ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI CHƯƠNG TRÌNH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRỌNG ĐIỂM CẤP NHÀ NƯỚC GIAI ĐOẠN 2013-2018 “KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VÙNG TÂY BẮC” Mã số: KHCN-TB/1
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
CHƯƠNG TRÌNH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRỌNG ĐIỂM CẤP NHÀ NƯỚC GIAI ĐOẠN 2013-2018 “KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VÙNG TÂY BẮC”
Mã số: KHCN-TB/13-18
BÁO CÁO TỔNG HỢP
ĐỀ TÀI
NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ XU HƯỚNG TÍN NGƯỠNG
CỦA CỘNG ĐỒNG DÂN TỘC MÔNG THEO ĐẠO TIN LÀNH VÀ MỘT SỐ HIỆN TƯỢNG TÔN GIÁO MỚI
VÙNG TÂY BẮC
Mã số: KHCN-TB.13X/13-18
Cơ quan chủ trì đề tài: Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS Nguyễn Quang Hưng
Hà Nội - 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
CHƯƠNG TRÌNH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRỌNG ĐIỂM CẤP NHÀ NƯỚC GIAI ĐOẠN 2013-2018 “KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VÙNG TÂY BẮC”
Mã số: KHCN-TB/13-18
BÁO CÁO TỔNG HỢP
ĐỀ TÀI:
NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ XU HƯỚNG TÍN NGƯỠNG
CỦA CỘNG ĐỒNG DÂN TỘC MÔNG THEO ĐẠO TIN LÀNH VÀ MỘT SỐ HIỆN TƯỢNG TÔN GIÁO MỚI
Trang 3DANH SÁCH CÁC THÀNH VIÊN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
1 PGS.TS Nguyễn Quang Hưng Chủ nhiệm
2 GS.TS Đỗ Quang Hưng Thành viên
3 PGS.TS Nguyễn Anh Tuấn Thành viên
4 PGS.TS Trần Thị Kim Oanh Thành viên
5 PGS.TS Hoàng Minh Đô Thành viên
6 TS Nguyễn Hữu Thụ Thư ký
7 TS Nguyễn Mạnh Tiến Thành viên
8 PGS.TS Nguyễn Văn Chính Thành viên
9 PGS.TS Lâm Bá Nam Thành viên
10 NCS Đoàn Đức Phương Thành viên
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 5
Chương 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU VÀ TIẾP CẬN 23
1.1 Khái niệm tôn giáo Tranh luận giữa Ch Dawson, P Tillich và E Durkheim 23
1.2 Lý thuyết nghiên cứu 28
1.3 Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu 46
Chương 2 ĐẠO TIN LÀNH DU NHẬP VÀO ĐỒNG BÀO MÔNG Ở VIỆT NAM GÓC NHÌN LỊCH SỬ VÀ HIỆN TRẠNG 51
2.1 Công giáo ở các tỉnh miền núi phía Bắc - tiền thân của cộng đồng Tin Lành khu vực này hiện nay 51
2.2 Cộng đồng người Mông theo đạo Tin Lành ở Việt Nam trong tương quan
với một số nước trong khu vực 57
2.3 Tổng quan các hệ phái Tin Lành ở Việt Nam Cách nhìn nhận của các cấp chính quyền về sự phát triển của đạo Tin Lành vùng đồng bào các dân tộc thiểu số trước Chỉ thị 01 63
2.4 Nguyên nhân làm một bộ phận đồng bào Mông theo đạo Tin Lành 78
2.5 Hiện trạng việc công nhận các điểm nhóm Tin Lành hiện nay
Nhận diện một số điểm nóng 94
2.6 Sự tồn tại của cộng đồng Mông Tin Lành là một thực tế (de facto) Cộng đồng Mông Tin Lành các tỉnh vùng núi phía Bắc: một số đặc điểm 105
2.7 Đặc thù cơ cấu tổ chức giáo hội - lý do cơ bản khiến một bộ phận
người Mông lựa chọn các hệ phái Tin Lành thay cho Công giáo 117
Chương 3 ĐẠO TIN LÀNH VÀ BIẾN ĐỔI CHUẨN MỰC ĐẠO ĐỨC, VĂN HÓA - TÔN GIÁO VÀ TỔ CHỨC XÃ HỘI ĐỒNG BÀO MÔNG 129
3.1 Quan hệ tôn giáo, văn hóa, đạo đức: Một số vấn đề phương pháp luận 129
3.2 Tôn giáo và văn hóa trong đời sống gia đình, bản làng Mông 134
3.3 Đạo Tin Lành và những biến đổi văn hóa Mông 155
3.4 Tôn giáo, đạo đức và tâm lý tộc người: Trường hợp đạo Tin Lành và đồng bào Mông 161
3.5 Tôn giáo và tổ chức gia đình, dòng họ, tổ chức cộng đồng Mông 169
3.6 Sự thay đổi thiết chế trong cộng đồng Mông Tin Lành 188
3.7 Đạo Tin Lành và biến đổi nhân khẩu học Trường hợp di cư của người Mông 193
Trang 5Chương 4 VẤN ĐỀ TÔN GIÁO MỚI TRONG CỘNG ĐỒNG
NGƯỜI MÔNG 207
4.1 Tôn giáo mới trong cộng đồng Mông Việt Nam trong tương quan chung
với thế giới 207
4.2 “Đạo lạ” Dương Văn Mình nhìn từ góc độ tôn giáo học 212
4.3 Một vài phỏng đoán sự phát triển của đạo Tin Lành và các tôn giáo mới
vùng đồng bào dân tộc thiểu số các tỉnh miền núi phía Bắc thời gian tới 230
Chương 5 MỘT SỐ GIẢI PHÁP ỔN ĐỊNH CỘNG ĐỒNG NGƯỜI MÔNG 235
5.1 Tham vấn của các học giả nước ngoài Một số đánh giá các chính sách dân tộc và tôn giáo đã được triển khai thời kỳ trước Đổi mới 235
5.2 Nhận chân một số giá trị văn hóa truyền thống của người Mông 240
5.3 Hợp tác, củng cố đội ngũ người có uy tín - một trong những giải pháp
tối ưu để ổn định cộng đồng Mông truyền thống 247
5.4 Bình thường hóa đời sống tôn giáo của bô ̣ phâ ̣n đồng bào các dân tô ̣c
thiểu số theo các hê ̣ phái Tin Lành 262
5.5 Cách ứng xử với đồng bào Mông theo tôn giáo mới 268
5.6 Đề xuất một số giải pháp xây dựng cộng đồng các dân tộc thiểu số ở
Tây Bắc phục vụ phát triển bền vững 271
KẾT LUẬN 278
DANH MỤC TÀI LIỆU TRÍCH DẪN 286
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 1 So sánh giữa lối canh tác và văn hóa của người Mông 14
Bảng 2 Địa bàn cư trú và dân số dân tộc Mông ở Việt Nam 47
Bảng 3 Sự gia tăng người Mông ở Việt Nam 47
Bảng 4 Số lượng người Mông theo Kitô giáo (Công giáo và đạo Tin Lành)
ở một số nước trong khu vực 58
Bảng 5 Tín đồ đạo Tin Lành ở Việt Nam qua một số mốc thời gian 64
Bảng 6 Tín đồ của một số hệ phái Tin Lành chính ở Việt Nam hiện nay 65
Bảng 7 Nguyên nhân tin nhận Chúa của tín đồ Tin Lành người Mông
qua phỏng vấn trực tiếp 79
Bảng 8 Những lý do người Mông lựa chọn theo Tin Lành qua phỏng vấn trực tiếp 79
Bảng 9 Tỷ lệ theo đạo bởi các lý do ở một số địa bàn nghiên cứu 80
Bảng 10 Tỷ lệ người các dân tộc trên 5 tuổi không đến trường ở Lào Cai 84
Bảng 11 Số lượng điểm nhóm Tin Lành được công nhận tư cách pháp nhân 96
Bảng 12 Số tín đồ các hệ phái Tin Lành đã được công nhận tư cách pháp nhân
sinh hoạt tôn giáo 97
Bảng 13 Mức độ tham gia sinh hoạt tôn giáo hàng tuần 113
Bảng 14 Tỷ lệ giới (nam nữ) Tin Lành Mông tham gia thờ phụng Chúa hàng tuần 113
Bảng 15 Mức độ tin vào một số tín lý cơ bản của người Mông Tin Lành Tây Bắc 114
Bảng 16 Mức độ niềm tin vào những tín điều cơ bản của tín đồ Tin Lành Tây Bắc 114
Bảng 17 Tín đồ đạo Tin Lành ở Điện Biên trước và sau Chỉ thị 01 127
Bảng 18 Nguyên nhân ly hôn và tỷ lệ ly hôn của người Mông và Dao 138
Bảng 19 Tình trạng đăng ký kết hôn ở người Mông, Dao ở Cao Bằng và Lai Châu 141
Bảng 20 Lý do sinh con trai theo giới, so sánh giữa người Mông và Dao 141
Bảng 21 Quan điểm của các tín đồ Tin Lành Mông đối với chính quyền 159
Bảng 22 Thái độ của các tín đồ Tin Lành đối với pháp luật của nhà nước 159
Bảng 23 Tỷ lệ tín đồ Tin Lành Mông muốn bảo tồn văn hóa dân tộc mình 160
Bảng 24 Tỷ lệ tín đồ Tin Lành Mông muốn lưu giữ các giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc mình phân theo giới tính 161
Bảng 25 Tỷ lệ người Mông Tin Lành tham gia các tổ chức chính quyền và
đoàn thể 188
Bảng 26 Tình hình người Mông các tỉnh Tây Bắc, Đông Bắc, Tây Nghệ An,
Tây Thanh Hóa di cư vào Tây Nguyên 194
Bảng 27 Số xã có dân tộc Mông cư trú qua các cuộc điều tra dân số 195
Bảng 28 Tình hình bỏ học của con em Mông ở bản Nà Ón và Suối Tung 196
Bảng 29 Tình hình sử dụng đất sản xuất lương thực của người Mông ở xã Pù Nhi, huyện Mường Lát, Thanh Hóa 200
Trang 7DANH MỤC BIỂU
Biểu 1 Các con đường dẫn người Mông ra nhập đạo Tin Lành 111
Biểu 2 Tỉ lệ tham gia hội đoàn hội thánh Tin Lành Mông ở các tỉnh 112
Biểu 3 Tỷ lệ nam và nữ trong việc tham gia các ban nhóm của Hội thánh 112
Biểu 4 Logo của Đền thờ Giáo thuyết Mông 209
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của nghiên cứu đề tài
Tây Bắc (theo phạm vi của Ban chỉ đạo Tây Bắc, viết tắt là 12+2) là một vùng núi rộng lớn, ngoài các tỉnh Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên, Sơn La, Yên Bái, Hòa Bình thuộc khu vực Tây Bắc phân chia theo phạm vi địa lý, còn bao gồm các tỉnh vùng núi
tả ngạn sông Hồng Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Bắc Kạn, Tuyên Quang và vùng núi phía Tây Thanh Hóa và Nghệ An Đây là một khu vực địa chính trị trọng yếu, phía Bắc tiếp giáp Vân Nam và Quảng Tây (Trung Quốc), phía Tây giáp Thượng Lào và Trung Lào Đây cũng là khu vực dân thưa nhất theo phân bố dân cư ở Việt Nam, đa phần là các dân tộc thiểu số như Tày, Nùng, Thái, Mường, Mông, Dao
và nhiều dân tộc khác Có tới ba chục dân tộc thiểu số trong đại gia đình 54 dân tộc ở Việt Nam sinh sống ở khu vực miền núi phía Bắc này Lịch sử khu vực này cũng trải qua nhiều biến động thăng trầm Thời kỳ tiền thuộc địa, nơi đây từng diễn ra những tranh giành ảnh hưởng giữa chính quyền phong kiến ở miền xuôi và các thủ lĩnh các dân tộc thiểu số Thời thuộc địa, Pháp lập ra xứ tự trị Thái-Mèo Năm 1955, chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cho phép thành lập khu tự trị Thái-Mèo, tới năm 1962 đổi thành các khu tự trị Việt Bắc và Tây Bắc cho tới năm 1975
Trong số các dân tộc thiểu số vùng núi phía Bắc có một số dân tộc sống vắt ngang qua biên giới Việt-Trung và Việt-Lào Với người Mông thì nó còn liên quan không chỉ cộng đồng dân tộc này ở Nam Trung Quốc và Lào, mà cả cộng đồng dân tộc này sống ở Thái Lan, Myanmar và một số nước khác Bản thân cộng đồng Mông khi di
cư xuống các nước này chịu những tác động của bối cảnh chính trị và xã hội trong khu vực cũng như chính sách của từng quốc gia Từ trong và sau chiến tranh Việt Nam thì đồng bào Mông từ Lào di cư sang Mỹ và nhiều nước khác, hiện tại đã có mặt ở hàng chục nước phương Tây, làm cho cộng đồng này càng trở nên đa dạng và phức tạp
Những năm gần đây, khu vực miền núi phía Bắc có nhiều biến động với sự phát triển bùng phát của các hệ phái Tin Lành nơi đồng bào Mông, Dao và một số dân tộc thiểu số khác Điều này kéo theo nhiều hệ lụy về văn hóa-xã hội cũng như an ninh chính trị Việc một bộ phận không nhỏ đồng bào Mông cải đạo sang Công giáo và các hệ phái Tin Lành trở thành một vấn đề không chỉ riêng Việt Nam mà cả một số nước trong khu vực, đang thu hút giới nghiên cứu cả trong và ngoài nước Điều đáng lưu ý là từ thời kỳ thuộc địa đã có một bộ phận đồng bào Mông ở Trung Quốc và Việt Nam cải đạo sang Công giáo Ở Việt Nam, dấu tích nhà thờ Sapa và Trạm Tấu cho thấy điều đó Có điều khi đó chỉ có một bộ phận khiêm tốn đồng bào Mông cải đạo nên không gây chú ý nhiều Nhưng từ trong chiến tranh Việt Nam, đối với cộng đồng Mông ở Lào và Thái Lan, nhất là từ cuối những năm 1980 trở lại đây việc một bộ phận không nhỏ cải đạo theo các hệ phái Tin Lành mang tính bùng phát thì tình hình đã thay đổi
Trang 9Liên quan tới cộng đồng này ở Việt Nam, nhiều vấn đề khoa học cần được làm sáng tỏ Tại sao đạo Tin Lành lại có thể bám rễ vào cộng đồng các dân tộc Mông vùng Tây Bắc? Hiện trạng và viễn cảnh của cộng đồng người Mông theo đạo Tin Lành ở đây ra sao? Những hệ lụy văn hóa-xã hội của sự truyền bá đạo Tin Lành và các hiện tượng tôn giáo mới trong cộng đồng người Mông, những giá trị gì cần bảo tồn trong văn hóa, tín ngưỡng của các cộng đồng này? Trên cơ sở phân tích khoa học các vấn đề cộng đồng Mông theo đạo Tin Lành, chúng ta cần có những giải pháp đối với các cơ quan chức năng để ổn định cộng đồng này cũng như cộng đồng Mông truyền thống
Tây Bắc, một vùng địa chính trị trọng yếu của Việt Nam, đa dạng vào bậc nhất xét từ góc độ văn hóa tộc người Đây còn là khu vực có nhiều tiềm năng nhưng hiện tại còn thuộc một trong những khu vực chậm phát triển nhất cả nước với đa phần các tỉnh còn cần trợ cấp từ Trung ương Nghiên cứu Đề tài, do vậy, không chỉ là một công việc thuần túy chuyên môn khoa học, mà còn phải xuất phát từ những nhu cầu thực tiễn của công tác quản lý nhà nước cũng như an ninh chính trị-xã hội nằm trong khuôn khổ của chương trình nghiên cứu khoa học phục vụ phát triển bền vững Tây Bắc Đó là lý do mà nhóm nghiên cứu chọn đề tài này và mong muốn được góp một phần nhỏ giải quyết các vấn đề lý luận và thực tiễn phục vụ nhu cầu phát triển khu vực này, phấn đấu đưa Tây Bắc thành một trong những khu vực phát triển năng động của Việt Nam
2 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
2.1 Mục tiêu tổng quát
Mục tiêu nghiên cứu đề tài cần phải hướng tới gồm 4 điểm chính sau:
1 Đánh giá thực trạng cộng đồng người Mông theo đạo Tin Lành và các hiện tượng tôn giáo mới tại vùng Tây Bắc
2 Nhận diện các điểm nóng vùng Tây Bắc liên quan đến đạo Tin Lành và các hiện tượng tôn giáo mới trong cộng đồng người Mông vùng Tây Bắc
3 Đề xuất các chính sách ứng xử của các cấp chính quyền, các cơ quan hữu quan trong và ngoài vùng Tây Bắc đối với các vấn đề đạo Tin Lành
4 Đề xuất những giải pháp xây dựng cộng đồng các dân tộc thiểu số ở Tây Bắc phục vụ phát triển bền vững
