Một trong các yếu tố chính làm cho sốt rét nặng và dai dẳng ở vùng rừng núi là véc tơ sốt rét có khả năng truyền bệnh cao,tuổi thọ dài, có tập tính trú đậu và đốt mồi ngoài nhà nên ít ch
Trang 1-* -NGÔ KIM KHUÊ
THÀNH PHẦN LOÀI, PHÂN BỐ, ĐẶC ĐIỂM
SINH THÁI VÀ SỰ NHẠY CẢM CỦA VÉC TƠ SỐT RÉT VỚI CÁC HÓA CHẤT SỬ DỤNG TRONG PHÒNG CHỐNG SỐT RÉT Ở MIỀN TRUNG - TÂY NGUYÊN
(2014 - 2017)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC
Hà Nội - 2019
Trang 2-* -NGÔ KIM KHUÊ
THÀNH PHẦN LOÀI, PHÂN BỐ, ĐẶC ĐIỂM SINH THÁI VÀ SỰ NHẠY CẢM CỦA VÉC TƠ SỐT RÉT VỚI CÁC HÓA CHẤT SỬ DỤNG TRONG PHÒNG CHỐNG SỐT RÉT Ở MIỀN TRUNG - TÂY NGUYÊN
(2014 - 2017)
LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC
Chuyên ngành: Côn trùng học
Mã số: 942.01.06
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
Hà Nội - 2019
Trang 3Tôi xin cam đoan luận án là công trình nghiên cứu của riêng tôi Kếtquả nghiên cứu và các số liệu trong luận án là trung thực và chưa được bất kỳ
ai công bố
Tác giả luận án
Ngô Kim Khuê
Trang 4Trước tiên, tôi kính gửi lời cảm ơn vô cùng sâu sắc đến Thầy PGS.TS Nguyễn Văn Chương, Viện trưởng Viện Sốt rét - Ký sinh trùng -Côn trùng Quy Nhơn và Thầy TS Nguyễn Xuân Quang, Trưởng khoa Côn Trùng, Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Quy Nhơn đã tận tình hướng dẫn và giúp
đỡ tôi suốt thời gian học tập và nghiên cứu để tôi hoàn thành luận án một cách tốt nhất.
Xin chân thành cảm ơn Ban Lãnh đạo, Phòng Sau đại học, cùng các Thầy Cô trong Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Trung ương đã hết lòng giúp đỡ tôi trong quá trình học tập.
Tôi trân trọng gửi lời cảm ơn đến các chú, anh, chị, em khoa Côn trùng, Viện Sốt rét - Ký sinh trùng - Côn trùng Quy Nhơn đã hỗ trợ tôi trong việc thu mẫu, phân tích mẫu và thu thập số liệu nghiên cứu và điều tra thực địa.
Xin cảm ơn Ban lãnh đạo trường Đại học Quy Nhơn và khoa KTNN, nơi tôi đang công tác, đã luôn tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu.
Sinh-Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến những người thân trong gia đình đã luôn quan tâm, giúp đỡ tôi về mọi mặt, luôn tạo điều kiện tốt nhất để tôi có thể hoàn thành tốt nghiên cứu của mình.
Trang 5: Bệnh nhân sốt rét: con/ bát
: con/đèn/đêm: con/người/đêm: con/giờ
: Enzyme-Linked Immunosorbent Assay: xét nghiệm miễn
dịch kháng nguyên hoặc kháng thể
: Ký sinh trùng sốt rét: Mật độ đốt người trung bình: Mồi người ngoài nhà
: Mồi người trong nhà: Miền Trung-Tây Nguyên: Ký sinh trùng sốt rét: Phòng chống sốt rét: Phòng chống véc tơ: Polymerase Chain Reaction: Phản ứng chuỗi polymerase: Standard Deviation: Độ lệch chuẩn
: Soi chuồng gia súc: Soi trong nhà ban ngày: Sốt rét
: Soi vách ngoài: Soi vách trong: Sốt rét lưu hành
Trang 7CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Thành Phần Loài Và Phân Bố Muỗi Anopheles 3
1.1.1 Thành phần loài và phân bố muỗi Anopheles trên thế giới 3
1.1.2 Thành phần loài và phân bố muỗi Anopheles ở Việt Nam 6
1.2 Sinh thái, tập tính, vai trò truyền bệnh của muỗi Anopheles 9
1.2.1 Sinh thái, tập tính, vai trò truyền bệnh của muỗi Anopheles trên thế giới 9
1.2.2 Sinh thái, tập tính và vai trò truyền bệnh của Anopheles ở Việt Nam .12 1.3 Phòng chống véc tơ sốt rét 15
1.3.1 Phòng chống véc tơ sốt rét trên thế giới 15
1.3.2 Phòng chống véc tơ sốt rét ở Việt Nam 16
1.4 Kháng hóa chất diệt côn trùng của véc tơ sốt rét 19
1.4.1 Định nghĩa kháng hóa chất 19
1.4.2 Cơ sở sinh học của tính kháng hóa chất diệt côn trùng 20
1.4.3 Một số cơ chế kháng của côn trùng 20
