Phần STH thuộc chương trình Sinh học 12 THPT là một trong những nội dung rất thích hợp để thiết kế các hoạt động dạy học theo nhóm nhỏ nhằm phát triển năng lực hợp tác NLHT cho HS.. - Xâ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN THỊ LOAN
VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC THEO NHÓM NHỎ NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỢP TÁC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC PHẦN SINH THÁI HỌC – SINH HỌC 12
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM SINH HỌC
HÀ NỘI - 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN THỊ LOAN
VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC THEO NHÓM NHỎ NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỢP TÁC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC PHẦN SINH THÁI HỌC – SINH HỌC 12
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian từ tháng 7 năm 2016 đến tháng 11 năm 2017, dưới sự hướng dẫn tận tình, trực tiếp của cô giáo TS Lê Thị Phượng, tôi đã hoàn thành luận văn này
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, chúng tôi còn nhận được sự giúp đỡ, góp ý của Ban lãnh đạo, các thầy cô giáo, các cán bộ công chức khoa Sư Phạm Trường Đại học Giáo Dục ĐHQGHN
Ban giám hiệu, các thầy cô giáo và các em học sinh trường THPT Phạm Văn Nghị đã cộng tác, giúp đỡ và tạo điều kiện để tôi tiến hành điều tra, thực nghiệm trong quá trình nghiên cứu
Gia đình và những người bạn đã động viên khích lệ, giúp tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu
Tôi xin chân thành cảm ơn những giúp đỡ quý báu đó!
Hà nội, tháng 11 năm 2017
Tác giả
Nguyễn Thị Loan
Trang 5MỤC LỤC
Lời cảm ơn i
Danh mục từ viết tắt ii
Danh mục bảng v
Danh mục hình vi
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 6
1.1 Tổng quan về về phương pháp dạy học theo nhóm nhỏ theo hướng phát triển năng lực hợp tác 6
1.1.1 Các nghiên cứu trên thế giới về dạy học theo nhóm nhỏ theo hướng phát triển năng lực hợp tác 6
1.1.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam về dạy học theo nhóm nhỏ theo hướng phát triển năng lực hợp tác 7
1.2 Cơ sở lí luận của đề tài ……….11
1.2.1 Phương pháp DHTNN 11
1.2.2 Năng lực hợp tác 17
1.3 Cơ sở thực tiễn của đề tài 21
1.3.1 Khái quát về khảo sát thực trạng 21
1.3.2 Kết quả khảo sát thực trạng 22
Tiểu kết chương 1 31
CHƯƠNG 2 : VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DHTNN NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỢP TÁC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC PHẦN SINH THÁI HỌC SINH HỌC 12 THPT 32
2.1 Phân tích cấu trúc nội dung kiến thức của phần STH Sinh học THPT 32
2.1.1 Đặc điểm nội dung kiến thức chương trình Sinh học THPT 32
2.1.2 Đặc điểm nội dung kiến thức phần STH Sinh học 12 THPT…………32
2.2 Quy trình thiết kế các hoạt động nhằm phát triển NLHT cho HS trong dạy học phần STH Sinh học 12 THPT bằng phương pháp DHTNN … ….37
Trang 62.2.1 Quy trình thiết kế các hoạt động nhằm phát triển NLHT cho HS bằng
phương pháp DHTNN 37
2.2.2 Vận dụng quy trình để thiết kế các hoạt động nhằm phát triển NLHT trong dạy học phần STH Sinh học 12 THPT bằng phương pháp DHTNN 40
2.3 Quy trình tổ chức các hoạt động nhằm phát triển NLHT cho HS trong dạy học phần STH Sinh học 12 THPT bằng phương pháp DHTNN… 44
2.3.1 Quy trình tổ chức các hoạt động nhằm phát triển NLHT cho HS trong dạy học phần STH Sinh học 12 THPT bằng phương pháp DHTNN 44
2.3.2 Vận dụng quy trình DHTNN để phát triển NLHT trong dạy học phần STH Sinh học 12 THPT 47
2.3.3 Đề xuất một số nội dung có thể sử dụng phương pháp DHTNN nhằm phát triển NLHT cho HS phần STH Sinh học 12 THPT………….… 59
Tiểu kết chương 2 62
CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 63
3.1 Mục đích thực nghiệm 63
3.2 Nội dung thực nghiệm 63
3.3.1 Thời gian thực nghiệm 63
3.3.2 Nội dung thực nghiệm 63
3.3 Phương pháp thực nghiệm 64
3.3.1 Chọn lớp thực nghiệm 64
3.3.2 Bố trí thực nghiệm 64
3.3.3 Tiêu chí đánh giá…… ……….……… 64
3.4 Kết quả thực nghiệm 76
3.4.1 Kết quả về định lượng ……… ……… 76
3.4.2 Kết quả về định tính ……… ……… 84
Tiểu kết chương 3 85
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 86
TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
PHỤ LỤC 92
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Thực trạng mức độ sử dụng các phương pháp dạy học của GV phần
STH Sinh học 12 THPT 22
Bảng 1.2 Thực trạng hiểu biết của GV về những yêu cầu cần thiết khi dạy học theo hướng phát triển NLHT cho HS 23
Bảng 1.3 Thực trạng nhận thức của GV về vai trò của dạy học theo hướng phát triển NLHT cho HS 25
Bảng 1.4 Thực trạng về NLHT của HS lớp 12 tại trường THPT Phạm Văn Nghị, huyện Ý Yên, Nam Định 27
Bảng 2.1 Mục tiêu của phần STH trong chương trình Sinh học 12 THPT 32
Bảng 2.2 Cấu trúc nội dung phần STH Sinh học 12 THPT 33
Bảng 2.3 Cấu trúc chung của các bài trong phần STH, Sinh học 12 35
Bảng 2.4 Trình tự thành phần kiến thức của phần STH Sinh học 12 36
Bảng 2.5 Một số nội dung phần Sinh thái học có thể sử dụng phương pháp DHTNN nhằm phát triển NLHT cho HS… 60
Bảng 3.1 Các kỹ năng của NLHT khi hoạt động theo nhóm nhỏ 65
Bảng 3.2 Bảng hỏi kiểm tra NLHT của HS khi hoạt động theo nhóm nhỏ 67
Bảng 3.3 Bảng kiểm quan sát biểu hiện của các kỹ năng hợp tác của HS khi hoạt động theo nhóm nhỏ 70
Bảng 3.4 Bảng kiểm quan sát thái độ và kỹ năng của nhóm khi hoạt động theo nhóm nhỏ 75
Bảng 3.5 Mức độ phát triển NLHT của HS 77
Bảng 3.6 Kết quả 3 bài kiểm tra của lớp TN và lớp ĐC 80
Bảng 3.7 Bảng các giá trị đặc trưng mẫu 80
Bảng 3.8 Bảng tần suất các điểm các bài kiểm tra 82
Bảng 3.9 Bảng tần suất hội tụ tiến các điểm các bài kiểm tra trong TN 83
Bảng 3.10 Kiểm định giả thuyết thống kê điểm các bài kiểm tra trong TN 84
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1 Điểm trung bình bài kiểm tra trong TN 81
Hình 3.2 Tần suất các bài kiểm tra trong TN 82
Hình 3.3 Tần suất hội tụ tiến điểm tổng hợp bài kiểm tra trong TN 83
Trang 9và đời sống tâm hồn phong phú; nhờ đó có được cuộc sống có ý nghĩa và đóng góp tích cực vào sự phát triển của đất nước và nhân loại
Để thực hiện được mục tiêu này, chủ trương của Bộ giáo dục và đào tạo
