cứu các yếu tố “động” của đối tượng và chủ thể quản lý phát triển xã hội vùng dân tộc thiểu số Tây Bắc

Yếu tố “động” trong quản lý xã hội chính là con người, gồm cả con người với tư cách đối tượng quản lý và con người với tư cách là chủ thể quản lý Con người với tư là chủ thể quản lý xã hội vùng dân tộc thiểu số rất được đặc biệt coi

trọng, nhất là cán bộ, trí thức, già làng, trưởng bản Thuộc loại nghiên cứu này

có công trình của:

Hà Dũng Hải [2011]: Ý thức xã hội vùng Tây Bắc Việt Nam và sự tác

động của nó đối với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá vùng này hiện nay

đã nghiên cứu, tìm hiểu ý thức xã hội vùng Tây Bắc từ góc độ triết học, tác động

Trang 36

của nó đối với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá vùng Tây Bắc Việt Nam

Từ đó đưa ra một số giải pháp góp phần thúc đẩy những tác động tích cực của ý thức xã hội vùng Tây Bắc đến năm 2020

Lê Quang Trung [2008]: Phát huy vai trò của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở vùng dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc nước ta hiện nay và Lô Quốc Toản [2009]: Phát triển nguồn cán bộ dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi phía

Bắc nước ta hiện nay đã nhấn mạnh vai trò của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ

sở vùng dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc những năm đổi mới trong quản trị biến đổi xã hội của vùng Từ đó, các nghiên cứu đã đề xuất nhiều giải pháp cơ bản, cấp bách nhằm nâng cao hiệu quả phát huy vai trò của đội ngũ cán bộ này

Trịnh Quang Cảnh: Trí thức người dân tộc thiểu số ở Việt Nam trong công

cuộc đổi mới (chủ yếu ở vùng dân tộc thiểu số phía bắc) [2002] và Trí thức miền núi phía Bắc trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá vùng dân tộc thiểu số

[2004] đã nghiên cứu đặc điểm của đội ngũ trí thức người dân tộc thiểu số, thực trạng của đội ngũ này ở Việt Nam Phương hướng và giải pháp chủ yếu để phát huy vai trò của trí thức dân tộc thiểu số trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam

Ngoài ra, có thể kể tới các nghiên cứu của Lê Phương Thảo [2001]: Nâng

cao năng lực hoạt động thực tiễn của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện biên giới

phía Bắc nước ta hiện nay; Lê Phương Thảo, Nguyễn Cúc, Doãn Hùng [2005]:

Xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số nước ta trong thời kỳ đẩy mạnh công

nghiệp hoá, hiện đại hoá - Luận cứ và giải pháp; Doãn Hùng [2004]: Xây dựng

đội ngũ trí thức khoa học công nghệ ở tỉnh miền núi phía Bắc nước ta trong quá

trình đẩy mạnh CNH, HĐH; Đoàn Minh Huấn [2004]: Tạo nguồn cán bộ hệ thống chính trị cấp xã các tỉnh Tây Bắc nước ta hiện nay; Đặng Cảnh Khanh

[2006]: Nguồn nhân lực trẻ các dân tộc thiểu số - Những phân tích xã hội học

Các nghiên cứu trên đã đặt ra vấn đề hiệu quả quản lý phát triển xã hội ở vùng dân tộc thiểu số với yêu cầu đan xen, kết hợp giữa thiết chế quan phương và phi quan phương, giữa tri thức bản địa và phi bản địa, giữa luật tục và luật pháp,

Trang 37

giữa đơn vị hành chính lãnh thổ và đơn vị dân cư (buôn/ làng) Đây là những hướng tiếp cận rất được quan tâm trong sự phát triển xã hội và quản lý phát triển

xã hội ở vùng dân tộc thiểu số Tây Bắc

- Các nghiên cứu về phát huy có hiệu quả đặc điểm môi trường sinh thái, điều kiện tự nhiên, đặc tính kinh tế - xã hội, đặc thù phong tục, tập quán lao động, sản xuất, di canh, di cư, an ninh biên giới của các vùng dân tộc thiểu số Tây Bắc trong quản trị những biến đổi xã hội của vùng

