1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

skkn tích hợp văn học cách mạng trong dạy học lịch sử việt nam giai đoạn 1919 2000 (lịch sử 12 ban cơ bản)

14 282 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 150,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc tích hợp văn học cách mạng trong giảng dạy lịch sử bậc trung họcphổ thông THPT nhằm tạo sinh động cho lớp học, gây hứng thú học tập cho học sinh, niềm hứng khởi cho người dạy; giúp

Trang 1

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

MÔ TẢ SÁNG KIẾN

Mã số: ………(do thường trực HĐ ghi)

1 Tên sáng kiến kinh nghiệm:

Tích hợp văn học cách mạng trong dạy học Lịch sử Việt Nam

giai đoạn 1919- 2000 ( Lịch sử 12- ban cơ bản)

(Trần Thanh Xuân, Trần Thị Mặn, Phạm Thị Lý, Đặng Thị Thúy An, @THPT Trần Trường Sinh)

2 Lĩnh vực áp dụng: Phương pháp dạy học Lịch sử bậc trung học phổ thông.

3 Mô tả bản chất của sáng kiến:

3.1 Tình trạng giải pháp đã biết:

Dựa trên tinh thần công văn số 3535/BGDĐT-GDTrH ngày 27/5/2013 của

Bộ giáo dục và Đào tạo về việc áp dụng các phương pháp dạy học tích cực, hàng năm lãnh đạo Sở giáo dục và Đào tạo( SGD&ĐT) đều rất quan tâm đến việc nâng cao hiệu quả và chất lượng dạy – học bộ môn lịch sử, yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học và đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá,… Thế nhưng trên thực tế, Sử học không những khô khan ít cảm xúc đối với người đọc, người học mà còn quá nhiều thời gian, nhân vật và sự kiện Do đặc điểm đó mà những trang sử hào hùng, chói lọi của dân tộc chóng quên trong thế hệ trẻ, nhất là học sinh trong ghế nhà trường Điều đó sẽ dẫn đến hậu quả rất lớn đối với một dân tộc gan góc từng đánh bại nhiều kẻ thù xâm lược và làm lu mờ truyền thống tốt đẹp của dân tộc bốn nghìn năm lịch sử

Chính vì vậy, trong thực tiễn giảng dạy tôi vận dụng nhiều phương pháp nhằm khắc phục những hạn chế trên, trong đó vận dụng kiến thức liên môn mà

nhất là văn học cách mạng là phương pháp hiệu quả nhất góp phần nâng cao hiệu quả dạy học phần lịch sử Việt Nam lớp 12 giai đoạn 1919-2000.

3.2 Nội dung giải pháp đề nghị công nhận là sáng kiến:

- Mục đích của giải pháp:

Trang 2

Việc tích hợp văn học cách mạng trong giảng dạy lịch sử bậc trung học

phổ thông (THPT) nhằm tạo sinh động cho lớp học, gây hứng thú học tập cho học sinh, niềm hứng khởi cho người dạy; giúp các em liên hệ được kiến thức liên môn, giúp các em khắc sâu được thời gian – nhân vật – sự kiện Đồng thời hạn chế và khắc phục sự khô khan của lịch sử, tình trạng nhàm chán đối với học sinh Góp phần nâng cao hiệu quả dạy – học lịch sử, nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường nói riêng và giáo dục tỉnh nhà nói chung

- Nội dung giải pháp:

Vận dụng kiến thức liên môn trong giảng dạy lịch sử cũng được nhiều

nhà khoa học giáo dục đề cập nhưng họ chưa có tài liệu nào để hướng dẫn và áp dụng cụ thể trong từng bài dạy Vì vậy việc vận dụng văn học cách mạng trong giảng dạy lịch sử Việt Nam góp phần nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử bậc trung học phổ thông được nêu ra ở đây là hoàn toàn mới Một mặt, sáng kiến đã nêu ra được cụ thể nội dung kiến thức liên môn có liên quan và vận dụng lồng ghép vào giảng dạy cho từng bài học lịch sử Việt Nam ở lớp 12 giai đoạn

1919-2000 Mặt khác, sáng kiến đã phát họa cụ thể một số chuỗi kiến thức liên môn

có liên quan đến nội dung bài mới Sau đây xin minh họa cách vận dụng sáng

kiến như sau:

MINH HỌA I TÍCH HỢP VĂN HỌC CÁCH MẠNG TRONG GIẢNG DẠY LỊCH SỬ VIỆT NAM ( GIAI ĐOẠN 1919- 1945)

Bài 12 Mục I.1 Chính sách khai thác thuộc địa lần hai của thực dân Pháp.

