1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Vận dụng phương pháp dạy học theo nhóm nhỏ nhằm phát triển năng lực hợp tác cho học sinh trong dạy học phần sinh thái học sinh học 12 trung học phổ thông

146 119 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 146
Dung lượng 2,87 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phần STH thuộc chương trình Sinh học 12 THPT là một trong những nội dung rất thích hợp để thiết kế các hoạt động dạy học theo nhóm nhỏ nhằm phát triển năng lực hợp tác NLHT cho HS.. - Xâ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN THỊ LOAN

VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC THEO NHÓM NHỎ NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỢP TÁC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC PHẦN SINH THÁI HỌC – SINH HỌC 12

TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM SINH HỌC

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN THỊ LOAN

VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC THEO NHÓM NHỎ NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỢP TÁC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC PHẦN SINH THÁI HỌC – SINH HỌC 12

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian từ tháng 7 năm 2016 đến tháng 11 năm 2017, dưới sự hướng dẫn tận tình, trực tiếp của cô giáo TS Lê Thị Phượng, tôi đã hoàn thành luận văn này

Trong quá trình nghiên cứu đề tài, chúng tôi còn nhận được sự giúp đỡ, góp ý của Ban lãnh đạo, các thầy cô giáo, các cán bộ công chức khoa Sư Phạm Trường Đại học Giáo Dục ĐHQGHN

Ban giám hiệu, các thầy cô giáo và các em học sinh trường THPT Phạm Văn Nghị đã cộng tác, giúp đỡ và tạo điều kiện để tôi tiến hành điều tra, thực nghiệm trong quá trình nghiên cứu

Gia đình và những người bạn đã động viên khích lệ, giúp tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu

Tôi xin chân thành cảm ơn những giúp đỡ quý báu đó!

Hà nội, tháng 11 năm 2017

Tác giả

Nguyễn Thị Loan

Trang 5

MỤC LỤC

Lời cảm ơn i

Danh mục từ viết tắt ii

Danh mục bảng v

Danh mục hình vi

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 6

1.1 Tổng quan về về phương pháp dạy học theo nhóm nhỏ theo hướng phát triển năng lực hợp tác 6

1.1.1 Các nghiên cứu trên thế giới về dạy học theo nhóm nhỏ theo hướng phát triển năng lực hợp tác 6

1.1.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam về dạy học theo nhóm nhỏ theo hướng phát triển năng lực hợp tác 7

1.2 Cơ sở lí luận của đề tài ……….11

1.2.1 Phương pháp DHTNN 11

1.2.2 Năng lực hợp tác 17

1.3 Cơ sở thực tiễn của đề tài 21

1.3.1 Khái quát về khảo sát thực trạng 21

1.3.2 Kết quả khảo sát thực trạng 22

Tiểu kết chương 1 31

CHƯƠNG 2 : VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DHTNN NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỢP TÁC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC PHẦN SINH THÁI HỌC SINH HỌC 12 THPT 32

2.1 Phân tích cấu trúc nội dung kiến thức của phần STH Sinh học THPT 32

2.1.1 Đặc điểm nội dung kiến thức chương trình Sinh học THPT 32

2.1.2 Đặc điểm nội dung kiến thức phần STH Sinh học 12 THPT…………32

2.2 Quy trình thiết kế các hoạt động nhằm phát triển NLHT cho HS trong dạy học phần STH Sinh học 12 THPT bằng phương pháp DHTNN … ….37

Trang 6

2.2.1 Quy trình thiết kế các hoạt động nhằm phát triển NLHT cho HS bằng

phương pháp DHTNN 37

2.2.2 Vận dụng quy trình để thiết kế các hoạt động nhằm phát triển NLHT trong dạy học phần STH Sinh học 12 THPT bằng phương pháp DHTNN 40

2.3 Quy trình tổ chức các hoạt động nhằm phát triển NLHT cho HS trong dạy học phần STH Sinh học 12 THPT bằng phương pháp DHTNN… 44

2.3.1 Quy trình tổ chức các hoạt động nhằm phát triển NLHT cho HS trong dạy học phần STH Sinh học 12 THPT bằng phương pháp DHTNN 44

2.3.2 Vận dụng quy trình DHTNN để phát triển NLHT trong dạy học phần STH Sinh học 12 THPT 47

2.3.3 Đề xuất một số nội dung có thể sử dụng phương pháp DHTNN nhằm phát triển NLHT cho HS phần STH Sinh học 12 THPT………….… 59

Tiểu kết chương 2 62

CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 63

3.1 Mục đích thực nghiệm 63

3.2 Nội dung thực nghiệm 63

3.3.1 Thời gian thực nghiệm 63

3.3.2 Nội dung thực nghiệm 63

3.3 Phương pháp thực nghiệm 64

3.3.1 Chọn lớp thực nghiệm 64

3.3.2 Bố trí thực nghiệm 64

3.3.3 Tiêu chí đánh giá…… ……….……… 64

3.4 Kết quả thực nghiệm 76

3.4.1 Kết quả về định lượng ……… ……… 76

3.4.2 Kết quả về định tính ……… ……… 84

Tiểu kết chương 3 85

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 86

TÀI LIỆU THAM KHẢO 88

PHỤ LỤC 92

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Thực trạng mức độ sử dụng các phương pháp dạy học của GV phần

STH Sinh học 12 THPT 22

Bảng 1.2 Thực trạng hiểu biết của GV về những yêu cầu cần thiết khi dạy học theo hướng phát triển NLHT cho HS 23

Bảng 1.3 Thực trạng nhận thức của GV về vai trò của dạy học theo hướng phát triển NLHT cho HS 25

Bảng 1.4 Thực trạng về NLHT của HS lớp 12 tại trường THPT Phạm Văn Nghị, huyện Ý Yên, Nam Định 27

Bảng 2.1 Mục tiêu của phần STH trong chương trình Sinh học 12 THPT 32

Bảng 2.2 Cấu trúc nội dung phần STH Sinh học 12 THPT 33

Bảng 2.3 Cấu trúc chung của các bài trong phần STH, Sinh học 12 35

Bảng 2.4 Trình tự thành phần kiến thức của phần STH Sinh học 12 36

Bảng 2.5 Một số nội dung phần Sinh thái học có thể sử dụng phương pháp DHTNN nhằm phát triển NLHT cho HS… 60

Bảng 3.1 Các kỹ năng của NLHT khi hoạt động theo nhóm nhỏ 65

Bảng 3.2 Bảng hỏi kiểm tra NLHT của HS khi hoạt động theo nhóm nhỏ 67

Bảng 3.3 Bảng kiểm quan sát biểu hiện của các kỹ năng hợp tác của HS khi hoạt động theo nhóm nhỏ 70

Bảng 3.4 Bảng kiểm quan sát thái độ và kỹ năng của nhóm khi hoạt động theo nhóm nhỏ 75

Bảng 3.5 Mức độ phát triển NLHT của HS 77

Bảng 3.6 Kết quả 3 bài kiểm tra của lớp TN và lớp ĐC 80

Bảng 3.7 Bảng các giá trị đặc trưng mẫu 80

Bảng 3.8 Bảng tần suất các điểm các bài kiểm tra 82

Bảng 3.9 Bảng tần suất hội tụ tiến các điểm các bài kiểm tra trong TN 83

Bảng 3.10 Kiểm định giả thuyết thống kê điểm các bài kiểm tra trong TN 84

Trang 8

DANH MỤC HÌNH

Hình 3.1 Điểm trung bình bài kiểm tra trong TN 81

Hình 3.2 Tần suất các bài kiểm tra trong TN 82

Hình 3.3 Tần suất hội tụ tiến điểm tổng hợp bài kiểm tra trong TN 83

Trang 9

và đời sống tâm hồn phong phú; nhờ đó có được cuộc sống có ý nghĩa và đóng góp tích cực vào sự phát triển của đất nước và nhân loại

Để thực hiện được mục tiêu này, chủ trương của Bộ giáo dục và đào tạo

ở giai đoạn hiện nay là đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo: Từ đổi mới mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học, phương tiện dạy học đến đổi mới kiểm tra đánh giá Trong đó, đổi mới phương pháp dạy học là trọng tâm và có ý nghĩa chiến lược

1.2 Xuất phát từ thực trạng dạy học và đặc điểm kiến thức phần Sinh thái học Sinh học 12

Từ thực tiễn dạy học ở trường Trung học phổ thông (THPT) và các số liệu điều tra cho thấy, hiện nay Giáo viên (GV) đã và đang đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, tự lực của HS, việc đổi mới phương pháp dạy học thể hiện tất cả các khâu của quá trình dạy học Tuy vậy, việc dạy học môn Sinh học nói chung, phần Sinh thái học (STH) nói riêng vẫn còn ở mức HS học thuộc lí thuyết thuần túy và áp dụng máy móc các công thức, định luật để giải bài tập trong SGK mà chưa hiểu sâu được bản chất bên trong của kiến thức Cũng vì lý do này mà HS chưa vận dụng được kiến thức STH vào giải quyết các vấn đề trong chăn nuôi, sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và bảo vệ môi trường

