Để giải quyết những vấn đề nêu trên, với việc chọn đề tài“Thuật ngữ ngân hàng trong tiếng Anh và các tương đương của chúng trong tiếng Việt ”, luận án sẽ đi sâu tìm hiểu về nguồn gốc cấu
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐỖ HẠNH DUNG
THUẬT NGỮ NGÂN HÀNG TRONG TIẾNG ANH
VÀ TƯƠNG ĐƯƠNG CỦA CHÚNG TRONG TIẾNG VIỆT
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Trang 2VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐỖ HẠNH DUNG
THUẬT NGỮ NGÂN HÀNG TRONG TIẾNG ANH
VÀ TƯƠNG ĐƯƠNG CỦA CHÚNG TRONG TIẾNG VIỆT
Ngành: Ngôn ngữ học so sánh, đối chiếu
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong Luận án là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất cứ công trình nào.
Tác giả
Đỗ Hạnh Dung
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Nghiên cứu sinh xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến PGS TS Hà Quang Năng, người đã hướng dẫn tận tình với những nhận xét, góp ý hết sức quý báu để Nghiên cứu sinh có được kết quả như ngày hôm nay.
Nghiên cứu sinh c ng xin được bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới các Thầy/cô, các Anh/chị đồng nghiệp, bạn bè và gia đình đã giúp đỡ Nghiên cứu sinh trong thời gian hoàn thành luận án.
Xin trân trọng cảm ơn tập thể các giáo sư, nhà khoa học, thầy giáo, cô giáo Khoa Ngôn Ngữ, Viện Khoa Học Xã Hội, Trường Đại học Ngoại thương đã tạo điều kiện tốt nhất để Nghiên cứu sinh hoàn thành luận án này.
Hà Nội, ngày 20 tháng 5 năm 2019
Tác giả
Đỗ Hạnh Dung
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN 7
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 7
1.1.1 Tình hình nghiên cứu thuật ngữ trên thế giới và Việt Nam 7
1.1.2 Tình hình nghiên cứu thuật ngữ ngân hàng ở Anh và Việt Nam 15
1.2 Cơ sở lí luận 18
1.2.1 Những vấn đề về thuật ngữ 18
1.2.2 Lí thuyết định danh với vấn đề xây dựng thuật ngữ 29
1.2.3 Lí thuyết dịch và tương đương dịch thuật 32
Chương 2: CẤU TẠO THUẬT NGỮ NGÂN HÀNG TIẾNG ANH VÀ TƯƠNG ĐƯƠNG TRONG TIẾNG VIỆT 41
2.1 Cấu tạo của TNNH tiếng Anh và tương đương trong tiếng việt 41
2.1.1 Thành tố cấu thành thuật ngữ ngân hàng - ngữ tố 41
2.1.2 Xác định hệ thuật ngữ ngân hàng 43
2.1.3 Các phương diện khảo sát 43
2.2 Số lượng ngữ tố cấu tạo thuật ngữ ngân hàng trong tiếng Anh và tiếng Việt 44
2.3 Phân tích đặc điểm cấu tạo và từ loại của thuật ngữ ngân hàng tiếng Anh và tiếng Việt 45
2.3.1 Thuật ngữ có một ngữ tố 45
2.3.2 Thuật ngữ ngân hàng có hai ngữ tố 50
2.3.3 Thuật ngữ có ba ngữ tố 53
2.3.4 Thuật ngữ có bốn ngữ tố 54
2.3.5 Thuật ngữ có năm ngữ tố 54
2.4 Mô hình cấu tạo của thuật ngữ ngân hàng tiếng Anh và tiếng Việt 55
Trang 62.4.1 Mô hình cấu tạo thuật ngữ ngân hàng tiếng Anh 55
2.4.2 Mô hình cấu tạo của thuật ngữ ngân hàng trong tiếng việt 61
Chương 3: ĐẶC ĐIỂM ĐỊNH DANH THUẬT CỦA NGỮ NGÂN HÀNG TIẾNG ANH VÀ TƯƠNG ĐƯƠNG TRONG TIẾNG VIỆT 75
3.1 Một số vấn đề lí thuyết về định danh 75
3.1.1 Khái niệm định danh 75
3.1.2 Đơn vị định danh 75
3.1.3 Cơ chế định danh của đơn vị định danh phức hợp 76
3.2 Những con đường tạo nên thuật ngữ ngân hàng tiếng Anh và tiếng Việt.78 3.2.1 Con đường hình thành thuật ngữ ngân hàng tiếng Anh 79
3.1.2 Con đường hình thành thuật ngữ ngân hàng tiếng Việt 86
3.2 Đặc điểm định danh của thuật ngữ ngân hàng 92
3.2.1 Đặc điểm định danh của thuật ngữ ngân hàng xét theo kiểu ngữ nghĩa của thuật ngữ 92
3.2.2 Đặc điểm định danh của thuật ngữ ngân hàng xét theo cách thức biểu thị của thuật ngữ 93
3.3 Phạm trù định danh thuật ngữ ngân hàng 94
3.3.1 Phạm trù định danh thuật ngữ chỉ các chủ thể tiến hành hoạt động ngân hàng 94
3.3.2 Phạm trù chỉ các chứng từ bảo đảm, thanh toán ngân hàng trong tiếng Anh và tiếng Việt 103
3.3.3 Phạm trù định danh của từng hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng 109
3.4 Các kiểu tương đương trong TNNH tiếng Anh và tiếng Việt 111
3.4.1 Phân tích tương đương dịch thuật thuật ngữ ngân hàng theo loại đơn vị cấu tạo thuật ngữ 111
3.4.2 Phân tích tương đương dịch thuật thuật ngữ ngân hàng theo số lượng đơn vị 117
3.5.Tiêu chí chuẩn hóa và chỉnh lí hệ thuật ngữ 123
Trang 73.5.1 Định nghĩa chuẩn và chuẩn hóa 123 3.5.2 Các tiêu chí khi chỉnh lí hệ thuật ngữ 124 3.6 Thực trạng TNNH tiếng Việt trong quá trình dịch và đề xuất chuẩn hóa. 1263.6.1 Thực trạng TNNH tiếng Việt trong quá trình chuyển dịch 126 3.6.2 Một số ý kiến đề xuất về xây dựng và chuẩn hoá hệ thống thuật
ngữ ngân hàng tiếng Việt trên phương diện ý nghĩa và phương thức định danh 130
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: TNNH tiếng Việt và tiếng Anh xét theo số lượng ngữ tố 44
Bảng 2.2: Thống kê từ loại của TNNH tiếng Anh là từ 47
Bảng 2.3: Thống kê cấu tạo và từ loại của TNNH tiếng Việt 1 ngữ tố 50
Bảng 2.4: Thống kê cấu tạo và từ loại của TNNH tiếng Anh 2 ngữ tố 52
Bảng 2.5: Thống kê từ loại của TNNH tiếng Việt 2 ngữ tố 53
Bảng 2.6: Thống kê mô hình cấu tạoTNNH trong tiếng Anh và tiếng Việt 73
Bảng 3.1 Phạm trù định danh thuật ngữ chỉ chủ thể ngân hàng trong tiếng Anh và tiếng Việt 102
Bảng 3.2: Phạm trù chỉ các chứng từ bảo đảm, thanh toán ngân hàng trong tiếng Anh và tiếng Việt 108
Bảng 3.3: Phạm trù định danh thuật ngữ chỉ hoạt động cụ thể trong lĩnh vực ngân hàng của TNNH trong tiếng Anh và tiếng Việt 110
Bảng 3.4: Kiểu tương đương 1//1 của thuật ngữ TANH tiếng Anh và tiếng Việt 114
Bảng 3.5: Kiểu tương đương 1// > 1 của thuật ngữ ngân hàng tiếng Anh và tiếng Việt 117
Bảng 3.6: Tỉ lệ tương đương theo số lượng đơn vị của thuật ngữ ngân hàng tiếng Anh và tiếng Việt 122
Trang 9DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Thuật ngữ từ lâu đã là đề tài vô cùng quan trọng, không thể thiếu trong
sự hình thành và phát triển từ vựng của mỗi ngôn ngữ Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, cùng với sự phát triển của ngôn ngữ, thuật ngữ hiển nhiên lại càng đóng một vai trò chủ chốt, đáp ứng sự tăng trưởng không ngừng của khoa học, công nghệ Chúng có thể giúp con người ngày càng tiếp cận được các ngành công nghiệp một cách hiệu quả, hữu ích hơn Vì vậy, thuật ngữ nói chung và thuật ngữ kinh tế nói riêng luôn được các nhà nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước quan tâm, tiếp cận từ nhiều khía cạnh và các quan điểm khác nhau.
Nằm trong bối cảnh khu vực hóa, toàn cầu hóa như hiện nay, Việt Nam
c ng đang trong thời kỳ đổi mới, phát triển kinh tế thị trường theo định hướng
xã hội chủ nghĩa có sự điều tiết của nhà nước Hệ thống ngân hàng nói chung góp một phần quan trọng trong sự phát triển của toàn bộ các ngành có liên quan Trải qua hơn 60 năm xây dựng và phát triển, hệ thống ngân hàng Việt
Nam đã đạt được những thành tựu rất quan trọng, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, là cầu nối giữa các chủ thể trong nền kinh
tế, làm cho các chủ thể gắn bó, phụ thuộc lẫn nhau Với vai trò quan trọng như vậy, hệ thống ngân hàng trở nên vô cùng thiết yếu, vừa nắm cán cân, vừa quyết định sự thành bại của một nền kinh tế.
Cùng với sự phát triển của ngành ngân hàng là sự ra đời và phát triển các thuật ngữ có liên quan, đó là những từ, ngữ biểu thị khái niệm, phạm trù đã được đúc kết, tích hợp từ các hoạt động trong ngành Tuy nhiên, từ thực tế giảng dạy tại khoa ngân hàng, qua số liệu khảo sát ban đầu, chúng tôi nhận thấy: hệ thuật ngữ trong quá trình sử dụng còn chưa có sự thống nhất, nhiều thuật ngữ ngân hàng (TNNH) tiếng Việt chưa biểu đạt được chính xác khái niệm, nhiều cụm từ còn dài dòng, nặng về miêu tả, nghiên cứu TNNH chuyên
Trang 11sâu và hệ thống vẫn chưa có sự quan tâm, chưa có bất cứ công trình nghiên cứu nào chuyên sâu về hệ thống thuật ngữ ngân hàng trong tiếng Anh hay trong tiếng Việt Để giải quyết những vấn đề nêu trên, với việc chọn đề tài
“Thuật ngữ ngân hàng trong tiếng Anh và các tương đương của chúng trong tiếng Việt ”, luận án sẽ đi sâu tìm hiểu về nguồn gốc cấu tạo, đặc điểm định danh, các kiểu tương đương của TNNH trong tiếng Anh và tiếng Việt, nhằm mục đích tạo nguồn tài liệu cao cho sinh viên, giảng viên ngành ngân hàng và đóng góp nhất định vào quá trình chuẩn hóa TNNH tiếng Việt, thúc đẩy sự phát triển nội lực đầy tiềm năng của nền kinh tế đang hội nhập.