ở giai đoạn hiện nay là đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo: Từ đổi mới mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học, phương tiện dạy học đến đổi mới kiểm tra đánh giá Trong đó, đổi mới phương pháp dạy học là trọng tâm và có ý nghĩa chiến lược
1.2 Xuất phát từ thực trạng dạy học và đặc điểm kiến thức phần Sinh thái học Sinh học 12
Từ thực tiễn dạy học ở trường Trung học phổ thông (THPT) và các số liệu điều tra cho thấy, hiện nay Giáo viên (GV) đã và đang đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, tự lực của HS, việc đổi mới phương pháp dạy học thể hiện tất cả các khâu của quá trình dạy học Tuy vậy, việc dạy học môn Sinh học nói chung, phần Sinh thái học (STH) nói riêng vẫn còn ở mức HS học thuộc lí thuyết thuần túy và áp dụng máy móc các công thức, định luật để giải bài tập trong SGK mà chưa hiểu sâu được bản chất bên trong của kiến thức Cũng vì lý do này mà HS chưa vận dụng được kiến thức STH vào giải quyết các vấn đề trong chăn nuôi, sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và bảo vệ môi trường
Trong khi đó, Sinh học là một môn khoa học tự nhiên nghiên cứu về thế giới sống, về các hiện tượng, các quá trình cũng như các quy luật trong thế
Trang 10giới sống Do đó, những tri thức về Sinh học là cơ sở khoa học, là kim chỉ nam cho mọi hoạt động của con người Chương trình Sách giáo khoa (SGK) Sinh học 12 THPT, đặc biệt phần STH có nhiều kiến thức gắn liền với cuộc sống thường ngày của HS, làm kích thích sự tò mò tìm hiểu kiến thức để áp dụng vào thực tiễn Tuy nhiên, bên cạnh những kiến thức khái niệm đơn thuần còn có nhiều quy luật, cơ chế và những quá trình khó Do vậy, để vận dụng những kiến thức này vào thực tiễn nhằm làm tăng năng suất vật nuôi, cây trồng cũng như sử dụng hợp lí nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường và hướng tới sự phát triển bền vững đòi hỏi HS phải chia sẻ, giúp đỡ lẫn nhau trong quá trình học tập
Phần STH thuộc chương trình Sinh học 12 THPT là một trong những nội dung rất thích hợp để thiết kế các hoạt động dạy học theo nhóm nhỏ nhằm phát triển năng lực hợp tác (NLHT) cho HS
1.3 Xuất phát từ vai trò của việc phát triển NLHT trong dạy học
NLHT được xem là một trong những năng lực quan trọng của con người trong xã hội hiện nay vì chúng ta là một thực thể, luôn tồn tại trong cộng đồng, trong xã hội Phát triển NLHT cho HS ngay từ trong trường học
đã trở thành một xu thế giáo dục trên thế giới
Dạy học theo nhóm nhỏ (DHTNN) là một trong những phương pháp phát huy NLHT hiệu quả nhất DHTNN không những phát huy được tính chủ động sáng tạo cho HS mà còn rèn luyện cho các em nhiều kỹ năng sống rất cần thiết cho hiện tại cũng như tương lai Phương pháp DHTNN được sử dụng nhằm giúp cho tất cả HS tham gia một cách chủ động vào quá trình học tập, tạo cơ hội cho các em có thể chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm, ý kiến để giải quyết các vấn đề có liên quan đến nội dung bài học; tạo cơ hội cho các
em được giao lưu, học hỏi lẫn nhau; cùng nhau hợp tác giải quyết những nhiệm vụ chung Nhưng làm thế nào để phát triển được NLHT cho HS thông qua DHTNN thì còn là một vấn đề mà nhiều nhà giáo dục học, nhiều GV còn đang trăn trở nghiên cứu
Trang 11Chúng ta đều hiểu rằng sử dụng phương pháp DHTNN không chỉ đơn giản là ghép nhóm HS với nhau rồi tiến hành quá trình dạy học Để thực hiện được phương pháp DHTNN thành công, phải căn cứ vào nội dung từng môn học, điều kiện học, đối tượng HS, tính chất bài học và năng lực sư phạm của từng GV Do vậy, việc nghiên cứu và sử dụng phương pháp DHTNN để dạy học phần STH giúp HS vận dụng các kiến thức STH vào đời sống và thực tiễn sản xuất, đồng thời phát triển NLHT cho HS trong quá trình dạy học luôn là vấn đề mới mẻ và cần thiết
Từ những lí do trên, tôi lựa chọn và nghiên cứu đề tài: “Vận dụng
phương pháp DHTNN nhằm phát triển NLHT cho HS trong dạy học phần STH Sinh học 12 THPT”
2 Mục đích nghiên cứu
Vận dụng phương pháp DHTNN để thiết kế các hoạt động học tập và tổ chức các hoạt động đó vào dạy học phần STH Sinh học 12 THPT nhằm phát triển NLHT cho HS
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, chúng tôi đề ra các nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về phương pháp DHTNN và NLHT
- Điều tra thực trạng mức độ sử dụng các phương pháp dạy học của GV; hiểu biết của GV về những yêu cầu cần thiết khi dạy học theo hướng phát triển NLHT và vai trò của dạy học theo hướng phát triển NLHT; Thực trạng NLHT của HS
- Phân tích cấu trúc, nội dung kiến thức của phần STH Sinh học 12 THPT; xác định các nội dung phù hợp có thể vận dụng phương pháp DHTNN trong dạy học nhằm phát triển NLHT cho HS
- Xây dựng quy trình thiết kế và quy trình tổ chức các hoạt động trong dạy học phần STH Sinh học 12 bằng phương pháp DHTNN theo hướng phát triển NLHT cho HS
Trang 12- Thiết kế một số giáo án phần STH Sinh học 12 THPT trong đó vận dụng phương pháp DHTNN nhằm phát triển NLHT cho HS
- Thực nghiệm (TN) sư phạm để kiểm tra giả thuyết của đề tài từ đó rút
ra các kết luận về tính khả thi của đề tài
4 Phạm vi nghiên cứu
- Phương pháp DHTNN và NLHT
- Nội dung phần STH Sinh học 12 THPT
5 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Quá trình dạy học phần STH Sinh học 12 THPT
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến DHTNN và phát triển NLHT cho HS, bao gồm: các giáo trình, luận văn, luận án, tạp chí, bài viết về lý luận
và phương pháp giảng dạy Sinh học, làm cơ sở lý luận cho luận văn nghiên cứu
Phân tích nội dung kiến thức phần STH Sinh học 12 THPT, đồng thời
hệ thống hóa các tài liệu có liên quan để làm cơ sở cho việc thiết kế và tổ chức các hoạt động DHTNN
6.2 Phương pháp điều tra cơ bản
Sử dụng phiếu điều tra GV nhằm khảo sát thực trạng việc dạy học theo hướng phát triển NLHT ở môn Sinh học nói chung và phần STH Sinh học 12 THPT nói riêng ở trường THPT thông qua phiếu điều tra GV
Sử dụng phiếu điều tra HS nhằm khảo sát thực trạng NLHT của HS lớp
Trang 1312 THPT thông qua phiếu điều tra HS
6.3 Phương pháp thực nghiệm
Tiến hành TN ở trường THPT để kiểm tra tính đúng đắn và hiệu quả của đề tài Kết quả TN được đánh giá qua phiếu hỏi và bài kiểm tra
6.4 Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học
Xử lý số liệu bằng phần mềm Excel nhằm kiểm tra độ tin cậy của phương pháp dạy học mà luận văn đã đề xuất
7 Giả thuyết khoa học