1.5 Tình hình kháng hóa chất diệt côn trùng của véc tơ sốt rét 21
1.5.1 Tình hình kháng hóa chất diệt côn trùng của véc tơ sốt rét trên thế giới 21
1.5.2 Tình hình kháng hóa chất diệt côn trùng của véc tơ sốt rét ở Việt Nam 25
1.6 Tình hình sốt rét miền Trung - Tây Nguyên 26
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 29
2.1 Đối tượng, thời gian, địa điểm nghiên cứu 29
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 29
2.1.2 Thời gian nghiên cứu 29
2.1.3 Địa điểm nghiên cứu 30
2.2 Vật liệu nghiên cứu 35
2.3 Phạm vi nghiên cứu 36
2.4 Phương pháp nghiên cứu 36
Trang 82.4.3 Các chỉ số đánh giá 43
2.4.4 Xử lý và phân tích số liệu 44
2.4.5 Đạo đức trong nghiên cứu 45
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 46
3.1 Thành phần loài Anopheles, phân bố, đặc điểm sinh thái và vai trò truyền bệnh các véc tơ sốt rét ở miền Trung-Tây Nguyên 46
3.1.1 Thành phần loài muỗi Anopheles và phân bố véc tơ tại các điểm nghiên cứu ở miền Trung-Tây nguyên 46
3.1.2 Một số đặc điểm sinh thái học và vai trò truyền bệnh của véc tơ sốt rét tại các điểm nghiên cứu miền Trung - Tây Nguyên 52
3.1.3 Vai trò truyền bệnh của các véc tơ sốt rét tại 02 điểm nghiên cứu có sốt rét lưu hành nặng khu vực miền Trung - Tây Nguyên 76
3.2 Đánh giá sự nhạy cảm của véc tơ sốt rét với hóa chất đang sử dụng trong phòng chống sốt rét ở miền Trung -Tây Nguyên 80
3.2.1 Nhạy cảm của véc tơ sốt rét với hóa chất tại huyện Vân Canh, tỉnh Bình Định 80
3.2.2 Nhạy cảm của véc tơ sốt rét với hóa chất tại Khánh Vĩnh-Khánh Hòa 84 3.2.3 Nhạy cảm của véc tơ sốt rét với hóa chất tại huyện Krông Pa - Gia Lai 88
3.2.4 Nhạy cảm của véc tơ sốt rét với hóa chất tại huyện Bắc Ái - Ninh Thuận 89
3.2.5 Nhạy cảm của véc tơ sốt rét với hóa chất tại huyện Krông - Na, tỉnh Đắk Lắk 92
3.2.6 Nhạy cảm của véc tơ sốt rét với hóa chất tại huyện Ngân Thủy -Quảng Bình 93
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 95
Trang 94.1.1 Thành phần loài muỗi Anopheles tại các điểm nghiên cứu ở miền
Trung - Tây nguyên 95
4.1.2 Phân bố véc tơ sốt rét tại các điểm nghiên cứu ở miền Trung - Tây nguyên 97
4.1.3 Tập tính và vai trò truyền bệnh của véc tơ sốt rét tại các điểm nghiên cứu ở miền Trung-Tây Nguyên 103
4.2 Sự nhạy cảm của véc tơ sốt rét với hóa chất đang sử dụng trong phòng chống sốt rét ở miền Trung - Tây Nguyên 114
4.2.1 Độ nhạy cảm của An minimus với hóa chất diệt côn trùng 114
4.2.2 Độ nhạy cảm của An dirus với hóa chất diệt côn trùng 116
4.2.3 Độ nhạy cảm của các véc tơ phụ với hóa chất diệt côn trùng 116
KẾT LUẬN 119
KIẾN NGHỊ 121 TÍNH KHOA HỌC VÀ TÍNH MỚI CỦA ĐỀ TÀI
CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC LIÊN QUAN ĐẾN NỘI DUNG
CỦA LUẬN ÁN ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 10Bảng 3.2 Số lượng và tỷ lệ % số loài Anopheles 48
Bảng 3.3 Phân bố các véc tơ sốt rét theo khu vực 49
Bảng 3.4 Phân bố các véc tơ sốt rét theo sinh cảnh khu vực nghiên cứu 50
Bảng 3.5 Phân bố véc tơ sốt rét theo khu vực 51
Bảng 3.6 Mật độ véc tơ sốt rét qua các phương pháp điều tra ở xã Ngân Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình 52
Bảng 3.7 Hoạt động đốt người trong nhà và ngoài nhà của Anopheles trong đêm ở xã Ngân Thủy, tỉnh Quảng Bình 53
Bảng 3.8 So sánh hoạt động đốt người của muỗi Anopheles 54
Bảng 3.9 Mật độ véc tơ sốt rét qua các phương pháp 54
Bảng 3.10 Hoạt động đốt người trong nhà và ngoài nhà của véc tơ sốt rét 56
Bảng 3.11 So sánh hoạt động đốt người của véc tơ SR trong đêm ở xã Canh Hòa, huyện Vân Canh, tỉnh Bình Định 57