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu này được tiến hành nhằm hai mục đích sau:
- Miêu tả, đối chiếu và hệ thống hóa các TNNH tiếng Anh và tiếng Việt làm sáng tỏ đặc trưng về mặt cấu tạo và ngữ nghĩa định danh.
- Từ thực trạng khi chuyển dịch của các TNNH tiếng Việt, luận án đã đề xuất một số phương hướng, biện pháp cụ thể hỗ trợ xây dựng và chuẩn hóa TNNH
c ng như phục vụ cho công tác giảng dạy, học tập, soạn thảo và dịch các tài liệu ngân hàng hiệu quả hơn.
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được những mục đích trên, luận án cần phải giải quyết những nhiệm vụ sau:
- Hệ thống hóa lí luận tình hình nghiên cứu về thuật ngữ trên thế giới và
ở Việt Nam, qua đó xác định cơ sở cho việc nghiên cứu.
- Nghiên cứu cấu tạo thuật ngữ ngân hàng trong tiếng Anh và tiếng Việt, xác định các loại mô hình kết hợp các ngữ tố để tạo nên thuật ngữ ngân hàng trong hai ngôn ngữ Anh- Việt.
- Tìm hiểu đặc điểm định danh của TNNH trong cả hai ngôn ngữ Anh – Việt như: con đường hình thành, kiểu ngữ nghĩa và cách thức biểu thị.
Trang 12- Xác định các kiểu tương đương dịch thuật và phân tích tương đương dịch thuật ngữ ngân hàng theo số lượng đơn vị.
Kết quả nghiên cứu giúp đề xuất những biện pháp cụ thể nhằm xây dựng và chuẩn hóa TNNH tiếng Việt, góp phần nâng cao hiệu quả giảng dạy đối với sinh viên ngành ngân hàng và góp phần thúc đẩy các hoạt động của ngành ngân hàng tại Việt Nam.
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
Đối tượng của luận án là các TNNH, cụ thể là các thuật ngữ biểu đạt các khái niệm được sử dụng trong lĩnh vực ngân hàng Để có được số liệu thuật ngữ ngân hàng làm tư liệu nghiên cứu, luận án phải dựa vào nhiều nguồn khác nhau, trước hết là các thuật ngữ ngân hàng được khai thác, chọn lọc từ các cuốn từ điển giải thích Anh - Anh, Anh – Việt uy tín như: Dictionary of Banking (1991) “Từ điển ngân hàng” của Peter Collin Pulishing ,Bank of Finance “Ngân hàng tài chính” của Peter Collin (1999) và từ điển ngân hàng Anh- Việt của Nguyễn Văn Dung (2010) Luận án lựa chọn nguồn
dữ liệu trên vì các từ điển này khá phổ biến, uy tín và phù hợp với mục đích nghiên cứu Tuy nhiên, số lượng thuật ngữ ngân hàng hiện diện trong các từ điển còn khiêm tốn, chưa phản ánh được sự phong phú của thuật ngữ ngân hàng trong thực tế sử dụng Vì vậy, bên cạnh số thuật ngữ được khảo sát chính trong các từ điển, luận án còn dựa trên các tài liệu khoa học ngân hàng như các giáo trình đang được giảng dạy, tạp chí chuyên ngành ngân hàng như giáo trình English for Banking và tạp chí Banking đang được lưu hành nội bộ cho sinh viên tại khoa Tiếng Anh Chuyên Ngành và Khoa Ngân Hàng trường Đại Học Ngoại Thương.
Với cách tiến hành như trên, luận án đã thu thập được 2710 thuật ngữ tiếng Anh và 2790 thuật ngữ tiếng Việt làm tư liệu nghiên cứu Với số lượng khá lớn các thuật ngữ được thu thập và phân tích trên, kết quả của luận án hứa hẹn sẽ thực sự hữu ích và đáng tin cậy.
Trang 134 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
Do đối tượng nghiên cứu là các TNNH tiếng Anh và tiếng Việt, nên chúng tôi chủ trương dùng các phương pháp và thủ pháp nghiên cứu sau đây:
4.1 Phương pháp phân tích thành tố trực tiếp
Phương pháp phân tích thành tố trực tiếp được sự dụng để xác định và phân tích cơ sở cấu tạo thuật ngữ Để áp dụng phương pháp này, mỗi thuật ngữ được phân tích thành hai ngữ tố trực tiếp Tiếp đến, các ngữ tố này lại được phân ra thành các ngữ tố trực tiếp nhỏ hơn Qua đó, xác định mô hình cấp bậc của thuật ngữ, mối quan hệ giữa các ngữ tố trực tiếp trong mỗi bậc
c ng như mối quan hệ giữa các đại ngữ tố trực tiếp tạo nên thuật ngữ.
4.2 Phương pháp miêu tả
Phương pháp này được sử dụng nhằm miêu tả đặc điểm cấu tạo của từng thuật ngữ, giúp chúng tôi xác định chính xác các ngữ tố tạo nên TNNH, c ng như các mô hình kết hợp nhằm làm rõ đặc điểm của TNNH về cấu tạo, định danh c ng như định hướng cách hình thành thuật ngữ mới.
4.3 Phương pháp so sánh, đối chiếu
Theo quan điểm của các nhà ngôn ngữ như Lê Quang Thiêm, Nguyễn Thiện Giáp “Phương pháp so sánh, đối chiếu là phương pháp nghiên cứu so sánh hai hay nhiều ngôn ngữ hoặc tiểu loại của ngôn ngữ nhằm tìm ra sự tương đồng và khác biệt giữa chúng” Phương pháp đối chiếu được chia thành các tiểu loại là đối chiếu một chiều, đối chiếu hai chiều và đối chiếu song song Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng phương pháp đối chiếu một chiều tiếng Anh sang tiếng Việt Để làm được điều đó, chúng tôi chọn tiếng Anh làm ngôn ngữ cơ sở (ngôn ngữ nguồn) và tiếng Việt làm ngôn ngữ phương tiện (ngôn ngữ đích), lần lượt đối chiếu các kiểu tương đương để từ
đó tìm ra được sự tương đồng và khác biệt giữa chúng.
Bên cạnh việc sử dụng ba phương pháp phân tích trên, chúng tôi còn sử dụng thủ pháp thống kê, lập bảng biểu nhằm liệt kê số lượng, tần suất và tỉ lệ
Trang 14sử dụng các thuật ngữ trong từng phạm trù c ng như đặc trưng định danh nhất định của TNNH trong cả hai ngôn ngữ.
5 Ý nghĩa lý luận và thực tế của luận án
Luận án có những đóng góp thiết thực về mặt lí luận và thực tế sau:
5.1 Về mặt lí luận
- Luận án xác định rõ những điểm giống nhau và khác nhau về con đường hình thành c ng như phương thức cấu tạo của TNNH trong cả tiếng Anh và tiếng Việt.
- Luận án c ng chỉ ra những đặc điểm cấu tạo của thuật ngữ ngân hàng tiếng Anh và tương đương của chúng trong tiếng Việt Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần vào việc xây dựng lí thuyết chung về thuật ngữ học và lí luận về chuẩn và chuẩn hóa thuật ngữ.
- Qua nghiên cứu về tương đương dịch thuật thuật ngữ ngân hàng ở cả hai ngôn ngữ, chúng tôi sẽ góp phần làm rõ thêm luận điểm đại cương về tính quốc tế của TNNH trong thời đại mới.
5.2 Về mặt thực tế
Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ góp phần phục vụ cho công tác biên soạn
và chỉnh lí tài liệu giảng dạy, nghiên cứu tiếng Anh chuyên ngành ngân hàng, nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy và học tiếng Anh ngân hàng tại Đại học Ngoại Thương nói riêng và các cơ sở đào tạo giáo dục trong nước nói chung.
6 Cơ cấu của luận án
Luận án gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí luận.
Trong chương này, luận án sẽ trình bày lịch sử nghiên cứu thuật ngữ ngân hàng và một số cơ sở lí luận làm nền tảng cho việc nghiên cứu thuật ngữ.
Chương 2: Đặc điểm cấu tạo của thuật ngữ ngân hàngtiếng Anh và
tương đương trong tiếng Việt.
Trang 15Đây là chương luận án tìm hiểu đặc điểm cấu tạo của thuật ngữ ngân hàng trên các phương diện: số lượng ngữ tố, quan hệ ngữ pháp, đặc điểm từ loại, nguồn gốc cấu tạo thuật ngữ.
Chương 3: Đặc điểm định danh của thuật ngữ ngân hàng tiếng Anh và tương đương trong tiếng Việt
Trong chương này, ngoài việc tìm hiểu nguyên lí định danh, các con đường hình thành thuật ngữ ngân hàng tiếng Anh, luận án còn tìm hiểu về hai kiểu định danh của TNNH tiếng Anh bao gồm định danh xét theo kiểu ngữ nghĩa và định danh và xét theo cách thức biểu thị Bên cạnh đó, dựa trên số liệu đã được khảo sát về tương đương dịch thuật và thực trạng các thuật ngữ chưa đạt chuẩn, luận án c ng đưa ra một số kiến nghị về việc xây dựng và chuẩn hóa thuật ngữ ngân hàng tiếng Việt.
Trang 16Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1 Tình hình nghiên cứu thuật ngữ trên thế giới và Việt Nam
1.1.1.1 Nghiên cứu thuật ngữ và thuật ngữ chuyên ngành trên thế giới
Các nghiên cứu về thuật ngữ có dấu hiệu bắt đầu từ thế kỷ XVIII, một số tác giả gắn liền với những nghiên cứu được coi là mở đường cho công tác nghiên cứu thuật ngữ như Carlvon Linné (1736), Beckmann (1780), A.L Lavoisier, G.de Morveau, M.Berthellot và A.F de Fourcroy (1789) và William Wehwell (1840) Tuy nhiên, phải đến đầu thế kỷ XX, khoa học thuật ngữ mới phát triển mạnh, việc nghiên cứu thuật ngữ mới nhận được sự quan tâm của đông đảo các nhà khoa học và chiếm vị thế quan trọng trong xã hội, các nghiên cứu được tiến hành độc lập bởi các học giả thuộc các trường phái sau:
Trường phái nghiên cứu thuật ngữ của Áo, Đức: Các phương pháp
nghiên cứu thuật ngữ của trường phái này chủ yếu được trình bày rất rõ trong tác phẩm “Lí luận chung về thuật ngữ”của Wuster (1931), trong tác phẩm của mình, ông đã đề cập đến những những khía cạnh ngôn ngữ học với nghiên cứu thuật ngữ liên quan hệ thống tên gọi của lĩnh vực kỹ thuật Đáng chú ý là các tranh luận của ông về việc hệ thống hóa các phương pháp nghiên cứu thuật ngữ, đưa ra một số nguyên tắc khi sử dụng thuật ngữ và chỉ ra những điểm chính của phương pháp xử lí dữ liệu thuật ngữ Leo Weisgeber (1975) cho rằng đây là công trình quan trọng và là bước ngoặt của ngôn ngữ học ứng dụng.