Nếu vận dụng phương pháp DHTNN để thiết kế và tổ chức dạy học phần STH Sinh học 12 THPT sẽ phát triển NLHT cho HS
8 Những đóng góp mới của luận văn
- Xây dựng được quy trình thiết kế và quy trình tổ chức dạy học phần STH bằng phương pháp DHTNN theo hướng phát triển NLHT cho HS
- Thiết kế giáo án dạy học phần STH Sinh học 12 theo hướng vận dụng phương pháp DHTNN nhằm phát triển NLHT cho HS
- Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là nguồn tài liệu bổ sung cho việc nghiên cứu và vận dụng hiệu quả phương pháp DHTNN nhằm phát triển NLHT trong dạy học Sinh học nói riêng và dạy học ở trường THPT nói chung
9 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và khuyến nghị, mục Tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dung của luận văn được trình bày trong 3 chương
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài
Chương 2: Vận dụng phương pháp DHTNN nhằm phát triển NLHT cho HS trong dạy học phần STH Sinh học 12 THPT
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 14CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Tổng quan về phương pháp dạy học theo nhóm nhỏ theo hướng phát triển năng lực hợp tác
1.1.1 Các nghiên cứu trên thế giới về dạy học theo nhóm nhỏ theo hướng phát triển năng lực hợp tác
Ở nhiều nước trên thế giới, nghiên cứu vận dụng phương pháp DHTNN vào quá trình dạy học đã được quan tâm từ rất sớm Nhiều nhà nghiên cứu, nhà giáo dục đã có những cách tiếp cận khác nhau về phương pháp dạy học này Ngay từ thế kỷ thứ nhất, Marco Fabio Quintilian nhà Giáo dục học người Tây Ban Nha cho rằng HS sẽ có rất lợi nếu biết nói những điều mình hiểu cho người khác cùng hiểu Đến thế kỷ thứ XVII, Jan Amos Komenxky (1592 - 1670) nhà Triết học người Séc tin rằng HS sẽ học tốt từ việc dạy cho bạn bè
và học từ bạn bè của mình Cuối thế kỷ XIII đầu thế kỷ XIV, Reverend Bebel
và Joseph Lancaster người Anh đã tổ chức DHTNN, họ chia HS thành từng nhóm để hoạt động Thông qua hoạt động nhóm, HS cùng nhau trao đổi, chia
sẻ, giúp nhau tìm hiểu, khám phá vấn đề và thu được kết quả học tập tốt hơn
Ý tưởng này được nhanh chóng đưa từ Anh sang Mỹ và đã nhận được sự hưởng ứng, phát triển rộng rãi bởi những nhà giáo dục tiên phong như John Dewey, Roger Parker, Morton Deutch Họ đề cao khía cạnh xã hội của việc học tập và cũng nâng cao vai trò của nhà giáo trong việc giáo dục HS một cách dân chủ J Dewey cho rằng muốn học cách cùng chung sống trong xã hội thì HS phải được trải nghiệm trong cuộc sống hợp tác ngay từ trong nhà trường Cuộc sống trong lớp học là quá trình dân chủ hoá trong một thế giới
vi mô và học tập phải có sự hợp tác giữa các thành viên trong lớp học [36, tr.17]
Trong thời gian từ năm 1930 đến 1940, nhà Tâm lí học xã hội Kurt Lewin đã nghiên cứu hành vi của các nhà lãnh đạo và thành viên trong các nhóm dân chủ Ông quan tâm đến cách cư xử của mỗi thành viên trong nhóm
Trang 15và xây dựng lý thuyết cơ sở về học tập hợp tác Sau đó, Morton Deutsch đã phát triển lí luận về hợp tác và cạnh tranh trên cơ sở “Những lí luận nền tảng” của Lewin Năm 1940, Morton Deutsch đưa ra lí thuyết về các tình huống hợp tác và cạnh tranh [35, tr.15]
Các nghiên cứu gắn liền tên tuổi các nhà nghiên cứu với các kỹ thuật dạy học hợp tác nổi tiếng dựa trên cơ sở lý luận và TN được ứng dụng rộng rãi ở các nước trên thế giới như: Kỹ thuật Puzzle Jigsaw (Aronson et al, 1978; Aronson, 2000), kỹ thuật Xung đột sáng tạo và thủ tục tranh cãi (Johnson & Smith, 1987), kỹ thuật Nhóm điều tra (aran & aran, 1992), kỹ thuật Stad (Đội sinh viên và cách chia thành tựu), kỹ thuật TGT (Trò chơi giải đấu), kỹ thuật TAI (Hướng dẫn đội chơi tăng tốc), kỹ thuật CIRC (Đọc hợp tác tích hợp và các thành phần), kỹ thuật DEC (Phản biện tiểu luận cặp đôi, Millis & Cottell năm 1998 và Millis erman & Cottell, 1993), kỹ thuật STP (Dự án đội sinh viên, erman & Woy-Hazelton, 1988), kỹ thuật Chỉ dẫn phức tạp (Cohen, 1994) Slavin (1995) đã mô tả và hướng dẫn thực hiện các kỹ thuật này trong các trường học [dẫn theo 37, tr.194]
Vào năm 2005, trong tài liệu hội thảo tập huấn: “Phát triển năng lực thông qua phương pháp và phương tiện dạy học mới” thuộc dự án phát triển giáo dục THPT của Hà Nội, GS Bernd Meier và TS Nguyễn Văn Cường đã trình bày chi tiết về những nội dung cơ bản về phát triển năng lực Trong tài liệu gồm có 4 phần: Phần 1 - Một số cơ sở của dạy và học trong xã hội tri thức: trình bày về lý thuyết phát triển năng lực, mô hình cấu trúc của năng lực
và khái niệm học tập theo lý thuyết năng lực; Phần 2 – Dạy và học với phương pháp dạy học mới: trình bày về các kĩ thuật và phương pháp dạy học mới gồm dạy học giải quyết vấn đề, dạy học tình huống và dạy học dự án nhằm phát triển năng lực cho HS trong quá trình dạy và học; Phần 3 – Dạy và học với phương tiện dạy học mới: trình bày về khái niệm về phương tiện, một
số phương tiện dạy học mới để hỗ trợ quá trình dạy học với mục tiêu phát
Trang 16triển năng lực, đặc biệt là phương tiện điện tử (e –learning); Phần 4 - Chất lượng dạy học và chuẩn giáo dục: nêu những tiêu chuẩn để đánh giá một giờ học tốt và chuẩn giáo dục [1]
1.1.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam về dạy học theo nhóm nhỏ theo hướng phát triển năng lực hợp tác
Ở Việt Nam, tư tưởng học tập theo nhóm cũng đã có từ rất lâu đời, ông cha ta có câu “học thầy không tày học bạn”, điều này cho thấy lợi ích của việc học tập từ bạn bè Học tập theo nhóm có nhiều hình thức khác nhau, nhóm sinh hoạt câu lạc bộ hay nhóm tự quản hoặc nhóm đôi bạn cùng tiến Tuy nhiên, thời gian đó học tập hợp tác là phong trào tự phát, chưa có cơ sở khoa học vững chắc nên dần dần lắng xuống
Đến những năm cuối của thế kỷ XX, đổi mới phương pháp giảng dạy học để phù hợp với xu thế trở thành nhiệm vụ cấp bách của ngành giáo dục Các nghiên cứu đổi mới phương pháp dạy học nói chung và phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực nói riêng được nghiên cứu rất kỹ về
lý thuyết được ra đời như :
Tác giả Đặng Thành Hưng (2002) trong cuốn “Dạy học hiện đại - lý luận, biện pháp, kỹ thuật”, đã khái quát các công trình nghiên cứu của Slavin R.; Davison N.; Johnson D W.; Johnson R T đồng thời đưa ra khái niệm nhóm hợp tác so sánh với kiểu học tranh đua và học cá nhân, chỉ ra tầm quan trọng kỹ năng học tập hợp tác và các nguyên tắc đảm bảo cho dạy học hợp tác