Bảng 3.12 Mật độ véc tơ sốt rét qua các phương pháp điều tra ở xã Phước Thành - Ninh Thuận 57
Bảng 3.13 Hoạt động đốt người trong nhà và ngoài nhà của véc tơ sốt rét 58
Bảng 3.14 So sánh hoạt động đốt người của véc tơ An dirus trong đêm ở xã Phước Thành, Bác Ái - Ninh Thuận 58
Bảng 3.15 Mật độ véc tơ sốt rét thu được qua các phương pháp điều tra tại Easo, Eaka, tỉnh Đắk Lắk 59
Bảng 3.16 Mật độ trú đậu của véc tơ SR ở nhà rẫy huyện Khánh Vĩnh 60
Bảng 3.17 Mật độ trú đậu của véc tơ ở nhà rẫy xã Khánh Phú, 61
Bảng 3.18 So sánh mật độ véc tơ SR trú đậu trên vách trong và vách ngoài nhà tại nhà rẫy xã Khánh Phú, huyện Khánh Vĩnh 62
Bảng 3.19 Mật độ trú đậu của véc tơ sốt rét 62
Bảng 3.20 So sánh mật độ véc tơ SR trú đậu trên vách trong và vách ngoài nhà tại nhà rẫy xã Sơn Thái, huyện Khánh Vĩnh 62
Bảng 3.21 Mật độ đốt người trong, ngoài nhà rẫy 63
Trang 11Bảng 3.24 Mật độ đốt người của véc tơ trong và ngoài nhà rẫy 65
Bảng 3.25 So sánh mật độ véc tơ SR đốt người trong nhà và ngoài nhà tại nhà rẫy xã Sơn Thái, huyện Khánh Vĩnh 65
Bảng 3.26 Hoạt động đốt người trong đêm của véc tơ sốt rét 66
Bảng 3.27 Thành phần và tỷ lệ bọ gậy Anopheles tại Khánh Vĩnh 67
Bảng 3.28 Mật độ véc tơ trú đậu đốt người ở nhà rẫy huyện Krông Pa 67
Bảng 3.29 Mật độ véc tơ trú đậu đốt người ở nhà rẫy Ia Mlah 68
Bảng 3.30 Mật độ véc tơ trú đậu trên vách ở nhà rẫy xã Chư R Căm 69
Bảng 3.31 Mật độ véc tơ sốt rét đốt người 69
Bảng 3.32 So sánh mật độ véc tơ SR đốt người 70
Bảng 3.33 Mật độ muỗi đốt người trong và ngoài nhà rẫy 70
Bảng 3.34 So sánh mật độ véc tơ sốt rét đốt người trong nhà và ngoài nhà tại nhà rẫy xã Ia Mlah huyện Krông Pa, Gia Lai 71
Bảng 3.35 Mật độ muỗi đốt người trong và ngoài nhà rẫy của véc tơ sốt rét71 Bảng 3.36 So sánh mật độ muỗi đốt người trong nhà và ngoài nhà tại nhà .72 Bảng 3.37 Mật độ véc tơ sốt rét đốt người trong đêm ở nhà rẫy Ia Mlah 72
Bảng 3.38 Mật độ đốt người trong đêm của véc tơ sốt rét ở nhà rẫy 73
Bảng 3.39 Thành phần và tỷ lệ bọ gậy Anopheles tại nhà rẫy Krông Pa 74
Bảng 3.40 So sánh số lượng bọ gậy giữa các thủy vực tại khu vực nhà rẫy Krông Pa 75
Bảng 3.41 Tuổi thọ trung bình của các quần thể véc tơ 76
Bảng 3.42 Tuổi thọ trung bình của các quần thể véc tơ sốt rét 76
Bảng 3.43 Số lượng muỗi nhiễm ký sinh trùng sốt rét 77
Bảng 3.44 Tỷ lệ muỗi nhiễm KSTSR ở khu vực nhà rẫy - Khánh Vĩnh 78
Bảng 3.45 Tỷ lệ muỗi nhiễm ký sinh trùng sốt rét 79
Bảng 3.46 Chỉ số lan truyền của các véc tơ tại các điểm nghiên cứu 80
Bảng 3.47 Nhạy cảm của An minimus với lambda - cyhalothrin 81
Bảng 3.48 Nhạy cảm của An aconitus với alpha - cypermethrin 81
Trang 12Bảng 3.51 Nhạy cảm của An maculatus với lambda - cyhalothrin 83
Bảng 3.52 Nhạy cảm của An aconitus với lambda - cyhalothrin 84
Bảng 3.53 Nhạy cảm của An aconitus với alpha - cypermethrin 85
Bảng 3.54 Nhạy cảm An maculatus với lambda - cyhalothrin 86
Bảng 3.55 Nhạy cảm của An maculatus với alpha - cypermethrin 86
Bảng 3.56 Nhạy cảm của An dirus với alpha - cypermethrin 87
Bảng 3.57 Nhạy cảm của muỗi An maculatus 88
Bảng 3.58 Thử nhạy cảm của An aconitus với alpha – cypermethrin 88
Bảng 3.59 Nhạy cảm của An maculatus với alpha - cypermethrin 89
Bảng 3.60 Nhạy cảm của An maculatus với lambda - cyhalothrin 90
Bảng 3.61 Nhạy cảm của An dirus với lambda - cyhalothrin 91
Bảng 3.62 Nhạy cảm của An aconitus với alpha - cypermethrin 92
Bảng 3.63 Nhạy cảm của An maculatus với alpha-cypermethrin 93