Trường phái nghiên cứu thuật ngữ của Xô Viết: Dựa trên các công
trình nghiên cứu của Lotte, Drezen, Caplygil và các cộng sự, trường phái này chịu ảnh hưởng bởi công trình nghiên cứu về thuật ngữ của Wuster Tiếp thu những quan điểm từ hai trường phái trên, trường phái này c ng tập trung nghiên cứu về vấn đề chuẩn hóa Ngay sau khi luận án của Wuster được dịch
Trang 17sang tiếng Nga, nó đã thu hút rất nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu.
Từ những nghiên cứu trên cho thấy rằng, công tác nghiên cứu thuật ngữ phát triển rất nhanh ở Xô Viết từ những những năm 1930 trở đi.
Đại diện cho trường phái này đó chính là Lotte (1898-1950), ông được coi là người tiên phong trong việc nghiên cứu và phát triển hệ thuật ngữ hiện đại của Xô Viết Với công trình nghiên cứu “Những vấn đề gây bức xúc trong trường thuật ngữ khoa học và kĩ thuật”, ông đã được Kulebakin (1993) nhận xét là một trong những người có tầm quan trọng lớn nhất cho công tác phát triển thuật ngữ về mặt lí thuyết với quan điểm chính “Hệ thuật ngữ là toàn bộ các thuật ngữ phù hợp với hệ thống khái niệm của một lĩnh vực khoa học hay
kĩ thuật nào đó Hệ thống thuật ngữ thể hiện cái gọi là hệ thống khái niệm”.
Một đặc điểm khá quan trọng của công tác phát triển thuật ngữ của Xô viết là thu hút các nhà ngôn ngữ học vào công tác nghiên cứu cơ bản về thuật ngữ từ rất sớm Trong đó, có thể tìm thấy các công trình nghiên cứu của V.V.Vinogradov, G.O.Vinokur Những nghiên cứu này được coi là nền tảng cho sự khởi đầu của ngành khoa học thuật ngữ trên thế giới.
Trường phái thuật ngữ học của Cộng hòa Séc: Có thể nói, mối quan
tâm nhất của trường phái này là vấn đề chuẩn hóa các ngôn ngữ và chuẩn hóa thuật ngữ như việc miêu tả cấu trúc và chức năng, trong đó họ cho rằng thuật ngữ đóng vai trò hết sức quan trọng Các ngôn ngữ chuyên ngành theo trường phái này được coi là mang tính văn phong nghề nghiệp tồn tại cùng những văn phong khác như văn học, kinh tế và hội thoại Họ xem thuật ngữ như những đơn vị tạo nên văn phong nghề nghiệp mang tính chức năng và được ra đời do kết quả của bản chất đa ngôn ngữ trong khu vực địa lí của nó Nói tóm lại, khi nói tới hướng nghiên cứu thuật ngữ theo sự điều chỉnh phù hợp với hệ thống ngôn ngữ, người ta không thể không nhắc tới ba trường phái và c ng là
ba cái nôi nghiên cứu thuật ngữ tiêu biểu và lớn nhất trên thế giới, đó là Cộng
Trang 18có chung quan điểm là nghiên cứu thuật ngữ dựa trên ngôn ngữ học, họ đều xem thuật ngữ như là một phương tiện để diễn đạt và giao tiếp Vì vậy cả ba trường phái đã hình thành cơ sở lí thuyết về thuật ngữ và những nguyên lí mang tính phương pháp luận chi phối những ứng dụng của nó.
1.1.1.2 Tình hình nghiên cứu thuật ngữ ở Việt Nam
Theo xu thế hội nhập toàn cầu, việc nghiên cứu thuật ngữ khoa học và chuẩn hóa thuật ngữ được các nhà nghiên cứu Việt Nam hết sức quan tâm Nghiên cứu về hệ thuật ngữ đã đóng góp một vai trò to lớn trong ngành ngôn ngữ học hiện đại của chúng ta hiện nay Trong các năm qua, việc nghiên cứu theo hướng thuật ngữ đã đem lại nhiều thành tựu to lớn cả về mặt lý thuyết lẫn thực tiễn.
Việc nghiên cứu thuật ngữ khoa học tiếng Việt ở Việt Nam bắt đầu được hình thành từ những năm đầu của thế kỉ XX, nhưng các nghiên cứu xuất hiện lẻ tẻ, giới hạn ở một số ít các bài báo nhất định Các nghiên cứu thời
kỳ này là bước khởi đầu cho hệ thuật ngữ chuyên môn của tiếng Việt trong
lĩnh vực khoa học Các nghiên cứu gắn liền với giai đoạn này là; Bàn về tiếng
An-Nam của Dương Quảng Hàm, Tiếng An- Nam có nghèo hay không? Của
V Công Nghi Cả hai tác giả đều cùng quan điểm đề cập đến vấn đề vay
mượn thuật ngữ nước ngoài, hay chính xác hơn là mượn chữ Tàu, chữ Nho dịch những chữ về triêt học, khoa học kỹ thuật.
Năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và lãnh đạo cách mạng nước
ta, do có chủ trương và chính sách đúng đắn, nhiều từ ngữ chuyên môn, thuật ngữ khoa học được hình thành và phát triển Hệ thống thuật ngữ chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực mới như; chính trị, triết học, khoa học xã hội…sau đó các lĩnh vực như khoa học kỹ thuật mới được quan tâm Hoàng Xuân Hãn được cho
là người tiên phong trong việc xem xét vấn đề xây dựng thuật ngữ một cách có
hệ thống, đưa ra phương thức xây dựng thuật ngữ và đề ra các yêu cầu cần thiết đối với việc xây dựng thuật ngữ khoa học Tiếp theo đó, tác phẩm
Trang 19“Danh từ khoa học”, Từ điển đối chiếu Pháp - Việt về một số ngành khoa học tự nhiên ra đời và là những cuốn từ điển đầu tiên của nước ta Tiếp nối tư tưởng này, một số nghiên cứu thuật ngữ đối chiếu khác c ng đã được biên soạn.
Sau những mốc đóng góp trên, mãi cho đến những năm 60-70 của thế
kỉ XX, việc nghiên cứu lí luận c ng như biên soạn từ điển thuật ngữ ở nước ta mới thực sự thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu Mặc dù trong giai đoạn này hệ thuật ngữ tiếng Việt đã phát triển khá mạnh, tuy nhiên tình trạng không thống nhất trong cách đặt tên thuật ngữ c ng như trong cách phiên âm thuật ngữ nước ngoài vẫn còn khá phổ biến Trong bối cảnh ấy, vào năm
1964, dưới sự chỉ đạo của Ủy ban Khoa học Nhà nước, việc xây dựng thuật ngữ khoa học đã được tổ chức khá quy mô nhằm giải quyết các vấn đề liên quan đến thuật ngữ như tiêu chuẩn của thuật ngữ, phương thức đặt thuật ngữ, việc vay mượn và xử lý nhóm thuật ngữ nước ngoài Các vấn đề này một lần nữa thu hút được rất nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu trong cả nước Chính điều này đã tạo nên một không khí sôi nổi trong giới nghiên cứu
về thuật ngữ những năm 60-70 của thế kỉ XX Tuy vẫn còn có những ý kiến khác nhau trong vấn đề về các tiêu chuẩn của thuật ngữ nhưng hầu hết các nhà khoa học đều nhất trí với ba tiêu chuẩn của thuật ngữ gồm: khoa học, dân tộc, đại chúng.
Từ năm 1975 cho đến nay, những vấn đề lớn nhận được sự quan tâm của các nhà khoa học như định nghĩa thuật ngữ, tiêu chuẩn của thuật ngữ, phương thức xây dựng thuật ngữ và vấn đề vay mượn thuật ngữ nước ngoài Giai đoạn này được xem là giai đoạn phát triển mạnh mẽ của nghiên cứu thuật ngữ, rất nhiều hội nghị khoa học về chuẩn mực hóa chính tả và thuật ngữ đã được tổ chức với sự tham gia và quan tâm của rất nhiều nhà khoa học Đặc biệt, Hội đồng Chuẩn hóa Chính tả và Hội đồng Chuẩn hóa Thuật ngữ ra đời đã làm cho vấn đề phiên chuyển thuật ngữ có đường hướng hơn và thống nhất hơn Sau
Trang 20của nền kinh tế, khoa học kỹ thuật và công nghệ, thuật ngữ ở hầu hết các ngành
đã gia tăng rất nhanh Thực tế đó đã gây ra tình trạng không thống nhất của thuật ngữ tiếng Việt và hiện tượng này ngày càng phổ biến Có thể nhận thấy hiện nay đang diễn ra rất phổ biến tình trạng quá nhiều thuật ngữ đồng nghĩa đang được
sử dụng, thuật ngữ tiếng Anh ngày càng lấn át và có nguy cơ phá vỡ sự ổn định của hệ thống thuật ngữ tiếng Việt, cách đọc và phiên âm không thống nhất đối với nhiều thuật ngữ tiếng nước ngoài đang diễn ra phổ biến Do đó, việc nghiên cứu bản chất thuật ngữ của từng chuyên ngành cụ thể, có hệ thống và chuyên sâu bắt đầu được quan tâm Mặc dù thuật ngữ mỗi chuyên ngành là một tiểu hệ thuật ngữ tiếng Việt, nhưng mỗi hệ thống thuật ngữ của một chuyên ngành lại có những đặc điểm riêng biệt, đòi hỏi những yêu cầu cụ thể nhất định Theo Hà Quang Năng “Trải qua hơn nửa thế kỉ, thuật ngữ tiếng Việt đã có những bước phát triển nhanh chóng về số lượng Đáng chú ý hơn, bên cạnh mặt số lượng, thuật ngữ tiếng Việt đã thay đổi cả về chất” [71, tr.121].