Trang 102 Phân tích mối quan hệ giữa cộng đồng Mông Tin Lành và các tôn giáo mới với cộng đồng Mông truyền thống trên các phương diện sinh hoạt văn hóa, tôn giáo tín ngưỡng, những vấn đề nội tại của cộng đồng Mông do những tác đồng của đạo Tin Lành và các tôn giáo mới
3 Nhận diện những nguy cơ tiềm ẩn bất ổn về an ninh chính trị và xã hội trong cộng đồng Mông, tác động, ảnh hưởng tiêu cực của đạo Tin Lành và các tôn giáo mới đến đâu
4 Trên cơ sở các cứ liệu khoa học mà nhóm nghiên cứu đề tài lĩnh hội được trong quá trình thực hiện đề tài, đề xuất các giải pháp mang tính chiến lược dài hạn ổn định cộng đồng Mông nói chung, đặc biệt cộng đồng Mông Tin Lành và các tôn giáo mới, tư vấn chính sách tôn giáo và dân tộc phục vụ phát triển bền vững Tây Bắc
Thực hiện tốt tất cả các nhiệm vụ trên là một điều vô cùng khó khăn, trong một
số trường hợp cụ thể, cần có những nghiên cứu tiếp theo Dù vậy, nhóm nghiên cứu cố gắng thực hiện tới mức tối đa trong khả năng hiện có
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là cộng đồng Mông Tin Lành và nhóm người Mông theo các tôn giáo mới, những vấn đề nội tại đời sống tôn giáo của họ, tác động của những vấn đề đó tới văn hóa-xã hội cũng như an ninh chính trị Tây Bắc Tuy nhiên, cộng đồng Mông Tin Lành và các tôn giáo mới không tồn tại biệt lập mà có mối liên hệ hữu cơ với các cộng đồng khác Về phương diện tộc người, họ là một bộ phận nằm trong một chỉnh thể lớn hơn của cộng đồng Mông trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam nói chung Về phương diện tôn giáo, cái cộng đồng này lại chịu
sự chi phối của các hệ phái Tin Lành hiện diện không chỉ trong cộng đồng Mông ở Việt Nam mà ở cả nhiều tộc người khác, cả ở nước ngoài Chẳng hạn, Hội thánh Tin Lành Việt Nam (miền Bắc) có trụ sở ở số 2 Ngõ Trạm, Hà Nội, cũng như Hội thánh Tin Lành Việt Nam (miền Nam) cùng chung là hệ phái Hội truyền bá Phúc
âm (Christian Missionary Alliance, viết tắt CMA) có tới trên 800.000 tín đồ ở Việt Nam Đây hiện tại cũng là hệ phái Tin Lành trong cộng đồng Mông lớn nhất ở Mỹ Như vậy, dễ hiểu khi cả về phương diện tộc người và tôn giáo, cộng đồng Mông Tin Lành hệ phái Hội thánh Tin Lành Việt Nam (miền Bắc) có mối liên hệ với cộng đồng này ở Mỹ
Cả hai mối quan hệ dân tộc và tôn giáo của cộng đồng Mông đan xen nhau, vượt ra khỏi phạm vi lãnh thổ Việt Nam Đây là thách thức lớn cho các nhà nghiên cứu
và các cấp chính quyền Giải quyết không thấu đáo một vấn đề nào đó liên quan tới cộng đồng này dễ gây hiệu ứng cho cả khu vực và quốc tế
Trang 113.2 Phạm vi nghiên cứu
Tuy chỉ chiếm chừng 1,2% dân số cả nước, giữ vị trí thứ năm về số dân trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam, nhưng đồng bào Mông có mối quan hệ nội tộc, họ hàng rộng rãi và phức tạp với tộc người của mình ở nhiều quốc gia và khu vực Về mặt lịch sử và văn hóa, ít có dân tộc thiểu số nào ở Việt Nam lại có nhiều điểm đặc thù như đồng bào Mông Phạm vi nghiên cứu của đề tài là đồng bào Mông Tin Lành và các tôn giáo mới Tây Bắc về không gian địa lý trong phạm vi của Ban chỉ đạo Tây Bắc như đã
đề cập ở trên Tuy vậy, những nghiên cứu, khảo sát ở một mức độ nhất định cộng đồng Mông ngoài Việt Nam có giá trị tham chiếu
Nghiên cứu Đề tài tập trung làm rõ những vấn đề của đời sống tôn giáo của cộng đồng Mông Tin Lành và các tôn giáo mới, những tác động đa chiều của nó tới các lĩnh vực văn hóa-xã hội và an ninh chính trị trong các mối quan hệ cụ thể giữa cộng đồng này với cộng đồng Mông truyền thống, quan hệ giữa cộng đồng này với các
hệ phái Tin Lành trong và ngoài nước, quan hệ giữa cộng đồng này với các cấp chính quyền, những hệ lụy đa chiều của đạo Tin Lành đối với cộng đồng Mông trên nhiều phương diện văn hóa-xã hội và nhân khẩu học
Về mặt thời gian, tuy rằng Kitô giáo truyền bá vào cộng đồng Mông ở Việt Nam và các nước trong khu vực đã có bề dày lịch sử cả thế kỷ Nhưng chỉ những thập niên gần đây sự bùng phát của các hệ phái Tin Lành và sự nảy sinh tôn giáo mới trong cộng đồng này đã tạo ra nhiều hiệu ứng xã hội đa chiều Do vậy, nghiên cứu đề tài tập trung vào giai đoạn hiện tại, đặc biệt từ sau Chỉ thị 01
4 Câu hỏi và phương pháp nghiên cứu
4.1 Câu hỏi nghiên cứu
Bản thân đạo Tin Lành không phải là một tôn giáo thống nhất mà chỉ là tên gọi của hàng trăm hệ phái khác nhau, nhiều trường hợp xuất phát từ những nền tảng thần học khác nhau mặc dù đều là những hệ phái của Kitô giáo, thờ Chúa Giêsu Kitô Nghiên cứu cộng đồng Mông Tin Lành và các tôn giáo mới đặt ra hàng loạt vấn đề cần
có lý giải khoa học
Thực trạng cộng đồng Mông Tin Lành hiện tại như thế nào, mối liên hệ nội tại giữa những nhóm Mông thuộc các hệ phái Tin Lành khác nhau ra sao, có xung đột giữa các nhóm này không? Hiện trạng những người Mông theo tôn giáo mới ra sao, quan hệ giữa họ với cộng đồng Mông truyền thống như thế nào, với cộng đồng Mông Tin Lành ra sao?
Những nguyên nhân nào dẫn tới một bộ phận không nhỏ người Mông bỏ tôn giáo truyền thống, cải đạo sang Tin Lành, tại sao không phải là Phật giáo hay tôn giáo nào khác ngoài Kitô giáo mà chính các hệ phái Tin Lành đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tôn giáo của cộng đồng này? Bản chất của những nhóm người Mông theo các tôn giáo
Trang 12mới là gì, những nguyên nhân nào khiến họ bỏ tín ngưỡng Mông truyền thống, chuyển đổi sang tôn giáo mới?
Những hệ lụy gì về văn hóa-xã hội, an ninh chính trị-xã hội do các tôn giáo ngoại lai đối với đồng bào Mông? Chính sách tôn giáo và dân tộc của chúng ta cho tới nay đã đáp ứng được những yêu cầu gì, còn những gì bất cập? Cần những giải pháp nào để ổn định đồng bào Mông truyền thống, đồng bào Mông Tin Lành và theo tôn giáo mới phục vụ phát triển bền vững?
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài đòi hỏi các phương pháp liên ngành khoa học xã hội và nhân văn như tôn giáo học, nhân học, xã hội học về tôn giáo, tâm lý tộc người, chính trị học,… Nghiên cứu đề tài kết hợp các phương pháp nghiên cứu phân tích và tổng hợp, khai thác mọi nguồn tư liệu hiện có, kế thừa những thành quả nghiên cứu của những người đi trước ở cả trong và ngoài nước liên quan đến đề tài
Đáng chú ý, nhóm nghiên cứu đã tiến hành các chuyến nghiên cứu điền dã tại các tỉnh Hà Giang (3 đợt), Sơn La, Tuyên Quang và Bắc Kạn (2 đợt), Lào Cai, Lai Châu, Điện Biên, Cao Bằng, Yên Bái, tây Nghệ An (huyện Kỳ Sơn), tây Thanh Hóa (huyện Mường Lát) Nhóm nghiên cứu đã có nhiều tiếp xúc với nhiều đối tượng, gặp
gỡ, trao đổi bao gồm cả đồng bào Mông truyền thống, đồng bào Mông Tin Lành, đồng bào Mông theo các tôn giáo mới cũng như cán bộ chính quyền ban ngành các cấp Nhóm nghiên cứu kết hợp việc tham dự, phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm
Các phương pháp nghiên cứu định lượng và định tính như một trong những ưu tiên hàng đầu trên cơ sở khảo sát một số địa bàn cụ thể ở các tỉnh Tây Bắc, trong đó tiến hành điều tra xã hội học với số lượng 2800 phiếu được triển khai ở một số địa bàn mang tính đại diện, cụ thể 2 tỉnh tả ngạn sông Hồng Hà Giang và Tuyên Quang, cùng
2 tỉnh hữu ngạn sông Hồng Yên Bái và Lào Cai Trong quá trình thực hiện đề tài, nhóm nghiên cứu đã tiến hành 5 Hội thảo khoa học, đáng chú ý là 01 hội thảo quy tụ người có uy tín trong đồng bào Mông thuộc cả hai nhóm đồng bào Mông Tin Lành và đồng bào Mông truyền thống, 01 tọa đàm quốc tế trong phạm vi hẹp chuyên sử dụng Anh ngữ
5 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
5.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Nhiều công trình nghiên cứu từ trước tới giờ vẫn thường tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài theo hướng liệt kê hầu như tất cả những công trình nghiên cứu trực tiếp liên quan đến nội dung của đề tài, chia ra thành các mảng vấn đề Thoạt tiên có cảm tưởng cách làm đó hữu dụng bởi hầu hết những công trình liên quan tới các phần chính nội dung của đề tài đều được điểm qua Nhưng thực tế cho thấy, một mặt, người
Trang 13đọc gặp khó khăn để nắm bắt tác giả nào là chuyên gia, công trình chuyên khảo nào nổi bật, đã nghiên cứu cái gì, cái gì còn bỏ ngỏ bởi không tránh khỏi có công trình được điểm mặt vài lần nếu như nội dung của nó đề cập tới nhiều vấn đề, mặt khác, có người ta khó hình dung lịch sử nghiên cứu vấn đề bởi trong gần một thế kỷ qua tính từ khi công trình của F Savina ra đời đã có hàng trăm công trình lớn nhỏ trong và ngoài nước liên quan tới đề tài Vì vậy, ở đây xin được phép tổng quan đề tài theo hướng lịch
sử nghiên cứu vấn đề trong tương quan giữa các học giả trong và ngoài Việt Nam Cũng phải nói rằng khó có thể liệt kê hết những nghiên cứu về người Mông trong gần một thế kỷ qua, ở đây chỉ điểm qua một số công trình tiêu biểu
Đóng vai trò tiên phong trong nghiên cứu người Mông nói chung, ở Việt Nam nói riêng phải kể tới các công trình nghiên cứu nước ngoài Một trong những công
trình nghiên cứu người Mông sớm nhất là Lịch sử người Mèo của Francis Savina (xem: F.M Savina, Histoire des Ueao, Hong Kong, 1924) Vốn là một thừa sai truyền
bá Công giáo vào cộng đồng người này và là người có thời gian dài sống cùng người Mông, vị linh mục này khá hiểu những đặc thù và khát vọng của cộng đồng người Mông, để lại nhiều ghi chép về cuộc sống thường ngày, tâm lý, tính cách, lịch sử, văn hóa và tôn giáo của họ Ông cũng là người dịch Kinh thánh sang tiếng Mông để phục
vụ cho công việc truyền đạo, khéo léo gắn kết một số điểm tương đồng giữa các tích trong Kinh thánh như con thuyền Noah, nạn hồng thủy, tháp Babel, giáo lý Kitô với những tích truyện của người Mông Ông hiểu được những khát vọng của người Mông vốn là một tộc người bị người Hán và người Mãn Thanh chèn ép phải dời đi khỏi vùng đồng bằng màu mỡ phía nam sông Hoàng Hà, mất cả chữ viết
Trong bối cảnh chính quyền thuộc địa chịu thương tổn nhiều trong việc đàn áp các cuộc xưng vua của người Mông, nhất là của Vừ Pa Chay, Savina đề xuất chính quyền thuộc địa Pháp cải cách hành chính cho phép một số quyền tự trị, hứa hẹn mở trường học, dạy chữ viết cho họ nếu họ cải đạo theo Công giáo Công trình của Savina làm nền tảng cho những nghiên cứu người Mông về phương diện dân tộc học và tôn giáo học sau này
Trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam, những nghiên cứu về người Mông vẫn được
tiếp tục Jacques Memoine trong công trình Un village Hmong vert du Haut Laos (Bản
lược dịch của Nguyễn Từ Chi, Viện Dân tộc học, 1973) đã nghiên cứu một làng điển hình của người Mông xanh ở Thượng Lào Với nhiều tri thức điền dã dân tộc học, công trình đã lột tả đời sống kinh tế, tổ chức cộng đồng và văn hóa, tín ngưỡng của một làng người Mông ở Lào Kinh tế của cộng đồng người Mông nơi đây chủ yếu mang tính tự cấp tự túc, tự sản xuất mọi nhu cầu hàng ngày trừ muối ăn, vật dụng nấu nướng và đựng thức ăn và đèn dầu thì người Mông phải vay mượn, mua bán từ người Hoa và người Thái Canh tác sao cho có được đủ số lương thực dùng cho cả gia đình trong năm thực
Trang 14sự là cuộc vận lộn vất vả của nhiều gia đình người Mông Memoine cũng chỉ ra các nghi
lễ cúng bái của người Mông khá tốn kém, thực sự là gánh nặng kinh tế đối với những gia đình nghèo khó và những gia đình no đủ lại càng cầu kỳ trong lễ bái, càng gây tốn kém (tr.14) Do điều kiện canh tác, nên đời sống của người Mông gặp nhiều khó khăn,
do vậy họ phải trông cậy vào việc trồng cây thuốc phiện “Thuốc phiện đóng một vai trò cốt tử trong ngân sách gia đình Thường thì đây là phẩm vật độc nhất mà mỗi nóc nhà có thể bán ra ngoài (…) Trong một nóc nhà, bao giờ cũng phải có đôi tí thuốc phiện Dù cho người nhà chẳng ai hút, thì cũng phải dự kiến một vài lạng cho các thầy cúng mà rồi đây gia đình sẽ mời đến để hỏi ý kiến” (tr.27-28)
Tiếp đến, K Quincy trong công trình Hmong A History of an Ethnic
Minority, Washington University Press, 1988) ủng hộ giả thiết về nguồn gốc của
người Mông từ Siberi của F M Savina Tuy nhiên, đa số ý kiến lại nghiêng về quan điểm nguồn gốc của người Mông là vùng lưu vực sông Hoàng Hà Họ là chủ nhân của nhà nước Tam Miêu
Bên cạnh đó, còn phải kể tới công trình Sovereignity and Rebellion of the
Hmong in Northern Thailand của Nicolas Tapp (University of Singapore Press, 1989)