Giáo viên miêu tả chính sách tàn bạo của thực dân Pháp đối với giai cấp

công nhân Việt Nam thể hiện qua tác phẩm Nước non ngàn dặm của Tố Hữu

như sau:

Câu thơ cũ, ai đem tới đó,

Anh chạy vào đất đỏ làm phu.

Bán thân đổi mấy đồng xu,

Thịt xương vùi gốc cao su mấy từng!

Nao nao nhìn mỗi góc rừng,

Cuối hàng cây thẳng, sáng bừng trời cao

Hoặc:

Trang 3

“ Cao su đi dễ khó về,

Khi đi trai tráng khi về bủng beo”.

Bài 12, mục II.1 Hoạt động của Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh và một số người Việt Nam sống ở nước ngoài:

Giáo viên liên hệ đến hai tác phẩm của Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh mà học sinh đã được tiếp cận trong chương trình ngữ văn, đó là tác phẩm: + Xuất dương lưu biệt: Phan Bội Châu viết trong bối cảnh ra đi sang Nhật

với phong trào Đông Du thể hiện ý chí nam nhi đối với tổ quốc lúc lâm nguy

+ Đập đá ở Côn Lôn: Phan Châu Trinh viết trong lúc bị thực dân Pháp

đày ông ra Côn Đảo

Trong thực tế giảng dạy giáo viên liên hệ đến hai tác phẩm trên để giúp học sinh hiểu thêm về ý chí và đường lối chống Pháp của hai ông

Bài 13 Mục II Đảng cộng sản Việt Nam ra đời:

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời có ý nghĩa to lớn đối với cách mạng Việt Nam với đường lối cách mạng khoa học sáng tạo tập hợp được mọi tầng lớp

nhân dân Điều đó được Tố Hữu thốt lên qua tập thơ Từ ấy với niềm tin mãnh

liệt sau:

Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ,

Mặt trời chân lý chói qua tim.

Hồn tôi là một vườn hoa lá,

Rất đậm hương và rộn tiếng chim.

Hay qua tác phẩm Quê mẹ, Tố Hữu đã khắc họa được niềm tin của nhân

dân vào sự lãnh đạo của đảng:

Nước mất, nhà tan đời khổ thế, Không làm nô lệ đứng lên thôi!

Con lớn lên con tìm cách mạng

Anh Lưu, anh Diểu dạy con đi

Mẹ không còn nữa con còn đảng Dìu dắt con đi khi chửa biết gì.

Bài 14 Mục II Phong trào cách mạng 1930-1931 với đỉnh cao là Xô Viết Nghệ Tĩnh:

Trang 4

Trong bối cảnh thực dân Pháp đàn áp dã man phong trào cách mạng

1930-1931, làm cho lực lượng của ta bị tổn thất nặng nề Tố Hữu đã vạch trần tội ác

của thực dân Pháp qua những câu thơ sau:

Bao đồng chí ta bây đã giết

Chặt đầu cắm cọc phơi khô

Chị em ta, bây căng thịt lõa lồ

Con em ta, bây quẳng chân vào lửa.

Bài 16 Phong trào giải phóng dân tộc và Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945.

Mục I Tình hình Việt Nam trong những năm 1939-1945:

Với hai tầng áp bức bóc lột của Nhật – Pháp từ 1944 - 1945 đã làm cho hai

triệu đồng bào ta chết đói Điều này giáo viên liên hệ tác phẩm Vợ nhặt của nhà văn Kim Lân để giúp học sinh khắc sâu được đời sống nhân dân ta đói khổ trong

giai đoạn này

Mục 2 Các cuộc đấu tranh mở đầu thời kì mới:

Sau cuộc khởi nghĩa Nam kỳ, Nguyễn Hữu Tiến cho ra đời hình ảnh lá cờ

đỏ sao vàng- lá cờ Tổ quốc tồn tại mãi đến ngày nay Ý nghĩa của lá cờ được

Nguyễn Hữu Tiến diễn đạt qua những câu thơ sau:

Nền cờ đỏ máu đào vì nước,

Màu vàng tươi da của giống nòi.