Trang 13Hình 1.2 Tình hình kháng hóa chất của véc tơ sốt rét 23Hình 2.1 Sơ đồ địa điểm nghiên cứu 34Hình 3.1 So sánh mật độ đốt người của các véc tơ sốt rét ở phương phápmồi người trong nhà và phương pháp mồi người ngoài nhà tại Vân Canh-Bình Định 56Hình 3.2 Mật độ đốt người trong đêm véc tơ SR ở nhà rẫy huyện Khánh Vĩnh 66Hình 3.3 Thời gian đốt người trong đêm của véc tơ ở nhà rẫy Ia Mlah 73Hình 3.4 Thời gian đốt người trong đêm của véc tơ ở nhà rẫy Chư R Căm .74
Hình 3.5 Tỉ lệ % An aconitus ngã gục theo thời gian sau khi tiếp xúc
hóa chất alpha - cypermethrin và lambda - cyhalothrin 83
Hình 3.6 Tỉ lệ An maculatus ngã gục theo thời gian sau khi tiếp xúc hóa
chất alpha - cypermethrin và lambda - cyhalothrin 84
Hình 3.7 Tỉ lệ % An aconitus ngã gục sau khi tiếp xúc hóa chất alpha
-cypermethrin và lambda - cyhalothrin 85
Hình 3.8 Tỉ lệ % An maculatus ngã gục theo thời gian sau khi tiếp xúc
hóa chất alpha - cypermethrin và lambda - cyhalothrin 87
Hình 3.9 Tỉ lệ % An maculatus và An aconitus ngã gục theo thời gian
sau khi tiếp xúc hóa chất alpha - cypermethrin 89Hình 3.10 Tỉ lệ % An maculatus ngã gục theo thời gian sau khi tiếp
xúc hóa chất alpha - cypermethrin và lambda - cyhalothrin 91
Hình 3.11 Tỉ lệ % An dirus ngã gục theo thời gian sau khi tiếp xúc hóa
chất lambda - cyhalothrin 92
Hình 3.12 Tỉ lệ % An aconitus ngã gục theo thời gian sau khi tiếp xúc
hóa chất alpha - cypermethrin 93
Hình 3.13 Tỉ lệ % An maculatus ngã gục theo thời gian sau khi tiếp
xúc hóa chất alpha – cypermethrin 94
Trang 14ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh sốt rét (SR) là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm đối với con người, do
một số loài ký sinh trùng thuộc giống Plasmodium gây ra; mỗi năm trên thế
giới có hàng trăm triệu người mắc bệnh và hàng trăm nghìn người chết do SR
Ký sinh trùng sốt rét (KSTSR) được truyền từ người bệnh sang người lành bởicác loài muỗi thuộc giống Anopheles (An.) Bệnh SR phân bố trên thế giới từ
64 vĩ độ Bắc đến 32 vĩ độ Nam, đặc biệt ở các nước thuộc Châu Phi, khu vựcNam Mỹ và khu vực châu Á - Thái Bình Dương
Theo báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), năm 2015 [117] cókhoảng 3,2 tỷ người sống trong vùng sốt rét lưu hành (SRLH), bệnh lantruyền tại 97 quốc gia và vùng lãnh thổ, có khoảng 214 triệu ca mắc SR,438.000 trường hợp tử vong Riêng ở khu vực Tây Thái Bình Dương, có 10quốc gia có SRLH, với khoảng 870 triệu người nguy cơ mắc SR, 60 triệungười sống trong vùng có tỷ lệ mắc SR >1/1.000 dân
Đến nay, trên thế giới đã xác định có khoảng 420 loài muỗi thuộc giốngAnopheles, trong đó có khoảng 70 loài là véc tơ sốt rét cho người trong điềukiện tự nhiên [21] Ở Việt Nam đã xác định được khoảng 64 loài Anopheles
trong đó có 15 loài là véc tơ sốt rét, với 3 véc tơ sốt rét chính là An dirus, An minimus và An epiroticus [21]
Việt Nam là một nước nằm trong vùng nhiệt đới, gió mùa có nhiều điềukiện thuận lợi cho bệnh SR duy trì và phát triển quanh năm Trước đây, ở ViệtNam bệnh sốt rét lưu hành nặng, vùng sốt rét chiếm tới 2/3 diện tích, khoảng50% dân số sống trong vùng SRLH, vì thế Việt Nam đã tiến hành chươngtrình Tiêu diệt SR từ năm 1958 đến năm 1975, từ 1976 đến năm 1990 chuyểnsang chương trình Thanh toán SR và từ 1991 chuyển hướng sang chươngtrình Phòng chống sốt rét (PCSR) cho đến nay