Đáng chú ý, dựa trên những kết quả nghiên cứu cộng đồng người Mông ở Thái Lan, Nicolas Tapp đặt vấn đề: tại sao người Mông từ bỏ tín ngưỡng truyền thống không theo Phật giáo mà lại Kitô giáo? Và từ kinh nghiệm nghiên cứu cộng đồng này ở Thái Lan, ông lý giải: “Kitô giáo được chấp nhận như một chiến lược bởi nó đã cấp một lối thoát cho người Mông ra khỏi tình trạng tiến thoái lưỡng nan về tôn giáo Trong khi Phật giáo bị bác bỏ rộng lớn bởi nó quá gắn với tộc người Thái và nhà nước Thái thì Kitô giáo hình như lại cung cấp một lối thoát bằng cách cho phép vẫn cứ là người Mông mà không bị đồng hóa bởi chính sách của nhà nước Thái” (p 56) Nhận định này giúp ta định hướng trong nghiên cứu sự phát triển của Kitô giáo ở hầu hết cộng đồng người Mông các nước trong khu vực
Đáng chú ý, nhóm tác giả của một dự án của Liên Hợp Quốc nghiên cứu chống
ma túy dẫn đầu là Ami-Jacques Rapin trong công trình Ethnic Minorities, Drug Use &
Harm in the Highlands of Northern Vietnam A Context Analysis of the Situation in Six Communes from Son La, Lai Chau, and Lao Cai (NXB Thế giới, Hà Nội, 2003) Nếu
như công trình trước đó của Alfred Mc Coy The Politics of Heroin in Southeast Asia
đề cập tới vấn đề buôn bán ma túy và sự can dự của các chính phủ tới vấn đề này trong phạm vi Đông Nam Á suốt thời kỳ chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất thì công trình này tập trung vào việc khảo cứu vấn đề này ở Việt Nam và tập trung vào giai đoạn từ thời kỳ hậu thuộc địa đến nay Nếu như công trình của Mc Coy chủ yếu dựa vào các nguồn tư liệu của các văn khố của Bộ ngoại giao và cục tình báo CIA của Mỹ thì nhóm tác giả đã có những khảo cứu thực địa khá công phu về đời sống kinh tế của 6 xã
Trang 15tại ba tỉnh Sơn La, Lai Châu và Lào Cai Nhóm tác giả đề cập nhiều tới vấn đề cây thuốc phiện trong đời sống kinh tế các dân tộc thiểu số Tây Bắc và vấn đề buôn bán
ma túy ở khu vực này, phân tích mối quan hệ giữa người Mông và buôn bán thuốc phiện trong lịch sử, từ thời kỳ tiền thuộc địa, thời kỳ thuộc địa và hiện tại Việc sử dụng thuốc phiện được phân tích theo nhiều chiều cạnh xã hội, xã hội học và chính sách công Những tác hại của việc trồng và sử dụng cây thuốc phiện cuãng được nhìn nhận ở nhiều góc độ Ảnh hưởng của việc trồng cây thuốc phiện với việc buôn bán ma túy cũng như những hệ lụy xã hội của nó cũng được đề cập chi tiết Tuy vậy, công trình không đề cập tới những biến đổi trong đời sống tôn giáo tín ngưỡng của người Mông ở khu vực này
Liên quan trực tiếp tới cộng đồng Mông Tin Lành ở Tây Bắc phải kể tới công
trình của Ngô T.T Tâm, The New Way Protestantism and the Hmong in Vietnam
(University of Washington Press, Seattle and London, 2016) Dựa trên những kết quả khảo sát của cộng đồng Mông chủ yếu ở Lào Cai, tác giả cố gắng đặt mình nhìn từ phía những người Mông Tin Lành để nhìn nhận các vấn đề của cộng đồng Mông tựa như là “người trong cuộc” Đáng chú ý, cuốn sách đã nhấn mạnh vai trò đặc biệt của truyền thông trong việc cải đạo, nhất là thời gian đầu cuối những năm 1980 đầu 1990, trong đó thiếu vắng hẳn vai trò của các nhà truyền đạo cũng như những phương thức truyền đạo truyền thống Chính truyền thông, cụ thể là các đài FEBC và Nguồn sống là
cú hích chính khiến cho đồng bào Mông chuyển đổi tôn giáo sang Tin Lành Tác giả cũng phê phán cách nhìn tiến hóa luận bấy lâu nay của một số nhà nghiên cứu Việt Nam lấy quan điểm của mình làm chuẩn mực để đánh giá, nhìn nhận các vấn đề, coi những dân tộc thiểu số trong đó có người Mông vào nhóm những người lạc hậu, chậm phát triển, để rồi từ đó có những cách nhìn lệch lạc, cho mình tiến bộ hơn nhiều dân tộc thiểu số Trong bối cảnh các nghiên cứu nước ngoài về cộng đồng Mông Tin Lành
ở Việt Nam còn ít ỏi, chúng ta có thể ghi nhận những nỗ lực của cuốn sách như những chấm phá trong nghiên cứu vấn đề Tuy nhiên, cuốn sách khó tránh khỏi một số sai sót, chẳng hạn, nhận định rằng 1/3 số người Mông ở Việt Nam theo Tin Lành là thiếu
cơ sở Việc nhấn mạnh vai trò của truyền thông có cơ sở nhất định, nhưng sẽ là cường điệu nếu từ đó chúng ta lại hạ thấp vai trò của các mục sư, các nhà truyền đạo, các Hội thánh Tin Lành trong việc củng cố đức tin của đồng bào đặc biệt trong giai đoạn từ gần hai chục năm trở lại đây
Nhìn chung, các công trình nước ngoài phần nhiều tập trung khảo cứu lịch sử, văn hóa, đời sống kinh tế, lối sống của tộc người Mông Gần đây, các học giả nước ngoài bắt đầu quan tâm nhiều tới sự truyền bá của đạo Tin Lành, nhưng mới dừng lại ở một số bài viết, ngoại trừ công trình của Ngô Tâm có thể coi là chuyên khảo đầu tiên của các học giả nước ngoài về cộng đồng Mông Tin Lành ở Việt Nam
Trang 16Vấn đề tôn giáo mới hay hiện tượng tôn giáo mới hiện tại có xu hướng gia tăng Ngay cả Công giáo, một tôn giáo có tổ chức giáo hội chặt chẽ, nhưng cũng xuất hiện một ông linh mục, chán tôn giáo của mình, lập ra một tôn giáo mới lấy tên là đạo Y Gyin ở xã Hà Mòn, huyện Dak Hà, Kon Tum Các chức sắc trong giáo hội Công giáo Việt Nam đang tìm cách dẹp cái hiện tượng tôn giáo mới này, nhưng tới nay chưa dẹp được Còn Phật giáo, đạo Tin Lành, vv… thì có tới vài chục tôn giáo mới khác nhau với nhiều biến thể, có hiện tượng tôn giáo mới thu phục hàng chục ngàn tín đồ, gây nhiều hệ lụy về văn hóa xã hội, trong đó bên cạnh những hiện tượng tôn giáo mới có nguồn gốc nước ngoài như Thanh Hải Vô Thượng Sư, Chứng nhân Giêhôva, Mormon, vv… còn không ít các hiện tượng tôn giáo mới có nguồn gốc nội sinh như Long Hoa
Di Lặc, Ngọc Phật Hồ Chí Minh, vv
Tuy nhiên, về các hiện tượng tôn giáo mới ở vùng núi phía Bắc cho tới nay chưa
có các công trình nghiên cứu chuyên khảo của các học giả nước ngoài, ngoại trừ một
số bài viết mang tính phóng sự
5.2 Tình hình nghiên cứu ở trong nước
Nghiên cứu người Mông đã được tiến hành ngay từ thời kỳ chiến tranh với những công trình minh họa, bài viết về lịch sử, phong tục tập quán, vài nét văn hóa,
trang phục, những di sản văn hóa vật thể và phi vật thể Trong đó, công trình Các tộc
người ở Tây Bắc Việt Nam do Bùi Văn Tịnh, Cẩm Trọng và Nguyễn Hữu Ưng (Hà
Nội, 1975) giới thiệu những dân tộc ít người ở Tây Bắc, truyền thống đấu tranh cách mạng của họ, những đóng góp của đồng bào dân tộc thiểu số trong hai cuộc kháng chiến Cuộc xưng vua của Vừ A Chay nhằm quy tụ đồng bào Mông cũng được điểm qua bên cạnh nhiều cuộc chính biến chống Pháp khác (tr.144-147)
Người Mông là một tộc người có nguồn gốc từ Nam Trung Quốc Có ý kiến nói nguồn gốc xa xưa của tộc người này ở Siberi, sau đó di cư tới Nam Trung Quốc, rồi do xung đột với người Hán, nên di cư xuống Đông Nam Á Nhìn chung, cho đến nay, hầu hết các nhà nghiên cứu về người Mông/Miao) trên thế giới đều khẳng định, dân tộc này đã từng là một trong những chủ nhân ở vùng lưu vực sông Hoàng Hà cách đây
3000 năm, với nền văn hóa lúa nước phát triển cao Họ đã từng có nhà nước Tam Miêu, có chữ viết và có nền văn hóa phát triển rực rỡ Dựa trên những kết quả khảo sát ngôn ngữ, có tác giả cho rằng người Mông là cư dân của nước Sở ở phía nam Trung
Quốc (Nguyễn Văn Lợi, Lịch sử tộc người các dân tộc Mèo - Dao qua cứ liệu ngôn
ngữ, T/c Ngôn ngữ, Hà Nội, số 4, 1993, tr.32) Đây cũng là một cách tiếp cận quan
trọng để hiểu lịch sử và văn hóa của dân tộc này Tiếp đó, công trình Dân tộc Mông ở
Việt Nam của Cư Hòa Vần và Hoàng Nam (Nxb Văn hóa Dân tộc, Hà Nội, 1994)
phác họa chân dung lịch sử, đời sống kinh tế, sinh hoạt tinh thần và quan hệ xã hội của người Mông nhằm giới thiệu cộng đồng người Mông trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam
Trang 17Những nghiên cứu về người Mông được thúc đẩy trong hai thập niên gần đây Nói tới nghiên cứu người Mông ở Việt Nam, đặc biệt là ở vùng Lào Cai và Tây Bắc
không thể không nhắc tới công trình Văn hóa Mông của Trần Hữu Sơn (NXB Văn
hóa Dân tộc, Hà Nội, 1996) Đây là một công trình tổng quan và chuyên khảo về mọi lĩnh vực đời sống văn hóa của người Mông với những kinh nghiệm nghiên cứu thực địa phong phú của tác giả ở Lào Cai, một người có bề dày kinh nghiệm điền dã Công trình khai thác một số tài liệu lưu trữ của thời kỳ thuộc địa và của tỉnh Lào Cai Với cách trình bày mạch lạc, ngôn ngữ trung tính, những nhận định của công trình này dựa trên nhiều số liệu, bảng biểu thể hiện những kết quả nghiên cứu định lượng và định tính, không chỉ thích hợp với cộng đồng người Mông ở Lào Cai nói riêng mà là cơ sở
để chúng ta đi sâu phân tích đời sống văn hóa người Mông nói chung Trần Hữu Sơn khẳng định sự chế ước của các điều kiện kinh tế, lối canh tác đối với văn hóa của dân tộc này
Bảng 1 So sánh tương đồng giữa lối canh tác và văn hóa của người Mông
Kinh tế nông nghiệp cổ truyền Văn hóa cổ truyền
1 Kinh tế tự cung tự cấp
- Tự sản xuất
-Tự chế biến
-Tự tiêu thụ (người nông dân vừa là người
sản xuất, vừa là người phân phối, tiêu thụ
sản phẩm)
2 Nông nghiệp sản xuất theo mùa vụ
1 Văn hóa tự sáng tác -Tự sáng tác
-Tự trình diễn -Tự hưởng thụ (nghệ nhân vừa là nhà sáng tạo, vừa là diễn viên, vừa là khán giả)
2 Văn hóa hoạt động theo mùa vụ (vào thời điểm nông nhàn, có mùa lễ hội)
Nguồn: Trần Hữu Sơn, Văn hóa Mông, NXB Văn hóa Dân tộc, Hà Nội, 1996, tr.166
Đây là một nhận định dựa trên phương pháp luận mác xít để chúng ta nghiên cứu văn hóa của người Mông “Chữ viết là công cụ giao tiếp hoàn toàn phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, xã hội (…) Nguyện vọng của người Mông là mong muốn có chữ Nguyện vọng này bắt nguồn từ các truyền thuyết trong văn hóa Mông (…) Nhưng khát vọng này mang nặng ý nghĩa chính trị, đòi quyền bình đẳng … Còn trong thực tế,
do điều kiện kinh tế, xã hội chậm phát triển, nhu cầu dùng chữ chưa trở thành nhu cầu cấp bách (…) Trong kinh tế nương rẫy lao động cơ bắp là chủ yếu, kỹ thuật sản xuất dựa theo kinh nghiệm được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Do đó đồng bào càng ít có nhu cầu dùng chữ” (tr.197) Tuy nhiên, sự tác động ngược lại của văn hóa, các lễ nghi tín ngưỡng tôn giáo đối với sản xuất kinh tế của người Mông như thế nào, những hoạt động văn hóa có tác động ra sao tới phương thức canh tác của dân tộc này cũng là điều chúng ta cần quan tâm và hiện còn bỏ ngỏ Những số liệu trong công trình chủ yếu tập trung ở cộng đồng người Mông ở Lào Cai, cần có sự bổ sung thêm từ cộng
Trang 18đồng người Mông ở các địa bàn khác, thậm chí ở một vài nước trong khu vực khác, thì chúng ta mới có được bức tranh tổng thể về cộng đồng người này
Tiếp đó, công trình của Vương Duy Quang là tiếng nói của người trong cuộc Bản thân là người Mông, tác giả là người có nhiều trải nghiệm đời sống văn hóa và tôn giáo
của dân tộc mình Trong bài viết Hiện tượng “xưng vua” ở cộng đồng Mông (T/c Dân
tộc học, số 2, 2003), Vương Duy Quang cho rằng các cuộc xưng vua thường có hai điểm chung: “1 Trong các cuộc xưng vua ấy, người đứng ra xưng vua không bao giờ nhận mình là vua Họ luôn tự đặt mình ở vị trí vừa thấp hơn song lại vừa hết sức gần gũi với vua Mông (…) vua trong các cuộc xưng vua luôn là người không có thật, được thần thánh hóa thành người tài giỏi, có nhiều phép màu, quyền lực huyền bí khiến người Mông tin tưởng đi theo và ủng hộ (…) 2/ Tiến trình của các cuộc xưng vua thường không kéo dài, nhưng luôn được thiêng hóa, khiến cho những người tham gia chìm ngập
trong bầu không khí phấn khích, hư hư - thực thực” (Vương Duy Quang, Hiện tượng
“xưng vua” ở cộng đồng Mông (T/c Dân tộc học, số 2, 2003, tr.30) Đặc biệt, trong
công trình chuyên khảo Văn hóa tâm linh của người Mông ở Việt Nam truyền thống và
hiện đại (2005), Vương Duy Quang nhận xét: “Ở những hoàn cảnh và thời điểm khác
nhau, không phải dưới bất cứ mái nhà nào người Mông cũng thờ cúng đầy đủ các vị thần Song, điều bắt buộc duy nhất trong suốt quá trình tồn tại của mỗi gia đình là phải
có nơi thờ cúng tổ tiên, thần nhà và thần cửa Theo luật tục từ xa xưa của người Mông, nếu gia đình nào chưa có đủ ba nơi thờ này, họ không được coi là một gia đình đúng với quan niệm của đồng bào và đương nhiên họ sẽ không có quyền lợi và không được tham gia bất cứ công việc nào của cộng đồng” (tr.105) Đây là một nhận định quan trọng giúp chúng ta nắm được cái gì là cốt yếu trong tín ngưỡng của người Mông Đáng chú ý, công trình này tham khảo một số kết quả nghiên cứu nước ngoài về cộng đồng Mông ở Thái Lan và Lào trước 1975 để đối chiếu với Việt Nam, giúp chúng ta có cách nhìn tổng thể về người Mông ở Đông Nam Á Công trình của Vương Duy Quang cũng chỉ ra rằng nếu trong thời kỳ thuộc địa, những người Mông ở Việt Nam, Thái Lan và Trung Hoa theo Kitô giáo chủ yếu là theo Công giáo, trong khi ở Lào lại chủ yếu là các chi phái Tin Lành Có điều, ngoại trừ ở Việt Nam và Trung Hoa, đa phần những người Mông theo Kitô giáo ở Lào và Thái Lan đã di cư sang Mỹ và các nước phương Tây sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc
Tiếp đến, công trình Giữ “lý truyền thống” hay theo “lý mới” Bản chất của
những cách phản ứng khác nhau của người Mông ở Việt Nam với ảnh hưởng của đạo Tin Lành (Nxb KHXH, Hà Nội, 2009) do Nguyễn Văn Thắng (cb), với tiêu đề bàn
trực diện về sự truyền bá của đạo Tin Lành trong cộng đồng người Mông ở các tỉnh Tây Bắc với những kết quả nghiên cứu điền dã tập trung vào những điểm dân cư đa số theo đạo Tin Lành của nhóm nghiên cứu Viện Dân tộc học Tuy với quy mô còn khá
Trang 19khiêm tốn, có lẽ trong khuôn khổ một đề tài nghiên cứu cấp bộ, nhưng với nhiều tranh minh họa và một số bảng biểu, công trình phác họa “sự giằng co” về mặt tôn giáo xung quanh vấn đề bảo vệ tín ngưỡng truyền thống với những tập tục văn hóa lâu đời của tổ tiên hay theo đạo Tin Lành trong cộng đồng người Mông ở Việt Nam, trong đó
có các tỉnh Tây Bắc hiện nay Vai trò của tín ngưỡng truyền thống đối với xã hội và văn hóa Mông, theo Nguyễn Văn Thắng, thể hiện ở 2 điểm: 1/ Đó là một phần văn hóa
và bản sắc của người Mông, phản ánh thế giới quan tôn giáo, hệ thống nghi lễ tôn giáo; và 2/ Là phương tiện tái sản xuất, duy trì và củng cố mối quan hệ cố kết dòng họ
và cố kết tộc người này Các thế hệ người đang sống phụ thuộc vào các ma, trong đó
có ma tổ tiên, được phù hộ hoặc trừng phạt bởi các ma (tr.78-79)
Với một vài số liệu và bảng biểu minh họa, công trình nhận định các nguyên nhân dẫn tới một bộ phận người Mông theo đạo Tin Lành gần đây gồm: 1/ Do không biết cúng ma nhà; 2/ Do muốn có sự thống nhất nghi lễ; 3/ Để tránh phải thực hiện các nghi lễ phức tạp và tốn kém; 4/ Do các hộ di cư tự do thiếu sự giúp đỡ của anh
em họ hàng để tổ chức các nghi lễ truyền thống; 5/ Do sự thay đổi kinh tế-xã hội làm mất đi cơ sở tồn tại của một số tín ngưỡng truyền thống; và 6/ Do sự lôi cuốn và lôi kéo của đạo Tin Lành (tr.110-136) Trong bối cảnh nhận thức của các nhà nghiên cứu về đạo Tin Lành trước Chỉ thị 01, công trình khá “hào phóng” trong việc phân tích những ảnh hưởng tiêu cực của việc truyền bá tôn giáo này (tr.146-164), nhưng lại dành thời lượng khiêm tốn khi nói tới những tác động tích cực của nó nơi đồng bào Mông (tr.164-166)
Cũng như công trình trên, công trình như của Thào Xuân Sùng (cb), Dân tộc
Mông Sơn La với việc giải quyết vấn đề tín ngưỡng tôn giáo hiện nay (2009) phản
ánh sự e ngại của các cấp chính quyền đối với sự phát triển của Công giáo và đạo Tin Lành Công trình cho rằng sự truyền bá các tôn giáo này chẳng qua cũng chỉ là “đền
bù hư ảo” những khó khăn mà đồng bào các dân tộc thiểu số phải đối diện hàng ngày Thừa nhận sự suy giảm lòng tin của quần chúng vào sự lãnh đạo của Đảng cộng sản như một tác nhân dẫn tới sự phát triển nhanh của đạo Tin Lành, nhóm tác giả của công trình cho rằng một trong những biện pháp khắc phục sự phát triển của các tôn giáo này là phải tích cực tuyên truyền chủ nghĩa Mác-Lênin, đường lối chính sách của Đảng cộng sản cho đồng bào để họ an tâm với nhà nước, không theo các tôn giáo trên (tr.81-98, tr.174-209)
Ngoài ra phải kể tới một số bài viết của mình nhìn nhận sự phát triển của đạo Tin Lành nơi đồng bào các dân tộc thiểu số Tây Bắc “là hiện tượng tiêu biểu cho những động thái, những biến chuyển tâm thức tôn giáo cũng như những biến động kinh tế-xã hội ở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam hiện nay (…) Trong việc cải đạo của người Mông theo đạo Kitô ở miền Bắc Việt Nam luôn có sự gắn bó với những sự kiện xảy ra
Trang 20đồng thời Miao (Quảng Tây, Trung Quốc).”1 Là một trong những cộng đồng dân tộc thiểu số vắt ngang biên giới Việt - Trung, Việt -Lào, Trung - Lào, sự truyền bá đạo Tin Lành nơi đồng bào Mông ở Việt Nam không tách dời với sự truyền bá đạo Tin Lành ở các cộng đồng này ở Trung Quốc và các nước trong khu vực Từ 1998, chính quyền địa phương ở Việt Nam cũng đã phát hiện 27 người Trung Quốc ở Vân Nam nhập cảnh trái phép vào Lai Châu, Lào Cai và Hà Giang với mục đích truyền đạo không chỉ trong cộng đồng người Mông mà cả người Dao và một số tộc người khác Một số người Mông ở Việt Nam cũng chủ động sang Trung Quốc tụ họp, học giáo lý, nhận tài liệu truyền đạo, rồi trở lại Việt Nam hoạt động.2 Bên cạnh đó, phải kể tới các đề tài nghiên cứu ở các quy mô khác nhau của Viện Dân tộc học và Viện Nghiên cứu Tôn giáo, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam những năm gần đây liên quan tới sự truyền bá của đạo Tin Lành trong các cộng đồng dân tộc Mông và một số dân tộc thiểu
số khác ở Tây Bắc cho thấy sự quan tâm của giới nghiên cứu đối với vấn đề Đó là chưa kể tới hàng loạt các đề tài nghiên cứu của hai cơ quan nghiên cứu trên về dân tộc học và văn hóa, tín ngưỡng các dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc gián tiếp liên quan tới
đề tài Kết quả của các nghiên cứu đó sẽ được nhóm nghiên cứu đề tài này tiếp thu trong quá trình thực hiện đề tài
Về nghiên cứu các hiện tượng tôn giáo mới ở Việt Nam thì cho tới nay cũng bắt đầu được giới nghiên cứu lưu tâm, trong đó phải kể tới những bài viết của Đỗ Quang Hưng Chúng tôi chia sẻ với nhận định của Đỗ Quang Hưng cho rằng “Phong trào tôn giáo mới của Việt Nam mới chập chững những bước đi ban đầu thôi Xã hội Việt Nam
là xã hội đặc biệt, cái môi trường để tạo ra tôn giáo mới hoàn toàn Việt Nam có Nhưng điều kiện cho nó sống thì không dễ dàng Cho nên ai muốn lập tôn giáo mới thì phải trả giá lớn, trải nghiệm rất khó.”3 Nhận định này mang tính phương pháp luận, gợi ý cho hướng nghiên cứu cần đi sâu vào những vấn đề của văn hóa Việt Nam, dễ chấp nhận cho sự du nhập cái yếu tố ngoại sinh, nhưng không phải cái ngoại sinh nào cũng có thể bám rễ trong xã hội này
Tiếp đó, Nguyễn Hồng Dương đã có một số bài viết trực tiếp hay gián tiếp về các
tôn giáo mới đăng trên tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo Mới đây nhất, Nguyễn Hồng
Dương tập trung phân tích về đạo Y Gyin và tín ngưỡng Dương Văn Mình và những
hệ lụy xã hội của chúng Đạo Y Gyin là tên một giáo phái phát sinh năm 1999, tại xã
Hà Mòn huyện Đắk Hà thuộc Kon Tum Các tín đồ theo đạo này tin vào sự hiện hình
điện tử Văn hóa – Thể thao và Du lịch Lào Cai, ngày 18/3/2013)
điện tử Văn hóa – Thể thao và Du lịch Lào Cai, ngày 18/3/2013
khoa học quốc tế “Chủ nghĩa hậu hiện đại và phong trào tôn giáo mới ở Việt Nam và thế giới, Trường ĐH KHXH & NV, ĐHQG TP HCM tổ chức, TP Hồ Chí Minh, 2013, tr 86
Trang 21của Đức Mẹ tại nhà bà Y Gyin ở Hà Mòn Sinh hoạt tôn giáo của những người theo đạo này giống như Công giáo, nhưng khác ở chỗ vào những ngày 10, 20, 30 hàng tháng và chủ nhật hàng tuần, họ dâng hoa cho Đức Mẹ Những ai không được các cha làm phép rửa tội, thì họ thông qua hình thức dâng hoa để mong Đức Mẹ xóa hết tội lỗi Phản kháng lại việc Tòa Giám mục Kon Tum không thừa nhận giáo phái này, những người cầm đầu đạo Y Gyin ở Hà Mòn khuyên dụ tín đồ không nghe các linh mục giảng vì theo họ, các linh mục không thành kính Đức Mẹ “Về kinh sách cả hai hiện tượng tôn giáo mới đều dựa vào kinh sách, tín lý và thực tiễn cầu nguyện theo Kitô giáo Đạo Hà Mòn [đạo Y Gyin ở Hà Mòn-NQH] dựa vào Công giáo, tín ngưỡng Dương Văn Mình dựa vào Tin Lành Tuy nhiên, phần lớn có sự canh cải, lộn xộn Đồng thời những “giáo chủ” đều có biên soạn thêm những “giáo lý” cho phù hợp với khả năng nhận thức của “tín đồ” là người dân tộc thiểu số, đưa một số nét văn hóa tâm linh của người dân tộc thiểu số vào giáo lý”.4
Đương nhiên, việc điểm qua các công trình nghiên cứu trên đây (dĩ nhiên chưa thể đầy đủ) một số công trình tiêu biểu trong nước cũng như nước ngoài về cộng đồng người Mông nói chung, về sự phát triển của đạo Tin Lành nơi cộng đồng này nói riêng cho chúng ta một bức tranh đại thể về thực trạng cộng đồng người Mông hiện nay cũng như những vấn đề mà cộng đồng này đang phải đối diện Nhìn chung, cả ở Việt Nam và nước ngoài, việc nghiên cứu đồng bào Mông nói chung, sự truyền bá của đạo Tin Lành nơi đồng bào Mông ở Việt Nam trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam và những năm đầu sau thống nhất đất nước chưa được chú ý nhiều Việc nghiên cứu này chủ yếu được tăng cường trong hai thập niên qua xuất phát từ tính cấp thiết do những vấn đề đặt ra từ sự truyền bá đạo Tin Lành trong cộng đồng này Tuy rằng, cho tới nay phần nhiều đó dừng lại là một số chương sách, những bài viết đăng tạp chí, các luận
án, đề tài nghiên cứu cấp Bộ, còn quá khiêm tốn các công trình chuyên khảo, nhưng có thể coi đó như những nét chấm phá khởi đầu về chủ đề này ở các tỉnh miền núi phía Bắc nói riêng, cả ở Việt Nam nói chung Công trình này trân trọng tiếp thu những thành quả của các nghiên cứu đi trước
Không dừng lại ở những gì các nghiên cứu đi trước đã gợi mở, chúng ta phải tiếp tục tiến lên phía trước Có thể thấy, điểm chung của hầu hết các công trình nghiên cứu
về người Mông nói chung, về cộng đồng Mông theo đạo Tin Lành ở Việt Nam nói
riêng: thứ nhất, ít có điều kiện tham khảo các công trình nghiên cứu nước ngoài, nhất
là những công trình nghiên cứu mới đây kể cả của Trung Quốc một cách hệ thống Nghiên cứu cộng đồng người Mông chủ yếu vẫn mang tính khép kín, tập trung ở Việt Nam trong khi cộng đồng người Mông lại sinh sống vắt qua biên giới nhiều quốc gia
đàm khoa học quốc tế “Chủ nghĩa hậu hiện đại và phong trào tôn giáo mới ở Việt Nam và thế giới, Trường ĐH KHXH & NV, ĐHQG TP HCM tổ chức, TP Hồ Chí Minh, 2013, tr 271
Trang 22trong khu vực, cần những nghiên cứu khu vực một cách hệ thống với nhiều cách tiếp
cận và phương pháp nghiên cứu khác nhau Thứ hai, trong việc đánh giá sự truyền bá
đạo Tin Lành trong cộng đồng Mông có những cách lý giải khác nhau về nguyên nhân
sự bùng phát của đạo Tin Lành nơi đây, nghiêng về các nguyên nhân kinh tế-xã hội Các “toa thuốc giải pháp” được đề xuất nhằm ổn định đồng bào Mông nghiêng về việc phát triển kinh tế Không ít các giải pháp, kiến nghị giàn trải, mang tính hình thức khi
nhấn mạnh công tác tuyên truyền, giác ngộ của các cơ quan đoàn thể Thứ ba, tuy chưa
thống nhất trong cách đánh giá khác nhau hệ lụy chính trị-xã hội và văn hóa-xã hội, nhưng phần đông các nhà nghiên cứu, nhất là các cơ quan chức năng ở Việt Nam, thiên về đánh giá tiêu cực hơn là tích cực, có ý tìm các biện pháp hạn chế sự phát triển của đạo Tin Lành nơi cộng đồng này
6 Đóng góp của nghiên cứu đề tài
6.1 Nhìn từ góc độ thực tiễn
Bản thân các phong tục tập quán, tín ngưỡng, các sinh hoạt văn hóa vật chất và tinh thần cũng như tổ chức dòng họ, cộng đồng xã hội, tâm thức của đồng bào dân tộc Mông là một thực tế hoàn toàn khách quan Chúng ta hoàn toàn có thể chia sẻ với những thăng trầm trong lịch sử của cộng đồng đồng bào Mông, những sự hẫng hụt trong tâm thức của cộng đồng này, những thiệt thòi, mất mát trong lịch sử và cả hiện tại họ vẫn đang phải gánh chịu Chúng ta hoàn toàn có thể cảm thông khi thấy đại bộ phận đồng bào Mông thuộc diện một trong những dân tộc có đời sống khó khăn nhất, sinh sống ở những vùng thiệt thòi nhất về điều kiện địa lý truyền thốngng như thấp kém về cơ sở hạ tầng Tương tự, đạo Tin Lành là một chi phái của Kitô giáo có mấy trăm năm lịch sử và nay với hơn 600 triệu tín đồ hiện diện ở hàng trăm quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới Trong giáo lý của đạo Tin Lành cũng chứa đựng nhiều tinh thần nhân văn, nhân bản và hướng thiện xuất phát từ trong các tư tưởng của Phúc Âm
Tự bản thân cộng đồng người Mông cũng như đạo Tin Lành đều không phải là những nguyên nhân gây ra bất ổn Xét một cách cụ thể hơn, ngay cả việc cải đạo của một bộ phận người Mông sang các chi phái của đạo Tin Lành cũng là một chuyện bình thường trong đời sống tôn giáo ở Việt Nam và thế giới vốn đang chịu nhiều tác động to lớn trong xã hội hiện đại Việc cải đạo của một cộng đồng nào đó đương nhiên dẫn tới những xáo trộn nhất định trong cộng đồng đó, nhưng nếu xuất phát từ những tất yếu khách quan do thay đổi trong nhu cầu đời sống tín ngưỡng và văn hóa tinh thần của một cộng đồng đó thì không có gì có thể ngăn cản được Quyền tự do tôn giáo nay đã trở thành một giá trị phổ quát chung của nhân loại, được đông đảo cộng đồng quốc tế công nhận, đã được hiến định trong luật pháp nhiều nước, trong đó có Việt Nam Nói như vậy để ta thấy một thực tế rằng tự bản thân cộng đồng người Mông và một số dân tộc thiểu số theo đạo Tin Lành không phải là căn nguyên dẫn tới những bất