Đáng chú ý là các công trình nghiên cứu về đặc điểm môi trường sinh thái,

điều kiện tự nhiên, đặc tính kinh tế - xã hội của Trần Bình [2011]: Tập quán hoạt động kinh tế của một số dân tộc ở Tây Bắc Việt Nam; Đỗ Trọng Dũng [2011]: Phát triển du lịch sinh thái bền vững ở Tây Bắc Việt Nam trên phương

diện đánh giá điều kiện tự nhiên; nghiên cứu đặc trưng tâm lý có công trình của:

Lê Hữu Xanh [2005]: Ảnh hưởng của tâm lý người Mông đối với việc củng cố,

tăng cường khối đoàn kết dân tộc ở miền núi phía Bắc nước ta - một số kiến nghị về giải pháp; nghiên cứu đặc thù phong tục tập quán, lao động sản xuất, di

canh, di cư, đói nghèo, an ninh biên giới: có nghiên cứu của: Doãn Hùng

[2006]: Bảo tồn giá trị văn hoá truyền thống các dân tộc thiểu số ở vùng tái định

cư thuộc dự án thủy điện Sơn La - Thực trạng và giải pháp; Đặng Nguyên Anh

[2006]: Chính sách di dân trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội các tỉnh

miền núi; của Trần Văn Chử [2000]: Di dân với quá trình phát triển kinh tế –

xã hội và bảo vệ tài nguyên môi trường ở nước ta hiện nay; Trịnh Huy Quách, Hoàng Thị Tây Ninh [2004]: Vấn đề di dân trong phát triển kinh tế - xã hội ở các tỉnh miền núi phía Bắc; Nguyễn Thuý Hà [2006]: Ảnh hưởng của hiện tượng du canh du cư đến cộng đồng người H'Mông ở miền núi phía Bắc; Hoàng Xuân Hòa [2004]: Xóa đói giảm nghèo ở các tỉnh miền núi phía Bắc - Mục tiêu quan trọng trong chiến lược phát triển bền vững của Việt Nam; Lò Giàng Páo [2010]: Điều tra, đánh giá tăng trưởng và giảm nghèo ở một số vùng dân tộc thiểu số phía Bắc; Đinh Trọng Ngọc [2001]: Phát triển kinh tế - xã hội miền núi

Trang 38

biên giới phía Bắc và tác động của nó tới tăng cường sức mạnh bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới ở vùng này

Trong các nghiên cứu này, nhiều nhân tố tác động tới biến đổi xã hội phục

vụ mô hình phát triển bền vững vùng Tây Bắc đã được đề cập Đặc điểm nổi bật của vùng Tây Bắc là vùng đồng bào dân tộc thiểu số, gặp nhiều khó khăn trong phát triển kinh tế, chậm phát triển so với các vùng khác trong cả nước Bên cạnh

đó, đã có nhiều biến động xã hội lớn xảy ra trên địa bàn Tây Bắc, như di dân, tái định cư các thủy điện, định canh định cư,…

* *

*

Các hướng, nhóm nghiên cứu nêu trên có ý nghĩa rất quan trọng đối với quá trình thực hiện đề tài này, bao gồm cả cung cấp một số tư liệu và cách tiếp cận đối tượng nghiên cứu Tuy nhiên, các nghiên cứu này thường gặp một số trở

ngại: (i) Chưa xác định rõ khung lý thuyết về biến đổi xã hội và quản trị biến đổi