Trang 15Khu vực miền Trung-Tây Nguyên (MT-TN) có hơn 70% dân số sốngtrong vùng có nguy cơ SR với sự di biến động dân cư lớn Đây là khu vực cótình hình SR phức tạp nhất ở Việt Nam: hàng năm số bệnh nhân sốt rét(BNSR) chiếm gần 50%; KSTSR chiếm 75%; sốt rét ác tính và tử vong sốt rétchiếm trên 80 % so với cả nước Trong năm 2015, 15 tỉnh miền MT - TN có7.644 BNSR chiếm 39,7% và 6.500 KSTSR chiếm 69,7% so với cả nước;trong đó Gia Lai có 2.245 BNSR chiếm 29,4%, 2.215 KSTSR chiếm 34,1%;Khánh Hòa có 767 BNSR chiếm 10,0% và 756 KSTSR chiếm 11,6% của toànkhu vực MT - TN Đa số BNSR là người dân tộc thiểu số chiếm trên 80%, cóđến 21,3% dân số ở các vùng sốt rét trọng điểm có hoạt động ngủ rẫy, trong
đó có 15% là thường xuyên đi rừng, ngủ rẫy và khai thác lâm thổ sản [54] Do
vậy, qua nhiều năm tiến hành PCSR việc đánh giá: Thành phần loài Anopheles, phân bố, đặc điểm sinh thái và sự nhạy cảm của véc tơ sốt rét với các hóa chất đang sử dụng trong phòng chống sốt rét ở khu vực miền Trung - Tây Nguyên 2014 - 2017 là hết sức cần thiết, nhằm làm cơ sở dữ liệu
xây dựng kế hoạch phòng chống véc tơ (PCVT) góp phần giảm tỷ lệ mắc, tỷ
lệ chết, khống chế bệnh sốt rét ở các tỉnh này nói riêng và cả nước nói chung
Mục tiêu nghiên cứu:
1 Xác định thành phần loài Anopheles, phân bố, sinh học, sinh thái vàvai trò truyền bệnh của các véc tơ sốt rét khu vực miền Trung-Tây Nguyên 2014-2017
2 Đánh giá sự nhạy cảm của véc tơ sốt rét với lambda – cyhalothrin và alpha cypermethrin tại các điểm nghiên cứu
Trang 16CHƯƠNG 1:
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Thành phần loài và phân bố muỗi Anopheles
1.1.1 Thành phần loài và phân bố muỗi Anopheles trên thế giới
Đầu thế kỷ XX, con người tin rằng có thể tiêu diệt sốt rét bằng cách diệtmuỗi, nên muỗi Anopheles được xem là đối tượng nghiên cứu chính và quantrọng trong PCSR trên toàn thế giới Do vậy, có hàng loạt các công trìnhnghiên cứu cơ bản như hình thái, phân loại, khu hệ muỗi sốt rét đã đượcnghiên cứu
Theo Ralph Harbach (2008), họ muỗi Culicidae Meigen 1818, thuộcphân bộ Nematocera (Râu dài), bộ Diptera (Hai cánh), được chia thành haiphân họ: Anophelinae (gồm 3 giống) và Culicinae (gồm 92 giống) [75]
Riêng phân họ Anophelinae Grassi, 1900 hiện nay đã xác định được 547loài thuộc 3 giống trên thế giới, bao gồm: 1 – Giống Anopheles Meigen, 1818
có 464 loài và hơn 50 thành viên chưa được định danh của các phức hợp loài,chia ra 7 phân giống là Anopheles (189 loài), Baimaia (1 loài), Cellia (217loài), Kerteszia (12 loài), Lophopodomyia (6 loài), Nyssorhynchus (31 loài)
và Stethomyia (5 loài) 2 – Giống Bironella Theobald, 1905: có 8 loài, chia ra
3 phân giống là Bironella (2 loài), Brugella (3 loài) và Neobironella (3 loài) 3– Giống Chagasia Cruz, 1906: Có 5 loài [75]
Baimai và Green (1984), ghi nhận có 4 dạng của An maculatus: A, B, C
và G [59] Baimai (1992) cho rằng An dirus là một phức hợp loài gồm các
dạng: A, B, C, D, E và F Các nghiên cứu di truyền quần thể cũng phát hiện
rằng An dirus là một phức hợp loài, cho đến nay, 7 loài thuộc phức hợp An.dirus đã được ghi nhận: An dirus A, An dirus B, An dirus C, An dirus D,
An dirus E, An nemophilous và An takasagoensis Sallum (2005) và
Trang 17Obsomer (2007) đã làm sáng tỏ phức hợp này, tất cả các loài này đã được mô
tả về hình thái, đặt tên chính thức và lập bản đồ phân bố của chúng ở vùng
Đông Nam Á: An dirus (= An dirus A); An cracens (= An dirus B); An Scanloni (= An dirus C); An Baimaii (= An dirus D); An elegans (= An.dirus E); An nemophilous (=An dirus F) và An takasagoensis [97].Harbach, Garros, Manh, Manguin (2007) [74] đã xác định phức hợp Minimus
bao gồm 2 loài có tên chính thức An minimus (loài A) và An harrisoni (loài C) và một loài có tên gọi chưa chính thức là An minimus, E Sukowati, Baimaii và cs (1999) xác định có 3 thành viên trong phức hợp loài An sundaicus ở Indonexia Linton và Harbach (2005) đã xác định các thành viên