thành công [20] Tiếp đến trong một số bài báo của chính tác giả như: “Hệ thống kĩ năng học tập hiện đại” [21], “Kỹ năng dạy học và tiêu chí đánh giá" [22], “Nhận diện và đánh giá kĩ năng” [23] , tác giả đã chỉ ra hệ thống các
kỹ năng học tập trong môi trường hiện đại Thông qua hệ thống kỹ năng học tập, tác giả cho thấy học tập chính là thiết lập các mối quan hệ tích cực, cùng nhau chia sẻ và giải quyết các vấn đề Đây chính là những kỹ năng học tập được tác giả nhận diện trong môi trường học tập hiện đại
Trang 17Tác giả Ngô Thị Thu Dung (2002), “Cơ sở khoa học của việc rèn kỹ năng học theo nhóm cho HS tiểu học bằng phương pháp dạy học theo nhóm”,
đã dựa trên cách tiếp cận hoạt động, quan sát quá trình học hợp tác nhóm của
HS tiểu học đã đưa ra 18 kỹ năng hợp tác cần rèn luyện [3]
Tác giả Trần Bá Hoành (2006), “Đổi mới phương pháp dạy học, chương trình và sách giáo khoa” đã cho thấy dạy học theo nhóm vừa phát huy tích cực của mỗi HS vừa phát triển tình bạn Đặc biệt, tác giả nhấn mạnh
“Trong nền kinh tế thị trường đã xuất hiện nhu cầu hợp tác xuyên quốc gia, liên quốc gia ; NLHT phải trở thành một mục tiêu giáo dục mà nhà trường phải chuẩn bị cho HS” [17]
Phó Giáo sư Mai Văn Hưng (2015) , “Bàn về năng lực chung và chuẩn đầu ra về năng lực của HS THPT trong chương trình giáo dục phổ thông sau năm 2015”, đã nêu khái niệm năng lực, những năng lực chung và năng lực
riêng, đồng thời đề xuất hình thức đánh giá của một số năng lực [24]
Đặc biệt, tác giả Lê Đình Trung – Phan Thị Thanh Hội (2016), trong
cuốn “Dạy học theo định hướng hình thành và phát triển năng lực người học
ở trường phổ thông”, đã trình bày rất chi tiết về những nội dung cơ bản về
dạy học theo định hướng hình thành và phát triển năng lực người học ở trường phổ thông Trong tài liệu gồm có 3 phần: Phần 1 - Một số vấn đề chung về hình thành và phát triển năng lực người học ở trường phổ thông, trình bày khái quát về năng lực và dạy học tiếp cận năng lực ; hệ thống năng lực chung và năng lực chuyên biệt được hình thành và phát triển cho người học ở trường phổ thông trung học Phần 2 – Định hướng dạy học theo tiếp cận năng lực ở trường phổ thông trung học, trình bày dạy học theo định hướng hình thành và phát triển năng lực người học và chỉ rõ các biện pháp hình thành và phát triển năng lực người học trong dạy học; Phần 3 – Kiểm tra đánh giá theo định hướng hình thành và phát triển năng lực người học, trình bày một số vấn đề chung về kiểm tra đánh giá và quy trình đánh giá người học theo định hướng hình thành và phát trát triển năng lực [32]
Trang 18Trong những năm gần đây, vấn đề phát triển năng lực học tập cho HS trong dạy HS học đã thu hút được khá nhiều tác giả tập trung nghiên cứu Các
luận án Tiến sỹ của các tác giả: Nguyễn Triệu Sơn (2007) “Phát triển khả năng học hợp tác cho sinh viên sư phạm Toán một số trường đại học miền núi nhằm nâng cao chất lượng của người được đào tạo”, đã đề xuất biện phát phát triển khả năng học hợp tác cho sinh viên sư phạm Toán ở một số trường đại học miền núi [28]; Nguyễn Thành Kỉnh (2010) “Phát triển kỹ năng dạy học hợp tác cho giáo viên THCS”, đã nghiên cứu bản chất của dạy học hợp
tác và đề xuất một số biện pháp phát triển kỹ năng dạy học hợp tác cho GV THCS thông qua hoạt động bồi dưỡng chuyên môn [25]; Nguyễn Thị Quỳnh
Phương (2012) "Rèn luyện kỹ năng học hợp tác cho sinh viên ĐHSP trong hoạt động nhóm" [27] và Nguyễn Thị Thuý Hạnh (2011) "Kỹ năng học hợp tác của sinh viên sư phạm" [12], Nguyễn Thị Thanh (2013), Dạy học theo hướng phát triển kỹ năng học tập hợp tác cho sinh viên Đại học sư phạm [33], đã đi sâu nghiên cứu về dạy học theo nhóm, xác định được hệ thống
kỹ năng học tập hợp tác cần rèn cho sinh viên Đại học sư phạm, Cao đẳng sư phạm và cơ sở khoa học của rèn luyện các kỹ năng học tập hợp tác Luận án Tiến sỹ của các tác giả Hoàng Lê Minh (2007) lại đi theo hướng vận dụng các
kỹ thuật dạy học hợp tác vào các môn học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục [26]
Ngoài ra còn có rất nhiều các bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành cũng đề cập đến các vấn đề khác nhau của DHTNN và NLHT, như :
Nguyễn Thị Kim Dung (2000), “Thảo luận nhóm và quá trình xây dựng quan
hệ nhân ái giữa học sinh với nhau ở trường trung học”, Tạp chí Nghiên cứu
Giáo dục (11), tr 10-11 [5] ; Nguyễn Thị Thúy Hạnh (2011), “Thực trạng kỹ năng học tập hợp tác của sinh viên cao đẳng sư phạm”, Tạp chí Tâm lý học, (8) tr 149 [13] ; Phan Thị Thanh Hội, Phạm Huyền Phương (2015), “Rèn
luyện năng lực hợp tác cho học sinh trong dạy học chương Chuyển hóa vật chất và năng lượng - Sinh học 11 THPT” Tạp chí Khoa học, Đại học Sư
phạm Hà Nội, (60/1), tr.102-113 [18]
Trang 19Tóm lại, các tác giả trong nước và ngoài nước nghiên cứu về DHTNN với các cách tiếp cận khác nhau và dưới các tên gọi khác nhau như dạy học hợp tác, học tập theo quan điểm tương tác, DHTNN… những nghiên cứu này khẳng định đây là một hình thức dạy học theo định hướng phát triển năng lực Việc vận dụng hình thức dạy học này vào các môn học ở các cấp học khác nhau nhằm phát triển năng lực cho HS là phù hợp với xu thế và đem lại hiệu quả cao cho công cuộc đổi mới phương pháp dạy học đang diễn ra sâu, rộng trong cả nước hiện nay Việc vận dụng phương pháp DHTNN nhằm phát triển NLHT cho HS trong bộ môn Sinh học nói riêng và các môn học khác nói chung đang là một hình thức dạy học mới, vì vậy, cần được nghiên cứu và vận dụng vào các môn học ở các cấp học khác nhau
1.2 Cơ sở lí luận của đề tài
1.2.1 Phương pháp DHTNN
1.2.2.1 Khái niệm phương pháp DHTNN
DHTNN là một hình thức xã hội của dạy học, trong đó HS của một lớp học được chia thành các nhóm nhỏ trong khoảng thời gian giới hạn, mỗi nhóm tự lực hoàn thành các nhiệm vụ học tập trên cơ sở phân công và hợp tác làm việc Kết quả làm việc của nhóm sau đó được trình bày và đánh giá trước toàn lớp
DHTNN còn được gọi bằng những tên gọi khác nhau như dạy học hợp tác, dạy học theo nhóm DHTNN không phải một phương pháp dạy học cụ thể mà là một hình thức xã hội, hay là hình thức hợp tác của dạy học
Số lượng HS trong một nhóm thường khoảng 4 – 6 HS Nhiệm vụ của các nhóm có thể giống nhau hoặc mỗi nhóm nhận một nhiệm vụ khác nhau, là các phần trong một chủ đề chung