Trang 23ổn xã hội và văn hóa vùng Tây Bắc nói riêng, những nơi có đồng bào Mông theo đạo Tin Lành nói chung Tuy nhiên, do những đặc tính tổ chức cộng đồng và văn hóa, tôn giáo của dân tộc này dễ bị những thế lực trong và ngoài khu vực lợi dụng cho những mục đích chính trị Lịch sử cho thấy, trong thời kỳ thuộc địa và trong chiến tranh Việt Nam đã có một bộ phận người Mông ở Việt Nam và Lào bị lợi dụng tham gia vào các đội quân chống lại những người cộng sản Việt Nam và Pa thét Lào để lại nhiều hệ lụy cho các quốc gia này trong suốt thời kỳ thuộc địa và hậu thuộc địa Trong khi hố sâu ngăn cách giữa các nhóm trong cộng đồng này chưa kịp hàn gắn thì hiện tại, sự truyền
bá đạo Tin Lành lại tiếp tục khơi sâu vết thương trong cộng đồng người Mông khi khoét sâu hố ngăn cách giữa người Mông Tin Lành và người Mông truyền thống Tuy nhiên, giữ ổn định chính trị-xã hội tự nó không thể là mục tiêu cuối cùng của một quốc gia hay khu vực, mà chỉ là phương tiện để quốc gia, khu vực đó phát triển, phồn thịnh Hồ Chí Minh cùng từng nói có độc lập dân tộc mà không có tự do thì nền độc lập ấy cũng không có ý nghĩa Ham muốn tột bậc và cũng là duy nhất của Hồ Chí Minh không phải là độc lập dân tộc mà là “đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc,
ai cũng được học hành” Cái vòng luẩn quẩn: bất ổn dẫn tới đói nghèo và ngược lại, đói nghèo sinh ra bất ổn Chính sự đói nghèo của người Mông dẫn họ tới chỗ mặc cảm
về thân phận của cộng đồng mình Cần phải cho họ thấy một tương lai, viễn cảnh thoát khỏi thân phận trói buộc họ hàng thế kỷ đó Có điều, không thể cám dỗ đồng bào qua việc gieo rắc những huyền thoại như ta vẫn thấy trong những sự vụ xưng vua cho tới giờ, mà chỉ có sự phồn thịnh thực sự trong cuộc sống hiện thực, chỉ có việc nâng cao dân trí, nâng cao chất lượng cuộc sống, nâng cao đời sống văn hóa, tín ngưỡng của đồng bào, tạo sân chơi bình đẳng cho tất cả các dân tộc, mới giúp cộng đồng này thực
sự hòa đồng với đại gia đình các dân tộc Việt Nam Do vậy, hai vấn đề ổn định cộng đồng người Mông theo đạo Tin Lành với phát triển bền vững vùng Tây Bắc có tác động qua lại với nhau, cái này là tiền đề cho cái kia Ổn định cộng đồng người Mông
là một trong những điều kiện không thể thiếu để phát triển bền vững Tây Bắc Ngược lại, chỉ có cải thiện đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số mới giải quyết được tận gốc những nguy cơ gây bất ổn từ phía các cộng đồng người này
Để phát triển bền vững, vùng Tây Bắc có rất nhiều thế mạnh, chẳng hạn, còn rất nhiều tiềm năng về du lịch mà tới nay chưa có điều kiện khai thác nhiều Trong con mắt người nước ngoài, du lịch Tây Bắc với những địa danh nổi tiếng Mộc Châu, Sapa, Phanxipăng, Điện Biên Phủ, Cao nguyên đá Đồng Văn, Thác Bản Giốc, vv… thật hấp dẫn, rồi những di tích lịch sử gắn với thời kỳ đấu tranh giành độc lập dân tộc ở Cao Bằng, Thái Nguyên, Tuyên Quang Tuy nhiên, dường như không phải các công ty du lịch ở Việt Nam mà chính du khách nước ngoài đang đi tiên phong trong việc quảng bá vùng đất này với thế giới bên ngoài Tim Doling, nhà quản lý các nhà hát và trung tâm
Trang 24nghệ thuật của Anh, trong cuốn Mountains and Ethnic Minorities North West Vietnam
Welcome to Our Homeland (1999) đã kể chi tiết về hành trình của ông đầy ấn tượng
khắp các vùng Tây Bắc và bản thân ông tham gia vào nhiều dự án phát triển du lịch của khu vực này Rõ ràng, du lịch là một trong những tiềm năng lớn mà vùng Tây Bắc cần khai thác Bên cạnh đó, các nhà nghiên cứu và một số nhà quản lý truyền thốngng đang cảnh báo những bất cập hiện tại trong lĩnh vực này đe dọa phát triển bền vững của khu vực Điều đáng báo động là chính lịch sử và văn hóa, tín ngưỡng của đồng bào các dân tộc Tây Bắc tạo ra sự hấp dẫn cho du lịch nơi đây, nhưng bản thân đồng bào các dân tộc
ít người chưa được thừa hưởng nhiều cái lợi, thậm chí bị đứng ngoài lề (như trường hợp người Mông ở Sapa) từ loại hình công nghiệp không khói này.5 Rõ ràng đây là một lỗ hổng lớn trong cách quản lý của các cấp chính quyền tạo ra chênh lệch giàu nghèo và
bất công xã hội mà nếu không sớm khắc phục, tiềm ẩn sự bất ổn
6.2 Về phương diện lý luận và học thuật
Trong lịch sử, chúng ta chứng kiến khi một tôn giáo mới ra đời nó tạo ra một văn hóa riêng của nó, làm biến đổi cả những nền văn hóa sản sinh ra nó qua trường hợp Islam làm biến đổi toàn bộ đời sống văn hóa của cư dân từ bán đảo Ả rập tới Bắc Phi, rồi tới cả nhiều khu vực ở Đông Nam Á Ngược lại, những văn hóa bản địa này cũng làm biến đổi Islam, làm cho nó “mềm đi”, bớt cực đoan, khi tôn giáo này được truyền bá sang Đông Nam Á vốn có truyền thống văn hóa bản địa mạnh và tiếp thu có chọn lọc các tôn giáo, văn hóa ngoại lai Ở Đông Nam Á, Islam trở nên cởi mở hơn so với ở chính quốc bán đảo Ả rập Nhưng mặt khác, Islam cũng làm thay đổi văn hóa các dân tộc Đông Nam Á so với thời kỳ tiền Islam Islam vô hình chung tạo ra một lát cắt về văn hóa, làm cho Java cũng như Ai Cập trở thành một quốc gia với hai nền văn hóa hoàn toàn khác biệt nhau giữa giai đoạn tiền Islam và Islam hiện nay
Điều tương tự ta đang chứng kiến trong trường hợp đạo Tin Lành truyền bá vào cộng đồng Mông, làm biến đổi văn hóa của những tộc người này, khiến cho những người Mông truyền thống lo ngại mất đi bản sắc của văn hóa họ khi thấy những đồng bào mình từ khi theo đạo Tin Lành từ bỏ nhiều giá trị văn hóa truyền thống Do vậy,
dễ hiểu cộng đồng Mông truyền thống nhìn nhận đạo Tin Lành chả khác gì một kẻ thù đang “gặm nhấm” văn hóa tộc người của họ Rõ ràng, sự e ngại của cộng đồng Mông truyền thống là hoàn toàn có cơ sở Đây là cuộc chơi không bình đẳng, trong đó, đạo Tin Lành là tôn giáo của kẻ mạnh Chỉ có thể giải quyết tận gốc rễ của vấn đề khi chúng ta đảm bảo lợi ích và khát vọng của tất cả các bên liên quan đối với cả các tổ chức giáo hội đạo Tin Lành và cộng đồng dân tộc Mông Nói cách khác, đạo Tin Lành cũng phải tự điều chỉnh, Mông hóa, phải tự làm giàu thêm bởi những yếu tố văn hóa bản địa của tộc người này
Trang 25
Tóm lại, nghiên cứu đánh giá xu hướng tín ngưỡng của cộng đồng dân tộc Mông theo đạo Tin Lành và một số hiện tượng tôn giáo mới vùng Tây Bắc có ý nghĩa
vô cùng quan trọng, nhằm ổn định cộng đồng Mông theo đạo Tin Lành, khai thác các giá trị văn hóa và tôn giáo tốt đẹp của các dân tộc Mông truyền thống cũng như cộng đồng Mông theo đạo Tin Lành, hướng họ sống tốt đời đẹp đạo, chấp hành pháp luật của nhà nước, xử lý có hệ thống các điểm nóng, ngăn chặn mọi âm mưu kích động nơi cộng đồng này Tiếp đến, nghiên cứu đề tài trong một tương lai dài, hướng tới ổn định cộng đồng dân tộc Mông nói chung, phục vụ phát triển bền vững vùng Tây Bắc, giữ vững chủ quyền biên giới quốc gia
7 Kết cấu của Báo cáo tổng hợp
Báo cáo tổng hợp gồm 5 chương, trong đó chương I tập trung làm rõ các lý thuyết khoa học được sử dụng trong quá trình nghiên cứu đề tài Chương II và III làm
rõ thực trạng của đồng bào Mông Tin Lành hiện nay, những biến đổi văn hóa và quan
hệ cộng đồng này do đạo Tin Lành mang lại làm cho cộng đồng Mông Tin Lành khác biệt với cộng đồng Mông truyền thống Chương IV khảo sát tôn giáo mới trong cộng đồng Mông tập trung vào nhóm người Mông theo Dương Văn Mình Chương V đề xuất một số các giải pháp
Trang 26CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU VÀ CÁCH TIẾP CẬN
1.1 Khái niệm tôn giáo Tranh luận giữa Ch Dawson, P Tillich và
E Durkheim
Từ lâu khái niệm tôn giáo đã gây ra không ít tranh luận ngay trong giới nghiên
cứu nước ngoài Trước hết, có một số đặc thù của các tôn giáo Á đông khác với các tôn
giáo độc thần được du nhập từ phương Tây có giáo chủ và thiết chế tổ chức giáo hội xác
định quy tụ các tín đồ Mặt khác, do nhu cầu công tác quản lý nhà nước về tôn giáo nên
Ban tôn giáo chính phủ Việt Nam cũng như các cấp có thẩm quyền vẫn thường nghiêng
về quan điểm phân biệt tôn giáo và tín ngưỡng theo cách nhìn tôn giáo thường gắn với
tổ chức giáo hội Quan điểm này từng được khởi thảo từ Émile Durkheim (1858-1917),
người coi trọng những phương pháp nghiên cứu xã hội học tôn giáo định lượng, trái
ngược với những phương pháp nghiên cứu định tính của Max Weber (1864-1920)
Trong đó phải kể tới công trình của E Durkheim, Những hình thức cơ bản của đời sống
tôn giáo (nguyên văn tiếng Pháp Les forms élemantaires de la vie religieuse, Paris,
1912) Ở đây, dựa trên những nghiên cứu thực địa về tôn giáo của thổ dân châu Úc,
Durkheim bàn luận về cách thức định nghĩa tôn giáo và các hiện tượng tôn giáo Thông
thường, tôn giáo gắn với đặc tính siêu nhiên và thần bí Mục đích của cuốn sách này là
nghiên cứu cái tôn giáo sơ khai và đơn giản nhất mà ta biết cho tới giờ và tìm cách kiến
giải nó Chúng ta nói về một hệ thống tôn giáo rằng nó sơ khai và chúng ta có thể quan
sát được khi nó đáp ứng cả hai điều kiện sau đây: thứ nhất, nó có thể tìm thấy trong xã
hội mà tổ chức của nó không còn gì có thể đơn giản hơn; và có thể cả điều kiện thứ hai
nữa, nó thường được sinh ra từ một tôn giáo trước đó.6
Nhà xã hội học người Pháp quả quyết không nên so sánh thứ bậc theo kiểu cao
thấp giữa các tôn giáo nguyên thủy và tôn giáo hiện đại “Về cơ bản không có cái tôn
giáo nào là sai lầm cả Tất cả chúng đều đúng theo cách thức riêng của mình: tất cả các
tôn giáo đều tương thích khi chúng dựa trên những điều kiện nhất định thể hiện cái tồn
tại người bằng các cách thức khác nhau Hiển nhiên, không đến mức là không thể xếp
hạng chúng theo thứ bậc được (…) Khi chúng ta hướng tới những tôn giáo nguyên
thủy thì không nên có suy nghĩ ác ý hạ thấp các tôn giáo quy về một dạng chung bởi vì
các tôn giáo này không kém đáng kính trọng so với các tôn giáo khác Chúng đáp ứng
những nhu cầu giống nhau, chúng cũng đóng vai trò như nhau, chúng cũng phụ thuộc
vào những nền tảng giống nhau, chúng cũng có thể phục vụ tốt chả kém gì, chúng
cũng khải huyền bản chất của đời sống tôn giáo như nhau, cũng có thể giải quyết
Suhrkamp, 1994, tr 17
Trang 27những vấn đề mà chúng ta đặt ra”.7 Durkheim nhấn mạnh “Vì tất cả các tôn giáo đều
có thể so sánh được với nhau bởi vì tất cả chúng đều là các biến thể của cùng một dạng
cả thôi Có những thành tố căn bản không thể thiếu mang tính phổ quát chung cho tất
cả các tôn giáo (…) Dựa trên nền tảng của tất cả các hệ niềm tin tôn giáo và tất cả mọi
sự thờ cúng cần phải có một con số nhất định các quan niệm cơ bản và cách hành xử mang tính lễ nghi tuy vô cùng đa dạng về thể loại nhưng đều có một ý nghĩa khách quan chung và cùng thực hiện một chức năng chung”.8
Theo quan niệm của Durkheim, “tôn giáo là một dạng tư biện, suy tư về tất cả những gì mà khoa học và tư duy chính xác không thể đạt tới được, những gì mà con người ta không thể nhận thức được”.9 Tôn giáo thông thường gắn với tính linh thiêng, thần thánh Nhà xã hội học tôn giáo người Pháp còn nhìn nhận tổ chức giáo hội như một trong những nhân tố phân biệt tôn giáo với tín ngưỡng Tuy nhiên, Durkheim cũng thừa nhận không có định nghĩa nào bao quát được hết bản chất của tôn giáo Cũng có những tôn giáo không gắn với lực lượng siêu nhiên, linh thiêng như trường hợp Phật giáo Durkheim chia các hiện tượng tôn giáo thành 2 dạng: đức tin và nghi lễ Trên cơ
sở đó ông phân biệt sự khác nhau giữa đức tin và nghi lễ, trong khi đức tin là những quan điểm, niềm tin thì nghi lễ là hình thức thể hiện đức tin Durkheim còn phân biệt
sự khác nhau giữa linh hồn và ma quái, sự khác nhau giữa ma thuật và tôn giáo Đặc biêt, công trình dành nhiều thời lượng cho việc nghiên cứu các dạng tô tem giáo, vũ trụ quan của tô tem giáo “Một trong những đặc điểm chung của tất cả những gì được coi
là tôn giáo đó là cái siêu nhiên Người ta thường hiểu cái siêu nhiên là tất cả những gì vượt quá sự hiểu biết của con người chúng ta Cái siêu nhiên đó là thế giới của những
sự thần bí, những gì không nhận thức được và không thể hiểu biết được Như vậy, tôn giáo là sự suy niệm về tất cả những gì mà khoa học hay một tư duy chính xác nào đó không thể nắm bắt được (…) Max Mueller trong mọi trường hợp nhìn thấy trong tôn giáo một nỗ lực nắm bắt những gì không thể nắm bắt được, biểu thị cái không thể biểu thị được, nỗi hoài vọng về cái vô cùng tận”.10 Rõ ràng cái tình cảm về cái huyền bí đóng vai trò nhất định mà chúng ta không thể bỏ qua, nhất là trong Kitô giáo