trong phức hợp loài Sundaicus và phân bố của chúng ở khu vực Đông Nam Á[85]
Các vùng địa lý khác nhau có những loài muỗi truyền SR khác nhau Ở
Châu Phi: các véc tơ chính truyền SR là An gambiae, An funestus, An arabiensis; Trung Mỹ: An albimanus; Nam Mỹ: An darlingi; Bắc Mỹ: An quadrimaculatus; Vịnh Ả Rập: An stephensi; Thổ Nhĩ Kỳ: An sacharovi; Ấn Độ: An culicifacies, An.dirus, An minimus; Trung Quốc: An anthropophagus, An dirus, An minimus; Vùng Trung Á: An superpictus; Đông Âu: An messeae; Tây Âu: An atropavus; Australia: An farauti; Đông Nam á: An dirus, An minimus, An epiroticus [15] Dựa trên kết quả nghiên
cứu ở nhiều nước khác nhau, Sinka và cs (2012) đã vẽ bản đồ phân bố củaVTSR quan trọng trên toàn thế giới [101]
Trang 18Hình 1.1 Phân bố các véc tơ sốt rét chính trên thế giới (Sinka, 2012)
Trang 191.1.2 Thành phần loài và phân bố muỗi Anopheles ở Việt Nam
Từ đầu thế kỷ XX, đã có nhiều công trình nghiên cứu về muỗi SR tạiViệt Nam được công bố Trong đó, đáng kể nhất là một số công trình của tácgiả nước ngoài như Laveran (1901-1904) nghiên cứu về muỗi SR ở Nam Bộ;Bonet (1906) nghiên cứu muỗi SR ở Đông Dương; Staton (1926), Borel
(1930), Mesnard (1934) nghiên cứu muỗi ở các đồn điền cao su; Farinaud(1938) nghiên cứu muỗi SR ở đồng bằng Nam Bộ và Côn Đảo Mathis Legar(1910) đã công bố danh mục 15 loài muỗi tìm thấy ở Việt Nam; Borel (1926)
mô tả 13 loài ở Nam Bộ và Trung Bộ Toumanoff (1936) đã mô tả 19 loàiAnopheles; Toumanoff và Hoàng Bích Truyền (1937) công bố về khu hệAnopheles ở vùng Sapa; Galliard và Đặng Văn Ngữ (1941 - 1946) xây dựngbảng định loại gồm 22 loài (dẫn theo Nguyễn Đức Mạnh, 1988) [26]
Ở miền Nam Việt Nam, năm 1966, Stojanovich và Scott công bố 41loài Anopheles Sau 1957, việc điều tra cơ bản về muỗi SR được tiến hành đồng bộtrong cả nước (1976 - 1977) Sau giai đoạn này, đã có nhiều công trình nghiên cứu
về khu hệ muỗi SR đã được công bố Nguyễn Đức Mạnh (1988) nghiên cứu vềmuỗi SR ở Tây Nguyên [26]; Trương Văn Có (1996) nghiên cứu về muỗi SR ởTrung - Trung Bộ và Tây Nguyên [8]; Hồ Đình Trung (2005) đã thống kê ở ViệtNam phát hiện được 59 loài Anopheles, chưa kể một số là phức hợp loài bao gồm
nhiều loài thành viên như: An maculatus có ít nhất 10 thành viên, An minimus với
2 loài thành viên [48] Năm 2008, Viện Sốt rét - KST - CT Trung ương xuất bảnbảng định loại muỗi Anophelinae ở Việt Nam bao gồm 64 loài Anopheles [12]
Các loài muỗi Anopheles có tính đa dạng cao về hình thái và đặc biệt,các véc tơ sốt rét chính là thuộc về phức hợp loài hoặc nhóm loài khó hoặckhông thể phân biệt được do sự chồng chéo các đặc điểm hình thái Việc tồntại các loài đồng hình và sự gối nhau về giới hạn biến dị của các loài trongmột nhóm loài hay một phức hợp loài là khá phổ biến Việc phát hiện và phânloại các loài đồng hình bằng phân tích hình thái là rất khó xác định [1]
Trang 20Một số phương pháp định loại phân tử hiện nay đang được sử dụng đểphân biệt các loài đồng hình có cùng vùng phân bố cũng như các loài có quan
hệ gần gũi có cùng vùng phân bố Ngô Thị Hương và cs (2004, 2007) [24,25],
đã xác định phức hợp Minimus gồm An minimus và An harrisoni được tìm
thấy cùng phân bố trên diện rộng bao gồm miền Bắc và miền Trung Việt
Nam, còn phức hợp Dirus chỉ mới xác định có mặt của An dirus Về An maculatus, Nguyễn Thị Hương Bình (2008, 2009) đã xác định nhóm đồng