Trong khi đó, Sinh học là một môn khoa học tự nhiên nghiên cứu về thế giới sống, về các hiện tượng, các quá trình cũng như các quy luật trong thế

Trang 10

giới sống Do đó, những tri thức về Sinh học là cơ sở khoa học, là kim chỉ nam cho mọi hoạt động của con người Chương trình Sách giáo khoa (SGK) Sinh học 12 THPT, đặc biệt phần STH có nhiều kiến thức gắn liền với cuộc sống thường ngày của HS, làm kích thích sự tò mò tìm hiểu kiến thức để áp dụng vào thực tiễn Tuy nhiên, bên cạnh những kiến thức khái niệm đơn thuần còn có nhiều quy luật, cơ chế và những quá trình khó Do vậy, để vận dụng những kiến thức này vào thực tiễn nhằm làm tăng năng suất vật nuôi, cây trồng cũng như sử dụng hợp lí nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường và hướng tới sự phát triển bền vững đòi hỏi HS phải chia sẻ, giúp đỡ lẫn nhau trong quá trình học tập

Phần STH thuộc chương trình Sinh học 12 THPT là một trong những nội dung rất thích hợp để thiết kế các hoạt động dạy học theo nhóm nhỏ nhằm phát triển năng lực hợp tác (NLHT) cho HS

1.3 Xuất phát từ vai trò của việc phát triển NLHT trong dạy học

NLHT được xem là một trong những năng lực quan trọng của con người trong xã hội hiện nay vì chúng ta là một thực thể, luôn tồn tại trong cộng đồng, trong xã hội Phát triển NLHT cho HS ngay từ trong trường học

đã trở thành một xu thế giáo dục trên thế giới

Dạy học theo nhóm nhỏ (DHTNN) là một trong những phương pháp phát huy NLHT hiệu quả nhất DHTNN không những phát huy được tính chủ động sáng tạo cho HS mà còn rèn luyện cho các em nhiều kỹ năng sống rất cần thiết cho hiện tại cũng như tương lai Phương pháp DHTNN được sử dụng nhằm giúp cho tất cả HS tham gia một cách chủ động vào quá trình học tập, tạo cơ hội cho các em có thể chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm, ý kiến để giải quyết các vấn đề có liên quan đến nội dung bài học; tạo cơ hội cho các

em được giao lưu, học hỏi lẫn nhau; cùng nhau hợp tác giải quyết những nhiệm vụ chung Nhưng làm thế nào để phát triển được NLHT cho HS thông qua DHTNN thì còn là một vấn đề mà nhiều nhà giáo dục học, nhiều GV còn đang trăn trở nghiên cứu

Trang 11

Chúng ta đều hiểu rằng sử dụng phương pháp DHTNN không chỉ đơn giản là ghép nhóm HS với nhau rồi tiến hành quá trình dạy học Để thực hiện được phương pháp DHTNN thành công, phải căn cứ vào nội dung từng môn học, điều kiện học, đối tượng HS, tính chất bài học và năng lực sư phạm của từng GV Do vậy, việc nghiên cứu và sử dụng phương pháp DHTNN để dạy học phần STH giúp HS vận dụng các kiến thức STH vào đời sống và thực tiễn sản xuất, đồng thời phát triển NLHT cho HS trong quá trình dạy học luôn là vấn đề mới mẻ và cần thiết

Từ những lí do trên, tôi lựa chọn và nghiên cứu đề tài: “Vận dụng

phương pháp DHTNN nhằm phát triển NLHT cho HS trong dạy học phần STH Sinh học 12 THPT”

2 Mục đích nghiên cứu

Vận dụng phương pháp DHTNN để thiết kế các hoạt động học tập và tổ chức các hoạt động đó vào dạy học phần STH Sinh học 12 THPT nhằm phát triển NLHT cho HS

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu, chúng tôi đề ra các nhiệm vụ nghiên cứu:

- Nghiên cứu cơ sở lí luận về phương pháp DHTNN và NLHT

- Điều tra thực trạng mức độ sử dụng các phương pháp dạy học của GV; hiểu biết của GV về những yêu cầu cần thiết khi dạy học theo hướng phát triển NLHT và vai trò của dạy học theo hướng phát triển NLHT; Thực trạng NLHT của HS

- Phân tích cấu trúc, nội dung kiến thức của phần STH Sinh học 12 THPT; xác định các nội dung phù hợp có thể vận dụng phương pháp DHTNN trong dạy học nhằm phát triển NLHT cho HS

- Xây dựng quy trình thiết kế và quy trình tổ chức các hoạt động trong dạy học phần STH Sinh học 12 bằng phương pháp DHTNN theo hướng phát triển NLHT cho HS

Trang 12

- Thiết kế một số giáo án phần STH Sinh học 12 THPT trong đó vận dụng phương pháp DHTNN nhằm phát triển NLHT cho HS

- Thực nghiệm (TN) sư phạm để kiểm tra giả thuyết của đề tài từ đó rút

ra các kết luận về tính khả thi của đề tài

4 Phạm vi nghiên cứu

- Phương pháp DHTNN và NLHT

- Nội dung phần STH Sinh học 12 THPT

5 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Quá trình dạy học phần STH Sinh học 12 THPT

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

Nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến DHTNN và phát triển NLHT cho HS, bao gồm: các giáo trình, luận văn, luận án, tạp chí, bài viết về lý luận

và phương pháp giảng dạy Sinh học, làm cơ sở lý luận cho luận văn nghiên cứu

Phân tích nội dung kiến thức phần STH Sinh học 12 THPT, đồng thời

hệ thống hóa các tài liệu có liên quan để làm cơ sở cho việc thiết kế và tổ chức các hoạt động DHTNN

6.2 Phương pháp điều tra cơ bản

Sử dụng phiếu điều tra GV nhằm khảo sát thực trạng việc dạy học theo hướng phát triển NLHT ở môn Sinh học nói chung và phần STH Sinh học 12 THPT nói riêng ở trường THPT thông qua phiếu điều tra GV

Sử dụng phiếu điều tra HS nhằm khảo sát thực trạng NLHT của HS lớp

Trang 13

12 THPT thông qua phiếu điều tra HS

6.3 Phương pháp thực nghiệm

Tiến hành TN ở trường THPT để kiểm tra tính đúng đắn và hiệu quả của đề tài Kết quả TN được đánh giá qua phiếu hỏi và bài kiểm tra

6.4 Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học

Xử lý số liệu bằng phần mềm Excel nhằm kiểm tra độ tin cậy của phương pháp dạy học mà luận văn đã đề xuất

7 Giả thuyết khoa học

Nếu vận dụng phương pháp DHTNN để thiết kế và tổ chức dạy học phần STH Sinh học 12 THPT sẽ phát triển NLHT cho HS

8 Những đóng góp mới của luận văn

- Xây dựng được quy trình thiết kế và quy trình tổ chức dạy học phần STH bằng phương pháp DHTNN theo hướng phát triển NLHT cho HS

- Thiết kế giáo án dạy học phần STH Sinh học 12 theo hướng vận dụng phương pháp DHTNN nhằm phát triển NLHT cho HS

- Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là nguồn tài liệu bổ sung cho việc nghiên cứu và vận dụng hiệu quả phương pháp DHTNN nhằm phát triển NLHT trong dạy học Sinh học nói riêng và dạy học ở trường THPT nói chung

9 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và khuyến nghị, mục Tài liệu tham khảo, Phụ lục, nội dung của luận văn được trình bày trong 3 chương

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài

Chương 2: Vận dụng phương pháp DHTNN nhằm phát triển NLHT cho HS trong dạy học phần STH Sinh học 12 THPT

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 14

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Tổng quan về phương pháp dạy học theo nhóm nhỏ theo hướng phát triển năng lực hợp tác

1.1.1 Các nghiên cứu trên thế giới về dạy học theo nhóm nhỏ theo hướng phát triển năng lực hợp tác

Ở nhiều nước trên thế giới, nghiên cứu vận dụng phương pháp DHTNN vào quá trình dạy học đã được quan tâm từ rất sớm Nhiều nhà nghiên cứu, nhà giáo dục đã có những cách tiếp cận khác nhau về phương pháp dạy học này Ngay từ thế kỷ thứ nhất, Marco Fabio Quintilian nhà Giáo dục học người Tây Ban Nha cho rằng HS sẽ có rất lợi nếu biết nói những điều mình hiểu cho người khác cùng hiểu Đến thế kỷ thứ XVII, Jan Amos Komenxky (1592 - 1670) nhà Triết học người Séc tin rằng HS sẽ học tốt từ việc dạy cho bạn bè

và học từ bạn bè của mình Cuối thế kỷ XIII đầu thế kỷ XIV, Reverend Bebel

và Joseph Lancaster người Anh đã tổ chức DHTNN, họ chia HS thành từng nhóm để hoạt động Thông qua hoạt động nhóm, HS cùng nhau trao đổi, chia

sẻ, giúp nhau tìm hiểu, khám phá vấn đề và thu được kết quả học tập tốt hơn

Ý tưởng này được nhanh chóng đưa từ Anh sang Mỹ và đã nhận được sự hưởng ứng, phát triển rộng rãi bởi những nhà giáo dục tiên phong như John Dewey, Roger Parker, Morton Deutch Họ đề cao khía cạnh xã hội của việc học tập và cũng nâng cao vai trò của nhà giáo trong việc giáo dục HS một cách dân chủ J Dewey cho rằng muốn học cách cùng chung sống trong xã hội thì HS phải được trải nghiệm trong cuộc sống hợp tác ngay từ trong nhà trường Cuộc sống trong lớp học là quá trình dân chủ hoá trong một thế giới

vi mô và học tập phải có sự hợp tác giữa các thành viên trong lớp học [36, tr.17]