DHTNN thường được áp dụng để đi sâu, vận dụng, luyện tập, củng cố một chủ đề đã học, nhưng cũng có thể để tìm hiểu một chủ đề mới Trong các môn khoa học tự nhiên, công việc nhóm có thể được sử dụng để tiến hành các
Trang 20nghệ thuật, âm nhạc, các môn khoa học xã hội, các đề tài chuyên môn có thể được xử lý độc lập trong các nhóm, các sản phẩm học tập sẽ được sẽ tạo ra Trong môn ngoại ngữ có thể chuẩn bị các trò chơi đóng kịch,… Ở mức độ cao, có thể đề ra những nhiệm vụ cho các nhóm HS hoàn toàn độc lập xử lý các lĩnh vực đề tài và trình bày kết quả của mình cho những HS khác ở dạng
bài giảng
1.2.2.2 Các cách thành lập nhóm
Trong DHTNN thì thành lập nhóm theo tiêu chí nào có vai trò rất quan trọng tới hiệu quả hoạt động chung của nhóm Có rất nhiều cách để thành lập nhóm Sau đây là một số cách thành lập theo tác giả Nguyễn Văn Cường và Bernd Meier [2]
Tiêu chí Cách thực hiện Ƣu điểm Nhƣợc điểm
Đây là cách dễ nhất để thành lập nhóm, đảm bảo công việc thành công nhanh nhất
Dễ tạo ra sự tách biệt giữa các nhóm trong lớp,
vì vậy cách tạo lập nhóm như thế này không nên là khả năng duy nhất
2 Các nhóm
ngẫu nhiên
Bằng cách đếm số, phát thẻ, gắp thăm, sắp xếp theo màu sắc,…
Các nhóm luôn luôn mới sẽ đảm bảo là tất cả các
HS đều có thể học tập chung nhóm với tất cả các HS khác
Nguy cơ có trục trặc sẽ tăng cao
HS phải sớm làm quen với việc đó
để thấy rằng cách lập nhóm như vậy
là bình thường
3 Nhóm ghép
hình
Xé nhỏ một bức tranh hoặc các tờ tài
Cách tạo lập nhóm kiểu vui
Cần một ít chi phí
để chuẩn bị và
Trang 21liệu cần xử lý HS được phát các mẩu
xé nhỏ, những HS ghép thành bức tranh hoặc tờ tài liệu
đó sẽ tạo thành nhóm
chơi, không gây
ra sự đối địch
cần nhiều thời gian hơn để tạo lập nhóm
Tạo lập nhóm một cách độc đáo, tạo ra niềm vui và HS có thể biết nhau rõ hơn
Cách làm này mất
đi tính độc đáo nếu được sử dụng thường xuyên
5 Nhóm có
HS khá để hỗ
trợ HS yếu
Những HS khá giỏi trong lớp cùng luyện tập với các HS yếu hơn và đảm nhận trách nhiệm của người hướng dẫn
Tất cả đều được lợi Những HS giỏi đảm nhận trách nhiệm, những HS yếu được giúp đỡ
Ngoài việc mất nhiều thời gian thì chỉ có ít nhược điểm, trừ khi những HS giỏi hướng dẫn sai
…
1.2.2.3 Ưu điểm và nhược điểm của dạy học nhóm
a) Ưu điểm của phương pháp DHTNN
DHTNN có một số ưu điểm sau đây:
- Phát triển NLHT: Hoạt động nhóm là hình thức dạy học có chiến lược giáo dục mạnh mẽ và linh hoạt, có những đặc trưng cơ bản của dạy học hiện đại, làm cho HS thích ứng với sự phát triển, mỗi người sống và làm việc theo
sự phân công, hợp tác với tập thể cộng đồng; Sau thời gian làm việc nhóm,
Trang 22tình đoàn kết, ý thức tập thể sẽ tăng lên nhờ sự thông hiểu lẫn nhau Đồng thời, các thành viên trong nhóm sẽ biết tuân thủ các quy định, trước hết là của nhóm Đây là tiền đề để sau này HS là những công dân tuân thủ pháp luật tốt
- Phát triển năng lực giao tiếp và các năng lực xã hội khác: HS có nhiều
cơ hội thảo luận, tranh luận, phát biểu bình đẳng, thể hiện sự hiểu biết của mình và học hỏi kinh nghiệm của bạn Qua đó rèn luyện cho HS cách trình bày, bảo vệ quan điểm của mình, cách thuyết phục và thương lượng trong giải quyết vấn đề và biết cách lắng nghe người khác cũng như phát triển những kĩ năng phê bình, phân tích, giải quyết vấn đề Qua hoạt động nhóm, bên cạnh việc hình thành và phát triển NLHT cho HS còn phát triển các năng lực xã hội khác như: năng lực lãnh đạo, đưa ra quyết định, xây dựng lòng tin, xử lý xung đột, cổ vũ, động viên… HS trở nên mềm dẻo và linh hoạt hơn trong giao tiếp
- Tác động đến ý thức học tập của HS: Dạy học theo nhóm tạo ra nhiều
cơ hội cho HS được hoạt động giải quyết vấn đề học tập, đưa HS vào thế chủ động tìm tòi kiến thức; Tác động tích cực đến động cơ, sự nhận thức và cả phương pháp học tập, có ích cho việc tự học sau này; Phát huy cao độ năng lực học tập cá nhân, ý thức được khả năng của mình, nâng cao niềm tin vào việc học tập
- Tạo tâm lý thoải mái cho HS: Khi làm việc theo nhóm, HS cảm thấy thoải mái, không bị căng thẳng như lúc làm việc một mình Các em được hỗ trợ, hợp tác trong nhóm nên tự tin hơn, vì thế việc học sẽ đạt kết quả cao hơn
- Phát triển tư duy sáng tạo, khả năng phân tích, tổng hợp và khả năng giải quyết vấn đề: Trong các lớp học mang tính hợp tác, HS phải tham gia các hoạt động đòi hỏi HS phải sáng tạo, linh hoạt và nhạy bén, học được tính kiên trì trong việc theo đuổi mục đích, nâng cao được khả năng phê phán, tư duy logic, bổ sung kiến thức nhờ học hỏi lẫn nhau
Trang 23- Nâng cao khả năng ứng dụng khái niệm, nguyên lý, nguồn thông tin vào việc giải quyết các tình huống khác nhau Lớp học sôi động hơn do có nhiều hình thức hoạt động đa dạng
- Ngoài ra, DHTNN còn tác động cả về quan niệm xã hội như: cải thiện các mối quan hệ xã hội; tôn trọng các giá trị dân chủ; chấp nhận sự khác nhau
về văn hoá – phong tục tập quán; giảm lo âu - sợ thất bại GV cũng có cơ hội học tập các kinh nghiệm của HS
b) Nhược điểm của phương pháp DHTNN
DHTNN được nhiều nước áp dụng và thể hiện nhiều ưu điểm, song DHTTN cũng có những hạn chế như:
- Tốn thời gian chuẩn bị và thực hiện; gây ồn ào
- Các nhóm có thể đi chệch hướng thảo luận
- Một số thành viên trong nhóm có thể ỷ lại, không làm việc
- Khi GV áp dụng cứng nhắc, quá thường xuyên hoặc thời gian hoạt động nhóm quá dài, hoạt động nhóm sẽ không có tác dụng
- Khó điều khiển khi mới làm lần đầu và chưa có kinh nghiệm
1.2.2.4 Cơ sở khoa học của DHTNN
* Cơ sở triết học
Triết học Mác - Lênin đã chỉ ra rằng: Sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan đều có 2 đặc tính: tính chung và tính riêng Vì vậy, trong quá trình dạy học, GV cần tôn trọng và khai thác những cái riêng của mỗi HS trên cơ sở đảm bảo mặt bằng chung về thể lực và trình độ trí tuệ của HS để hoàn thành nhiệm vụ dạy học chung cho mọi HS
Bên cạnh đó, trong DHTNN mỗi cá nhân được thể hiện thế giới quan
và nhân sinh quan riêng và qua đó sẽ ảnh hưởng tích cực đến các cá nhân khác của nhóm học tập, đặc biệt, những cá nhân ưu tú sẽ ảnh hưởng, dẫn dắt các cá nhân khác trong nhóm để cùng nhau giải quyết nhiệm vụ học tập chung
Trang 24* Cơ sở xã hội học
DHTNN là một hình thức tổ chức dạy học mang tính tập thể cao, trong