Durkheim luôn gắn tôn giáo với giáo hội “Giáo hội là một hiệp hội mà những thành viên của nó có sự gắn kết nhất định bởi vì họ cùng hướng tới một thế giới thần linh và có cách thức chung trong quan hệ với thế giới thế tục và với cùng những hành
vi thực hành Vậy thì giờ đây ta thấy trong lịch sử không có tôn giáo nào mà lại không
có giáo hội cả Đôi khi giáo hội thu hẹp chỉ trong phạm vi một quốc gia, đôi khi thì giáo hội bao trùm cả một dân tộc như trường hợp đế chế Roma, Hy Lạp hay dân tộc
Trang 28
Do Thái, nhưng đôi khi chỉ là một bộ phận của một dân tộc mà thôi (…) Khi chúng ta quy giáo hội vào trong định nghĩa tôn giáo tuyệt nhiên không có nghĩa rằng người ta
có thể loại trừ các tôn giáo tư nhân vốn chỉ hướng tới các hành vi cá nhân ( ) Các tôn giáo cá nhân này vốn rất phổ biến trong lịch sử (…) nhưng những sự thờ cúng cá nhân này không tạo ra những hệ độc lập khác nhau mà chỉ là các khía cạnh của một tôn giáo vốn được tạo ra bởi một giáo hội mà thôi”.11
Tôn giáo không tách biệt với giáo hội Tôn giáo bao giờ cũng là một cộng đồng
mang tính tập thể, Durkheim quả quyết “Tôn giáo là một hệ thống gắn kết các sự cảm
hóa và thực hành hướng tới những cái linh thiêng, tức là những sự vật tương đối biệt lập và cấm kỵ liên hệ với những thuyết phục cảm hóa và thực hành tạo nên một cộng đồng gắn kết các thành viên tuân thủ cùng một chuẩn mực đạo đức mà người ta thường gọi là giáo hội Cái thành tố thứ hai trong định nghĩa của chúng ta không kém
quan trọng hơn thành tố thứ nhất; bởi vì khi người ta chỉ ra rằng ý tưởng một tôn giáo không tách biệt với giáo hội thì người ta có thể có ấn tượng rằng tôn giáo là một công việc mang tính tập thể”.12
Tuy nhiên, đó là quan niệm về một tôn giáo hoàn chỉnh thì cần phải có một cộng đồng tín đồ Khi nghiên cứu các bái vật linh giáo cũng như các hình thức tôn giáo nguyên thủy, Durkheim xếp chúng vào các dạng sơ đẳng của đời sống tôn giáo (elemental forms of religious life), có ý nhấn mạnh sự khác nhau giữa tôn giáo và tín ngưỡng chỉ mang tính tương đối, bởi cái tín ngưỡng là thành tố quan trọng nhất của một tôn giáo Trong mỗi tôn giáo đều có cái linh thiêng và cái phàm tục Mọi tôn giáo đều nghiêng về cái linh thiêng Durkheim cũng như nhiều nhà nghiên cứu phương Tây coi chủ nghĩa đề cao các giá trị vật chất, duy phàm tục như một thứ “tôn giáo bậc thấp” vậy, không phải là tôn giáo theo đúng nghĩa của từ này vốn bao giờ cũng chủ trương duy tinh thần, duy tâm “Sức mạnh của tôn giáo là sức mạnh của con người, sức mạnh của đạo đức và luân lý (…) Khi người ta nhìn nhận các tôn giáo dưới góc độ này thì người ta sẽ nhận ra ý nghĩa đích thực của chúng (…) Đôi khi người ta cũng nói tới các tôn giáo thấp kém khi nó mang tính phàm tục Cách diễn đạt này thực ra không chính xác lắm Tất cả mọi tôn giáo, cho dù là khó khăn nhất, theo nghĩa nhất định đều mang tính tâm linh bởi vì cái quyền lực mà nó mang tới trước hết là quyền lực tâm linh Nhiệm vụ chính của tôn giáo là tác động tới đời sống đạo đức.”13 Durkheim cũng chỉ ra mối quan hệ hữu cơ giữa tôn giáo, triết học và khoa học “Nếu như triết học và khoa học ra đời từ tôn giáo thì cũng bởi vì bản thân tôn giáo trước hết đã chứa đựng khoa học và triết học rồi”.14
Trang 29
Quan điểm trên của Durkheim về tôn giáo bao giờ cũng phải gắn với giáo hội gặp sự phản đối mạnh mẽ của Bronislaw Malinowski (1884-1942), người cũng có nhiều năm nghiên cứu tôn giáo của các thổ dân trên các hòn đảo ở nam Thái Bình Dương “Không thể chấp nhận các quan điểm của Durkheim và trường phái của ông Thứ nhất, trong các xã hội nguyên thủy thì tôn giáo xuất hiện phần lớn từ những nguồn lực cá nhân đơn thuần Thứ hai, xã hội là một tập hợp đám đông không phải bao giờ cũng đem lại đức tin tôn giáo hay ứng xử tinh thần tôn giáo trong khi đó cái sự xuất hiện tình cảm tập thể thường lại mang bản chất trần thế Thứ ba, truyền thống có chung những quy định và hành xử văn hóa nhất định nào đó, điều mà ta thấy rất mạnh
mẽ trong các xã hội nguyên thủy, thường bao gồm cả cái linh thiêng và cái phàm tục Cuối cùng, cái cá nhân hóa xã hội, quan niệm về một “linh hồn tập thể” thực ra không
có cơ sở và mâu thuẫn với các phương pháp xã hội học có giá trị hiện hành”.15
Quan điểm của Malinowski nhận được sự ủng hộ của Ch Dawson (1889-1970), người đã đề cập tới những nét đại thể mang tính phổ quát của các tôn giáo “Tất cả các tôn giáo trong lịch sử, từ những tôn giáo thấp bé nhất cho tới những tôn giáo cao siêu, đều thống nhất ở hai điểm cơ bản sau đây: thứ nhất, đó là niềm tin vào sự tồn tại của thần linh hay các lực lượng siêu nhiên mà bản chất của các lực lượng này là một sự huyền bí, nhưng có một quyền uy chi phối thế giới và cuộc sống của con người Thứ hai, đó là sự gắn kết những lực lượng trên với những cá nhân siêu phàm, hay những sự vật đặc thù hoặc những địa danh, hay những lễ nghi đặc biệt được coi như những đường dẫn hay cầu nối giữa thế giới con người và thế giới thần linh Do vậy, chúng ta tìm thấy ở trong cái tầng bậc văn hóa thấp nhất trong shaman giáo đó là những linh vật, tượng ảnh hay những điệu múa thần thánh, trong khi ở các tầng bậc cao siêu hơn thì phải có các nhà tiên tri hay chức sắc tôn giáo biểu trưng cho các thần linh, rồi tiếp đến là các đền đài, thánh lễ thể hiện cho sự linh thiêng”.16
Cách nhìn nhận tôn giáo của Malinowski và Dawson tiếp tục nhận được sự ủng
hộ của Paul Tillich (1886-1965) Tôn giáo là gì? Tillich phân định tôn giáo theo cả nghĩa hẹp và nghĩa rộng
Thứ nhất, tôn giáo được hiểu theo nghĩa rộng và cũng là nghĩa cơ bản nhất thì
chính là đức tin, tình cảm về những lực lượng siêu nhiên, những lực lượng chi phối hoạt động hàng ngày của con người “Người ta chỉ có thể nói rằng nếu như ta phân biệt khái niệm tôn giáo theo hai nghĩa ( ) Tôn giáo theo nghĩa rộng và nền tảng nhất thì chính là cái sự cảm kích, đức tin (cảm xúc, động lòng) đối với tất cả những gì tất yếu tác động tới con người”.17 Tuy nhiên, Tillich cũng cảnh báo khái niệm niềm tin với thuật ngữ tiếng
Bassermann, Fischer Taschenbuch Verlag, 1983, S 44
Trang 30Đức (Glaube) dễ gây hiểu lầm vì tính đa nghĩa của nó Người ta có thể hiểu đây là niềm tin vào quan hệ bạn bè, đồng nghiệp, vốn chẳng liên quan gì tới tôn giáo Ở đây, ông
ám chỉ cái đức tin (Glaube, faith) vào những lực lượng siêu nhiên chi phối cuộc sống hàng ngày của con người (Tillich lưu ý tiếng Đức chỉ có một từ Glaube diễn tả nên dễ nhầm lẫn, trong khi tiếng Anh có hai từ belief và faith)
Thứ hai, tôn giáo được hiểu theo nghĩa hẹp của từ này, cụ thể là những quan
niệm, thần thoại, đức tin vào các thần linh và những hoạt động thờ cúng thần linh Điều này xảy ra với mọi hình thức của văn hóa nhân loại, trong mọi hình thức, tôn giáo đều liên quan tới tinh thần con người Có ngôn ngữ tôn giáo, có quan niệm tôn giáo, có nghệ thuật, biểu trưng tôn giáo, có sự trình diễn cá nhân và xã hội của tôn giáo Tất cả những điều này đều có trong từng tôn giáo cụ thể và tất cả chúng tập hợp lại, cấu thành một tôn giáo Như vậy, trong cả hai nghĩa rộng và nghĩa hẹp, Tillich đều không nhất thiết gắn tôn giáo với thiết chế tổ chức tín đồ, tức giáo hội
Quan điểm của E Durkheim phù hợp với cách nhìn nhận của các nhà quản lý ở Việt Nam chủ trương phân định khác biệt giữa tôn giáo và tín ngưỡng xuất phát từ những đặc thù của tôn giáo Á đông, thậm chí một số còn không có cả người sáng lập, giáo chủ rõ ràng như các tôn giáo độc thần được du nhập từ phương Tây Nhưng điều quan trọng hơn là sự phân biệt này phục vụ nhu cầu công tác quản lý nhà nước Trong bối cảnh đất nước trải qua chiến tranh kéo dài, điều này còn xuất phát từ các mục tiêu chính trị Hiến pháp Việt Nam năm 1946 khẳng định “công dân Việt Nam có quyền tự
do tín ngưỡng” (Điều 10), hầu như không nhắc tới thuật ngữ tôn giáo Tiếp theo, Hiến pháp 1959 quy định “công dân có quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào” (Điều 26) Vẫn cái mạch logic này Hiến pháp 1980 quy định “công dân
có quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào Không ai được lợi dụng tôn giáo để làm trái với pháp luật và chính sách của nhà nước” (Điều 68)
Đáng chú ý, lần đầu tiên, Hiến pháp 1992 quy định công dân có quyền tự do tôn giáo “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật Những nơi thờ tự của các tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước” (Điều 70) Cho tới Hiến pháp mới nhất 2013 thì sự khác biệt giữa tôn giáo
và tín ngưỡng vẫn tiếp tục được khẳng định mặc dù vấn đề quyền con người được đề cập chi tiết hơn nhiều so với các Hiến pháp trước đây “1 Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật; 2 Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; 3 Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật” (Điều 24)
Trang 31Đương nhiên, sự phân biệt giữa tôn giáo và tín ngưỡng không phải hoàn toàn không có cơ sở Bản thân tiếng Anh cũng có các thuật ngữ khác nhau như tôn giáo (religion) và tín ngưỡng hay niềm tin (faith hay belief) để diễn tả vấn đề Tuy vậy, việc đặt nặng sự phân biệt trên hiện đang đứng trước không ít các bất cập bởi nó xuất phát
từ nhu cầu quản lý nhà nước về tôn giáo hơn là bản thân sự vật Cái chính là về bản chất thì “tôn giáo” và “tín ngưỡng” không có sự khác biệt nhiều Gianh giới giữa chúng chỉ mang tính tương đối Trên thực tế, khó tách biệt giữa chúng thành hai sự vật riêng rẽ Thêm vào đó, thuật ngữ “tôn giáo nguyên thủy” cũng đã từ lâu được giới nghiên cứu sử dụng rộng rãi đa phần đều không có tổ chức giáo hội Nhiều tôn giáo mới hiện nay cũng không nhất thiết có giáo hội Do vậy, hiện nay các học giả phương Tây thường dùng hai khái niệm “tôn giáo thiết chế” (institutional religion) và “tôn giáo phi thiết chế” (non-institutional religion) để diễn tả hai sự vật này Nói cách khác, tín ngưỡng thực chất là tôn giáo phi thiết chế
Bản thân các cơ quan công quyền Việt Nam dường như cũng đã nhận ra vấn đề Việc tách biệt trên khiến cho công tác quản lý nhà nước cũng gặp khó khăn khi “tôn giáo” thì thuộc lĩnh vực cơ quan phụ trách là Ban tôn giáo chính phủ, trong khi nhiều
lễ hội gắn với “tín ngưỡng” lại thuộc lĩnh vực quản lý là Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch Gần đây, hai thuật ngữ tôn giáo, tín ngưỡng thường đi song hành với nhau trong hầu hết các văn bản của nhà nước Cả Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo (2004) cũng như Luật tín ngưỡng, tôn giáo (2016) trong dự thảo ban đầu chỉ dự định tập trung và dành riêng cho các tôn giáo có tổ chức giáo hội, nhưng rồi, trong quá trình thảo luận, các nhà nghiên cứu cũng như các nhà quản lý chính sách đều cảm thấy không thể đề cập tới cái này mà lại tách biệt với cái kia Điều đó cho thấy hiện nay các nhà quản lý ở Việt Nam nhiều trường hợp không phải không gặp những khó xử khi nhấn mạnh những khác biệt giữa tôn giáo và tín ngưỡng
Xét về trường hợp đời sống tinh thần đồng bào Mông, các luật tục của cộng đồng đều chủ yếu dựa trên tôn giáo phi thiết chế, hay nói theo cách của các cơ quan công quyền, là tín ngưỡng đa thần giáo Về phương diện học thuật, công trình này ủng
hộ khái niệm “tôn giáo” theo cách hiểu của Ch Dawson, B Malinowski, cũng như của
P Tillich, theo đó tôn giáo được hiểu theo nghĩa rộng và hai thuật ngữ “tôn giáo” và
“tín ngưỡng” được sử dụng gần như những từ đồng nghĩa
1.2 Lý thuyết nghiên cứu
Ngành tôn giáo học thế giới đã đạt được những bước tiến dài trong hơn một thế
kỷ qua kể từ khi Friedrich Max Mueller (1823-1900) khởi thảo Đáng chú ý, ngay từ những thế hệ đầu tiên của ngành tôn giáo học, đã thể hiện rõ xu hướng giải phóng khỏi quan niệm lấy châu Âu làm trung tâm (Eurocentrism) vốn thống trị trong giới nghiên cứu phương Tây nhiều thế kỷ
Trang 32Như trên vừa đề cập, nhóm nghiên cứu đề tài sử dụng lý thuyết của Malinowski
trong nghiên cứu tôn giáo của người nguyên thủy (xem: B Malinowski, Magie,
Wissenschaft und Religion und andere Schriften, 1983) Trong công trình nền tảng này,
Malinowski đã đưa ra nhiều nhận định mang tính phương pháp luận về quan hệ giữa ma thuật với khoa học, giữa ma thuật với tôn giáo, ma thuật và kinh nghiệm Ông cũng bàn luận nhiều về nguồn gốc của thần thoại, vv… “Không có một dân tộc nào cho dù còn rất
là nguyên thủy lại không có tôn giáo và ma thuật cả Nhưng cũng không có một dân tộc