Ngoài luận văn, luận án tiến sĩ đã được bảo vệ thành công rực rỡ, nhiều nhà khoa học mới quan tâm đến công tác nghiên cứu thuật ngữ về phương diện lí thuyết Tháng 11 năm 2008 Hội Ngôn ngữ học Việt Nam đã tổ chức một hội thảo “Thuật ngữ tiếng Việt trong đổi mới và hộp nhập” Đã có 10 báo cáo khoa học, tham luận được trình bày trong hội thảo Tháng 3 năm 2011 Viện Ngôn ngữ học đã nghiệm thu đề tài cấp Bộ “Những vấn đề thời sự của chuẩn hóa tiếng Việt” (do PGS.TS V Kim Bảng và GS.TS Nguyễn Đức Tồn làm chủ nhiệm đề tài) Chương 4 của đề tài này đã dành riêng cho việc nghiên cứu, xây dựng và chuẩn hóa thuật ngữ tiếng Việt trong thời kì hội nhập và toàn cầu hóa hiện nay Nội dung nghiên cứu tập trung vào việc tổng kết những vấn đề lí luận truyền thống về thuật ngữ như vấn đề định danh ngôn ngữ và vấn đề xây dựng thuật ngữ, vấn đề vay mượn thuật ngữ nước ngoài và vấn đề
áp dụng lí thuyết điển mẫu vào nghiên cứu thuật ngữ và chuẩn hóa thuật ngữ tiếng Việt Trong giai đoạn này, Viện Từ điển học và Bách khoa thư
Trang 21đã có đề tài khoa học cấp bộ do PGS TS Phạm Hùng Việt chủ nhiệm là “Một
số vấn đề cơ bản về cơ sở lí luận và phương pháp luận biên soạn từ điển và bách khoa thư trên thế giới và ở Việt Nam”, PGS TS Hà Quang Năng c ng có phần nghiên cứu được xuất bản với tên gọi “Thuật ngữ học, những vấn đề lí luận và thực tiện” (2013) Tiếp đó, đề tài "Nghiên cứu hệ thuật ngữ tiếng Việt hiện đại nhằm góp phần xây dựng nền văn hóa tri thức Việt Nam" mã số VII2.9-2011.07, thời gian thực hiện: từ tháng 5- 2012 đến thánh 5 -2014 (gia hạn đến hết tháng 6 - 2015) do GS.TS Lê Quang Thiêm làm chủ nhiệm đề tài (Quỹ Phát triển Khoa học & Công nghệ Quốc gia) Đề tài đã nghiên cứu điều tra tổng hợp đánh giá, miêu tả sự hình thành và phát triển hệ thuật ngữ tiếng Việt quốc ngữ Latinh hóa theo định hướng văn hóa từ 1907 đến 2005 Kết quả nghiên cứu cho thấy sự phát triển của tiếng Việt, đặc biệt là bình diện nghĩa, cấp độ từ vựng - ngữ nghĩa mà cụ thể là hệ thuật ngữ tiếng Việt hiện đại Sản phẩm chính của đề tài là chuyên khảo "Sự phát triển hệ thuật ngữ tiếng Việt theo định hướng văn hóa (từ 1907 - 2005)" gồm 3 chương:
- Chương 1: Thuật ngữ tiếng Việt thời kì hình thành
- Chương 2: Thuật ngữ tiếng Việt thời kì 1945 - 1975
- Chương 3: Thuật ngữ tiếng Việt thời kì 1975 - 2005
Công trình "Thuật ngữ học tiếng Việt hiện đại" do Nguyễn Đức Tồn chủ biên (Nxb Khoa học Xã hội, 2016) là công trình tổng kết một số thành tựu mới nhất nghiên cứu về thuật ngữ tiếng Việt Công trình gồm 3 phần.
- Phần thứ nhất: Những vấn đề lí luận chung gồm 3 chương đã tổng quan tình hình nghiên cứu và xây dựng thuật ngữ trên thế giới và ở Việt Nam, trình bày khái niệm thuật ngữ và các tiêu chuẩn của thuật ngữ trong sự phân biệt với các đơn vị từ vựng phi thuật ngữ, lí thuyết điển mẫu và vấn đề chuẩn hóa thuật ngữ.
- Phần thứ hai: Thực trạng xây dựng và sử dụng thuật ngữ hiện nay qua
Trang 22trình bày đặc điểm thuật ngữ của một ngành khoa hoc với tư cách là những nghiên cứu trường hợp cụ thể (Đặc điểm thuật ngữ khoa học tự nhiên trong tiếng Việt - Nghiên cứu trường hợp hệ thuật ngữ vật lí học; Đặc điểm thuật ngữ khoa học xã hội và nhân văn trong tiếng Việt - Nghiên cứu trường hoạp
hệ thuật ngữ ngôn ngữ học; Đặc điểm thuật ngữ khoa học công nghệ trong tiếng Việt - Nghiên cứu trường hợp hệ thuật ngữ khoa học kĩ thuật xây dựng; Đặc điểm thuật ngữ kinh tế trong tiếng Việt - Nghiên cứu trường hợp hệ thuật ngữ thương mại), một chương tổng kết tình hình nghiên cứu, xây dựng và sử dụng thuật ngữ tiếng Việt hiện nay.
- Phần thứ ba: Kiến nghị giải pháp trình bày 6 kiến nghị cụ thể về các giải pháp xây dựng và chuẩn hóa thuật ngữ tiếng Việt trong thời kì công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế để làm cơ sở xây dựng luật ngôn ngữ.
Ngoài chuyên khảo, kết quả nghiên cứu của đề tài còn được thể hiện ở một loạt bài báo nghiên cứu các vấn đề cụ thể của thuật ngữ đã được công bố trên các tạp chí chuyên ngành Đầu tiên, phải kể đến bài viết của Gs Lê Quang Thiêm “Đặc trưng nghĩa của thuật ngữ” đăng trên tạp chí Từ điển học và Bách khoa thư, số 1, 1 - 2015, tr 4 - 7) Tiếp đến là bài viết của Lê Thị Lan Anh, Thuật ngữ hóa từ ngữ thông thường: một trong các con đường tạo thành thuật ngữ tiếng Việt (Tạp chí Ngôn ngữ & đời sống, số 5 - 2015, tr.19 - 23) Các nghiên cứu này đều liên quan đến thuật ngữ và những vấn dờ cơ bản của chúng Bên cạnh góc nhìn từ lý thuyết, các vấn đề thuật ngữ học được nghiên cứu
ở Việt Nam c ng quan tâm đến góc độ thực tiễn: xây dựng các thuật ngữ khoa học kĩ thuật Kết quả là nhiều cuốn từ điển thuật ngữ đối chiếu tiếng Việt và các ngôn ngữ nước ngoài đã được xuất bản Tuy nhiên, các công trình khảo cứu riêng về hệ thống thuật ngữ của một chuyên ngành khoa học nhất định chưa nhiều Theo chúng tôi, giai đoạn này có khá nhiều công trình nghiên cứu về thuật ngữ, những công trình như luận án phó tiến sĩ của Lưu Vân Lăng "Về
Trang 23vấn đề xây dựng thuật ngữ khoa học", bảo vệ năm 1987, luận án phó tiến sĩ của V Quang Hào "Hệ thuật ngữ quân sự tiếng Việt - Đặc điểm và cấu tạo thuật ngữ", bảo vệ năm 1991 và luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Bích Hà "So sánh cấu tạo thuật ngữ kinh tế thương mại trong tiếng Nhật và tiếng Việt hiện đại" bảo vệ năm 2000, luận án "Khảo sát hệ thuật ngữ tin học viễn thông tiếng Việt" của Nguyễn Thị Kim Thanh bảo vệ năm 2005, luận án "Đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa thuật ngữ sở hữu trí tuệ tiếng Việt" của Mai Thị Loan, bảo
vệ năm 2012, luận án của V Thị Thu Huyền "Nghiên cứu thuật ngữ kĩ thuật xây dựng tiếng Việt" bảo vệ năm 2013; Luận án của Ngô Phi Hùng "Nghiên cứu các phương thức cấu tạo hệ thống thuật ngữ khoa học tự nhiên (trên tư liệu thuật ngữ Toán - Cơ - Tin học, Vật lí)" bảo vệ tại Hội đồng chấm luận án Trường Đại học Vinh năm 2014; luận án của Nguyễn Thị Bích Hường "Cách dịch thuật ngữ Anh - Việt chuyên ngành cảnh sát" bảo vệ năm 2014 tại Trường Đại học KHXH&NV - Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh, luận án
"Đối chiếu thuật ngữ du lịch Anh - Việt" của Lê Thị Thúy Hà bảo vệ năm
2014, luận án của Quách Thị Gấm "Nghiên cứu thuật ngữ báo chí tiếng Việt" bảo vệ năm 2015 tại Học viện Khoa học xã hội và luận án của Nguyễn Quang Hùng "Nghiên cứu đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa của thuật ngữ khoa học hình sự tiếng Viêt" bảo vệ năm 2016, luận án của Nguyễn Thanh Dung "Đối chiếu thuật ngữ âm nhạc Việt - Anh", luận án của Nguyễn Thị Việt Hà "Đối chiếu thuật ngữ phụ sản Anh - Việt" bảo vệ năm 2017 tại Học viện Khoa học
Xã hội; luận án của Trần Quốc Việt "Thuật ngữ kinh tế thương mại tiếng Anh
và các biểu thức tương đương của chúng trong tiếng Việt", luận án "Thuật ngữ khoa học hình sự tiếng Việt và tương đương dịch thuật của chúng trong tiếng Anh" của Khổng Minh Hoàng Việt bảo vệ năm 2017 tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội.
Mặc dù thuật ngữ nói chung đã được các nhà khoa học Việt Nam
Trang 24cuốn từ điển thuật ngữ đối chiếu các ngôn ngữ nước ngoài và tiếng Việt đã được xuất bản Tuy nhiên, các công trình khảo cứu riêng về hệ thống thuật ngữ của một chuyên ngành khoa học nhất định chưa nhiều Để có thể chuẩn hóa thuật ngữ toàn diện, cần có nhiều hơn nữa những công trình nghiên cứu chuyên sâu về các chuyên ngành riêng biệt, nhằm tìm ra các đặc điểm bản chất của mỗi tiểu hệ thuật ngữ, góp phần tạo nên những cơ sở khách quan cho việc chuẩn hóa, thống nhất hệ thuật ngữ của từng chuyên ngành.
1.1.2 Tình hình nghiên cứu thuật ngữ ngân hàng ở Anh và Việt Nam
1.1.2.1 Tình hình nghiên cứu thuật ngữ ngân hàng ở Anh
Nước Anh là một trong những trung tâm kinh tế, chính trị và giáo dục
có ảnh hưởng lớn nhất đến Châu Âu nói riêng và thế giới nói chung Từ thế
kỷ 15, người Anh đã tiếp xúc, làm ăn với nhiều dân tộc khắp nới trên thế giới Ngay từ năm 1952, Richard, H đã xuất bản cuốn từ điển đầu tiên bằng tiếng Anh với 26.000 từ Tuy nhiên, số lượng TNNH chiếm số lượng không nhiều, các thuật ngữ chủ yếu là các khái niệm kinh tế nói chung Do vậy, mãi đến
1640, cuốn từ điển này mới được xuất bản một cách rộng rãi và các thuật ngữ TNNH tăng lên đáng kể.
Thế kỷ 20 đánh dấu sự phát triển mạnh mẽ của Tiếng Anh chuyên ngành.