đó mối quan hệ giữa các thành viên trong nhóm được thực hiện và có vai trò hết sức quan trọng Nhóm nhỏ là nơi giao nhau giữa các tác động từ xã hội đến cá nhân và các tác động phản hồi từ cá nhân trở lại xã hội Những tác động của xã hội đã ảnh hưởng đến nhóm, rồi lan tỏa ra từng cá nhân trong nhóm, qua những tác động đó nhân cách của cá nhân được hình thành, từ đó cũng làm thay đổi những chuẩn mực xã hội qua từng cá nhân
* Cơ sở tâm lý học
- Cơ sở tâm lý học xã hội: Dạy học dựa trên những mâu thuẫn xã hội - nhận thức được nảy sinh từ những quan điểm đối lập nhau trong những tranh luận với tập thể, điều này giúp HS chuyển được những mâu thuẫn về ý kiến giữa cá nhân thành mâu thuẫn bên trong cá nhân Việc tổ chức DHTNN tạo ra một không gian thích hợp cho sự tranh luận và đối thoại HS được khuyến khích và tự do trình bày những ý tưởng khác nhau về một tình huống cụ thể,
để thuyết phục các cá nhân khác trong nhóm chấp nhận suy nghĩ của mình là đúng, từ đó mâu thuẫn xã hội - nhận thức được giải quyết trong nhóm
- Cơ sở tâm lý học lứa tuổi: Những nghiên cứu về tâm lý học lứa tuổi cho thấy, những yếu tố ảnh hưởng quyết định tới sự phát triển tâm lý HS THCS là tính tích cực xã hội của bản thân các em Ở độ tuổi này, các em mong muốn được hoạt động cùng bạn bè và DHTNN tạo điều kiện để HS được hoạt động
* Cơ sở lý luận dạy học
Hoạt động dạy học theo nhóm là hoạt động cho phép đạt được cùng lúc nhiều mục tiêu, việc tổ chức loại hoạt động học tập này cho phép tiếp cận gần hơn trình độ nhận thức thực tế của HS, phương tiện và môi trường học tập cũng đa dạng hơn; do vậy, mà hiệu quả hoạt động học sẽ tăng lên
Trang 251.2.2 Năng lực hợp tác
1.2.2.1 Lý thuyết về năng lực
* Khái niệm năng lực
Trong Khoa sư phạm tích hợp [34, tr.91] có nhiều định nghĩa khác nhau về năng lực, theo Gerard và Roegies (1993), năng lực là một tập hợp những kĩ năng cho phép nhận biết một tình huống và đáp ứng với tình huống
đó tương đối thích hợp một cách tự nhiên; Theo De Ketele (1995), năng lực là một tập hợp trật tự các kĩ năng tác động lên các nội dung trong một loại tình huống cho trước để giải quyết các vấn đề do tình huống này đặt ra
Tác giả Nguyễn Cường và Bernd Meier thì cho rằng năng lực là khả năng thực hiện có trách nhiệm và hiệu quả các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề trong những tình huống khác nhau thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trên cơ sở hiểu biết, kĩ năng, kỹ xảo và kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động [2]
Tác giả Mai Văn Hưng lại cho rằng, năng lực của con người là sự kết hợp hài hòa giữa năng lực tự nhiên và năng lực được đào tạo, là hệ thống tiền
đề bên trong và bên ngoài để từ đó phát triển thành tài năng cá nhân [24]
Trong luận văn này, chúng tôi lựa chọn định nghĩa: “Năng lực là khả năng thực hiện có hiệu quả và có trách nhiệm các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề thuộc lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trong những tình huống khác nhau trên cơ sở kết hợp sự hiểu biết, kĩ năng, kĩ xảo, kinh
nghiệm và thái độ” làm cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu
* Các loại năng lực
Trong Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể của Bộ giáo dục và đào tạo (tháng 7/2015), các nhà giáo dục đã xác định hai hệ thống năng lực cần hình thành và phát triển cho HS đó là: Hệ thống các năng lực chung và hệ thống các năng lực chuyên biệt
Trang 26a) Hệ thống các năng lực chung: Năng lực chung là năng lực cần thiết cho nhiều hoạt động khác nhau Ở trường THPT, các năng lực chung được chia làm 3 nhóm, đó là:
- Nhóm năng lực làm chủ và phát triển bản thân, bao gồm: năng lực tự học, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực tư duy, năng lực tự quản lý
- Nhóm năng lực về quan hệ xã hội, bao gồm: năng lực giao tiếp, năng lực hợp tác
- Nhóm năng lực công cụ, bao gồm: năng lực sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông, năng lực sử dụng ngôn ngữ, năng lực tính toán [29]
b) Hệ thống các năng lực chuyên biệt: Năng lực chuyên biệt là những năng lực được hình thành và phát triển trên cơ sở các năng lực chung theo định hướng chuyên sâu, riêng biệt trong các loại hình hoạt động, công việc hoặc tình huống, môi trường đặc thù, cần thiết cho những hoạt động chuyên biệt, đáp ứng yêu cầu hạn hẹp hơn Ở trường THPT, các năng lực Sinh học
HS cần đạt được đó là:
- Năng lực kiến thức sinh học bao gồm các kiến thức về các cấp độ tổ chức sống từ phân tử – tế bào – cơ thể – quần thể – quần xã – hệ sinh thái; kiến thức về cơ sở vật chất của các hiện tượng di truyền biến dị; kiến thức về tính quy luật của hiện tượng di truyền và ứng dụng di truyền học; các kiến thức về tiến hóa và STH
- Năng lực nghiên cứu khoa học bao gồm: quan sát các hiện tượng trong thực tiễn hay trong học tập để xác lập vấn đề nghiên cứu; thu thập các thông tin liên quan thông qua nghiên cứu tài liệu, TN; hình thành giả thuyết khoa học; thiết kế thí nghiệm; thực hiện thí nghiệm; thu thập và phân tích dữ liệu; giải thích kết quả thí nghiệm và rút ra kết luận
- Năng lực thực hiện trong phòng thí nghiệm bao gồm các kĩ năng chính như: kĩ năng sử dụng kính hiển vi; kĩ năng thực hiện an toàn phòng thí nghiệm; kĩ năng làm một số tiêu bản đơn giản; kĩ năng bảo quản một số mẫu vật thật [29]
Trang 271.2.2.2 Lý thuyết về năng lực hợp tác
* Khái niệm về năng lực hợp tác
Hợp tác là một yếu tố không thể thiếu trong cuộc sống lao động của con người; nó diễn ra thường xuyên trong gia đình, trong xã hội; do vậy "hợp tác mang bản chất sinh học tự nhiên của mỗi con người trong xã hội" Hợp tác
là cùng chung sức giúp nhau trong một công việc, trong một lĩnh vực hoạt động nào đó nhằm đạt được mục đích chung Hợp tác là hai hay nhiều bộ phận trong một nhóm làm việc theo cùng một cách thức để tạo ra một kết quả chung
NLHT là một dạng năng lực cho phép cá nhân kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức giữa tri thức cần thiết cho sự hợp tác, kỹ năng và thái độ, giá trị, động cơ cá nhân nhằm đáp ứng hiệu quả yêu cầu của hoạt động hợp tác trong bối cảnh cụ thể Trong đó mỗi cá nhân thể hiện sự tích cực, tự giác,