tự nhiên nào mà lại không có quan điểm khoa học hay khoa học cho dù người ta vẫn thường nói tới khả năng đó Người ta tìm thấy trong mọi cộng đồng nguyên thủy hai lĩnh vực: đó là cái linh thiêng và cái phàm tục, nói cách khác, lĩnh vực tôn giáo và ma thuật, và lĩnh vực của khoa học”.18 Trên cơ sở nhiều năm nghiên cứu về tôn giáo của những thổ dân trên các hòn đảo ở Nam Thái Bình Dương, Malinowski nhận định rằng
“Người nguyên thủy rất quan tâm tới biểu hiện và đặc điểm của các loài thú vật Người nguyên thủy muốn sở hữu các loài thú và sử dụng các loài thú làm đồ hữu dụng và thức
ăn trong tầm kiểm soát của mình Đôi khi người nguyên thủy còn tỏ vẻ ngạc nhiên hoặc
sợ hãi các loài thú (…) Đồng thời người nguyên thủy phát triển sự kính sợ đối với các loài thú và loài cây mà họ cảm thấy phải hàm ơn cho dù vẫn phải giết đi.”19
Manilowski nhấn mạnh “Tôn giáo nguyên thủy không hoàn toàn thiếu vắng các nhà tiên tri, những nhà bói toán, chiêm nghiệm đức tin tôn giáo của họ Mặc dù tất cả những điều này rõ ràng không thể chứng minh rằng tôn giáo là công việc thuần thúy riêng tư cá nhân, nhưng nó cũng làm chúng ta quả là khó hiểu nếu như nhìn nhận đây
có thể chỉ đơn thuần là một cái mang tính xã hội”.20 Phản bác quan niệm của Durkheim về tôn giáo phải gắn với giáo hội, Malinowski phân tích sự tham dự của cái
cá nhân và cái xã hội trong tôn giáo nguyên thủy như sau: “Thứ nhất, sự hợp tác xã hội
là điều cần thiết để quảng bá những giá trị linh thiêng và những thực thể siêu nhiên bao phủ các lễ nghi được tổ chức hùng tráng Cộng đoàn sẽ thực hiện các hình thức lễ
nghi này, tạo nên bầu không khí của đức tin (…) Thứ hai, cái sự thể hiện công khai các
tín lý tôn giáo là vô cùng thiết yếu để thực hiện các chuẩn mực đạo đức trong các cộng đoàn nguyên thủy (…) Trong các xã hội nguyên thủy nơi mà các luật tục thể hiện thông qua các sự trừng phạt còn thiếu vắng thì đương nhiên các quy chuẩn đạo đức sẽ
có giá trị và đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc kiến tạo nền tảng cho mọi tổ chức xã hội và văn hóa sơ khai nhất Điều này chỉ có thể thực hiện trong một xã hội (…) cái quan niệm luân lý này phải mang tính phổ quát chung và được công bố cho
mọi thành viên Thứ ba và cuối cùng, sự lưu chuyển và bảo tồn các truyền thống linh
thiêng cần phải có công luận và chí ít là sự thực hiện tập thể Điều này vô cùng quan
Trang 33
trọng đối với mọi tôn giáo rằng các tín điều của nó được hành xử mang tính cố định, không được tùy tiện thay đổi (…) Trong một xã hội nguyên thủy không chỉ các chuẩn mực đạo đức mà cả những tín lý đối với mọi thành viên đều phải như nhau.”21
Khi nói tới nguồn gốc của tôn giáo, cho tới nay chúng ta vẫn quen thuộc khi đề cập tới những nguồn gốc nhận thức, nguồn gốc xã hội, nguồn gốc tâm lý và gần đây một số quan điểm còn đề cập tới nguồn gốc sinh học Nhưng trong số đó, nguồn gốc nào đóng vai trò quyết định còn đang là điều đang bàn cãi Các nhà mác xít có xu hướng nhấn mạnh tới nguồn gốc nhận thức Quan điểm này có lẽ xuất phát từ cảm xúc chính trị rằng người ta có niềm tin tôn giáo do dân trí thấp Trái lại, nhà nhân học và
xã hội học Ba Lan cho rằng “Trong số tất cả những nguồn gốc của tôn giáo thì quan trọng nhất phải kể đến suy tư về kết cục của đời người, tức là cái chết Không dừng lại
ở ngôn từ, cái chết chính là cánh cửa bước sang thế giới khác Nói chung thì tôn giáo nào rồi cũng phải bàn luận về vấn đề này (…) Ngay cả những người nguyên thủy thì những suy tư và lễ nghi mai táng người qua đời cũng đã rất phức tạp rồi”.22
Malinowski phân biệt ma thuật với tôn giáo như sau: ma thuật là một nghệ thuật thực hành gồm những cử chỉ hành vi thực chất là một phương tiện hướng tới một mục đích xác định nào đó, còn tôn giáo, ngược lại, là cái chung trong những hành vi tự nó khép kín nhằm thực hiện mục đích của nó Ma thuật chỉ sử dụng những hành vi giới hạn trong một nghi lễ hay tuyên thệ, còn tôn giáo thì bao gồm tổng thể nhiều lễ nghi và mục đích, có định hướng giá trị trong đức tin và lễ nghi của nó Ma thuật cũng thể hiện sức mạnh của con người trong định hướng một mục tiêu nào đó buộc người ta phải tin theo, còn tôn giáo lại hướng con người tới một thế giới siêu nhiên Đó là cả một đền thờ Pantheon của thần thánh và ma quỷ Trong khi ma thuật sử dụng tương phản trắng
- đen để phân định các hành vi, thì tôn giáo lại dựa trên sự phân định giá trị đạo đức thiện - ác để đánh giá các hành vi tôn giáo.23
Ai đó có thể đặt câu hỏi: giữa đối tượng nghiên cứu của đề tài là người Mông vốn sống trên vùng núi cao, văn hóa rừng với những thổ dân Nam Thái Bình Dương văn hóa hải dương mà Malinowski nghiên cứu có quan hệ gì với nhau? Thực tế, hai nhóm người này đều có điểm chung là mang nặng tâm thức tôn giáo nguyên thủy khi
mà tôn giáo chi phối hầu hết những biến cố quan trọng trong cuộc sống hàng ngày, trong vòng đời của mỗi người cũng như trong tổ chức xã hội của họ Nhận định của Malinowski có cơ sở khi ta thấy tôn giáo của đồng bào Mông không thể thiếu vắng tang ca Do vậy, những kết quả nghiên cứu về tôn giáo của người nguyên thủy của Malinowski chúng ta có thể lĩnh hội khi nghiên cứu đời sống tôn giáo của người Mông cũng như các dân tộc ở Á đông vốn thiên về đa thần giáo
Trang 34
Đề tài mà chúng ta nghiên cứu liên quan tới những vấn đề xung đột xã hội Vì vậy, cần tiếp thu những lý thuyết mới nhất về các vấn đề xung đột xã hội dựa trên những khác biệt về quan niệm và lợi ích của các cộng đồng khác nhau, những vấn đề
mà xã hội hiện đại đang phải đối mặt Bên cạnh đó cũng cần tham khảo kết quả của những nghiên cứu dựa trên lý thuyết cấu trúc chức năng phân tầng xã hội dựa theo lợi ích và cách ứng xử (behaviour) mà nhà xã hội học người Mỹ Robert King Merton (1910-2003) là một trong những đại biểu chính, tác giả của công trình nổi tiếng
Social Theory and Social Structure được xuất bản lần đầu tiên năm 1949 Lý thuyết
của ông được tiếp tục hoàn thiện vào năm 1968 và từ đó đến nay công trình đã qua tái bản nhiều lần Con trai ông, Robert C Merton tiếp nối những lý thuyết của cha và
áp dụng trong các lĩnh vực kinh tế và đạt giải Nobel năm 1997 Bên cạnh đó, các lý thuyết về chức năng và lựa chọn duy lý truyền thốngng sẽ được tham khảo trong nghiên cứu
Đặc biệt, trong việc mổ sẻ vị trí của tôn giáo đối với đời sống văn hóa cũng như
tổ chức xã hội, nhóm nghiên cứu đề tài trong quá trình nghiên cứu sẽ sử dụng những lý thuyết được các nhà nghiên cứu hiện nay sử dụng, trong đó phải kể tới những phương
pháp xã hội học định tính của Max Weber Trong công trình Nền đạo đức Tin Lành và
tinh thần của chủ nghĩa tư bản xuất bản (1905), Weber, thứ nhất, khác với các nhà
mác xít nhấn mạnh sự chế ước của các điều kiện kinh tế-xã hội với tôn giáo, khẳng định mối quan hệ bình đẳng giữa tôn giáo với các điều kiện kinh tế “Các ý tưởng tôn giáo tuyệt nhiên không thể được diễn dịch đơn thuần từ các điều kiện kinh tế; vì - chắc chắn không thể khác được - chính bản thân các ý tưởng tôn giáo này là những yếu tố mạnh mẽ nhất cấu tạo nên “tính cách dân tộc” [Volkscharakter], chúng có một quy luật phát triển riêng và có một sức mạnh cưỡng chế riêng của chúng”.24
Thứ hai, Weber đã chỉ ra những mối liên hệ hữu cơ giữa sự phát triển kinh tế và
đức tin tôn giáo dựa trên những nghiên cứu một số hệ phái Tin Lành ở nước Anh và châu Âu, rằng những vùng phát triển ở châu Âu đa phần người ta chuyển sang đạo Tin Lành hoặc là những vùng dân theo đạo Tin Lành chiếm số đông “Người công giáo là người thanh thản hơn, ít bị ám ảnh hơn bởi cơn khát lợi nhuận: anh ta chọn một cuộc đời an toàn, cho dù với một mức thu nhập khá thấp, hơn là một cuộc đời có nhiều bất trắc và hưng phấn, cho dù cuộc đời này có thể đem lại cho anh ta sự giàu sang và danh
dự Tục ngữ dân gian thường nói vui: phải chọn giữa ăn ngon và ngủ yên Trong trường hợp này, người Tin Lành chọn ăn ngon; trong khi đó người công giáo muốn ngủ yên.”25
Sơn, Nguyễn Nghị, Nguyễn Thanh, NXB Tri thức, Hà Nội, 2005, tr 313
Trang 35Nhận định trên của M Weber mang tính phương pháp luận để chúng ta xem xét vai trò của sự truyền bá đạo Tin Lành trong sự phát triển cộng đồng các dân tộc thiểu
số nói riêng, ở Việt Nam nói chung, tránh những nhận định mang tính quy chụp một chiều Tuy nhiên, điều quan trọng hơn, M Weber khởi thảo cho cái lý thuyết coi tôn giáo là hạt nhân của văn hóa được hiểu theo nghĩa rộng nhất của từ này như văn hóa Trung Hoa, văn hóa Ấn Độ, văn hóa Ả rập, văn hóa phương Tây Ông là người đầu tiên đưa ra khái niệm “Religionskultur” (tôn giáo văn hóa) ám chỉ một thực thể tồn tại giữa hai lĩnh vực tôn giáo và văn hóa Công trình này dựa vào đó để phân tích liệu cộng đồng Mông theo Tin Lành có còn bảo lưu các giá trị văn hóa truyền thống của họ đến đâu và tìm cách lý giải liệu những xung đột giữa hai cộng đồng Mông theo tôn giáo truyền thống và theo đạo Tin Lành có cơ sở để giải quyết hay không Trong công
trình dài hơi hơn Die Wirtschaftsethik der Weltreligionen (Nền đạo đức kinh tế của các
tôn giáo thế giới), M Weber đưa ra khái niệm “tôn giáo thế giới” là những tôn giáo lớn kiến tạo nên cả các nền văn hóa lớn đa quốc gia Ông nghiên cứu các tôn giáo Á đông và chỉ ra Khổng giáo là nền tảng tinh thần của văn hóa Trung Hoa cũng như Hindu là bệ đỡ của văn hóa Ấn Độ Không chỉ có vậy, các tôn giáo lớn kiến tạo lên các
tổ chức xã hội mang tính điển hình như xã hội phương Tây, xã hội Trung Hoa, xã hội
Ấn Độ, xã hội Ả rập,… theo đó sự phân tầng xã hội dựa trên các tiêu chí tôn giáo Tất
cả các xã hội cũng như các nền văn hóa trên đều dựa trên một tôn giáo thế giới chủ lưu Tại sao chủ nghĩa tư bản lại có thể phát triển ở phương Tây sau thời trung cổ mà không có ở các châu lục khác, kể cả ở Trung Quốc và Ấn Độ cùng thời kỳ Câu trả lời
có thể không hoàn toàn do những khác biệt của Khổng giáo, Hindu so với Kitô giáo Nhưng rõ ràng tôn giáo một trong những chìa khóa căn bản để lý giải vấn đề Khác với Trung Hoa và Ấn Độ, chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa cá nhân có điều kiện nảy sinh ở châu Âu sau Cải cách tôn giáo cho phép phát triển đạo Tin Lành
Tiếp theo Max Weber, giữa thế kỷ XX, Ch Dawson (1889-1970) người Anh, có những đóng góp đáng kể trong nghiên cứu quan hệ tôn giáo với văn hóa trong tác
phẩm Religion and Culture xuất bản lần đầu tiên năm 1948 ở Anh.26 Ông đồng thời có một loạt khảo cứu mối quan hệ này trên một bình diện rộng lớn qua lăng kính quan hệ giữa Khổng giáo và văn hóa Trung Hoa, Kitô giáo và văn hóa phương Tây, đạo Hindu
và văn hóa Ấn Độ, Islam và văn hóa Ả rập Không những thế, mối quan hệ này thể hiện rõ ở cả những hình thức tôn giáo nguyên thủy như shaman giáo, ma thuật, Nếu như trong các công trình của Max Weber toát lên cái tinh thần nhấn mạnh tôn giáo là hạt nhân của văn hóa, tôn giáo là bản thể của xã hội thì Dawson tập trung phân tích mối quan hệ tôn giáo và văn hóa về phương diện lý thuyết, tiếp tục làm rõ, củng cố
tiếng Đức Religion und Kultur, Verlag L Schwann, Düsseldorf, 1951
Trang 36thêm những luận điểm của Max Weber Trước tiên, Dawson, làm rõ nội hàm của khái
niệm văn hóa Đây là một trong những khái niệm rộng lớn và bao trùm nhất mọi lĩnh vực hoạt động của con người, do vậy, có tới cả trăm định nghĩa khác nhau Người ta vẫn dùng văn hóa theo nghĩa gốc của từ này, “culture” nghĩa là canh tác, gieo trồng, thậm chí gán vào đó là canh tác, gieo trồng của cải vật chất và tinh thần cho xã hội Người ta cũng vẫn thường sử dụng văn hóa theo nghĩa “người có văn hóa” ám chỉ người giữ các chuẩn mực truyền thống trong cách hành xử, người có giáo dục, có học thức Tuy vậy, trong cả hai nghĩa trên thì chúng ta ít có gì để nói về quan hệ giữa văn hóa và tôn giáo
Cũng vì có những lúc do cách hiểu phạm trù “văn hóa” như vậy nên ở phương Tây trong một thời gian dài văn hóa và tôn giáo vẫn bị coi là những lĩnh vực không can hệ với nhau, thậm chí đối lập với nhau Người ta từng nhầm lẫn cho rằng trong khi tôn giáo hướng tới các giá trị linh thiêng, siêu nhiên thì văn hóa lại chỉ hướng tới những giá trị thế tục Tertullian (150-225) và những nhà thần học Kitô giáo nguyên thủy từng có những quan điểm phản bác lại văn hóa, đối lập những hệ giá trị linh thiêng mà Kitô giáo cổ vũ với tất cả văn hóa và khoa học trần thế Đó là kết quả tách biệt nhị nguyên giữa truyền thống văn hóa Kitô giáo dựa trên Kinh thánh với truyền thống văn hóa Hy Lạp Về sau, chủ nghĩa nhân đạo thời Phục hưng dường như càng gia tăng sự tách biệt này Cả sự phát triển của văn hóa và khoa học tự nhiên những thế