Do ảnh hưởng của nền kinh tế thế giới, vào những năm 1950 cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, tiếng Anh chuyên ngành phát triển mạnh và việc
sử dụng tiếng Anh tăng nhanh với tư cách như ngôn ngữ khoa học quốc tế Rất nhiều các dự án về thuật ngữ đã được triển khai để tạo điều kiện thuận lợi và xúc tiến công tác thuật ngữ, một số cơ sở nghiên cứu đã được hình thành như: Trường thuật ngữ, Hội thuật ngữ và các Trung tâm cung cấp thông tin về thuật ngữ Với nhu cầu giao thương giữa nhiều nơi trên thế giới,
Sau đà phát triển đó, Viện nghiên cứu thuật ngữ quốc tế (IITF) được thành lập năm 1989 với trên 100 thành viên của khoảng hơn 10 quốc gia, trong đó, Anh là một trong những thành viên hoạt động tích cực nhất nhằm thúc đẩy công tác
Trang 25nghiên cứu, giảng dạy và đào tạo trong lĩnh vực thuật ngữ Các tác giả nổi tiếng thời kỳ này nhƣ Smith, A với bài The wealth of nations (1776), Mill, J với Commercerce defended (1808) và bài luận thiên TNNH nhƣ An essay on Money and Paper currency Tuy nhiên, những công trình này chỉ đề cập các khái niệm thuật ngữ kinh tế nói chung thông qua các ấn phẩm nhƣ sách, báo mà chƣa tập trung nghiên cứu kỹ TNNH và chƣa có từ điển riêng biệt về chuyên ngành này.
Đến thế kỷ 21, với sự tiến bộ nhanh nhƣ v bão của khoa học, kĩ thuật đặt ra thức thách mới cho các thuật ngữ, chính điều này là động lực để hàng ngàn cuốn từ điển chuyên ngành, giáo trình giảng dạy, các tạp chí, chuyên luận đã đƣợc xuất bản, các thuật ngữ khoa học đã bắt đầu đƣợc xem xét nghiên cứu theo từng chuyên môn nhất định Holmstrom, J đã có công lớn trong việc phổ biến thuật ngữ trên quy mô thế giới, với hàng loạt các tác phẩm nhƣ: How translators can contribute to improving sciencetific terminology (1955), Bibliography of Interlingual Sciencetific and technical Dictionaries (1956) Ngoài ra, một số cuốn từ điển và sách về ngân hàng đƣợc biên soạn nhƣ: “Banking of Finance” (Từ điển tài chính-ngân hàng), tái bản lần 2 của Peter Collin xuất bản năm 1999 “Ngân hàng hiện đại” của Shelagh Heffernan xuất bản năm 2006 Nhƣ vậy, các nghiên cứu về thuật ngữ ngân hàng đã rất đƣợc chú trọng Mặc dù các công trình nghiên cứu tập trung giải quyết các vấn đề nhƣ cách vay mƣợn, các ngữ tố cấu tạo nhƣ; căn tố, tiền tố, phụ tố, từ phái sinh, từ ghép, vv…và nguồn gốc hình thành TNNH.
Từ những kết quả trên, có thể thấy rằng việc nghiên cứu TNNH ở Anh
c ng rất sâu rộng, hàng ngàn các cuốn từ điển chuyên ngành, giáo trình giảng dạy, các tạp chí, chuyên luận về chuyên nghành TNNH đã đƣợc xuất bản trong những năm gần đây.
1.1.2.2 Tình hình nghiên cứu thuật ngữ ngân hàng ở Việt Nam
Kinh tế đóng một vai trò chủ chốt trong sự sống còn đối với bất kỳ
Trang 26ngành ngân hàng đóng vai trò chủ chốt hơn cả Đó là lí do số lượng các trường đại học về kinh tế ngày càng bùng nổ, sinh viên các ngành liên quan đến kinh tế ở Việt Nam càng ngày càng chiếm tỉ lệ cao Trái với sự phát triển
đó, các công trình nghiên cứu lí luận về thuật ngữ ngân hàng còn khá hiếm, chưa có nhiều nhà khoa học quan tâm Luận án tiến sĩ nghiên cứu về kinh tế của Nguyễn Thị Bích Hà là công trình đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu đối chiếu thuật ngữ thương mại một cách toàn diện và có hệ thống giữa tiếng Việt
và tiếng Nhật trên phương diện đặc diểm cấu tạo Qua đó, tác giả góp phần làm sáng tỏ thêm luận điểm đại cương về tính quốc tế của thuật ngữ Tuy nhiên, việc tổng kết hệ thống thuật ngữ ngân hàng chuyên sâu về phương diện ngôn ngữ học chưa được tác giả chú ý Hạn chế lớn nhất của luận án là đề tài nghiên cứu quá rộng, các nghiên cứu chuyên sâu từng chuyên ngành nhỏ vẫn chưa được quan tâm.
Công trình tiếp theo đóng góp về mặt lí luận trong vấn đề này là luận
án tiến sĩ của Nguyễn Thị Tuyết (2009): So sánh đặc điểm cấu tạo hình thức
và ngữ nghĩa của thuật ngữ tài chính – kế toán – ngân hàng trong tiếng Anh
và tiếng Việt Dựa trên ngữ liệu thực tế về việc sử dụng thuật ngữ tài chính-kế toán - ngân hàng, tác giả đã tập trung vào việc phân tích – so sánh đặc điểm cấu tạo về hình thức và ngữ nghĩa, từ đó làm nổi bật con đường hình thành và các cách xây dựng thuật ngữ tài chính- kế toán-ngân hàng tại thời điểm đó Tuy nhiên, hạn chế của luận án này là các phạm trù nghiên cứu khá tổng hợp
và rộng, c ng như luận án của Nguyễn Thị Bích Hà, sự chuyên sâu về từng mảng nhỏ như kế toán, ngân hàng hay tài chính chưa hiệu quả và rõ nét.
Tiếp theo, luận văn về Từ điển thuật ngữ kinh tế Nga -Việt - Anh của Đàm Quang Chiểu bước đầu đưa ra một số nguyên tắc biên soạn từ điển thuật ngữ kinh tế Nga-Việt – Anh Xuất phát từ thực tế, thuật ngữ kinh tế còn chưa
ổn định, nhiều thuật ngữ còn đang trong quá trình hình thành, hơn nữa thuật ngữ kinh tế trong tiếng Nga được vay mượn từ tiếng Anh khá nhiều Do vậy,
Trang 27các tác giả tham gia đề tài muốn phản ánh tính chất đa dạng, phong phú của thuật ngữ trong lĩnh vực kinh tế trong cả 3 ngôn ngữ - việc làm này là hết sức cần thiết, bởi lẽ xu hướng hội nhập, hợp tác quốc tế đang là xu hướng chủ đạo trên toàn cầu Tuy nhiên, hạn chế lớn nhất của nghiên cứu này đó là tập trung vào thuật ngữ kinh tế chung chung của cả 3 ngôn ngữ, chưa có sự khu biệt rõ từng chuyên ngành kinh tế rõ ràng đối với từng ngôn ngữ riêng như Anh, Nga, Việt.
Luận án gần đây nhất nhất về thuật ngữ và tương đương dịch thuật là nghiên cứu về thuật ngữ kinh tế thương mại với tên gọi “Thuật ngữ kinh tế thương mại tiếng Anh và những biểu thức tương đương trong tiếng Việt”, tác giả Trần Quốc Việt đã chọn hệ thống thuật ngữ kinh tế thương mại (KTTM) tiếng Anh làm đối tượng để khảo sát, nghiên cứu và đánh giá cách chuyển dịch thuật ngữ của chúng sang tiếng Việt, từ đó đưa ra những phương hướng
và giải pháp hữu ích cho việc đánh giá quá trình dịch chuyển này với mục đích xây dựng và chuẩn hóa KTTM tiếng Việt ở Việt Nam C ng giống như luận án của Nguyễn Thị Tuyết và các luận án trên, do phạm vi nghiên cứu khá rộng, nên hầu như mọi số liệu c ng chỉ dừng lại ở đánh giá tổng quan trong lĩnh vực kinh tế.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về thuật ngữ ngân hàng mới chỉ dừng lại ở khảo quát, đánh giá tổng quát về lĩnh vực kinh tế nói chung, việc nghiên cứu chuyên sâu và có quy mô lớn vẫn còn bỏ ngỏ, chưa được các nhà khoa học, các chuyên gia ngân hàng quan tâm.
1.2 Cơ sở lí luận
1.2.1 Những vấn đề về thuật ngữ
1.2.1.1 Khái niệm thuật ngữ
Từ khi ra đời, thuật ngữ đã và luôn là vấn đề gây tranh cãi, có vô vàn định nghĩa khác nhau gắn liền với các quan điểm khác nhau như:
Trang 28Định nghĩa thuật ngữ gắn với khái niệm
Với quan điểm định nghĩa thuật ngữ gắn liền với khái niệm, trước hết phải kể đến các giả Xô Viết, Đanilenco (1977), ông cho rằng, “Thuật ngữ dù là
từ (ghép hoặc đơn) hay cụm từ đều là một kí hiệu mà một khái niệm tương ứng với nó”, “Bản chất của thuật ngữ với tư cách là một khái niệm hoàn toàn không trùng với từ thông thường của ngôn ngữ toàn dân”, “Thuật ngữ gọi tên khái niệm chuyên môn” Theo V Quang Hào “Khái niệm này không bị mất tính hoàn chỉnh
dù nội dung của khái niệm được diễn đạt bằng bất kì phương tiện, phương thức nào” Tương tự, Đ.X Lôttê c ng chỉ ra hai mặt của một thuật ngữ: tổ hợp âm thanh hoặc thành phần âm thanh và ý nghĩa gắn liền với tổ hợp âm thanh trong phạm vi một hệ thống khái niệm Cùng quan điểm trên, Erhart Oeser và Gerhart Budin cho rằng: “Thuật ngữ là một tập hợp các khái niệm, trong mỗi lĩnh vực chuyên ngành đều có các mô hình… Kiến thức khoa học được sắp xếp thành các cấu trúc khái niệm, các phương tiện biểu đạt ngôn ngữ và kí hiệu tương ứng được sử dụng trong văn phong khoa học để thông tin với người khác về kết quả khoa học và bình luận các ngôn bản khác” [17, tr.11] Cùng quan điểm đó, Dafydd, G (1999) c ng nhận định thuật ngữ với quan điểm trên là: “một tập hợp các khái niệm và biểu đạt của nó (bao gồm các kí tự, các thuật ngữ và đơn vị cụm từ) trong một lĩnh vực chuyên ngành đặc biệt” Các tác giả Việt Nam đồng tình với việc định nghĩa thuật ngữ gắn với khái niệm gồm: Nguyễn Văn Tu [103, tr.176], Lưu Vân Lăng [53,tr.11], Nguyễn Như Ý [117, tr.44]; Đỗ Hữu Châu [11, tr.241]; Hoàng Văn Hành [32, tr.26]; Nguyễn Thiện Giáp [22, tr.270] Theo
đó “Thuật ngữ là bộ phận từ ngữ đặc biệt của ngôn ngữ.”, điều này có nghĩa là thuật ngữ đều liên quan đến từ và cụm từ cố định nhằm gọi tên chính xác của các loại khái niệm và các đối tượng thuộc các lĩnh vực chuyên môn chính xác Ví dụ các thuật ngữ trong toán học: tích phân, l y thừa, phân số, số chẵn, số lẻ….trong kinh tế có các thuật ngữ như; kinh
doanh, đại lý bán lẻ, đại lý bán buôn….