Mau lên đi hồn nước gọi ta rồi,

Hỡi sĩ, nông, công, thương, binh,

Đoàn kết lại như sao vàng năm cánh.

Mục 3 Nguyễn Ái Quốc về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam.

Sau khi về nước chủ trì hội nghị trung ương Tám, Bác Hồ lại sang Trung Quốc liên lạc với Đảng Cộng sản Trung Quốc và cố vấn Liên Xô nhưng bị chính quyền Quốc dân đảng bắt và giam cầm, Bác trải qua nhiều nhà ngục nhưng niềm

lạc quan cách mạng và ý chí kiên cường của Bác được thể hiện qua tác phẩm Nhật ký trong tù với đề tựa:

Thân thể tại ngục trung,

Tinh thần tại ngục ngoại.

Dục thành đại sự nghiệp,

Trang 5

Tinh thần cánh yếu đại.

Lược dịch:

Thân thể ở trong lao,

Tinh thần ở ngoài lao.

Muốn nên sự nghiệp lớn,

Tinh thần phải càng cao.

Giáo viên liên hệ và cùng học sinh ôn lại một số bài thơ của Bác trong tập

Nhật ký trong tù qua đó giúp học sinh vận dụng được kiến thức liên môn và khắc

sâu hơn bối cảnh ra đời của tập thơ ấy

Mục IV Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được thành lập.

Giáo viên tích hợp đến tác phẩm Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh ở

chương trình văn học lớp 12 để hướng dẫn các em rút ra nội dung và ý nghĩa của bản Tuyên ngôn bất hủ của dân tộc

MINH HỌA II VẬN DỤNG VĂN HỌC CÁCH MẠNG TRONG GIẢNG DẠY LỊCH SỬ VIỆT NAM ( GIAI ĐOẠN 1945- 1954)

Bài 17 Mục III Đấu tranh chống ngoại xâm và nội phản, bảo vệ chính quyền cách mạng:

Với dã tâm xâm lược nước ta lần nữa, thực dân Pháp dựa vào thực dân Anh tái chiếm Nam Bộ Nhân dân miền Nam từ vĩ tuyến 16 trở vào nhất tề đứng lên

chống Pháp, Tố Hữu đã ghi nhận lại qua những câu thơ trích trong tác phẩm Theo chân Bác với nội dung như sau:

Máu động chưa khô máu lại đầy,

Hỡi miền Nam trăm đắng ngàn cay

Bao nhiêu năm chẳng rời tay súng

Đi trước về sau đã dạn dày.

Hoặc:

Máu Việt Nam đang chảy

Đỏ đồng ôi máu yêu!

Miền Nam đang bốc cháy

Đồng bào ôi lửa thiêu!

Mau mau lên đứng dậy

Gươm gươm đâu tuốt ra

Trang 6

Súng súng đâu vác chạy

Cứu cứu đồng bào ta.

Bài 18 Những năm đầu của cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp (1946-1950)

Sau lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Bác được ban bố, phong trào

chống thực dân Pháp nổ ra mạnh mẽ gồm cả đàn ông, đàn bà, già, trẻ, hưởng

ứng và chiến đấu anh dũng Tố Hữu đã dành những vần thơ của mình trân trọng

sự đóng góp của họ qua một loạt câu thơ sau:

Gan chi gan rứa mẹ ơi!

Mẹ rằng: cứu nước mình chờ riêng ai.

Chẳng bằng con gái con trai,

Sáu mươi tuổi một chút tài đò đưa.

Tàu Tây nó bắn sớm trưa,

Lão thì cứ việc nắng mưa đưa đò.

Hay:

Chuyện cô du kích xóm Lai Vu,

Rắn quấn bên chân vẫn bắn thù.

Giặc hại trăm nhà lo diệt trước,

Rắn, mình em chịu có sao đâu.

Và rồi:

Có thể nào quên những con người,

Tóc còn xanh lắm tuổi đôi mươi.

Dám đổi thân mình đốt tàu giặc,

Chết rồi mà miệng vẫn cười tươi.

Hoặc:

Việt Nam xứ sở lạ lùng

Những em thơ cũng hóa anh hùng

Ong dại cũng lập nhiều chiến công

Và cây lá cũng thành chông diệt thù.