hình này gồm 14 thành viên, trong đó có 6 loài đã xác định tên như trongbảng định loại muỗi Anophelinae ở Việt Nam năm 2008, còn 08 thành viênkhác chưa xác định chính xác vị trí phân loại [1] Về phức hợp Sundaicus,
Nguyễn Đức Mạnh và ctv (2006) đã xác định An sundaicus ở Nam Bộ chính
là An epiroticus trong phức hợp loài Sundaicus Nguyễn Đức Mạnh và ctv
(2008) [28] đã xác định An sundaicus ở Cần Giờ có thể là một thành viên
mới trong phức hợp loài đồng hình Sundaicus ở Việt Nam
Hiện nay An minimus được xác định là một phức hợp gồm ít nhất hai loài Bằng chứng sự tồn tại các loài thành viên trong phức hợp An minimus là
sự khác nhau về các dấu hiệu tập tính, hình thái và di truyền trong nội bộ An minimus Tuy nhiên, các dấu hiệu tập tính và hình thái không phải là bằng
chứng hiển nhiên về sự tồn tại của các loài đồng hình mà chúng là các chỉ thịđầu tiên gợi ý một loài nào đó có thể là một phức hợp của các loài đồng hình
Ở Việt Nam, bằng kỹ thuật điện di enzym, dựa trên tần số kiểu gen locus
Odh, An minimus được chia thành hai “dạng”: “dạng 1” gồm những cá thể chủ yếu có kiểu gen là đồng hợp tử Odh 134/134, “dạng 2” gồm những cá thể có
kiểu gen đồng hợp tử Odh 100/100 Hai dạng này khác nhau về tập tính: An minimus “dạng 1” thích đốt người ngoài nhà, trong khi đó An minimus “dạng
2” thích đốt người trong nhà (Hồ Đình Trung, 1996) )[47] Hiện nay, với việc
áp dụng kỹ thuật phản ứng chuỗi PCR, có thể phân biệt hai loài
Trang 21An minimus A và An minimus C (Hồ Đình Trung, 2005) [48] Năm 2008,Nguyễn Thị Hồng Ngọc và cs nghiên cứu đa hình di truyền của các thành viên
trong nhóm loài An minimus và vẽ sơ đồ cây quan hệ họ hàng trên cơ sở phân
tích các băng ADN đa hình [30] Dựa trên những đặc điểm di truyền,
Harbach và cs (2007) đã tách An minimus C trong phức hợp loài An minimus thành một loài mới và đặt tên là An harrioni [74]
Ngô Thị Hương và cs (2004) cũng đã xác định các các mẫu vật phức
hợp Dirus thu thập được ở Việt Nam chỉ mới xác định có mặt của An dirus (= An dirus A) [24] Như vậy, cho đến nay ở Việt Nam mới ghi nhận sự có
mặt của hai loài thuộc phức hợp loài Dirus, đó là An dirus và An takasagoensis.
Theo thống kê của Hồ Đình Trung (2005) [48], ở Việt Nam có 15 loàiAnopheles là những véc tơ sốt rét chính, phụ và nghi ngờ, phân bố như sau:
Véc tơ chính phân bố tại vùng đồi - núi - rừng toàn quốc là An minimus, tại
vùng núi rừng từ 200 vĩ Bắc vào Nam là An dirus, tại vùng nước lợ ven biển Nam Bộ là An epiroticus; véc tơ phụ phân bố tại vùng núi rừng toàn quốc là
An aconitus, An jeyporiensis, An maculatus, tại vùng ven biển miền Bắc là
An subpictus, An sinensis, An vagus, An indefinitus, tại vùng ven biển miền Nam là An subpictus, An sinensis, An campestris; véc tơ nghi ngờ phân bố tại vùng núi rừng miền Bắc, MT-TN là An culicifacies; tại vùng núi rừng Đông Nam Bộ là An interruptus, tại vùng ven biển miền Bắc là An lesteri.
Thành phần loài Anopheles ở các địa phương khác nhau, ở các thờiđiểm điều tra khác nhau là khác nhau Vì các nguyên nhân chủ quan như quy
mô điều tra, phương pháp điều tra và có nguyên nhân khách quan do sự thayđổi điều kiện ngoại cảnh của khu vực nghiên cứu, hoạt động dân cư xây dựngphát triển kinh tế, do tác động của các biện pháp phòng chống véc tơ đã đượctriển khai Vì vậy, việc điều tra xác định thành phần loài thường xuyên theo
Trang 22từng giai đoạn là hết sức cần thiết, để có thể so sánh thành phần loài muỗi ởcác điểm nghiên cứu khác nhau, cần phải tiến hành các điều tra cùng quy mô,đồng thời và theo các phương pháp cố định.