Trang 29Định nghĩa thuật ngữ gắn với chức năng
Đại diện cho trường phái định nghĩa này là G.O Vinôkur, người đã chú tâm nghiên cứu lí thuyết thuật ngữ học cho rằng: “Thuật ngữ - đó không phải là một từ đặc biệt mà chỉ là từ có chức năng đặc biệt”, “Chức năng đặc biệt mà từ với tư cách là thuật ngữ đảm nhiệm đó là chức năng gọi tên” Tương tự, V K Nikiforov cho rằng: “Chức năng định danh ở thuật ngữ được thừa nhận là chức năng cơ bản và duy nhất” Bên cạnh đó, quan niệm của viện sĩ V.V.Vinôgrador
về thuật ngữ rằng “Mọi người đều biết trước hết từ thực hiện chức năng định danh, nghĩa là hoặc nó là phương tiện biểu thị, lúc đó nó chỉ là một kí hiệu giản đơn, hoặc nó là phương tiện của định nghĩa logic, lúc đó nó là thuật ngữ khoa học” Dựa vào quan điểm này, L.A.Kapatnadze đã phát triển tư tưởng về vai trò đặc biệt của định nghĩa thuật ngữ: “Thuật ngữ không gọi tên khái niệm như từ thông thường mà là khái niệm được gán cho nó, dường như là gắn kèm theo nó cùng với định nghĩa”, “Ý nghĩa của thuật ngữ là định nghĩa khái niệm, là cái định nghĩa được gán cho thuật ngữ” Ngoài ra, X.M Burđin c ng đồng tình và nhấn mạnh tư tưởng trên của Vinôgrađôp với nhận định “Thuật ngữ là đối tượng của định nghĩa, còn từ thông thường là không phải vậy”.
Định nghĩa thuật ngữ trong sự phân biệt với các “từ ngữ phi thuật ngữ”
Khác với hai quan điểm trên về thuật ngữ, các nhà ngôn ngữ gắn liền với quan niệm này cho rằng: khi định nghĩa thuật ngữ, điều quan trọng nhất là chỉ ra được những điểm đặc trưng nhất thuộc bản thể của nó, nêu lên sự khác biệt với các từ ngữ không phải là thuật ngữ Theo đó “Thuật ngữ là từ ngữ biểu hiện khái niệm hoặc biểu thị đối tượng trong phạm vi một lĩnh vực khoa học, công nghệ hoặc chuyên môn” Khái niệm này đã nêu lên được cả mặt hình thức và nội dung
cụ thể, hình thức là các ngữ cố định và nội dung chính là các khái niệm chuyên môn Có sự khác biệt rõ rệt giữa lĩnh vực chuyên môn và lĩnh vực phi chuyên môn, đối với lĩnh vực chuyên môn người ta sử dụng thuật ngữ còn trong phạm
Trang 30khái niệm này còn khác nhau ở tính quốc tế và tính dân tộc Khái niệm được sử dụng trong lĩnh vực chuyên môn dù có hình thức thuật ngữ biểu hiện có thể khác nhau nhưng phải có tính quốc tế, nghĩa là các nhà hoạt động trong cùng một lĩnh vực chuyên môn này ở các dân tộc khác nhau đều hiểu giống nhau Còn
ở lĩnh vực phi chuyên môn thì các khái niệm có thể được hiểu khác nhau tùy mỗi ngôn ngữ, mỗi dân tộc, thậm chí có những từ / khái niệm chỉ có trong ngôn ngữ / dân tộc này mà không có trong ngôn ngữ / dân tộc kia.
Như vậy, theo các quan điểm trên, dù có nhiều cách tiếp cận khái niệm thuật ngữ nhưng từ hướng tiếp cận nào, các tác giả trên đều đề cập tới hai vấn
đề quan trọng, chủ chốt là:
- Thuật ngữ là từ hoặc cụm từ
- Biểu thị khái niệm, thuộc tính, đối tượng, sự vật, hiện tượng thuộc lĩnh vực chuyên môn nhất định.
Đó c ng chính là cách hiểu của chúng tôi về khái niệm thuật ngữ và lấy
đó làm cơ sở để nghiên cứu trong luận án này.
1.2.1.2 Các tiêu chuẩn khi xây dựng và chuẩn hóa thuật ngữ
Các nhà nghiên cứu đã đưa ra khá nhiều tiêu chuẩn cho thuật ngữ, nhưng có thể khái quát chúng lại thành các tiêu chuẩn như sau: tính khoa
học, tính quốc tế và tính dân tộc.Trước đây, trong 3 tiêu chuẩn trên, tính khoa
học được coi là quan trọng nhất, tính quốc tế không được chú trọng và hầu như ít được đề cập đến Mặc dù vậy, trong giai đoạn hội nhập và bối cảnh quốc tế hóa hiện nay, tính quốc tế lại là một trong những phầm chất bắt buộc
và thiết yếu của thuật ngữ Các tiêu chuẩn xây dựng thuật ngữ bao gồm.
Tính khoa học
Thuật ngữ có tính khoa học, theo Nguyễn Đức Tồn [theo 104] tính khoa học được hiểu bao gồm tính chính xác, tính hệ thống và tính ngắn gọn
Tính chính xác
Trang 31Tính chính xác được tất cả các nhà khoa học trong và ngoài nước từ trước đến nay thừa nhận là một yêu cầu quan trọng hàng đầu đối với thuật ngữ Thuật ngữ có tính chính xác là nhóm thuật ngữ đòi hỏi phải biểu hiện đúng khái niệm một cách rõ ràng, chính xác khái niệm muốn truyền tải, không gây hiểu lầm sai lệch Lotte cho rằng “một thuật ngữ chính xác nếu thuật ngữ
đó chứa đựng những đặc trưng bản chất của khái niệm trong nó biểu đạt” [57, tr.3] Tương tự, Lê Khả Kế c ng chỉ rõ “lí tưởng nhất là thuật ngữ phản ánh được đặc trưng cơ bản, nội dung bản chất của khái niệm” [44, tr.33].
Theo quan điểm trên, thuật ngữ phải có tính một nghĩa, hay mỗi thuật ngữ chỉ biểu đạt một khái niệm Trong cùng một ngành khoa học hoặc một lĩnh vực chuyên môn mỗi khái niệm chỉ có một thuật ngữ, không có nghĩa thứ hai Về vấn đề này, Đỗ Hữu Châu nhấn mạnh, trong thực tế, “có những thuật ngữ gọi tên khái niệm đúng, có những thuật ngữ gọi tên khái niệm sai lầm Điều quan trọng là ở chỗ các thuật ngữ phải biểu thị cho đúng các khái niệm (đúng hoặc sai) mà chúng gọi tên “Một thuật ngữ chính xác là một thuật ngữ khi nói ra, viết ra, người nghe, người đọc hiểu một và chỉ một khái niệm khoa học (đúng hoặc sai) ứng với nó mà thôi” [52, tr.243] Như vậy, để đảm bảo tính một nghĩa của thuật ngữ đòi hỏi phải loại bỏ hiện tượng đồng âm, đồng nghĩa trong hệ thống thuật ngữ của cùng một ngành khoa học.
Trong hệ thống ngân hàng, hầu hết các thuật ngữ ngân hàng tiếng Anh đều đảm bảo tính chính xác: mỗi khái niệm thường chỉ có một thuật ngữ Ví dụ: Agreed takeover bid (noun) - a takeover bid which is accepted by the target company and recommended by its director to its shareholders (thỏa thuận sát nhập) Allowance (noun) - money which is given for a special reason (tiền trợ cấp) Tuy nhiên, theo khảo sát, còn khoảng 9% TNNH đồng nghĩa ví dụ: Basic salary, basic pay và basic wage - main amount of money you earn (lương cơ bản) và 61% thuật ngữ đa nghĩa, ví dụ: clear: thanh toán, làm sạch, interest (tiền lãi, sự quan tâm).
Trang 32 Tính hệ thống
Đây c ng là một đặc tính, phẩm chất cần thiết đối với thuật ngữ Bất cứ ngành khoa học nào c ng đều cần hệ thống các khái niệm gắn liền với thuật ngữ, bất cứ thuật ngữ nào c ng là yếu tố cần thiết và quan trọng của hệ thống thuật ngữ Theo các nhà khoa học, hệ thống của thuật ngữ bao gồm hai vấn đề đó là hệ thống khái niệm (mặt nội dung) và hệ thống kí hiệu (mặt hình thức), cả 2 vấn đề này phải đều được quan tâm và chú ý Lưu Vân Lăng (1977) là người phân tích khá kĩ hệ thống của thuật ngữ, ông cho rằng cần phải xác định được hệ thống khái niệm trước khi đặt hệ thống kí hiệu cho chúng Trong một số trường hợp, nội dung khái niệm phải đặt lên hàng đầu, và là vấn đề quan trọng nhất Vì vậy, khi đặt thuật ngữ không thể tách rời từng khái niệm mà phải xác định vị trí của thuật ngữ đó trong toàn bộ hệ thống khái niệm.
Trong hệ thống TNNH, các thuật ngữ được phân cấp thành các nhóm lớn nhỏ khác nhau, các tầng bậc khác nhau, tạo ra các “trường” thuật ngữ mang tính hệ thống rõ nét Rất nhiều thuật ngữ xuất hiện liên tục, giữ vai trò quan trọng đối với cấu tạo hệ thống thuật ngữ ngân hàng Chẳng hạn, đó là các thuật ngữ như: account (tài khoản), deposit (tiền gửi), clear (thanh toán), cash (tiền mặt), guarantee (đảm bảo), withdraw (rút), currency (tài khoản)
Tính ngắn gọn
Từ tính ngắn gọn, các nhà nghiên cứu mới đưa ra được tiêu chuẩn cụ thể
về số lượng yếu tố cấu tạo thuật ngữ Chẳng hạn, Reformatxki cho rằng đối với thuật ngữ là từ ghép, chỉ có thể gồm hai, ba hoặc tối đa là bốn yếu tố bởi
vì nếu thuật ngữ quá dài sẽ không được chấp nhận trong thực tế Tuy nhiên gần đây một số nhà nghiên cứu Nga đã đưa ra tiêu chuẩn về độ dài tối ưu của thuật ngữ và cho rằng điều quan trọng nhất của thuật ngữ đó chính là sự phù hợp giữ hình thức và đặc trưng mà không liên quan đến số lượng của các yếu
tố Theo chúng tôi, đây là khái niệm khá phù hợp với thời đại ngày nay, bởi vì
do tính chất chuyên sâu trong khoa học ngày càng cao, nên thuật ngữ có thể
Trang 33bao gồm một tập hợp các đặc trưng của khái niệm Vì vậy, phải cần đến khá nhiều yếu tố để thể hiện các đặc trưng của khái niệm đó
Theo số liệu thu thập được, TNNH tiếng Anh có cấu tạo từ một allotment (phân bổ nguồn quỹ), đến hai allowance expenses (chi phí cho phép), đến ba ngữ tố alternative investment market (thị trường đầu tư thay thế) là chủ yếu, các thuật ngữ có cấu tạo từ bốn, năm, sáu thuật ngữ chiếm tỉ
lệ nhất nhỏ Ngược lại, trong TNNH tiếng Việt, thuật ngữ gồm bốn, năm, sáu ngữ tố chiếm số lượng lớn.