kỷ gần đây cũng phải chịu trách nhiệm một phần về hậu quả của nền giáo dục theo lối
đó Rồi hiện nay, văn hóa cũng có thể được hiểu theo nghĩa văn hóa vùng miền, chẳng hạn, văn hóa vùng trồng nho Bordeaux, rồi người có hay không có văn hóa… chả có can hệ gì với tôn giáo cả
Tuy nhiên, Dawson cho rằng những quan niệm trên mới chỉ đề cập tới bề ngoài của vấn đề và mới chỉ bàn tới khía cạnh hạn hẹp về văn hóa Dưới cách nhìn của ông, văn hóa được hiểu theo nghĩa rộng, như là toàn bộ quá trình hoạt động của con người, hay nói cách khác là phương thức tồn tại của con người, là toàn bộ những hoạt động sống của tồn tại người (Dasein) Văn hóa được hiểu như cách sống, hay như ông thường diễn tả là phương thức sống (life form) của con người Con người ở đây cũng được hiểu vượt ra ngoài tầm vóc cá nhân Đó là tất cả những gì thuộc về nhân loại, là
thế giới con người “Văn hóa với tính cách là một phương thức sống (Lebensform, life
form) được xây dựng và xếp đặt có tổ chức dựa trên một sự lưu truyền, chuyển tải chung và được quy định trong một môi trường chung ( ) Cái phương thức sống quy định cách tiếp cận tới tôn giáo, còn cái hành xử tôn giáo có ảnh hưởng tới phương
Trang 37
Con người là một động vật xã hội nên văn hóa bao giờ cũng thể hiện một trình
độ xã hội nhất định Nó không tách biệt với chủng tộc Cho dù từ người Eskimo ở Greenland cho tới thổ dân Nam Phi thì cũng đã có nền văn hóa riêng của họ Dawson không cho rằng văn hóa là sản phẩm lưu truyền của một chủng tộc nhất định mà đúng
ra bản thân chủng tộc là sản phẩm của văn hóa bởi sự phân biệt các chủng tộc khác nhau ngay từ khi loài người còn hoang dã cho tới sự phân định quốc tịch khác nhau từ thời cận đại của con người đều là xuất phát từ một truyền thống văn hóa, nghĩa là rốt cuộc đều phải quay về với văn hóa được hiểu như phương thức sống của con người, hay một cộng đồng người Văn hóa được hiểu theo nghĩa rộng nhất của từ này, đó là văn hóa Trung Hoa, văn hóa Ấn Độ, văn hóa Do Thái,… Do vậy, ở đây quan hệ tôn giáo và văn hóa được xem xét trên bình diện: Hindu với văn hóa Ấn Độ, Khổng giáo với văn hóa Trung Hoa, Kitô giáo và văn hóa phương Tây, Islam và văn hóa Ả rập Ở quy mô một quốc gia dân tộc, người ta cũng có thể nhận thấy mối quan hệ này, chẳng hạn Do Thái giáo với văn hóa Do Thái
Còn về khái niệm tôn giáo Cũng có những cách hiểu khác nhau về khái niệm này, Dawson không đi sâu vào việc phân tích những tiêu chí để phân định thế nào là một tôn giáo hay sự khác biệt giữa tôn giáo và tín ngưỡng dưới góc độ tôn giáo học Cách hiểu thượng đế của một tín đồ sùng kính như Abraham hay Giacốp trong Kinh
thánh khác với cách hiểu thượng đế của một triết gia hay nhà khoa học (Deum meum
et Deum vestrum) - điều mà Blaise Pascal (1623-1662) đã nhận thấy Nhà tư tưởng tôn
giáo nào cũng vậy, đều tìm cách bắc cầu kết nối giữa hai cách hiểu trên về tôn giáo Chẳng hạn, dưới cách hiểu tôn giáo hiện đại thì cần có những tiêu chí khác với các hình thức tôn giáo nguyên thủy
Văn hóa trong quan hệ với tôn giáo có thể được xem xét theo 2 khía cạnh Thứ
nhất, đó là cái văn hóa của một tôn giáo.“Cái mà chúng ta đang đề cập ở đây [tức văn
hóa] không phải văn chương, mà là cả một nền văn hóa tinh thần - sự đào luyện của tinh thần theo cách luật định của thánh thần Cái quá trình tìm kiếm tinh thần đó về thực chất là quan hệ giữa con người với cái thực thể siêu nhân (übermenschliche Realität), mà theo quan niệm riêng của chúng ta, [chính là cái] tác thành nên cái bản chất của tôn giáo”.28 Theo góc độ này, quan hệ văn hóa với tôn giáo được xem xét trong nội tại của một tôn giáo, quan hệ giữa tôn giáo với bản thân văn hóa của nó Theo chiều kích này, văn hóa nằm trọn trong phạm vi tôn giáo Chẳng hạn, tất cả những gì của văn hóa Kitô giáo đương nhiên là thuộc về Kitô giáo
Thứ hai, quan hệ tôn giáo và văn hóa được xem xét theo nghĩa rộng nhất của
hai khái niệm này, đó là quan hệ Khổng giáo với văn hóa Trung Hoa, Do Thái giáo với
Trang 38
văn hóa Do Thái, Hindu với văn hóa Ấn Độ, Islam với văn hóa Ảrập, Kitô giáo và văn hóa phương Tây Theo góc độ này, quan hệ văn hóa và tôn giáo được xem xét trong nội tại của một nền văn hóa Ở cả hai chiều kích trên, ta đều thấy tôn giáo không thể tách biệt với văn hóa
Quan hệ giữa tôn giáo và văn hóa như vậy được xem xét trên nền tảng cách hiểu rộng nhất của hai phạm trù này Một lần nữa cần khẳng định rằng Khổng giáo cũng được xem xét ở đây tuy đó không phải là một tôn giáo theo đúng nghĩa của từ này Các tôn giáo lớn kiến tạo lên cả một nền văn hóa, văn minh lớn của nhân loại Một trong những trường hợp điển hình của quan hệ văn hóa và tôn giáo là ở châu Âu nơi mà văn hóa Kitô giáo chi phối nhiều lĩnh vực đời sống tinh thần nhiều thế kỷ trong lịch sử Một trường hợp khác ta thấy trong văn hóa Trung Hoa vốn dựa trên nền tảng của Khổng giáo Dawson nhấn mạnh rằng: “Ở bất cứ nền văn minh lớn nào trong cựu thế giới người ta đều thấy trên thực tế một mối quan hệ không thể tách biệt giữa tôn giáo và nền văn hóa tinh thần, bởi vì truyền thống của một nền văn minh thì đồng thời cũng là truyền thống của một tôn giáo cụ thể nào đó và những kinh sách của mỗi tôn giáo đồng thời cũng là những tác phẩm kinh điển và là những nguồn tư liệu cho nền tảng giáo dục cho một tầng lớp tinh túy có học thức cao trọng Trước tiên, người ta thấy ở Trung Hoa trong giai đoạn xa xưa của lịch sử, các học giả được coi như những người bảo vệ cái truyền thống đã được thần thánh hóa của văn hóa Trung Hoa Họ giữ trọng trách như những vị chức sắc tôn giáo (Priester) mà ở đó cái văn hóa đạo đức trí tuệ và lễ nghi trở thành một khối thống nhất hòa quyện vào nhau không thể tách biệt”.29
Dawson không hoàn toàn thừa nhận sự chi phối của sản xuất của cải vật chất đối với các lĩnh vực đời sống tinh thần của xã hội Cơ sở lập luận của ông là con người
ta ngay từ cổ xưa đã không thể sống thiếu tôn giáo, tín ngưỡng trước khi trở thành một người sản xuất thực thụ “Thổ dân Nam Phi hay tổ tiên của những cư dân trên đảo Tasmania [nằm ở phía Nam của Australia - NQH] chẳng sản xuất ra nhiều đồ ăn hơn những loài động vật là bao nhiêu cả ( ) Nhưng họ khác với các loài động vật không phải bởi vì họ biết tự tạo ra các loại thức ăn cho mình, mà cái chính là họ biết suy nghĩ
và biết trồng trọt Tôn giáo và nghệ thuật còn cổ xưa hơn cả nghề nông và nghề thủ công (…) Con người ta đã trở thành nhà tiên tri và nhà nghệ thuật trước khi trở thành người sản xuất”.30 Từ lập luận trên, Ch Dawson và C Mác có cách tiếp cận khác nhau về vấn đề quan hệ giữa sản xuất của cải vật chất với văn hóa và tôn giáo Cũng như M Weber, Dawson không hoàn toàn phủ nhận quan điểm mác xít về mối quan
hệ hữu cơ giữa văn hóa với sản xuất của cải vật chất Nhưng có điều, ông không thừa nhận sự chế ước của sản xuất của cải vật chất đối với văn hóa nhân loại Tôn giáo và
Trang 39
văn hóa có quy luật phát triển nội tại riêng chứ không hoàn toàn chịu sự chi phối của phương thức sản xuất của cải vật chất Cũng như M Weber, Dawson nhấn mạnh sự bình đẳng của văn hóa và tôn giáo trong quan hệ với sản xuất kinh tế Lập luận của Dawson là: con người ta không phải ngay từ đầu đã là người sản xuất Con người ta hoạt động văn hóa, hoạt động tôn giáo trước khi hoạt động sản xuất ra của cải vật chất Tôn giáo tuyệt nhiên không phải là thứ sản phẩm phụ của sản xuất của cải vật chất “Quả là có lý khi cho rằng sản xuất kinh tế là điều kiện tất yếu đối với nền văn minh vật chất Phương thức sản xuất thông qua tác động của nó tới hình thái xã hội cũng có ảnh hưởng lớn tới kiểu thức văn hóa (Kulturtypus) Tuy nhiên, đây mới chỉ
là một mặt của quá trình văn hóa, bởi vì các chỉ dấu văn hóa quan trọng đã hoàn toàn hiện hữu trước khi con người ta bắt đầu sản xuất kinh tế Ở giai đoạn tiền sản xuất này con người ta đã đạt được cái trình độ chuyên môn hóa cao độ về văn hóa và đã làm chủ, chế ngự được môi trường xung quanh dưới những điều kiện vô cùng khắc nghiệt của kỷ băng hà”.31
Tiếp tục mạch suy nghĩ này, Dawson nhấn mạnh, ngay từ thời thượng cổ, khi con người chưa trở thành người sản xuất thì đã có những hoạt động văn hóa và tôn giáo rồi Ông lấy dẫn chứng những sản phẩm văn hóa của một số tộc người nguyên thủy Ở đây, văn hóa được hiểu như toàn bộ quá trình hoạt động của con người, là phương thức sống của con người cả về phương diện vật chất và tinh thần “Chúng ta thấy ở đó [kỷ băng hà - NQH] rằng con người ta sản xuất ra đời sống tinh thần trước khi làm ra của cải vật chất và rằng không hề có một mối liên hệ tất yếu nào cả [nghĩa
là mối liên hệ này có thể có nhưng không nhất thiết - NQH] giữa sự phát triển kinh tế với các giá trị tinh thần của một nền văn hóa”.32 Khi nói tới các giá trị tinh thần của một nền văn hóa đương nhiên chúng ta phải đề cập tới tôn giáo Điều đó càng đúng với những giai đoạn cổ xưa của nhân loại Khó có thể phân biệt các tôn giáo nguyên thủy với các thuật bói toán, ma thuật, phù thủy, các tập tục văn hóa và tín ngưỡng của người nguyên thủy Hoạt động của con người khác với của các loài động vật chính là ở chỗ hoạt động con người mang bản chất văn hóa và tôn giáo Đương nhiên, người ta cũng có thể coi con người khác với các loài động vật ở chỗ con người biết tạo ra các công cụ lao động Nhưng những công cụ lao động này không chỉ bao gồm những lao động sản xuất của cải vật chất mà còn gồm cả những hoạt động văn hóa và tinh thần và khó có thể khẳng định giữa hoạt động vật chất và hoạt động tinh thần cái nào có trước, cái nào có sau một cách tách bạch bởi hoạt động con người là một thể thống nhất
Trang 40
Trong lịch sử nhân loại không có nền văn hóa nào tách biệt với tôn giáo cả và điều này không hoàn toàn chỉ phụ thuộc vào điều kiện phát triển kinh tế xã hội “Quả thực mỗi một nền văn hóa đều phát triển một kỹ năng tôn giáo đặc trưng riêng của nó, nhằm mang lại cái trật tự tự nhiên cho cuộc sống của cộng đồng Cả khi họ còn ở một trình độ sản xuất kinh tế rất thấp kém thì con người ta đã luôn ý thức về sự xoay vần của
tự nhiên Cả những khi không được no đủ và mùa màng đói kém, thì con người ta cũng vẫn biết rằng có mùa hạ và mùa đông cũng như có cả đêm và ngày Người ta cũng biết cái thời gian động đực của những loài thú mà họ đang săn bắn cũng như thời vụ đơm hoa kết trái những giống cây mà họ gieo trồng Rồi cả khi còn ở cái trình độ phát triển
xã hội còn rất thấp kém và mông muội, thì người ta cũng đã biết tới việc con người ta ai rồi cũng có sinh và có tử, kéo theo đó là sự tiếp nối giữa các thế hệ Và người ta tìm cách kết nối giữa sự xoay vần của trời đất với sự xoay vần của đời người trong đời sống tôn giáo của họ cùng hòa thành một nhịp”.33
Dawson đề cập trực tiếp tới bản chất của mối quan hệ giữa tôn giáo và văn hóa
“Quan hệ giữa văn hóa và tôn giáo thể hiện ở chỗ nào? Rõ ràng, sự tương đồng về phương thức sống (life form) tất sẽ quy định sự tương đồng về quan niệm sống cũng như sự tương đồng về các chuẩn mực hành vi và sự tương đồng về các chuẩn mực giá trị Kết quả, xuất hiện một nền văn hóa của một cộng đồng về tinh thần mà sự thống nhất một cách cố kết của nó đúng ra là dựa trên cái đức tin [tôn giáo] chung, và những hình thức chung của tư tưởng, hơn là một sự thống nhất vật chất nào đó”.34
Mối quan hệ văn hóa và tôn giáo không bất biến mà thay đổi trong tiến trình lịch sử nhân loại Quan hệ này đặc biệt thể hiện rõ trong lịch sử nhân loại khi mà tôn giáo chi phối hầu như mọi lĩnh vực của hoạt động và đời sống con người, chẳng hạn, như châu Âu trung cổ Hiện nay, đối với con người văn minh đang sống trong một nền văn hóa mang tính thế tục cao, có thể dễ dàng nhận thấy cái thế giới quan sống chung
đó của mình là một cái gì đó hoàn toàn trần thế, không nhất thiết phải gắn với một đức tin tôn giáo nào đó Nhưng trong lịch sử, người xưa luôn cảm thấy cuộc sống của họ,
xã hội của họ bị chi phối, lệ thuộc vào những lực lượng nằm ngoài tầm kiểm soát của
họ Bản thân người thợ săn da đỏ cũng không thể tin vào cái năng lực săn bắn của chính mình, mà tin vào sự may rủi Anh ta không thể tin rằng, tự mình có thể săn được con thú to nếu như không được một Đấng siêu nhiên nào đó phù trợ Không có Đấng siêu nhiên nào đó phù trợ, thì con người ta chả làm được cái gì cả Rồi chả cứ gì người nguyên thủy, mà cả ở những giai đoạn phát triển sau này của văn minh nhân loại, ta cũng thấy cái nếp suy nghĩ như vậy ở nhiều tộc người vốn mang nặng tâm thức tôn giáo của người nguyên thủy.35