Trong thời gian từ năm 1930 đến 1940, nhà Tâm lí học xã hội Kurt Lewin đã nghiên cứu hành vi của các nhà lãnh đạo và thành viên trong các nhóm dân chủ Ông quan tâm đến cách cư xử của mỗi thành viên trong nhóm

Trang 15

và xây dựng lý thuyết cơ sở về học tập hợp tác Sau đó, Morton Deutsch đã phát triển lí luận về hợp tác và cạnh tranh trên cơ sở “Những lí luận nền tảng” của Lewin Năm 1940, Morton Deutsch đưa ra lí thuyết về các tình huống hợp tác và cạnh tranh [35, tr.15]

Các nghiên cứu gắn liền tên tuổi các nhà nghiên cứu với các kỹ thuật dạy học hợp tác nổi tiếng dựa trên cơ sở lý luận và TN được ứng dụng rộng rãi ở các nước trên thế giới như: Kỹ thuật Puzzle Jigsaw (Aronson et al, 1978; Aronson, 2000), kỹ thuật Xung đột sáng tạo và thủ tục tranh cãi (Johnson & Smith, 1987), kỹ thuật Nhóm điều tra (aran & aran, 1992), kỹ thuật Stad (Đội sinh viên và cách chia thành tựu), kỹ thuật TGT (Trò chơi giải đấu), kỹ thuật TAI (Hướng dẫn đội chơi tăng tốc), kỹ thuật CIRC (Đọc hợp tác tích hợp và các thành phần), kỹ thuật DEC (Phản biện tiểu luận cặp đôi, Millis & Cottell năm 1998 và Millis erman & Cottell, 1993), kỹ thuật STP (Dự án đội sinh viên, erman & Woy-Hazelton, 1988), kỹ thuật Chỉ dẫn phức tạp (Cohen, 1994) Slavin (1995) đã mô tả và hướng dẫn thực hiện các kỹ thuật này trong các trường học [dẫn theo 37, tr.194]

Vào năm 2005, trong tài liệu hội thảo tập huấn: “Phát triển năng lực thông qua phương pháp và phương tiện dạy học mới” thuộc dự án phát triển giáo dục THPT của Hà Nội, GS Bernd Meier và TS Nguyễn Văn Cường đã trình bày chi tiết về những nội dung cơ bản về phát triển năng lực Trong tài liệu gồm có 4 phần: Phần 1 - Một số cơ sở của dạy và học trong xã hội tri thức: trình bày về lý thuyết phát triển năng lực, mô hình cấu trúc của năng lực

và khái niệm học tập theo lý thuyết năng lực; Phần 2 – Dạy và học với phương pháp dạy học mới: trình bày về các kĩ thuật và phương pháp dạy học mới gồm dạy học giải quyết vấn đề, dạy học tình huống và dạy học dự án nhằm phát triển năng lực cho HS trong quá trình dạy và học; Phần 3 – Dạy và học với phương tiện dạy học mới: trình bày về khái niệm về phương tiện, một

số phương tiện dạy học mới để hỗ trợ quá trình dạy học với mục tiêu phát

Trang 16

triển năng lực, đặc biệt là phương tiện điện tử (e –learning); Phần 4 - Chất lượng dạy học và chuẩn giáo dục: nêu những tiêu chuẩn để đánh giá một giờ học tốt và chuẩn giáo dục [1]

1.1.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam về dạy học theo nhóm nhỏ theo hướng phát triển năng lực hợp tác

Ở Việt Nam, tư tưởng học tập theo nhóm cũng đã có từ rất lâu đời, ông cha ta có câu “học thầy không tày học bạn”, điều này cho thấy lợi ích của việc học tập từ bạn bè Học tập theo nhóm có nhiều hình thức khác nhau, nhóm sinh hoạt câu lạc bộ hay nhóm tự quản hoặc nhóm đôi bạn cùng tiến Tuy nhiên, thời gian đó học tập hợp tác là phong trào tự phát, chưa có cơ sở khoa học vững chắc nên dần dần lắng xuống

Đến những năm cuối của thế kỷ XX, đổi mới phương pháp giảng dạy học để phù hợp với xu thế trở thành nhiệm vụ cấp bách của ngành giáo dục Các nghiên cứu đổi mới phương pháp dạy học nói chung và phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực nói riêng được nghiên cứu rất kỹ về

lý thuyết được ra đời như :

Tác giả Đặng Thành Hưng (2002) trong cuốn “Dạy học hiện đại - lý luận, biện pháp, kỹ thuật”, đã khái quát các công trình nghiên cứu của Slavin R.; Davison N.; Johnson D W.; Johnson R T đồng thời đưa ra khái niệm nhóm hợp tác so sánh với kiểu học tranh đua và học cá nhân, chỉ ra tầm quan trọng kỹ năng học tập hợp tác và các nguyên tắc đảm bảo cho dạy học hợp tác

thành công [20] Tiếp đến trong một số bài báo của chính tác giả như: “Hệ thống kĩ năng học tập hiện đại” [21], “Kỹ năng dạy học và tiêu chí đánh giá" [22], “Nhận diện và đánh giá kĩ năng” [23] , tác giả đã chỉ ra hệ thống các

kỹ năng học tập trong môi trường hiện đại Thông qua hệ thống kỹ năng học tập, tác giả cho thấy học tập chính là thiết lập các mối quan hệ tích cực, cùng nhau chia sẻ và giải quyết các vấn đề Đây chính là những kỹ năng học tập được tác giả nhận diện trong môi trường học tập hiện đại

Trang 17

Tác giả Ngô Thị Thu Dung (2002), “Cơ sở khoa học của việc rèn kỹ năng học theo nhóm cho HS tiểu học bằng phương pháp dạy học theo nhóm”,

đã dựa trên cách tiếp cận hoạt động, quan sát quá trình học hợp tác nhóm của

HS tiểu học đã đưa ra 18 kỹ năng hợp tác cần rèn luyện [3]

Tác giả Trần Bá Hoành (2006), “Đổi mới phương pháp dạy học, chương trình và sách giáo khoa” đã cho thấy dạy học theo nhóm vừa phát huy tích cực của mỗi HS vừa phát triển tình bạn Đặc biệt, tác giả nhấn mạnh

“Trong nền kinh tế thị trường đã xuất hiện nhu cầu hợp tác xuyên quốc gia, liên quốc gia ; NLHT phải trở thành một mục tiêu giáo dục mà nhà trường phải chuẩn bị cho HS” [17]

Phó Giáo sư Mai Văn Hưng (2015) , “Bàn về năng lực chung và chuẩn đầu ra về năng lực của HS THPT trong chương trình giáo dục phổ thông sau năm 2015”, đã nêu khái niệm năng lực, những năng lực chung và năng lực

riêng, đồng thời đề xuất hình thức đánh giá của một số năng lực [24]

Đặc biệt, tác giả Lê Đình Trung – Phan Thị Thanh Hội (2016), trong

cuốn “Dạy học theo định hướng hình thành và phát triển năng lực người học

ở trường phổ thông”, đã trình bày rất chi tiết về những nội dung cơ bản về

dạy học theo định hướng hình thành và phát triển năng lực người học ở trường phổ thông Trong tài liệu gồm có 3 phần: Phần 1 - Một số vấn đề chung về hình thành và phát triển năng lực người học ở trường phổ thông, trình bày khái quát về năng lực và dạy học tiếp cận năng lực ; hệ thống năng lực chung và năng lực chuyên biệt được hình thành và phát triển cho người học ở trường phổ thông trung học Phần 2 – Định hướng dạy học theo tiếp cận năng lực ở trường phổ thông trung học, trình bày dạy học theo định hướng hình thành và phát triển năng lực người học và chỉ rõ các biện pháp hình thành và phát triển năng lực người học trong dạy học; Phần 3 – Kiểm tra đánh giá theo định hướng hình thành và phát triển năng lực người học, trình bày một số vấn đề chung về kiểm tra đánh giá và quy trình đánh giá người học theo định hướng hình thành và phát trát triển năng lực [32]