sự tương tác và trách nhiệm cao trên cơ sở huy động những tri thức, kỹ năng của bản thân nhằm giải quyết có hiệu quả hoạt động hợp tác Trong chương trình giáo dục phổ thông tổng thể (tháng 7 năm 2015), NLHT là một trong 8 năng lực cốt lõi cần phát triển cho người học
Người có NLHT phải có kiến thức, kĩ năng và thái độ hợp tác như sau:
- Kiến thức hợp tác: Người có kiến thức hợp tác là người nêu được khái niệm, mục đích, ý nghĩa hợp tác; phân tích được quy trình hợp tác, các hình thức hợp tác; Trình bày được các cách tạo nhóm, kĩ thuật hoạt động nhóm, vai trò của từng vị trí trong nhóm
- Các kĩ năng hợp tác: Người có kỹ năng hợp tác là người có kỹ năng tổ chức nhóm hợp tác, kỹ năng lập kế hoạch hợp tác, kỹ năng tạo môi trường hợp tác, kỹ năng giải quyết mâu thuẫn, kỹ năng diễn đạt ý kiến, kỹ năng lắng nghe và phản hồi, kỹ năng viết báo cáo, kỹ năng tự đánh giá, kỹ năng đánh giá lẫn nhau Đây là thành tố biểu hiện cao nhất của NLHT
- Thái độ hợp tác:
Trang 28+ Tích cực hoạt động nhóm: Các thành viên trong nhóm tích cực tham gia hoạt động nhóm và động viên nhau cùng tham gia
+ Chung sức hoàn thành nhiệm vụ: Các thành viên trong nhóm đồng tâm, hợp lực hoàn thành nhiệm vụ chung của nhóm, có trách nhiệm với sự thành công của nhóm
+ Chia sẻ, giúp đỡ lẫn nhau: Các thành viên trong nhóm tôn trọng, chia
sẻ, ủng hộ, giúp đỡ lẫn nhau cùng hoàn thành nhiệm vụ
* Vai trò của năng lực hợp tác trong học tập và đời sống
NLHT giúp cho HS:
- Biết chủ động đề xuất mục đích hợp tác để giải quyết một vấn đề do bản thân và những người khác đề xuất; biết lựa chọn hình thức làm việc nhóm với quy mô phù hợp với yêu cầu và nhiệm vụ; biết phân tích các công việc cần thực hiện để hoàn thành nhiệm vụ của nhóm; đánh giá được khả năng hoàn thành công việc của từng thành viên trong nhóm để đề xuất điều chỉnh phương án phân công công việc và tổ chức hoạt động hợp tác; biết theo dõi tiến độ hoàn thành công việc của từng thành viên và cả nhóm để điều hoà hoạt động phối hợp; biết khiêm tốn tiếp thu sự góp ý và nhiệt tình chia sẻ, hỗ trợ các thành viên trong nhóm
- Đánh giá được mức độ đạt mục đích của cá nhân và của nhóm; rút kinh nghiệm cho bản thân và góp ý được cho từng người trong nhóm
- Biết chủ động, tự tin trong giao tiếp với bạn bè quốc tế; biết chủ động, tích cực tham gia một số hoạt động hội nhập quốc tế phù hợp với bản thân và đặc điểm của nhà trường, địa phương; biết tìm đọc tài liệu nước ngoài phục
vụ công việc học tập và định hướng nghề nghiệp của mình và bạn bè
Như vậy, NLHT giúp cho HS có được thành tích học tập tốt hơn nhờ sự
cố gắng, tích cực của bản thân cũng như sự chia sẻ, giúp đỡ của bạn bè; đảm bảo sự phát triển hài hòa giữa cá nhân và quan hệ xã hội, trưởng thành về nhân cách và hành vi xã hội Đây chính là điều kiện tiên quyết dẫn đến sự thành đạt của mỗi cá nhân trong cuộc sống
Trang 291.3 Cơ sở thực tiễn của đề tài
1.3.1.Khái quát về khảo sát thực trạng
1.3.1.1 Mục đích khảo sát
- Tìm hiểu thực trạng các phương pháp dạy học của GV hiện nay thường áp dụng khi dạy phần STH Sinh học 12 THPT; hiểu biết của GV về những yêu cầu cần thiết khi DH theo hướng phát triển NLHT và thực trạng nhận thức của GV về vai trò của DH theo hướng phát triển NLHT
- Tìm hiểu thực trạng về NLHT của HS lớp 12 ở trường THPT Phạm Văn Nghị, huyện Ý Yên, Nam Định
1.3.1.2 Đối tượng khảo sát
Tổng số GV được điều tra là 42, các GV đều dạy tại các trường THPT của tỉnh Nam Định
Tổng số HS được điều tra 219, các em HS đều học lớp 12 trường THPT Phạm Văn Nghị, huyện Ý Yên, Nam Định Sau khi sàng lọc loại bỏ những phiếu không đảm bảo yêu cầu điều tra, chúng tôi đưa vào xử lý 214 phiếu
+ Phiếu 2: Tìm hiểu thực trạng về NLHT của HS lớp 12 tại trường THPT Phạm Văn Nghị, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định (Phụ lục 1)
Trang 30(M1: Rất thường xuyên; M2: Thường xuyên; M3: Không thường xuyên)
Kết quả khảo sát thu được ở bảng 1.1 cho thấy, hầu hết các GV đều sử dụng đa dạng các phương pháp dạy học trong quá trình dạy học phần STH Sinh học 12 THPT Trong đó các phương pháp được sử dụng nhiều nhất là phương pháp thuyết trình, đàm thoại; các phương pháp ít được sử dụng là dạy học tình huống, dạy học theo dự án Như vậy, dễ nhận thấy các phương pháp dạy học mà GV sử dụng thường xuyên để dạy phần STH Sinh học 12 THPT nhất vẫn là những phương pháp dạy học truyền thống Các phương pháp tích cực có thể mang lại mối quan hệ phụ thuộc tích cực giữa HS - HS như hình thức dạy học theo nhóm chưa được GV sử dụng nhiều Còn phương pháp
nghiên cứu tình huống; phương pháp dự án thì ít được GV sử dụng
1.3.2.2 Thực trạng hiểu biết của GV về những yêu cầu cần thiết khi dạy học theo hướng phát triển NLHT
Trang 31Bảng 1.2 Thực trạng hiểu biết của GV về những yêu cầu cần thiết khi dạy học theo hướng phát triển NLHT cho HS
3 Đảm bảo mỗi thành viên
trong nhóm đều phải có
trách nhiệm cá nhân cao, có
(M1: Cần thiết; M2: Bình thường; M3: Không cần thiết)
Điều kiện đầu tiên có vai trò quyết định đến kết quả dạy học là nhận thức của GV về những yêu cầu cần thiết khi dạy học theo hướng phát triển NLHT cho HS, nếu không có nhận thức đúng đắn về vấn đề này thì họ sẽ không thể tổ chức thực hiện dạy học theo hướng phát triển NLHT có hiệu quả được
Trang 32Kết quả thu được ở bảng 1.2 cho thấy, hiểu biết của GV về những yêu cầu cần thiết khi dạy học theo hướng phát triển NLHT cho HS có khác nhau:
Yêu cầu đảm bảo HS trong nhóm học tập phụ thuộc lẫn nhau một cách tích cực; yêu cầu đánh giá được khách quan, thường xuyên về hoạt động của từng thành viên trong nhóm và hoạt động chung của nhóm được đánh giá
là cần thiết nhất Điều này phù hợp với logic của lý luận dạy học Phụ thuộc
lẫn nhau một cách tích cực trong hoạt động học tập là một trong những yếu tố
cơ bản nhất đảm bảo sự hợp tác giữa HS - HS trong học tập; đồng thời kiểm tra, đánh giá cũng là một khâu quan trọng giúp GV - HS có thể nắm bắt chính xác những thông tin phản hồi để từ đó điều chỉnh quá trình dạy học cũng như học tập
Yêu cầu đảm bảo HS mặt đối mặt để tăng cường sự tương tác hỗ trợ lẫn nhau được đánh giá ở mức thấp nhất Điều này hoàn toàn phù hợp với
thực tế khách quan, bởi hiện nay sự phát triển của công nghệ thông tin đã có thể giúp HS - HS ngoài việc trao đổi bằng cách mặt đối, mặt chúng có thể tương tác qua mạng internet, điện thoại, mạng xã hội facebook, zalo