Tính quốc tế
Trong thời đại toàn cầu hóa và quốc tế hóa hiện nay, tính quốc tế là một yêu cầu tất yếu và vô cùng cần thiết, xét một cách tổng thể, thuật ngữ chính là những từ ngữ biểu thị các khái niệm khoa học của trí tuệ, tri thức của nhân loại Khi biểu thị những khái niệm mang tính quốc tế chung đó, mỗi đất nước với bản sắc dân tộc riêng lại sử dụng các yếu tố và phương thức cấu tạo từ khác nhau Chính vì điều đó, thuật ngữ vừa có đặc điểm chung mang tính quốc tế vừa có đặc điểm riêng về tính dân tộc Tính quốc tế thực ra luôn song hành và đi cùng với tính dân tộc, vì khi nói đến tính quốc tế là người ta nhấn mạnh đến mặt nội dung của thuật ngữ, còn nói đến tính dân tộc là người ta chú ý đến mặt hình thức của thuật ngữ Đi vào cụ thể, tính quốc tế về mặt nội dung của thuật ngữ thường được nhấn mạnh ở hai khía cạnh Thứ nhất, các khái niệm của thuật ngữ mặc dù được thể hiện bằng các ngôn ngữ khác nhau nhưng những người hoạt động trong cùng một lĩnh vực chuyên môn ở các nước, các dân tộc khác nhau đều hiểu nội hàm các khái niệm chuyên môn đó giống nhau Thứ hai, cùng một sự vật hiện tượng hay khái niệm khoa học nhưng các ngôn ngữ khác nhau cùng chọn một đặc trưng nào đó để làm cơ sở định danh cho việc đặt thuật ngữ [104, tr.23] Do đó, xem xét về khía cạnh nội dung của thuật ngữ, tính quốc tế là một đặc trưng quan trọng và cơ bản của
Trang 34nhân loại, trong khi đó các lớp từ ngữ khác nhau ở từng quốc gia khác nhau lại chỉ mang đặc trưng của dân tộc của quốc gia đó.
Tính dân tộc
Nói đến tính dân tộc chính là nói đến hình thức của thuật ngữ, tính dân tộc bao gồm nhiều khía cạnh: từ vựng, ngữ pháp, ngữ âm và chữ viết: Tất cả các đặc điểm này đều phải phù hợp với đặc điểm ngôn ngữ viết và đọc của chính dân tộc đó Sự phát triển không ngừng của thực tiễn ngân hàng trong thời gian qua đã tạo ra một hệ thống thuật ngữ ngân hàng phong phú Tuy nhiên, trong hệ thống TNNH c ng có những vấn đề riêng, như sự xuất hiện của các thuật ngữ đồng nghĩa Đối với ngành ngân hàng, các TNNH nếu không có được một sự hiểu biết sâu sắc và thống nhất về các từ ngữ chuyên môn, chắc chắn các hoạt động giao dịch ngân hàng, các giáo trình phục vụ cho việc nghiên cứu, giảng dạy c ng sẽ gặp khó khăn.
1.2.1.3 Phân biệt thuật ngữ và một số khái niệm liên quan
Để hiểu rõ hơn về đặc điểm của thuật ngữ, chúng ta cần phân biệt thuật ngữ với các khái niệm có quan hệ gần g i trong hệ thống từ vựng như danh pháp, từ nghề nghiệp…
Phân biệt thuật ngữ với danh pháp khoa học
G O Vinôcua cho rằng “không nên lẫn lộn thuật ngữ là tên gọi đối tượng của
tư duy với tên riêng và tín hiệu danh pháp”, “là một hệ thống các phù hiệu hoàn toàn trừu tượng và ước lệ, mà mục đích duy nhất là ở chỗ cấp cho ta cái phương tiện thuận lợi nhất về mặt thực tiễn để gọi tên các đồ vật, các đối tượng không quan hệ trực tiếp với những đòi hỏi của tư duy lí luận hoạt động với những sự vật này” [dẫn theo 19,
270 - 271] Điều này có nghĩa là thuật ngữ gắn với hệ thống khái niệm của một ngành khoa học nhất định, gồm những từ, cụm từ biểu thị chính xác các loại khái niệm và các đối tượng thuộc các lĩnh vực chuyên môn của con người Trong đó,danh pháp là toàn
bộ tên gọi được dùng trong một ngành chuyên môn nào đó Danh pháp không gắn với
hệ thống khái niệm của ngành chuyên môn này mà chỉ dùng để gọi tên các sự vật trong ngành mà thôi Ví dụ: trong ngành ngân hàng, các
Trang 35từ: thẻ, tài khoản… là thuật ngữ còn các từ chỉ tên các loại thẻ, tài khoản… cụ thể như thẻ nhựa, thẻ tín dụng, thẻ thoanh toán,thẻ ghi nợ ,thẻ trả trước, tài khoản
vãng lai, tài khoản tiết kiệm… là danh pháp Danh pháp là những tên gọi được đặt
có hệ thống Có nhiều quan điểm trong việc đặt tên Có khi tên gọi chỉ được coi là
cái nhãn để phân biệt, chẳng cần đòi hỏi gì hơn, có khi lại cần đặt tên một cách có ý nghĩa và thích hợp với đối tượng Trong các lĩnh vực như toán, vật lí, kí hiệu thường được dùng để thay thế lời nói hay chữ viết Có lĩnh vực lại sử dụng con số, dùng từ… Không phải lĩnh vực khoa học nào c ng có tiêu chuẩn đặt danh pháp giống nhau, mỗi ngành có nhu cầu riêng Ngành khoa học thực nghiệm sẽ có nhu cầu khác với các ngành khoa học lí thuyết.
Đặc trưng quan trọng nhất của thuật ngữ tính khái niệm là Danh pháp, mặc
dù có gắn với khái niệm nhưng nó hướng đến sự vật nhiều hơn Cái quan trọng đối với danh pháp là tính đối tượng của nó, tùy thuộc vào đặc trưng của đối tượng được gọi tên Như vậy, thuật ngữ được nhấn mạnh về chức năng định nghĩa còn danh pháp thì chủ yếu mang chức năng gọi tên Nội dung của thuật ngữ tương ứng với các từ tạo nên chúng còn danh pháp có thể được quan niệm là một chuỗi kế tiếp nhau của các chữ cái, là một chuỗi các con số hay bất kì cách gọi tên võ đoán nào [19, tr 270]
Số lượng của danh pháp là vô kể Thuật ngữ của mỗi ngành khoa học lại là một số lượng hữu hạn và nhất thiết phải liên hệ với các khái niệm của khoa học ấy
vì phản ánh hệ khái niệm của khoa học ấy bằng phương tiện từ ngữ.
Tuy nhiên c ng phải nói đến hiện tượng: trong quá trình phát triển của nhiều ngành khoa học, các danh pháp riêng lẻ có thể trở thành thuật ngữ, từ chỗ chỉ đơn thuần là đơn vị định danh chúng đã trở thành các yếu tố của giao tiếp logic, tức là trở thành thuật ngữ.
1.2.1.4 Phân biệt thuật ngữ với từ nghề nghiệp
Từ nghề nghiệp là lớp từ ngữ được dùng hạn chế về mặt xã hội Trong hệ thống từ vựng, nó nằm ở một vị trí rất khiêm tốn cả về số lượng và phạm vi sử dụng Các nhà nghiên cứu c ng chưa có sự thống nhất trong việc xác định khái niệm
Trang 36Chẳng hạn, trong Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học, từ nghề nghiệp được định nghĩa là “các từ ngữ đặc trưng cho ngôn ngữ của các nhóm người thuộc cùng một nghề nghiệp hoặc cùng một lĩnh vực hoạt động nào đó” [109]
Hoặc theo Nguyễn Văn Khang thì “Từ nghề nghiệp có thể coi đây là một “hệ mã” ghi nhận thành quả tri thức và thành quả thực tế của con người trong một lĩnh vực nhất định” [dẫn theo 29, tr 59].
Với tác giả Đỗ Hữu Châu “Từ vựng nghề nghiệp bao gồm những đơn vị từ vựng được sử dụng để phục vụ các hoạt động sản xuất và hành nghề của các ngành sản xuất tiểu thủ công nghiệp, nông nghiệp và các ngành lao động trí óc (nghề thuốc, văn thư…) [9, tr 253]
Theo tác giả Nguyễn Thiện Giáp: “Từ nghề nghiệp là những từ ngữ biểu thị những công cụ, sản phẩm lao động và quá trình sản xuất của một nghề nào đó trong
xã hội Những từ này thường được những người trong ngành nghề đó biết và sử dụng Những người không làm nghề ấy tuy ít nhiều c ng có thể biết nhiều từ ngữ nghề nghiệp nhưng ít hoặc hầu như không sử dụng chúng Do đó, từ ngữ nghề nghiệp c ng là một lớp từ vựng được dùng hạn chế về mặt xã hội” [19, tr 265]
Điểm qua quan niệm của một số tác giả như trên, chúng tôi nhận thấy, hầu như tất cả đều có chung nhận định: từ nghề nghiệp là những từ ngữ được sử dụng trong phạm vi một ngành nghề nào đó Và mỗi người, đứng từ các góc độ khác nhau, lại đưa ra những đặc điểm khác nhau của từ nghề nghiệp Phải nói rằng, nếu chỉ dừng lại ở nhận định “từ nghề nghiệp là những từ ngữ được sử dụng trong phạm
vi một ngành nghề nào đó” (như một số quan niệm) thì sẽ rất khó phân biệt từ nghề nghiệp với các lớp từ khác Chẳng hạn, muốn phân biệt từ nghề nghiệp của những người làm nghiên cứu khoa học của ngành vật lý với thuật ngữ khoa học vật lý thì dùng tiêu chí gì, chẳng lẽ từ ngữ sử dụng trong giao tiếp hàng ngày (khẩu ngữ) là từ nghề nghiệp còn từ ngữ sử dụng trong nghiên cứu (phong cách viết) là thuật ngữ khoa học sao?