Trang 18

Trong những năm gần đây, vấn đề phát triển năng lực học tập cho HS trong dạy HS học đã thu hút được khá nhiều tác giả tập trung nghiên cứu Các

luận án Tiến sỹ của các tác giả: Nguyễn Triệu Sơn (2007) “Phát triển khả năng học hợp tác cho sinh viên sư phạm Toán một số trường đại học miền núi nhằm nâng cao chất lượng của người được đào tạo”, đã đề xuất biện phát phát triển khả năng học hợp tác cho sinh viên sư phạm Toán ở một số trường đại học miền núi [28]; Nguyễn Thành Kỉnh (2010) “Phát triển kỹ năng dạy học hợp tác cho giáo viên THCS”, đã nghiên cứu bản chất của dạy học hợp

tác và đề xuất một số biện pháp phát triển kỹ năng dạy học hợp tác cho GV THCS thông qua hoạt động bồi dưỡng chuyên môn [25]; Nguyễn Thị Quỳnh

Phương (2012) "Rèn luyện kỹ năng học hợp tác cho sinh viên ĐHSP trong hoạt động nhóm" [27] và Nguyễn Thị Thuý Hạnh (2011) "Kỹ năng học hợp tác của sinh viên sư phạm" [12], Nguyễn Thị Thanh (2013), Dạy học theo hướng phát triển kỹ năng học tập hợp tác cho sinh viên Đại học sư phạm [33], đã đi sâu nghiên cứu về dạy học theo nhóm, xác định được hệ thống

kỹ năng học tập hợp tác cần rèn cho sinh viên Đại học sư phạm, Cao đẳng sư phạm và cơ sở khoa học của rèn luyện các kỹ năng học tập hợp tác Luận án Tiến sỹ của các tác giả Hoàng Lê Minh (2007) lại đi theo hướng vận dụng các

kỹ thuật dạy học hợp tác vào các môn học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục [26]

Ngoài ra còn có rất nhiều các bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành cũng đề cập đến các vấn đề khác nhau của DHTNN và NLHT, như :

Nguyễn Thị Kim Dung (2000), “Thảo luận nhóm và quá trình xây dựng quan

hệ nhân ái giữa học sinh với nhau ở trường trung học”, Tạp chí Nghiên cứu

Giáo dục (11), tr 10-11 [5] ; Nguyễn Thị Thúy Hạnh (2011), “Thực trạng kỹ năng học tập hợp tác của sinh viên cao đẳng sư phạm”, Tạp chí Tâm lý học, (8) tr 149 [13] ; Phan Thị Thanh Hội, Phạm Huyền Phương (2015), “Rèn

luyện năng lực hợp tác cho học sinh trong dạy học chương Chuyển hóa vật chất và năng lượng - Sinh học 11 THPT” Tạp chí Khoa học, Đại học Sư

phạm Hà Nội, (60/1), tr.102-113 [18]

Trang 19

Tóm lại, các tác giả trong nước và ngoài nước nghiên cứu về DHTNN với các cách tiếp cận khác nhau và dưới các tên gọi khác nhau như dạy học hợp tác, học tập theo quan điểm tương tác, DHTNN… những nghiên cứu này khẳng định đây là một hình thức dạy học theo định hướng phát triển năng lực Việc vận dụng hình thức dạy học này vào các môn học ở các cấp học khác nhau nhằm phát triển năng lực cho HS là phù hợp với xu thế và đem lại hiệu quả cao cho công cuộc đổi mới phương pháp dạy học đang diễn ra sâu, rộng trong cả nước hiện nay Việc vận dụng phương pháp DHTNN nhằm phát triển NLHT cho HS trong bộ môn Sinh học nói riêng và các môn học khác nói chung đang là một hình thức dạy học mới, vì vậy, cần được nghiên cứu và vận dụng vào các môn học ở các cấp học khác nhau

1.2 Cơ sở lí luận của đề tài

1.2.1 Phương pháp DHTNN

1.2.2.1 Khái niệm phương pháp DHTNN

DHTNN là một hình thức xã hội của dạy học, trong đó HS của một lớp học được chia thành các nhóm nhỏ trong khoảng thời gian giới hạn, mỗi nhóm tự lực hoàn thành các nhiệm vụ học tập trên cơ sở phân công và hợp tác làm việc Kết quả làm việc của nhóm sau đó được trình bày và đánh giá trước toàn lớp

DHTNN còn được gọi bằng những tên gọi khác nhau như dạy học hợp tác, dạy học theo nhóm DHTNN không phải một phương pháp dạy học cụ thể mà là một hình thức xã hội, hay là hình thức hợp tác của dạy học

Số lượng HS trong một nhóm thường khoảng 4 – 6 HS Nhiệm vụ của các nhóm có thể giống nhau hoặc mỗi nhóm nhận một nhiệm vụ khác nhau, là các phần trong một chủ đề chung

DHTNN thường được áp dụng để đi sâu, vận dụng, luyện tập, củng cố một chủ đề đã học, nhưng cũng có thể để tìm hiểu một chủ đề mới Trong các môn khoa học tự nhiên, công việc nhóm có thể được sử dụng để tiến hành các

Trang 20

nghệ thuật, âm nhạc, các môn khoa học xã hội, các đề tài chuyên môn có thể được xử lý độc lập trong các nhóm, các sản phẩm học tập sẽ được sẽ tạo ra Trong môn ngoại ngữ có thể chuẩn bị các trò chơi đóng kịch,… Ở mức độ cao, có thể đề ra những nhiệm vụ cho các nhóm HS hoàn toàn độc lập xử lý các lĩnh vực đề tài và trình bày kết quả của mình cho những HS khác ở dạng

bài giảng

1.2.2.2 Các cách thành lập nhóm

Trong DHTNN thì thành lập nhóm theo tiêu chí nào có vai trò rất quan trọng tới hiệu quả hoạt động chung của nhóm Có rất nhiều cách để thành lập nhóm Sau đây là một số cách thành lập theo tác giả Nguyễn Văn Cường và Bernd Meier [2]

Tiêu chí Cách thực hiện Ƣu điểm Nhƣợc điểm

Đây là cách dễ nhất để thành lập nhóm, đảm bảo công việc thành công nhanh nhất

Dễ tạo ra sự tách biệt giữa các nhóm trong lớp,

vì vậy cách tạo lập nhóm như thế này không nên là khả năng duy nhất

2 Các nhóm

ngẫu nhiên

Bằng cách đếm số, phát thẻ, gắp thăm, sắp xếp theo màu sắc,…

Các nhóm luôn luôn mới sẽ đảm bảo là tất cả các

HS đều có thể học tập chung nhóm với tất cả các HS khác

Nguy cơ có trục trặc sẽ tăng cao

HS phải sớm làm quen với việc đó

để thấy rằng cách lập nhóm như vậy

là bình thường

3 Nhóm ghép

hình

Xé nhỏ một bức tranh hoặc các tờ tài

Cách tạo lập nhóm kiểu vui

Cần một ít chi phí

để chuẩn bị và

Trang 21

liệu cần xử lý HS được phát các mẩu

xé nhỏ, những HS ghép thành bức tranh hoặc tờ tài liệu

đó sẽ tạo thành nhóm

chơi, không gây

ra sự đối địch

cần nhiều thời gian hơn để tạo lập nhóm

Tạo lập nhóm một cách độc đáo, tạo ra niềm vui và HS có thể biết nhau rõ hơn

Cách làm này mất

đi tính độc đáo nếu được sử dụng thường xuyên

5 Nhóm có

HS khá để hỗ

trợ HS yếu

Những HS khá giỏi trong lớp cùng luyện tập với các HS yếu hơn và đảm nhận trách nhiệm của người hướng dẫn

Tất cả đều được lợi Những HS giỏi đảm nhận trách nhiệm, những HS yếu được giúp đỡ

Ngoài việc mất nhiều thời gian thì chỉ có ít nhược điểm, trừ khi những HS giỏi hướng dẫn sai

1.2.2.3 Ưu điểm và nhược điểm của dạy học nhóm

a) Ưu điểm của phương pháp DHTNN

DHTNN có một số ưu điểm sau đây:

- Phát triển NLHT: Hoạt động nhóm là hình thức dạy học có chiến lược giáo dục mạnh mẽ và linh hoạt, có những đặc trưng cơ bản của dạy học hiện đại, làm cho HS thích ứng với sự phát triển, mỗi người sống và làm việc theo

sự phân công, hợp tác với tập thể cộng đồng; Sau thời gian làm việc nhóm,

Trang 22

tình đoàn kết, ý thức tập thể sẽ tăng lên nhờ sự thông hiểu lẫn nhau Đồng thời, các thành viên trong nhóm sẽ biết tuân thủ các quy định, trước hết là của nhóm Đây là tiền đề để sau này HS là những công dân tuân thủ pháp luật tốt