xã hội hướng tới phát triển xã hội ổn định, bền vững tại khu vực có những đặc thù như Tây Bắc; (ii) Những nghiên cứu về biến đổi xã hội và kinh nghiệm quản trị biến đổi xã hội ở các nước trên thế giới chủ yếu chỉ dừng ở mức độ giới thiệu, chưa chỉ ra được những kinh nghiệm, lớn hơn nữa là mô hình phát triển phù hợp cho các tỉnh miền núi Tây Bắc; (iii) Thiếu những nghiên cứu hệ thống về một vấn ðề có tính “rộng” nhý biến ðổi xã hội tại một khu vực “đặc biệt” như miền núi Tây Bắc, các nghiên cứu chủ yếu tiếp cận biến đổi xã hội ở vùng Tây Bắc trên một hoặc một số lĩnh vực cụ thể, tại một hoặc một số địa phương được lựa chọn làm điểm nghiên cứu, trong một thời điểm hoặc một giai đoạn cụ thể; (iv)

Các nghiên cứu chủ yếu tiếp cận ở góc độ chuyên ngành, còn thiếu những nghiên cứu liên ngành, điều này đã hạn chế phần nào tới việc hoạch định luận

cứ và giải pháp thích hợp cho việc quản trị biến đổi xã hội ở Tây Bắc; (v) Các

nghiên cứu đề cập chủ yếu tới những biến đổi ở các lĩnh vực thuộc nhu cầu xã hội và bình đẳng xã hội (xoá đói giảm nghèo, y tế, giáo dục, việc làm, an sinh xã

Trang 39

hội, chính sách xã hội, bình đẳng giới tính ), các nghiên cứu về biến đổi cơ cấu

xã hội, các thiết chế xã hội và các quan hệ xã hội của con người còn khá mờ

nhạt; (vi) Các nghiên cứu về hiệu quả tác động của hệ thống thể chế, luật pháp

và các thiết chế xã hội (bao gồm cả thiết chế quan phương và phi quan phương) trong quản trị xã hội còn thiếu toàn diện và chưa cập nhật; (vii) Nghiên cứu đánh giá những tác động ngược từ thực tiễn biến đổi xã hội tới việc hoạch định chính sách của các cấp quản lý vẫn còn khoảng trống; (viii) Việc giải quyết đồng thời yêu cầu bảo tồn và phát huy các giá trị tốt đẹp với thay đổi để phù hợp yêu cầu phát triển mới trong quản trị xã hội ở địa bàn miền núi biên giới, đa văn hoá,

đa tộc người như Tây Bắc tuy được đề cập tới trong nhiều nghiên cứu nhưng vẫn chưa được giải quyết thoả đáng

Việc triển khai thành công đề tài sẽ cung cấp những đóng góp mới cả về mặt khoa học và thực tiễn, bổ sung và phát triển những hướng nghiên cứu trước

đó, góp phần khoả lấp các “khoảng trống” trong nhận thức và chính sách về vấn

đề biến đổi xã hội và quản trị biến đổi xã hội vì mục tiêu phát triển ổn định, bền vững ở vùng Tây Bắc nước ta

3 Mục tiêu của đề tài

3.1 Mục tiêu chung:

- Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn của biến đổi xã hội vùng Tây Bắc

- Đánh giá tình hình biến đổi xã hội ở vùng Tây Bắc (gắn với các tiêu chí

cụ thể, có tính đến đa dạng của các tiểu vùng và các tộc người)

- Khuyến nghị các chính sách, giải pháp an sinh xã hội, góp phần xây dựng mô hình xã hội phát triển bền vững vùng Tây Bắc

3.2 Các định hướng nghiên cứu cụ thể:

3.2.1 Nghiên cứu cơ sở lý thuyết của vấn đề biến đổi xã hội và xây dựng

mô hình xã hội phát triển bền vững vùng Tây Bắc

Trang 40

- Làm rõ khung lý thuyết về biến đổi xã hội ở vùng Tây Bắc gồm cả biến đổi xã hội chiều ngang - phẳng (di chuyển dân cư theo không gian, theo nghề nghiệp, theo dạng lao động), biến đổi xã hội chiều dọc (cơ động xã hội, phân tầng xã hội…) biến đổi xã hội chiều sâu (mức sống, chất lượng sống, quan hệ tộc người); cả biến đổi mặt cấu trúc hữu hình (giai tầng, tộc người, làng bản, gia đình gắn với môi trường sống) và mặt vô hình (lối sống, đức tin, giá trị, dân trí, văn hoá); cả trên quy mô vùng, quy mô địa phương, cộng đồng làng/bản và hộ gia đình; cả biến đổi xã hội và quản trị biến đổi xã hội