Mục 2.Mục IV Chiến dịch Biên giới thu đông 1950.

Đây là chiến dịch tiến công địch đầu tiên của ta trong cuộc kháng chiến chống Pháp 1945-1954, vì vậy Bác Hồ đã ra tận trận địa để thăm và khích lệ tinh

Trang 7

thần quân dân Trong bối cảnh đó Bác viết tác phẩm Đăng Sơn, giáo viên liên hệ

tác phẩm này để giúp học sinh thấy rõ quyết tâm của Bác và quân dân ta trong chiến dịch:

Chống gậy lên non xem trận địa,

Vạn trùng núi đỡ vạn trùng mây.

Quân ta thế mạnh nuốt Ngưu Đẩu,

Thề diệt xâm lăng lũ sói cầy.

Bài 20 Mục II.2 Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ 1954:

Trong khi quân ta đang giành thắng lợi giòn giã ở mặt trận Điện Biên Phủ,

ngay đêm ấy Tố Hữu đã viết nên những vần thơ thép chào mừng quân ta chiến thắng qua bài thơ Hoan hô chiến sĩ Điện Biên, giáo viên trích lược đoạn trích

sau đây để cung cấp và giáo dục lòng yêu nước cho học sinh:

Hoan hô chiến sĩ Điện Biên!

Chiến sĩ anh hùng.

Đầu nung lửa sắt,

56 ngày đêm khoét núi, ngủ hầm,

Mưa dầm, cơm vắt

Máu trộn bùng non,

Gan không núng,

Dạ không sờn,

Những đồng chí thân chôn làm giá súng,

Đầu bịt lỗ châu mai,

Băng mình qua núi thép gai,

Ào ào vũ bão

MINH HỌA III VẬN DỤNG VĂN HỌC CÁCH MẠNG TRONG GIẢNG DẠY LỊCH SỬ VIỆT NAM ( GIAI ĐOẠN 1954 - 1975)

Bài 21 I Tình hình và nhiệm vụ cách mạng nước ta sau hiệp định Gionevo năm 1954

Việt Nam tạm thời chia cắt thành hai miền nhưng Mĩ đã xâm lược và biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới căn cứ quân sự ở châu Á- Thái Bình Dương, với âm mưu chia cắt lâu dài Việt Nam Từ đó nhân dân miền Nam tiếp tục làm cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân chống Mĩ để thống nhất đất

Trang 8

nước Cả nước đều hướng đến Bắc – Nam sum hợp một nhà, điều đó là khát

vọng của toàn dân tộc, được Tố Hữu viết lại qua tác phẩm Ta đi tới với những

vần thơ sau:

Dù ai nói ngã nói nghiêng,

Lòng ta vẫn vững như kiền ba chân.

Dù ai rào dậu ngăn sân,

Lòng ta vẫn vững là con dân cụ Hồ.

Gươm nào chém được dòng Bến Hải,

Lửa nào thiêu được dãy Trường Sơn.

Trăm sông liền một biển đông,

Bắc – Nam lại sẽ về trong một nhà.

Bài 21.Mục III Phong trào Đồng Khởi

Trong khí thế thắng lợi của phong trào Đồng khởi, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt nam ra đời Cờ của mặt trận là lá cờ nửa đỏ nửa xanh và

ngôi sao vàng ở giữa cũng ra đời Giáo viên liên hệ đến tác phẩm Nước non ngàn dặm, Tố Hữu nêu rõ ý nghĩa của lá cờ mặt trận là:

Lá cờ nửa đỏ nửa xanh,

Màu đỏ của đất, màu xanh của trời.

Ngôi sao chân lý giữa đời,

Việt Nam vàng của lòng người hôm nay.

Qua thắng lợi phong trào Đồng Khởi năm 1960, chuyển cách mạng miền Nam từ giữ gìn lực lượng sang thế tiến công Với ý nghĩa to lớn đó, giáo viên

liên hệ đến bài thơ Nhớ về Đồng Khởi Bến Tre của tác giả Trần Thanh Xuân với

nội dung:

Nhớ về Đồng Khởi Bến Tre,

Đánh bại giặc Mĩ cùng bè tay sai.

Nổ ra ba xã ( điểm ) Mỏ Cày,

Lan ra Nam Bộ và ngoài miền Trung.