Theo chúng tôi, từ nghề nghiệp là lớp từ mang các đặc trưng sau:
- Sử dụng trong phạm vi một ngành nghề thủ công truyền thống
- Ở một địa phương cụ thể, mang đặc trưng địa phương
Trang 37- Ít nhiều có sắc thái biểu cảm
- Từ ngữ có tính chất lịch sử, chủ yếu có nguồn gốc là tiếng Việt
- Mang phong cách khẩu ngữ
- Số lượng không nhiều
Sở dĩ ở đây, nói về khái niệm “thuật ngữ khoa học”, chúng tôi lại đề cập đến khái niệm “từ nghề nghiệp” bởi cần phải xác định giới hạn của hai lớp từ này c ng như mối quan hệ của chúng một cách rõ ràng trong khi khá nhiều tác giả cho rằng chúng có quan hệ gần g i một cách chung chung
Trở lại từ nghề nghiệp với các đặc trưng trên, một lần nữa chúng tôi khẳng định từ nghề nghiệp không phải là từ ngữ phục vụ cho công việc hàng ngày giữa những người cùng ngành nghề chuyên môn Chẳng hạn, ngôn ngữ giao tiếp hàng ngày của những người nghiên cứu toán học, xã hội học hay ngôn ngữ học… không phải là từ nghề nghiệp bởi không thể nói rằng cùng một lớp từ, khi ở phong cách nói
là từ nghề nghiệp, còn ở phong cách viết là thuật ngữ khoa học Từ nghề nghiệp là khái niệm chỉ dùng để gọi tên những từ ngữ được sử dụng trong phạm vi một ngành nghề thủ công truyền thống ở một địa phương cụ thể, mang đặc trưng của địa phương đó.
1.2.1.5 Khái niệm về thuật ngữ ngân hàng
Thuật ngữ ngân hàng trong tiếng Anh c ng như trong tiếng Việt vẫn còn là hệ thuật ngữ chưa được nghiên cứu chuyên sâu về mặt lí luận, chúng mới chỉ được tập hợp thành những quyển từ điển đối chiếu hay giải thích về các phạm trù chung như kinh tế, thương mại hay tài chính kinh tế Theo từ điển Cambridge, “Banking is businesses activities of banks (Ngành ngân hàng bao gồm các hoạt động giao dịch kinh doanh của ngân hàng) Tương tự, trong
từ điển Dictionary of Banking, ngành ngân hàng được định nghĩa rất cụ thể
và chính xác “Banking is a business which hold money for its clients, lending money at interest, and trades generally in money." Ngành ngân hàng bao gồm hoạt động doanh nghiệp giữ tiền cho khách hàng, cho khách hàng vay và thu
Trang 38hàng Anh - Việt do Nguyễn Văn Dung chủ biên (2010), ngành ngân hàng được giải thích là “hoạt động kinh doanh của của một doanh nghiệp, nhận tiền gửi, cho vay, thanh toán chi phiếu, và thực hiện các dịch vụ có liên quan khác cho công chúng.” [12, tr.53] Mặc dù có rất nhiều khái niệm khác nhau
về thuật ngữ ngân hàng, trong luận án này chúng tôi sử dụng định nghĩa
TNNH là “Những từ và cụm từ cố định gọi tên chính xác các khái niệm và
các đối tượng thuộc lĩnh vực ngân hàng, gồm có các thuật ngữ chỉ chủ thể hoạt động ngân hàng, sản phẩm ngân hàng, thuật ngữ chỉ các hoạt động ngân hàng và thuật ngữ chỉ các chứng từ bảo đảm thanh toán” vì định nghĩa không chỉ bao quát toàn bộ nhiệm vụ và chức năng của ngành ngân hàng, mà còn phù hợp với hướng phân tích và thuận lợi khi xác định các phạm trù định danh của TNNH trong tiếng Anh và tiếng Việt.
1.2.2 Lí thuyết định danh với vấn đề xây dựng thuật ngữ
Các nhà ngôn ngữ học đã đề cập khá nhiều về mối liên hệ giữa thuật ngữ
và sự định danh Lê Khả Kế cho rằng: "Lí tưởng nhất của thuật ngữ là phản ánh được đặc trưng cơ bản, nội dung bản chất của khái niệm" [42, tr.45] Để tạo ra một thuật ngữ chuẩn, chúng ta cần lựa chọn những đặc trưng bản chất của đối tượng hay khái niệm cần định danh Không phải danh từ mới có chức năng định danh mà động từ, tính từ c ng là những tên gọi của các thuộc tính, quá trình Từ trước đến nay, các nhà ngôn ngữ đã có nhiều cách hiểu, cách định nghĩa về định danh L Phoi-ơ-Bắc cho rằng định danh là tên gọi là cái gì [104, tr 23] Trong khi đó, Nguyễn Như Ý cho rằng “Định danh trong ngôn ngữ học trước hết là quá trình tạo từ ngữ trong một ngôn ngữ để gọi tên sự vật, hiện tượng, khái niệm tồn tại trong thế giới tự nhiên, trong xã hội, phân biệt chúng với nhau nhờ cái vỏ
âm thanh của ngôn ngữ ”[117, tr.21].
Trong nghiên cứu này, chúng tôi sẽ theo quan điểm của Kolshansky (1977) cho rằng: “Định danh là gắn cho một kí hiệu ngôn ngữ một khái niệm” [104, tr.34] Nhờ định danh, mỗi ký hiệu ngôn ngữ đều có những khái niệm riêng biệt V.G Gak đưa ra các nguyên tắc định danh “Nếu như cần phải biểu thị
Trang 39một đối tượng X nào đó mà trong ngôn ngữ chưa có tên gọi, thì trên cơ sở các đặc trưng đã được tách ra trong đối tượng này, nó được quy vào khái niệm "A" hoặc "B" mà trong ngôn ngữ đã có cách biểu thị riêng cho chúng và nhận tên gọi tương ứng” [104, tr.162] Ví dụ quá trình định danh minh họa cho điều này là: “Để đặt tên loại đỗ đen được thu hoạch từ cây đỗ, màu đen, quá trình định danh diễn ra như sau: trước hết, dựa vào các đặc trưng đã được tách ra như trên, người Việt quy nó vào khái niệm đã có tên gọi trong
ngôn ngữ là đỗ và chọn cả đặc trưng màu sắc đập vào mắt c ng đã có tên gọi
là đen Khi đó, loại đỗ này sẽ có tên gọi là đỗ đen Nhưng sau đó, người ta thấy màu sắc của loại đỗ ấy không chỉ là màu đen, mà còn có thể là xanh nên
đã có các tên gọi như đỗ xanh hay đỗ đỏ Qua ví dụ trên, quá trình định danh một sự vật bao gồm hai bước là quy loại khái niệm và lựa chọn đặc trưng riêng nào để định danh [theo 104].
Bên cạnh đó, c ng có nhiều ý kiến khác nhau về việc nên lựa chọn đặc trưng bản chất hay không bản chất để định danh một khách thể Serebrennikov (1977) cho rằng: “Việc tạo ra từ theo đặc trưng nào đó chỉ là biện pháp thuần túy
kĩ thuật ngôn ngữ Đặc trưng được chọn chỉ để tạo ra vỏ ngữ âm của từ Đặc trưng được chọn để gọi tên hoàn toàn không nói hết bản chất của đối tượng, không bộc lộ hết tất cả đặc trưng của nó Ngoài ra, đặc trưng được chọn để gọi tên thậm chí có thể là không căn bản, không quan trọng về mặt thực tiễn” [104, tr.165] Nguyễn Đức Tồn cho rằng: “Việc chọn đặc trưng bản chất hay không bản chất để làm cơ sở định danh đối tượng gắn với hai loại đối tượng /khái niệm khi định danh Một là đối tượng hay khái niệm cần định danh thuộc phạm vi đời sống thông thường, hay các từ đời sống Việc chọn đặc trưng để làm cơ sở định danh cho những đối tượng hay khái niệm loại này có thể có những trường hợp không cần chọn đặc trưng bản chất, miễn là đặc trưng ấy đủ để khu biệt giúp nhận diện được đối tượng hay khái niệm cần định danh Hai là, đối tượng hay khái niệm cần định danh thuộc phạm vi một khoa học, một lĩnh vực chuyên môn nhất định Kết quả của quá trình định danh cho các đối tượng hay khái niệm
Trang 40Đặc trưng bản chất là đặc trưng tiêu biểu, dễ dàng nhận diện và lựa chọn, nên việc chọn các đặc trưng bản chất để định danh các khái niệm /đối tượng thuộc một chuyên ngành khoa học hay chuyên môn khiến chúng ta thường thấy hiện tượng các thuật ngữ của một lĩnh vực chuyên môn trong các ngôn ngữ khác nhau thường có hình thái bên trong giống nhau Đây chính là mặt biểu hiện thứ hai của tính quốc tế của thuật ngữ Ví dụ: tiếng Anh: airport ; tiếng Pháp: aéroport; tiếng Việt: sân bay, v.v…Bên cạnh đó, “nếu các ngôn ngữ có chung một nguồn gốc mà lại có thêm đặc điểm giống nhau về kiểu văn tự nữa, chẳng hạn như các ngôn ngữ Ấn Âu: Anh, Pháp, Đức thì tính quốc tế của thuật ngữ trong các ngôn ngữ này được thể hiện rõ ra ở các mặt ngữ âm, chữ viết và lựa chọn đặc trưng làm cơ sở định danh Nếu các ngôn ngữ không có cùng nguồn gốc, có văn tự khác nhau thì tính quốc tế của thuật ngữ trong những ngôn ngữ này chỉ được thể hiện ở mặt thứ hai: lựa chọn đặc trưng giống nhau của khái niệm /đối tượng để làm cơ sở định danh khi xây dựng thuật ngữ Ví dụ: tiếng Anh: tele /communications; tiếng Việt: viễn /thông [105, tr.9].
Như vậy, việc đặt tên cho một sự vật, hiện tượng nào đó chính là quá trình định danh Hành vi định danh bao giờ c ng gắn với việc phân loại, và quá trình định danh một sự vật, tính chất hay quá trình gồm hai bước, đó là quy loại khái niệm và chọn đặc trưng khu biệt Khi định danh, trong số rất nhiều đặc trưng của một sự vật, hiện tượng, tính chất hay quá trình, người ta chỉ chọn đặc trưng tiêu biểu nhất định của sự vật… khu biệt được với sự vật khác Tuy nhiên, khi định danh những đối tượng có những thuộc tính căn bản giống nhau, người
ta sẽ không chọn đặc trưng không cơ bản nào đó nhưng có giá trị khu biệt, để làm cơ sở cho tên gọi Việc chọn đặc trưng không bản chất, hoặc không cơ bản
để làm cơ sở định danh thường cho những đối tượng hay khái niệm thuộc phạm
vi đời sống, miễn là đặc trưng ấy đủ để khu biệt giúp nhận diện được đối tượng hay khái niệm cần định danh Việc chọn đặc trưng quan trọng và thuộc bản chất
để làm cơ sở định danh thường xảy ra đối với trường hợp xây dựng thuật ngữ để chỉ các đối tượng hay khái niệm khoa học /chuyên môn.
Trong quá trình nghiên cứu đặc điểm định danh của thuật ngữ, các nhà