- Phát triển năng lực giao tiếp và các năng lực xã hội khác: HS có nhiều

cơ hội thảo luận, tranh luận, phát biểu bình đẳng, thể hiện sự hiểu biết của mình và học hỏi kinh nghiệm của bạn Qua đó rèn luyện cho HS cách trình bày, bảo vệ quan điểm của mình, cách thuyết phục và thương lượng trong giải quyết vấn đề và biết cách lắng nghe người khác cũng như phát triển những kĩ năng phê bình, phân tích, giải quyết vấn đề Qua hoạt động nhóm, bên cạnh việc hình thành và phát triển NLHT cho HS còn phát triển các năng lực xã hội khác như: năng lực lãnh đạo, đưa ra quyết định, xây dựng lòng tin, xử lý xung đột, cổ vũ, động viên… HS trở nên mềm dẻo và linh hoạt hơn trong giao tiếp

- Tác động đến ý thức học tập của HS: Dạy học theo nhóm tạo ra nhiều

cơ hội cho HS được hoạt động giải quyết vấn đề học tập, đưa HS vào thế chủ động tìm tòi kiến thức; Tác động tích cực đến động cơ, sự nhận thức và cả phương pháp học tập, có ích cho việc tự học sau này; Phát huy cao độ năng lực học tập cá nhân, ý thức được khả năng của mình, nâng cao niềm tin vào việc học tập

- Tạo tâm lý thoải mái cho HS: Khi làm việc theo nhóm, HS cảm thấy thoải mái, không bị căng thẳng như lúc làm việc một mình Các em được hỗ trợ, hợp tác trong nhóm nên tự tin hơn, vì thế việc học sẽ đạt kết quả cao hơn

- Phát triển tư duy sáng tạo, khả năng phân tích, tổng hợp và khả năng giải quyết vấn đề: Trong các lớp học mang tính hợp tác, HS phải tham gia các hoạt động đòi hỏi HS phải sáng tạo, linh hoạt và nhạy bén, học được tính kiên trì trong việc theo đuổi mục đích, nâng cao được khả năng phê phán, tư duy logic, bổ sung kiến thức nhờ học hỏi lẫn nhau

Trang 23

- Nâng cao khả năng ứng dụng khái niệm, nguyên lý, nguồn thông tin vào việc giải quyết các tình huống khác nhau Lớp học sôi động hơn do có nhiều hình thức hoạt động đa dạng

- Ngoài ra, DHTNN còn tác động cả về quan niệm xã hội như: cải thiện các mối quan hệ xã hội; tôn trọng các giá trị dân chủ; chấp nhận sự khác nhau

về văn hoá – phong tục tập quán; giảm lo âu - sợ thất bại GV cũng có cơ hội học tập các kinh nghiệm của HS

b) Nhược điểm của phương pháp DHTNN

DHTNN được nhiều nước áp dụng và thể hiện nhiều ưu điểm, song DHTTN cũng có những hạn chế như:

- Tốn thời gian chuẩn bị và thực hiện; gây ồn ào

- Các nhóm có thể đi chệch hướng thảo luận

- Một số thành viên trong nhóm có thể ỷ lại, không làm việc

- Khi GV áp dụng cứng nhắc, quá thường xuyên hoặc thời gian hoạt động nhóm quá dài, hoạt động nhóm sẽ không có tác dụng

- Khó điều khiển khi mới làm lần đầu và chưa có kinh nghiệm

1.2.2.4 Cơ sở khoa học của DHTNN

* Cơ sở triết học

Triết học Mác - Lênin đã chỉ ra rằng: Sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan đều có 2 đặc tính: tính chung và tính riêng Vì vậy, trong quá trình dạy học, GV cần tôn trọng và khai thác những cái riêng của mỗi HS trên cơ sở đảm bảo mặt bằng chung về thể lực và trình độ trí tuệ của HS để hoàn thành nhiệm vụ dạy học chung cho mọi HS

Bên cạnh đó, trong DHTNN mỗi cá nhân được thể hiện thế giới quan

và nhân sinh quan riêng và qua đó sẽ ảnh hưởng tích cực đến các cá nhân khác của nhóm học tập, đặc biệt, những cá nhân ưu tú sẽ ảnh hưởng, dẫn dắt các cá nhân khác trong nhóm để cùng nhau giải quyết nhiệm vụ học tập chung

Trang 24

* Cơ sở xã hội học

DHTNN là một hình thức tổ chức dạy học mang tính tập thể cao, trong

đó mối quan hệ giữa các thành viên trong nhóm được thực hiện và có vai trò hết sức quan trọng Nhóm nhỏ là nơi giao nhau giữa các tác động từ xã hội đến cá nhân và các tác động phản hồi từ cá nhân trở lại xã hội Những tác động của xã hội đã ảnh hưởng đến nhóm, rồi lan tỏa ra từng cá nhân trong nhóm, qua những tác động đó nhân cách của cá nhân được hình thành, từ đó cũng làm thay đổi những chuẩn mực xã hội qua từng cá nhân

* Cơ sở tâm lý học

- Cơ sở tâm lý học xã hội: Dạy học dựa trên những mâu thuẫn xã hội - nhận thức được nảy sinh từ những quan điểm đối lập nhau trong những tranh luận với tập thể, điều này giúp HS chuyển được những mâu thuẫn về ý kiến giữa cá nhân thành mâu thuẫn bên trong cá nhân Việc tổ chức DHTNN tạo ra một không gian thích hợp cho sự tranh luận và đối thoại HS được khuyến khích và tự do trình bày những ý tưởng khác nhau về một tình huống cụ thể,

để thuyết phục các cá nhân khác trong nhóm chấp nhận suy nghĩ của mình là đúng, từ đó mâu thuẫn xã hội - nhận thức được giải quyết trong nhóm

- Cơ sở tâm lý học lứa tuổi: Những nghiên cứu về tâm lý học lứa tuổi cho thấy, những yếu tố ảnh hưởng quyết định tới sự phát triển tâm lý HS THCS là tính tích cực xã hội của bản thân các em Ở độ tuổi này, các em mong muốn được hoạt động cùng bạn bè và DHTNN tạo điều kiện để HS được hoạt động

* Cơ sở lý luận dạy học

Hoạt động dạy học theo nhóm là hoạt động cho phép đạt được cùng lúc nhiều mục tiêu, việc tổ chức loại hoạt động học tập này cho phép tiếp cận gần hơn trình độ nhận thức thực tế của HS, phương tiện và môi trường học tập cũng đa dạng hơn; do vậy, mà hiệu quả hoạt động học sẽ tăng lên

Trang 25

1.2.2 Năng lực hợp tác

1.2.2.1 Lý thuyết về năng lực

* Khái niệm năng lực

Trong Khoa sư phạm tích hợp [34, tr.91] có nhiều định nghĩa khác nhau về năng lực, theo Gerard và Roegies (1993), năng lực là một tập hợp những kĩ năng cho phép nhận biết một tình huống và đáp ứng với tình huống

đó tương đối thích hợp một cách tự nhiên; Theo De Ketele (1995), năng lực là một tập hợp trật tự các kĩ năng tác động lên các nội dung trong một loại tình huống cho trước để giải quyết các vấn đề do tình huống này đặt ra

Tác giả Nguyễn Cường và Bernd Meier thì cho rằng năng lực là khả năng thực hiện có trách nhiệm và hiệu quả các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề trong những tình huống khác nhau thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trên cơ sở hiểu biết, kĩ năng, kỹ xảo và kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động [2]

Tác giả Mai Văn Hưng lại cho rằng, năng lực của con người là sự kết hợp hài hòa giữa năng lực tự nhiên và năng lực được đào tạo, là hệ thống tiền

đề bên trong và bên ngoài để từ đó phát triển thành tài năng cá nhân [24]

Trong luận văn này, chúng tôi lựa chọn định nghĩa: “Năng lực là khả năng thực hiện có hiệu quả và có trách nhiệm các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề thuộc lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trong những tình huống khác nhau trên cơ sở kết hợp sự hiểu biết, kĩ năng, kĩ xảo, kinh

nghiệm và thái độ” làm cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu

* Các loại năng lực

Trong Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể của Bộ giáo dục và đào tạo (tháng 7/2015), các nhà giáo dục đã xác định hai hệ thống năng lực cần hình thành và phát triển cho HS đó là: Hệ thống các năng lực chung và hệ thống các năng lực chuyên biệt

Trang 26

a) Hệ thống các năng lực chung: Năng lực chung là năng lực cần thiết cho nhiều hoạt động khác nhau Ở trường THPT, các năng lực chung được chia làm 3 nhóm, đó là:

- Nhóm năng lực làm chủ và phát triển bản thân, bao gồm: năng lực tự học, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực tư duy, năng lực tự quản lý

- Nhóm năng lực về quan hệ xã hội, bao gồm: năng lực giao tiếp, năng lực hợp tác

- Nhóm năng lực công cụ, bao gồm: năng lực sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông, năng lực sử dụng ngôn ngữ, năng lực tính toán [29]

b) Hệ thống các năng lực chuyên biệt: Năng lực chuyên biệt là những năng lực được hình thành và phát triển trên cơ sở các năng lực chung theo định hướng chuyên sâu, riêng biệt trong các loại hình hoạt động, công việc hoặc tình huống, môi trường đặc thù, cần thiết cho những hoạt động chuyên biệt, đáp ứng yêu cầu hạn hẹp hơn Ở trường THPT, các năng lực Sinh học