Khiến cho Mĩ- Diệm hãi hùng,

Sức mạnh toàn đảng hòa cùng quân dân.

Hỏa lực Mĩ mạnh vô ngần,

Lực ta tuy yếu nhưng dân chung lòng.

Trang 9

Tầm vong, súng giả tiến công,

Rừng xanh, Ong dại góp công diệt thù.

Thua đau bè lũ Diệm- Nhu,

Xua quân tái chiếm những khu mất đồn.

Nguyễn Thị Định bẻ (gãy) Càn Khôn,

Đẩy lui địch ngụy , bảo toàn quân ta.

Phong trào Đồng Khởi mở ra,

Bước ngoặt lịch sử trên đà tiến công.

Hôm nay, trời lộng cờ hồng,

Con dân Đồng Khởi một lòng chung tay.

Xây dựng Bến Tre tương lai,

Trở nên giàu mạnh, sánh vai chín rồng.

Góp phần tô điểm non sông,

Hưởng đời vui mới, cờ hồng tung bay.

Bài 22 Mục II Miền Bắc vừa chiến đấu chống chiến tranh phá hoại vừa làm nghĩa vụ hậu phương.

Từ ngày 5/8/1964- 1/11/1968, miền Bắc vừa chống chiến tranh phá hoại của

Mĩ vừa đảm bảo nhiệm vụ hậu phương chi viện người và của cho chiến trường miền Nam chống Mĩ, với tinh thần đó giáo viên liên hệ qua những câu thơ sau

trong tác phẩm Tình yêu và báo động của nhà thơ Bằng Việt để giúp học sinh

thấy được ý chí chống chiến tranh phá hoại của nhân dân miền Bắc để làm tròn nhiệm vụ hậu phương:

Không ai trở về thời kỳ đồ đá,

Ta khinh bỉ nhìn kẻ thù dậm dọa.

Ba năm rồi từ dạo ấy em ơi

Thành phố bao phen rung động hồi còi.

Em biết dập kho tàng khi lửa bén,

Biết trồng lại hàng cây cháy sém,

Biết bắn địch hôm nay vì đích của ngày mai.

Và rồi trong tác phẩm Theo chân Bác, Tố Hữu viết:

Miền Bắc đó, đôi vai nặng gánh,

Gánh cả non sông vạn dặm dài.

Trang 10

Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước,

Mà lòng phơi phới dậy tương lai.

MINH HỌA IV VẬN DỤNG VĂN HỌC CÁCH MẠNG TRONG GIẢNG DẠY LỊCH SỬ VIỆT NAM ( GIAI ĐOẠN 1975- 2000)

Bài 24 Việt Nam trong những năm đầu sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước năm 1975.

Mục I Tình hình hai miền Bắc – Nam sau năm 1975:

Chiến tranh chấm dứt để lại hậu quả nặng nề cho nhân dân hai miền, được

minh chứng qua những đoạn thơ trích trong Nước non ngàn dặm của Tố Hữu,

giáo viên liên hệ đến những câu thơ này cung cấp cho học sinh biết thêm về hậu quả chiến tranh và giúp các em nhận thức được ý chí khắc phục khó khăn của nhân dân ta thời hậu chiến:

Tả tơi những ấp khu đồn,

Mái tôn rào kẽm tháp đồn chơ vơ.

Vạn ngày không buổi nào yên,

Cá ăn phải máu, chim quên lối vườn.

Con người như dãy trường sơn,

Vững chân bám trụ chẳng sờn óc gan.

Hoặc:

Các anh hy sinh năm ấy ở chiến trường,

Lứa tuổi đôi mươi các chị thành vợ góa.

Những đứa con không hề biết mặt bố,

Mãi cợt đùa nhau đâu biết mẹ khóc thầm.

Hay qua bài thơ Hai mươi năm sau của tác giả Đoàn Lê viết:

Hai mươi năm người yêu xưa trở lại,

Từ chiến trường về anh không còn đôi mắt nữa.

Đâu biết rằng con trai tôi đã vào bộ đội,

Con gái tôi đã là cô giáo trường xưa.

Mục II Khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục và phát tiển kinh tế

xã hội hai miền đất nước.( Giảm tải)

Ngày đăng: 10/10/2019, 01:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w