- Nghiên cứu những vấn đề lý thuyết về phát triển xã hội bền vững ở cấp vùng, cấp địa phương và cấp cộng đồng phù hợp với đặc tính vùng Tây Bắc

trong mối tương quan với bền vững về kinh tế, bền vững về môi trường và bền vững về thể chế

- Làm rõ quan điểm lý thuyết của Đảng và Nhà nước về biến đổi xã hội và quản trị biển đổi xã hội, về phát triển bền vững xã hội tộc người và vùng miền núi Tây Bắc trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá

- Xây dựng khung lý thuyết cho thiết kế bộ tiêu chí đánh giá mức độ biến đổi xã hội và mô hình xã hội phát triển bền vững phù hợp với đặc tính vùng Tây Bắc nước ta

3.2.2 Đánh giá tình hình biến đổi xã hội ở vùng Tây Bắc từ năm 1986 đến nay (có tính đến đa dạng của các tiểu vùng và các tộc người)

- Đánh giá tình hình biến đổi xã hội trên các nội dung cơ bản: di chuyển dân cư (di cư nông thôn - nông thôn, di cư nông thôn - đô thị, di cư nội vùng, di

cư liên vùng, di cư xuyên biên giới), dịch chuyển lao động, chuyển đổi nghề nghiệp, cơ động xã hội, phân tầng xã hội, di biến động dân số; thay đổi lối sống, tâm lý, đức tin, quan hệ tộc người, thay đổi môi trường sống

- Đánh giá biến đổi xã hội ở vùng Tây Bắc ở cả cấp vùng, cấp địa phương, cấp cộng đồng làng/bản và hộ gia đình, dựa trên: Chỉ số HDI (Chỉ số

phát triển con người: sức khỏe, tri thức, thu nhập), Hệ số bình đẳng thu nhập của