HS cần đạt được đó là:

- Năng lực kiến thức sinh học bao gồm các kiến thức về các cấp độ tổ chức sống từ phân tử – tế bào – cơ thể – quần thể – quần xã – hệ sinh thái; kiến thức về cơ sở vật chất của các hiện tượng di truyền biến dị; kiến thức về tính quy luật của hiện tượng di truyền và ứng dụng di truyền học; các kiến thức về tiến hóa và STH

- Năng lực nghiên cứu khoa học bao gồm: quan sát các hiện tượng trong thực tiễn hay trong học tập để xác lập vấn đề nghiên cứu; thu thập các thông tin liên quan thông qua nghiên cứu tài liệu, TN; hình thành giả thuyết khoa học; thiết kế thí nghiệm; thực hiện thí nghiệm; thu thập và phân tích dữ liệu; giải thích kết quả thí nghiệm và rút ra kết luận

- Năng lực thực hiện trong phòng thí nghiệm bao gồm các kĩ năng chính như: kĩ năng sử dụng kính hiển vi; kĩ năng thực hiện an toàn phòng thí nghiệm; kĩ năng làm một số tiêu bản đơn giản; kĩ năng bảo quản một số mẫu vật thật [29]

Trang 27

1.2.2.2 Lý thuyết về năng lực hợp tác

* Khái niệm về năng lực hợp tác

Hợp tác là một yếu tố không thể thiếu trong cuộc sống lao động của con người; nó diễn ra thường xuyên trong gia đình, trong xã hội; do vậy "hợp tác mang bản chất sinh học tự nhiên của mỗi con người trong xã hội" Hợp tác

là cùng chung sức giúp nhau trong một công việc, trong một lĩnh vực hoạt động nào đó nhằm đạt được mục đích chung Hợp tác là hai hay nhiều bộ phận trong một nhóm làm việc theo cùng một cách thức để tạo ra một kết quả chung

NLHT là một dạng năng lực cho phép cá nhân kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức giữa tri thức cần thiết cho sự hợp tác, kỹ năng và thái độ, giá trị, động cơ cá nhân nhằm đáp ứng hiệu quả yêu cầu của hoạt động hợp tác trong bối cảnh cụ thể Trong đó mỗi cá nhân thể hiện sự tích cực, tự giác,

sự tương tác và trách nhiệm cao trên cơ sở huy động những tri thức, kỹ năng của bản thân nhằm giải quyết có hiệu quả hoạt động hợp tác Trong chương trình giáo dục phổ thông tổng thể (tháng 7 năm 2015), NLHT là một trong 8 năng lực cốt lõi cần phát triển cho người học

Người có NLHT phải có kiến thức, kĩ năng và thái độ hợp tác như sau:

- Kiến thức hợp tác: Người có kiến thức hợp tác là người nêu được khái niệm, mục đích, ý nghĩa hợp tác; phân tích được quy trình hợp tác, các hình thức hợp tác; Trình bày được các cách tạo nhóm, kĩ thuật hoạt động nhóm, vai trò của từng vị trí trong nhóm

- Các kĩ năng hợp tác: Người có kỹ năng hợp tác là người có kỹ năng tổ chức nhóm hợp tác, kỹ năng lập kế hoạch hợp tác, kỹ năng tạo môi trường hợp tác, kỹ năng giải quyết mâu thuẫn, kỹ năng diễn đạt ý kiến, kỹ năng lắng nghe và phản hồi, kỹ năng viết báo cáo, kỹ năng tự đánh giá, kỹ năng đánh giá lẫn nhau Đây là thành tố biểu hiện cao nhất của NLHT

- Thái độ hợp tác:

Trang 28

+ Tích cực hoạt động nhóm: Các thành viên trong nhóm tích cực tham gia hoạt động nhóm và động viên nhau cùng tham gia

+ Chung sức hoàn thành nhiệm vụ: Các thành viên trong nhóm đồng tâm, hợp lực hoàn thành nhiệm vụ chung của nhóm, có trách nhiệm với sự thành công của nhóm

+ Chia sẻ, giúp đỡ lẫn nhau: Các thành viên trong nhóm tôn trọng, chia

sẻ, ủng hộ, giúp đỡ lẫn nhau cùng hoàn thành nhiệm vụ

* Vai trò của năng lực hợp tác trong học tập và đời sống

NLHT giúp cho HS:

- Biết chủ động đề xuất mục đích hợp tác để giải quyết một vấn đề do bản thân và những người khác đề xuất; biết lựa chọn hình thức làm việc nhóm với quy mô phù hợp với yêu cầu và nhiệm vụ; biết phân tích các công việc cần thực hiện để hoàn thành nhiệm vụ của nhóm; đánh giá được khả năng hoàn thành công việc của từng thành viên trong nhóm để đề xuất điều chỉnh phương án phân công công việc và tổ chức hoạt động hợp tác; biết theo dõi tiến độ hoàn thành công việc của từng thành viên và cả nhóm để điều hoà hoạt động phối hợp; biết khiêm tốn tiếp thu sự góp ý và nhiệt tình chia sẻ, hỗ trợ các thành viên trong nhóm

- Đánh giá được mức độ đạt mục đích của cá nhân và của nhóm; rút kinh nghiệm cho bản thân và góp ý được cho từng người trong nhóm

- Biết chủ động, tự tin trong giao tiếp với bạn bè quốc tế; biết chủ động, tích cực tham gia một số hoạt động hội nhập quốc tế phù hợp với bản thân và đặc điểm của nhà trường, địa phương; biết tìm đọc tài liệu nước ngoài phục

vụ công việc học tập và định hướng nghề nghiệp của mình và bạn bè

Như vậy, NLHT giúp cho HS có được thành tích học tập tốt hơn nhờ sự

cố gắng, tích cực của bản thân cũng như sự chia sẻ, giúp đỡ của bạn bè; đảm bảo sự phát triển hài hòa giữa cá nhân và quan hệ xã hội, trưởng thành về nhân cách và hành vi xã hội Đây chính là điều kiện tiên quyết dẫn đến sự thành đạt của mỗi cá nhân trong cuộc sống

Trang 29

1.3 Cơ sở thực tiễn của đề tài

1.3.1.Khái quát về khảo sát thực trạng

1.3.1.1 Mục đích khảo sát

- Tìm hiểu thực trạng các phương pháp dạy học của GV hiện nay thường áp dụng khi dạy phần STH Sinh học 12 THPT; hiểu biết của GV về những yêu cầu cần thiết khi DH theo hướng phát triển NLHT và thực trạng nhận thức của GV về vai trò của DH theo hướng phát triển NLHT

- Tìm hiểu thực trạng về NLHT của HS lớp 12 ở trường THPT Phạm Văn Nghị, huyện Ý Yên, Nam Định

1.3.1.2 Đối tượng khảo sát

Tổng số GV được điều tra là 42, các GV đều dạy tại các trường THPT của tỉnh Nam Định

Tổng số HS được điều tra 219, các em HS đều học lớp 12 trường THPT Phạm Văn Nghị, huyện Ý Yên, Nam Định Sau khi sàng lọc loại bỏ những phiếu không đảm bảo yêu cầu điều tra, chúng tôi đưa vào xử lý 214 phiếu

+ Phiếu 2: Tìm hiểu thực trạng về NLHT của HS lớp 12 tại trường THPT Phạm Văn Nghị, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định (Phụ lục 1)

Trang 30

(M1: Rất thường xuyên; M2: Thường xuyên; M3: Không thường xuyên)

Kết quả khảo sát thu được ở bảng 1.1 cho thấy, hầu hết các GV đều sử dụng đa dạng các phương pháp dạy học trong quá trình dạy học phần STH Sinh học 12 THPT Trong đó các phương pháp được sử dụng nhiều nhất là phương pháp thuyết trình, đàm thoại; các phương pháp ít được sử dụng là dạy học tình huống, dạy học theo dự án Như vậy, dễ nhận thấy các phương pháp dạy học mà GV sử dụng thường xuyên để dạy phần STH Sinh học 12 THPT nhất vẫn là những phương pháp dạy học truyền thống Các phương pháp tích cực có thể mang lại mối quan hệ phụ thuộc tích cực giữa HS - HS như hình thức dạy học theo nhóm chưa được GV sử dụng nhiều Còn phương pháp

nghiên cứu tình huống; phương pháp dự án thì ít được GV sử dụng

1.3.2.2 Thực trạng hiểu biết của GV về những yêu cầu cần thiết khi dạy học theo hướng phát triển NLHT

Trang 31

Bảng 1.2 Thực trạng hiểu biết của GV về những yêu cầu cần thiết khi dạy học theo hướng phát triển NLHT cho HS

3 Đảm bảo mỗi thành viên

trong nhóm đều phải có

trách nhiệm cá nhân cao, có

(M1: Cần thiết; M2: Bình thường; M3: Không cần thiết)