Dựa vào kết quả trên, có thể khẳng định đại đa số các GV được hỏi đều nhận thức đúng những yêu cầu cơ bản của dạy học theo hướng phát triển NLHT, nghĩa là họ xác định được phải đảm bảo các yêu cầu cơ bản khi tổ chức dạy học theo hướng phát triển NLHT cho HS
1.3.2.3 Thực trạng nhận thức của GV về vai trò của dạy học theo hướng phát
triển NLHT cho HS
Trang 33Bảng 1.3 Thực trạng nhận thức của GV về vai trò của dạy học theo hướng phát triển NLHT cho HS
hiện, xử lý, giải quyết các
vấn đề linh hoạt, quyết
Trang 34học tập, giờ học sinh động
hơn, hấp dẫn hơn
10 Giúp HS hiểu bài và tiếp
thu bài nhanh hơn, chất
lượng giờ học được nâng
(M1: Đúng; M2: Phân vân; M3: Không đúng)
Kết quả thu được ở bảng 1.3 cho thấy, Hầu hết tất cả các GV được hỏi đều đánh giá cao vai trò của dạy học theo hướng phát triển NLHT cho HS Họ đều cho rằng, dạy học theo hướng phát triển NLHT cho HS có rất nhiều
những ưu điểm, thể hiện thông qua nhất trí cao tiêu chí đánh giá “đúng” và không có GV nào đánh giá là “không đúng” cho đại đa số các câu hỏi đưa ra
Trong đó, dạy học theo hướng phát triển NLHT làm cơ sở để phát triển các kỹ năng xã hội của HS được GV đánh giá mức độ cao nhất Điều này
cũng phù hợp với cơ sở lý luận đã xác định NLHT chứa đựng những kỹ năng giao lưu, chia sẻ, giúp đỡ, thương lượng… của HS - HS; HS - GV trong học tập nhằm đạt được hiệu quả Nó cũng chính là cơ sở, tiền đề của những kỹ năng xã hội, kỹ năng sống sau này của HS
1.3.2.4 Thực trạng về NLHT của HS lớp 12 ở trường THPT Phạm Văn Nghị, huyện Ý Yên, Nam Định
Trang 35Bảng 1.4 Thực trạng về NLHT của HS lớp 12 tại trường THPT Phạm Văn Nghị, huyện Ý Yên, Nam Định
công việc cụ thể của từng
vị trí các thành viên trong
nhóm, sẵn sàng thực hiện
3 Tôi tập trung hoàn thành
các việc được giao và công
việc của toàn nhóm với ý
việc nhóm phải làm theo
trình tự thời gian hợp lí và
Trang 36công việc để hoàn thành
7 Tôi tôn trọng, lắng nghe,
bày tỏ sự ủng hộ, gợi mở
kích thích các thành viên
khác tham gia tích cực vào
8 Tôi chia sẻ tài liệu thông
tin, chí hướng, suy nghĩ,
giúp đỡ nhau nhằm tạo sự
9 Tôi tranh luận đúng vào
nội dung cần giải quyết, có
Trang 37B Nhóm kỹ năng của năng lực hoạt động hợp tác nhóm
V Kỹ năng diễn đạt ý kiến
12 Tôi trình bày được ý kiến
của nhóm ngắn gọn, dễ
hiểu, cử chỉ có sự thuyết
13 Tôi đưa ra được những lý
lẽ chứng minh cho quan
điểm của mình một cách ôn
Trung bình 45 21,74 107 51,93 54,5 26,33
VI Kỹ năng lắng nghe và phản hồi
14 Tôi lắng nghe, hiểu, ghi lại,
diễn đạt lại ý kiến của
người khác, không ngắt
15 Tôi thể hiện ý kiến không
đồng tình lịch sự, khéo léo
đặt câu hỏi, để biết rõ hoặc
Trang 38Trung bình 86 41,79 91,5 44,2 29 14,01 VII Kỹ năng viết báo cáo
16 Tôi biết lựa chọn, sắp xếp ý
kiến của các thành viên để
C Nhóm kỹ năng của năng lực đánh giá nhóm hợp tác
VIII Kỹ năng tự đánh giá
17 Tôi đánh giá chính xác,
khách quan kết quả đạt
IX Kỹ năng đánh giá lẫn nhau
(M1: Thường xuyên; M2: Thỉnh thoảng; M2: Hiếm khi)
Dựa vào kết quả bảng 1.4 có thể khẳng định nhìn chung HS ít nhiều
đã có những kỹ năng hợp tác nhất định, các em đã thể hiện được một số kỹ năng cơ bản nhưng mức độ thành thạo chưa cao, chưa ổn định; biểu hiện của
các kỹ năng hợp tác không đồng đều: Kỹ năng tổ chức hợp tác nhóm có tỷ lệ cao nhất (51,33%); kỹ năng diễn đạt ý kiến có tỷ lệ thấp nhất (21,74%); đa số
các kỹ năng đều có tỷ lệ dưới 50% Điều này hoàn toàn phù hợp với thực tế khách quan, bởi phương pháp dạy học truyền thống hiện nay vẫn là phổ biến được GV áp dụng ở mọi môn học, cấp học
Trang 39Tiểu kết chương 1
NLHT là một dạng năng lực cho phép cá nhân kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức giữa tri thức cần thiết cho sự hợp tác, kỹ năng và thái độ, giá trị, động cơ cá nhân nhằm đáp ứng hiệu quả yêu cầu của hoạt động hợp tác trong bối cảnh cụ thể Trong đó mỗi cá nhân thể hiện sự tích cực, tự giác,
sự tương tác và trách nhiệm cao trên cơ sở huy động những tri thức, kỹ năng của bản thân nhằm giải quyết có hiệu quả hoạt động hợp tác
Dạy học theo định hướng phát triển năng lực là xu hướng tất yếu và là yêu cầu cấp bách hiện nay Có nhiều phương pháp dạy học thực hiện được nhiệm vụ này và DHTNN là một trong những phương pháp đó, DHTNN phát huy được nhiều năng lực ở HS, nhất là NLHT
Qua một số khảo sát thực trạng dạy học chúng tôi nhận thấy: Còn một
bộ phận GV nhận thức chưa hoàn toàn đầy đủ về dạy học theo định hướng phát triển NLHT, vì vậy việc trang bị cho GV những hiểu biết về dạy học theo hướng phát triển NLHT là vấn đề cần thiết HS đã có một số những kỹ năng hợp tác nhất định, tuy nhiên mức độ thành thạo chưa cao, chưa ổn định; biểu hiện của các kỹ năng hợp tác không đồng đều, có nhiều kỹ năng còn hạn chế Do đó cần phải bồi dưỡng và phát triển bằng việc áp dụng các phương pháp dạy học phù hợp
Trang 40CHƯƠNG 2 VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC THEO NHÓM NHỎ NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỢP TÁC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC PHẦN SINH THÁI HỌC SINH HỌC 12 THPT 2.1 Phân tích cấu trúc nội dung kiến thức của phần STH Sinh học 12 THPT
2.1.1 Đặc điểm nội dung kiến thức chương trình Sinh học THPT
Cấu trúc chương trình Sinh học THPT phân bố ở 3 khối như sau: Sinh học 10 nghiên cứu các khái niệm, cơ chế, quá trình sinh học ở cấp tế bào và sinh học vi sinh vật (tương đương với cấp tế bào); Sinh học 11 nghiên cứu các
cơ chế, quá trình sinh học xảy ra ở cấp độ cơ thể; Sinh học 12 với các phần,
Di truyền, Tiến hóa, STH lại nghiên cứu các quá trình đó ở cấp độ quần thể và trên quần thể
2.1.2 Đặc điểm nội dung kiến thức phần STH Sinh học 12 THPT
* Mục tiêu của phần STH Sinh học 12 THPT
Phần STH Sinh học 12 gồm 3 chương có mục tiêu tập trung vào 3 mục tiêu lớn: hình thành kiến thức, phát triển kỹ năng, hình thành thái độ
Bảng 2.1 Mục tiêu của phần STH Sinh học 12 THPT
- Kiến thức về sự biến đổi và cân bằng ở mức cơ thể, quần thể,
hệ sinh thái, từ đó hình thành kiến thức về nguyên nhân biến đổi
và cân bằng trong tự nhiên, kiến thức về bảo vệ, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường và sự cân bằng tự
nhiên
Phát triển
kỹ năng
- Phát triển năng lực quan sát: vận dụng những kiến thức mà HS
đã quan sát và tích lũy được trong đời sống