Ngày đăng: 10/10/2019, 10:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Achieving sustainable development and promoting development cooperation: Dialogues at the economic and social council, New York: United Nations, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Achieving sustainable development and promoting development cooperation: Dialogues at the economic and social council
2. ADUKI Pty Ltd [1995]: “Poverty in Vietnam”; A Report for SIDA, Canbera, April Sách, tạp chí
Tiêu đề: Poverty in Vietnam
3. Aruchiunốp S.A, Mukhơlinốp A.I [1972]: Về đặc trưng dân tộc học các nhóm Xá (nước Việt Nam dân chủ cộng hoà), Viện dân tộc học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về đặc trưng dân tộc học các nhóm Xá
4. Audrey Akinin, Catherine Aubertin, Luc Cambrézy [2007]: Phát triển bền vững?: Học thuyết thực tiễn đánh giá, Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển bền vững?: Học thuyết thực tiễn đánh giá
Nhà XB: Nxb Thế giới
5. Beckmann K.V.B [2000]: Đa dạng pháp luật – “Luật tục và phát triển nông thôn hiện nay ở Việt Nam”, Nxb CTQG, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đa dạng pháp luật – “Luật tục và phát triển nông thôn hiện nay ở Việt Na"m
Nhà XB: Nxb CTQG
7. Cuisiner J [1948]: Le Muong Geographic humaine et Sociologie. Pari. Institute Ethnologie 1948. 618p Sách, tạp chí
Tiêu đề: Le Muong Geographic humaine et Sociologie
8. DAC, 2001. DAC Guidelines: Strategies for Sustainable Development, OECD, OECD Publications Service, (DAC năm 2001. Hướng dẫn DAC: Chiến lƣợc phát triển bền vững, OECD), 2, rue André-Pascal, 75775 Paris Cedex 16, France Sách, tạp chí
Tiêu đề: DAC, 2001. DAC Guidelines: Strategies for Sustainable Development, OECD, OECD Publications Service
9. Donovan D., Rambo T.A, Fox J., Lê Trọng Cúc, Trần Đức Viên [1997]: Những xu hướng phát triển ở vùng núi phía Bắc Việt Nam, Tập 1: Tổng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những xu hướng phát triển ở vùng núi phía Bắc Việt Nam," Tập 1
10. Dournes, Jacques [2002]: Rừng, đàn bà, điên loạn. Nhà xuất bản Hội nhà văn. Hà Nội 2002. Bản dịch tiếng Việt của Nguyên Ngọc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rừng, đàn bà, điên loạn
Nhà XB: Nhà xuất bản Hội nhà văn. Hà Nội 2002. Bản dịch tiếng Việt của Nguyên Ngọc
11. Hickey G [1982]: “Sons of the Mountains. Ethnohistory of the Vietnamese Central Higlands to 1954”, 1982, New Haven and London Yale University Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sons of the Mountains. Ethnohistory of the Vietnamese Central Higlands to 1954
12. Honnighausen L., Marc Frey, James Peacock, Niklaus Steiner [2005] (edited): Regionalism in the Age of Globalism – Volume 1: Concepts of Regionalism. Center for the Sutudy of Upper Midwestern Cultures University of Wisconsin – Madison Sách, tạp chí
Tiêu đề: Regionalism in the Age of Globalism – Volume 1: Concepts of Regionalism
13. Hutterer, K. L [1977] (edited): Economic Exchange and Social Interaction in Southeast Asia – Perspectives from Prehistory, History, and Ethnography. Michigan Papers on South and Southeast Asia Center for South and Southeast Asian Studies. The University of Michigan, Number 13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Economic Exchange and Social Interaction in Southeast Asia – Perspectives from Prehistory, History, and Ethnography
14. ITC (International Trade Centre UNCTD/GATT) [1987]: Human Resource Development – Guide to the use of systematic approachs for the Development of Export. UNCTD/GATT) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Human Resource Development – Guide to the use of systematic approachs for the Development of Export
15. Jamieson N [2000]: “b. Rethinking Approaches to Ethenic Minority Development, The Case of Vietnam”. Concept Paper perpared for the World Bank, Unpublished Sách, tạp chí
Tiêu đề: b. Rethinking Approaches to Ethenic Minority Development, The Case of Vietnam
16. Kersten Gregory E. [2000]: Decision support systems for sustainable development: A resource book of methods and applications, Boston : Kluwer Academic publishers Sách, tạp chí
Tiêu đề: Decision support systems for sustainable development: A resource book of methods and applications
17. Korten David C. [1996]: Bước vào thế kỷ XXI hành động tự nguyện và chương trình nghị sự toàn cầu : Sách tham khảo H. : Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước vào thế kỷ XXI hành động tự nguyện và chương trình nghị sự toàn cầu : Sách tham khảo
18. Kuhn Thomas S [1996]: The Structure of Scientific Revolution (Third Edition). The University of Chicago Press. Chicago and London Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Structure of Scientific Revolution
19. Moto F [1989]: “Chính sách dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam” (Luận án Tiến sĩ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam
20. Neuman W.L [2006]: Social Research Methods – Qualitative and Quantitative Approaches. Sixth Edition. University of Wisconsin at Whitewater.Boston, New York, San Francisco, Mexico City, Montreal, Toronto, London, Madrid, Munich, Paris, Hong Kong, Singapore, Tokyo, Cape Town, Sydney Sách, tạp chí
Tiêu đề: Social Research Methods – Qualitative and Quantitative Approaches
21. Ngân hàng Phát triển Châu Á - Văn phòng Hà Nội - Việt Nam [2000]: Chính sách dân tộc bản địa của Ngân hàng Phát triển Châu Á. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách dân tộc bản địa của Ngân hàng Phát triển Châu Á

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w