Điều kiện đầu tiên có vai trò quyết định đến kết quả dạy học là nhận thức của GV về những yêu cầu cần thiết khi dạy học theo hướng phát triển NLHT cho HS, nếu không có nhận thức đúng đắn về vấn đề này thì họ sẽ không thể tổ chức thực hiện dạy học theo hướng phát triển NLHT có hiệu quả được

Trang 32

Kết quả thu được ở bảng 1.2 cho thấy, hiểu biết của GV về những yêu cầu cần thiết khi dạy học theo hướng phát triển NLHT cho HS có khác nhau:

Yêu cầu đảm bảo HS trong nhóm học tập phụ thuộc lẫn nhau một cách tích cực; yêu cầu đánh giá được khách quan, thường xuyên về hoạt động của từng thành viên trong nhóm và hoạt động chung của nhóm được đánh giá

là cần thiết nhất Điều này phù hợp với logic của lý luận dạy học Phụ thuộc

lẫn nhau một cách tích cực trong hoạt động học tập là một trong những yếu tố

cơ bản nhất đảm bảo sự hợp tác giữa HS - HS trong học tập; đồng thời kiểm tra, đánh giá cũng là một khâu quan trọng giúp GV - HS có thể nắm bắt chính xác những thông tin phản hồi để từ đó điều chỉnh quá trình dạy học cũng như học tập

Yêu cầu đảm bảo HS mặt đối mặt để tăng cường sự tương tác hỗ trợ lẫn nhau được đánh giá ở mức thấp nhất Điều này hoàn toàn phù hợp với

thực tế khách quan, bởi hiện nay sự phát triển của công nghệ thông tin đã có thể giúp HS - HS ngoài việc trao đổi bằng cách mặt đối, mặt chúng có thể tương tác qua mạng internet, điện thoại, mạng xã hội facebook, zalo

Dựa vào kết quả trên, có thể khẳng định đại đa số các GV được hỏi đều nhận thức đúng những yêu cầu cơ bản của dạy học theo hướng phát triển NLHT, nghĩa là họ xác định được phải đảm bảo các yêu cầu cơ bản khi tổ chức dạy học theo hướng phát triển NLHT cho HS

1.3.2.3 Thực trạng nhận thức của GV về vai trò của dạy học theo hướng phát

triển NLHT cho HS

Trang 33

Bảng 1.3 Thực trạng nhận thức của GV về vai trò của dạy học theo hướng phát triển NLHT cho HS

hiện, xử lý, giải quyết các

vấn đề linh hoạt, quyết

Trang 34

học tập, giờ học sinh động

hơn, hấp dẫn hơn

10 Giúp HS hiểu bài và tiếp

thu bài nhanh hơn, chất

lượng giờ học được nâng

(M1: Đúng; M2: Phân vân; M3: Không đúng)

Kết quả thu được ở bảng 1.3 cho thấy, Hầu hết tất cả các GV được hỏi đều đánh giá cao vai trò của dạy học theo hướng phát triển NLHT cho HS Họ đều cho rằng, dạy học theo hướng phát triển NLHT cho HS có rất nhiều

những ưu điểm, thể hiện thông qua nhất trí cao tiêu chí đánh giá “đúng” và không có GV nào đánh giá là “không đúng” cho đại đa số các câu hỏi đưa ra

Trong đó, dạy học theo hướng phát triển NLHT làm cơ sở để phát triển các kỹ năng xã hội của HS được GV đánh giá mức độ cao nhất Điều này

cũng phù hợp với cơ sở lý luận đã xác định NLHT chứa đựng những kỹ năng giao lưu, chia sẻ, giúp đỡ, thương lượng… của HS - HS; HS - GV trong học tập nhằm đạt được hiệu quả Nó cũng chính là cơ sở, tiền đề của những kỹ năng xã hội, kỹ năng sống sau này của HS

1.3.2.4 Thực trạng về NLHT của HS lớp 12 ở trường THPT Phạm Văn Nghị, huyện Ý Yên, Nam Định

Trang 35

Bảng 1.4 Thực trạng về NLHT của HS lớp 12 tại trường THPT Phạm Văn Nghị, huyện Ý Yên, Nam Định

công việc cụ thể của từng

vị trí các thành viên trong

nhóm, sẵn sàng thực hiện

3 Tôi tập trung hoàn thành

các việc được giao và công

việc của toàn nhóm với ý

việc nhóm phải làm theo

trình tự thời gian hợp lí và

Trang 36

công việc để hoàn thành

7 Tôi tôn trọng, lắng nghe,

bày tỏ sự ủng hộ, gợi mở

kích thích các thành viên

khác tham gia tích cực vào

8 Tôi chia sẻ tài liệu thông

tin, chí hướng, suy nghĩ,

giúp đỡ nhau nhằm tạo sự

9 Tôi tranh luận đúng vào

nội dung cần giải quyết, có

Trang 37

B Nhóm kỹ năng của năng lực hoạt động hợp tác nhóm

V Kỹ năng diễn đạt ý kiến

12 Tôi trình bày được ý kiến

của nhóm ngắn gọn, dễ

hiểu, cử chỉ có sự thuyết

13 Tôi đưa ra được những lý

lẽ chứng minh cho quan

điểm của mình một cách ôn

Trung bình 45 21,74 107 51,93 54,5 26,33

VI Kỹ năng lắng nghe và phản hồi

14 Tôi lắng nghe, hiểu, ghi lại,

diễn đạt lại ý kiến của

người khác, không ngắt

15 Tôi thể hiện ý kiến không

đồng tình lịch sự, khéo léo

đặt câu hỏi, để biết rõ hoặc

Trang 38

Trung bình 86 41,79 91,5 44,2 29 14,01 VII Kỹ năng viết báo cáo

16 Tôi biết lựa chọn, sắp xếp ý

kiến của các thành viên để

C Nhóm kỹ năng của năng lực đánh giá nhóm hợp tác

VIII Kỹ năng tự đánh giá

17 Tôi đánh giá chính xác,

khách quan kết quả đạt

IX Kỹ năng đánh giá lẫn nhau

(M1: Thường xuyên; M2: Thỉnh thoảng; M2: Hiếm khi)

Dựa vào kết quả bảng 1.4 có thể khẳng định nhìn chung HS ít nhiều

đã có những kỹ năng hợp tác nhất định, các em đã thể hiện được một số kỹ năng cơ bản nhưng mức độ thành thạo chưa cao, chưa ổn định; biểu hiện của

các kỹ năng hợp tác không đồng đều: Kỹ năng tổ chức hợp tác nhóm có tỷ lệ cao nhất (51,33%); kỹ năng diễn đạt ý kiến có tỷ lệ thấp nhất (21,74%); đa số

các kỹ năng đều có tỷ lệ dưới 50% Điều này hoàn toàn phù hợp với thực tế khách quan, bởi phương pháp dạy học truyền thống hiện nay vẫn là phổ biến được GV áp dụng ở mọi môn học, cấp học

Trang 39

Tiểu kết chương 1

NLHT là một dạng năng lực cho phép cá nhân kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức giữa tri thức cần thiết cho sự hợp tác, kỹ năng và thái độ, giá trị, động cơ cá nhân nhằm đáp ứng hiệu quả yêu cầu của hoạt động hợp tác trong bối cảnh cụ thể Trong đó mỗi cá nhân thể hiện sự tích cực, tự giác,

sự tương tác và trách nhiệm cao trên cơ sở huy động những tri thức, kỹ năng của bản thân nhằm giải quyết có hiệu quả hoạt động hợp tác

Dạy học theo định hướng phát triển năng lực là xu hướng tất yếu và là yêu cầu cấp bách hiện nay Có nhiều phương pháp dạy học thực hiện được nhiệm vụ này và DHTNN là một trong những phương pháp đó, DHTNN phát huy được nhiều năng lực ở HS, nhất là NLHT

Qua một số khảo sát thực trạng dạy học chúng tôi nhận thấy: Còn một

bộ phận GV nhận thức chưa hoàn toàn đầy đủ về dạy học theo định hướng phát triển NLHT, vì vậy việc trang bị cho GV những hiểu biết về dạy học theo hướng phát triển NLHT là vấn đề cần thiết HS đã có một số những kỹ năng hợp tác nhất định, tuy nhiên mức độ thành thạo chưa cao, chưa ổn định; biểu hiện của các kỹ năng hợp tác không đồng đều, có nhiều kỹ năng còn hạn chế Do đó cần phải bồi dưỡng và phát triển bằng việc áp dụng các phương pháp dạy học phù hợp

Trang 40

CHƯƠNG 2 VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC THEO NHÓM NHỎ NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỢP TÁC CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC PHẦN SINH THÁI HỌC SINH HỌC 12 THPT 2.1 Phân tích cấu trúc nội dung kiến thức của phần STH Sinh học 12 THPT

2.1.1 Đặc điểm nội dung kiến thức chương trình Sinh học THPT

Cấu trúc chương trình Sinh học THPT phân bố ở 3 khối như sau: Sinh học 10 nghiên cứu các khái niệm, cơ chế, quá trình sinh học ở cấp tế bào và sinh học vi sinh vật (tương đương với cấp tế bào); Sinh học 11 nghiên cứu các

cơ chế, quá trình sinh học xảy ra ở cấp độ cơ thể; Sinh học 12 với các phần,

Di truyền, Tiến hóa, STH lại nghiên cứu các quá trình đó ở cấp độ quần thể và trên quần thể

2.1.2 Đặc điểm nội dung kiến thức phần STH Sinh học 12 THPT

* Mục tiêu của phần STH Sinh học 12 THPT

Phần STH Sinh học 12 gồm 3 chương có mục tiêu tập trung vào 3 mục tiêu lớn: hình thành kiến thức, phát triển kỹ năng, hình thành thái độ

Bảng 2.1 Mục tiêu của phần STH Sinh học 12 THPT

- Kiến thức về sự biến đổi và cân bằng ở mức cơ thể, quần thể,

hệ sinh thái, từ đó hình thành kiến thức về nguyên nhân biến đổi

và cân bằng trong tự nhiên, kiến thức về bảo vệ, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường và sự cân bằng tự

nhiên

Phát triển

kỹ năng

- Phát triển năng lực quan sát: vận dụng những kiến thức mà HS

đã quan sát và tích lũy được trong đời sống

Ngày đăng: 10/10/2019, 10:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bernd Meier, Nguyễn Văn Cường (2005), Phát triển năng lực thông qua phương pháp và phương tiện dạy học mới, Tài liệu hội thảo tập huấn, Dự án phát triển giáo dục THPT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển năng lực thông qua phương pháp và phương tiện dạy học mới
Tác giả: Bernd Meier, Nguyễn Văn Cường
Năm: 2005
2. Bern Meier, Nguyễn Văn Cường (2010), Lý luận dạy học hiện đại - Một số vấn đề về đổi mới phương pháp dạy học, Hà Nội, tr. 42-45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận dạy học hiện đại - Một số vấn đề về đổi mới phương pháp dạy học
Tác giả: Bern Meier, Nguyễn Văn Cường
Năm: 2010
3. Ngô Thị Thu Dung (2002), Cơ sở khoa học của việc rèn kỹ năng học theo nhóm cho học sinh tiểu học bằng phương pháp dạy học nhóm, Đề tài cấp cơ sở, mã số C13 - 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở khoa học của việc rèn kỹ năng học theo nhóm cho học sinh tiểu học bằng phương pháp dạy học nhóm
Tác giả: Ngô Thị Thu Dung
Năm: 2002
4. Ngô Thị Thu Dung (2001), “Mô hình tổ chức học theo nhóm trong giờ học trên lớp”, Tạp chí Giáo dục (5), tr. 21-22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình tổ chức học theo nhóm trong giờ học trên lớp
Tác giả: Ngô Thị Thu Dung
Nhà XB: Tạp chí Giáo dục
Năm: 2001
5. Nguyễn Thị Kim Dung (2000), “Thảo luận nhóm và quá trình xây dựng quan hệ nhân ái giữa học sinh với nhau ở trường trung học”, Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục (11), tr. 10-11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thảo luận nhóm và quá trình xây dựng quan hệ nhân ái giữa học sinh với nhau ở trường trung học
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Dung
Nhà XB: Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục
Năm: 2000
6. Nguyễn Thị Kim Dung (2001), Rèn luyện kỹ năng làm việc nhóm cho học sinh tiểu học thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, Đề tài cấp cơ sở, Viện Nghiên cứu sư phạm, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rèn luyện kỹ năng làm việc nhóm cho học sinh tiểu học thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Dung
Năm: 2001
7. Vũ Cao Đàm (1998), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học. Nhà xuất bản Khoa học - Kỹ Thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu khoa học
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học - Kỹ Thuật
Năm: 1998
8. Nguyễn Thành Đạt (Tổng chủ biên) (2009), Sinh học 12. Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh học 12
Tác giả: Nguyễn Thành Đạt (Tổng chủ biên)
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2009
9. Nguyễn Thành Đạt (Tổng chủ biên) (2009), Sinh học 12 - Sách giáo viên. Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh học 12 - Sách giáo viên
Tác giả: Nguyễn Thành Đạt
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2009
10. Võ Văn Duyên Em, Nguyễn Thị Sửu (2009), “Đánh giá kết quả học tập của học sinh và của nhóm học sinh trong dạy học hợp tác theo cấu trúc Jigsaw và vận dụng vào bài luyện tập chương Halogen hóa học 10 nâng cao”, Tạp chí Khoa học, Trường ĐHSP Hà Nội (4) , tr. 37-45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá kết quả học tập của học sinh và của nhóm học sinh trong dạy học hợp tác theo cấu trúc Jigsaw và vận dụng vào bài luyện tập chương Halogen hóa học 10 nâng cao
Tác giả: Võ Văn Duyên Em, Nguyễn Thị Sửu
Nhà XB: Tạp chí Khoa học, Trường ĐHSP Hà Nội
Năm: 2009
11. Phạm Minh Hạc (1999), Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa thế kỷ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa thế kỷ
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Năm: 1999
12. Nguyễn Thị Thúy Hạnh (2011), Kỹ năng học tập hợp tác của sinh viên sư phạm, Luận án tiến sỹ, Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ năng học tập hợp tác của sinh viên sư phạm
Tác giả: Nguyễn Thị Thúy Hạnh
Năm: 2011
13. Nguyễn Thị Thúy Hạnh (2011), “Thực trạng kỹ năng học tập hợp tác của sinh viên cao đẳng sư phạm”, Tạp chí Tâm lý học, (8) tr. 149 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng kỹ năng học tập hợp tác của sinh viên cao đẳng sư phạm
Tác giả: Nguyễn Thị Thúy Hạnh
Nhà XB: Tạp chí Tâm lý học
Năm: 2011
14. Nguyễn Thị Phương Hoa (2005), “Về phương pháp dạy - học hợp tác”, Tạp chí khoa học trường Đại học sư phạm Hà Nội (3), tr. 26-30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về phương pháp dạy - học hợp tác
Tác giả: Nguyễn Thị Phương Hoa
Nhà XB: Tạp chí khoa học trường Đại học sư phạm Hà Nội
Năm: 2005
15. Nguyễn Thị Phương Hoa (2011), Đổi mới phương pháp dạy học ở trường phổ thông, Tài liệu tập huấn cho giáo viên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới phương pháp dạy học ở trường phổ thông
Tác giả: Nguyễn Thị Phương Hoa
Nhà XB: Tài liệu tập huấn cho giáo viên
Năm: 2011
16. Trần Bá Hoành (1995), “Bàn tiếp về dạy học lấy học sinh làm trung tâm”, Tạp chí Thông tin Khoa học Giáo dục (49), tr. 43-47 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn tiếp về dạy học lấy học sinh làm trung tâm
Tác giả: Trần Bá Hoành
Nhà XB: Tạp chí Thông tin Khoa học Giáo dục
Năm: 1995
17. Trần Bá Hoành (2006), Đổi mới phương pháp dạy học, chương trình và sách giáo khoa, NXB Đại học sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới phương pháp dạy học, chương trình và sách giáo khoa
Tác giả: Trần Bá Hoành
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm
Năm: 2006
18. Phan Thị Thanh Hội, Phạm Huyền Phương (2015), “Rèn luyện năng lực hợp tác cho học sinh trong dạy học chương Chuyển hóa vật chất và năng lượng - Sinh học 11 THPT”. Tạp chí Khoa học, Đại học Sư phạm Hà Nội, (60/1), tr.102-113 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rèn luyện năng lực hợp tác cho học sinh trong dạy học chương Chuyển hóa vật chất và năng lượng - Sinh học 11 THPT
Tác giả: Phan Thị Thanh Hội, Phạm Huyền Phương
Nhà XB: Tạp chí Khoa học, Đại học Sư phạm Hà Nội
Năm: 2015
19. Phan Thị Thanh Hội, Phạm Huyền Phương (2015), “Đánh giá năng lực hợp tác trong dạy học chương Chuyển hóa vật chất và năng lượng - Sinh học 11 THPT”. Tạp chí Khoa học, Đại học Sư phạm Hà Nội, (60/2), tr.88-97 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá năng lực hợp tác trong dạy học chương Chuyển hóa vật chất và năng lượng - Sinh học 11 THPT
Tác giả: Phan Thị Thanh Hội, Phạm Huyền Phương
Nhà XB: Tạp chí Khoa học, Đại học Sư phạm Hà Nội
Năm: 2015
20. Đặng Thành Hƣng (2002), Dạy học hiện đại – lý luận, biện pháp, kỹ thuật, NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học hiện đại – lý luận, biện pháp, kỹ thuật
Tác giả: Đặng Thành Hƣng
Nhà XB: NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội
Năm: 2002

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w