1.2 Sinh thái, tập tính, vai trò truyền bệnh của muỗi Anopheles
1.2.1 Sinh thái, tập tính, vai trò truyền bệnh của muỗi Anopheles trên thế giới
1.2.1.1 Sinh thái, tập tính muỗi Anopheles trên thế giới
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về tập tính sinh lý muỗi sốt rét, nhất
là những nhóm loài có khả năng truyền bệnh sốt rét rất được chú trọng và tiếnhành nhiều nơi Christopher (1911), nghiên cứu sự phát triển của trứng trong
cơ thể muỗi Beklemishev (1940), nghiên cứu sinh học của muỗi Anopheles,xác định 3 giai đoạn sinh thực của muỗi Rusell (1946), Gilles (1961), Gilles
và Wilkes (1965), nghiên cứu tuổi thọ của muỗi và các yếu tố ảnh hưởng.Carneval, Bryan và Smaley (1978), Chomara (1951), nghiên cứu tập tính lựachọn vật chủ và các yếu tố hấp dẫn muỗi Klein (1977), nghiên cứu sự lựachọn nơi đẻ của muỗi (dẫn theo Trần Đức Hinh, 1996) [15]
Nghiên cứu sự liên quan giữa sốt rét với các yếu tố núi, rừng và sự biếnđộng dân cư đã được nhiều tác giả trên thế giới nghiên cứu trong những nămgần đây Kondrashin và cs (1991) nghiên cứu ở khu vực Đông Nam Á xácđịnh ở vùng rừng núi tỷ lệ mắc và tử vong do sốt rét cao hơn nhiều so vớivùng đồng bằng, đô thị [10] Một trong các yếu tố chính làm cho sốt rét nặng
và dai dẳng ở vùng rừng núi là véc tơ sốt rét có khả năng truyền bệnh cao,tuổi thọ dài, có tập tính trú đậu và đốt mồi ngoài nhà nên ít chịu tác động củahóa chất diệt muỗi Trong khi đó, các cộng đồng dân cư địa phương chủ yếu
là người dân tộc thiểu số có đời sống kinh tế thấp, tập quán lạc hậu và thiếuhiểu biết công tác PCSR, và tập quán du canh du cư góp phần làm cho diễnbiến sốt rét ngày càng phức tạp
Trang 23Đối với các véc tơ sốt rét khác nhau có tập tính đốt mồi khác nhau An minimus ở Đông Nam Á thì chủ yếu là đốt mồi trong nhà [76] Tuy nhiên, tập tính ưa đốt người trong nhà của An minimus dường như rõ ràng hơn trước khi
phun DDT Sau một giai đoạn dài sử dụng DDT, thì chúng có xu hướngchuyển sang đốt người ngoài nhà Hầu hết các nghiên cứu được tiến hành ở
Thái Lan sau năm 1970 kết luận rằng An minimus ưa đốt người ngoài nhà
hơn [79]
Hoạt động đốt người của An minimus thường là suốt đêm Tuy nhiên,
đỉnh đốt người thay đổi theo không gian và thời gian Ở Ấn Độ, thời điểm đốt
người cao nhất của An minimus là từ 1h đến 4h [68], trong khi đó ở Myanmar[90] là 22h đến 3h Ở vùng cao miền trung Thái Lan, thời điểm đốt người caonhất của chúng là lúc 18h vào mùa lạnh và 22h vào mùa nóng [92] Ismail và
cs (1975) nghiên cứu những quần thể An minimus vùng bìa rừng ở Thái Lan
thấy rằng tỷ lệ đốt người ngoài nhà cao hơn trong nhà từ 4,4 đến 5,8 lần [80]
Hoạt động đốt người của An dirus diễn ra cả trong nhà và ngoài nhà, và
tỷ lệ đốt người trong nhà và ngoài nhà của chúng thay đổi theo không gian và
thời gian Ở Bangladesh, 81,4% An dirus bắt được ngoài nhà năm 1975,
trong khi đó năm 1976 tỷ lệ này chỉ có 57,7% [95] Ở miền Bắc Thái Lan, An dirus đốt người trong nhà nhiều hơn ngoài nhà không đáng kể [114], trong khi
đó ở Campuchia An dirus bắt được trong nhà nhiều hơn 2 - 5 lần ngoài nhà
Hoạt động đốt người của An dirus là suốt đêm, nhưng thời điểm đốt
người cao nhất tuỳ thuộc vào vùng địa lý và theo mùa Ở miền Nam
Myanmar, hoạt động đốt người ngoài nhà của An dirus rõ nét là từ 18h trở đi
và có hai thời điểm đốt người cao nhất là vào lúc 19h30 và 21h30 [78] Ở
Bangladesh, thời điểm đốt người cao nhất của An dirus ngoài nhà là từ 22h 23h và trong nhà là 1h - 2h Ở miền Nam Thái Lan, An dirus có tần suất đốt
-người cao vào khoảng 22h - 1h [96] hay từ 24h - 3h [97] Ở miền Đông Thái
Trang 24Lan, hoạt động đốt người của An dirus xuất hiện sớm hơn trong mùa khô lạnh, với 35 - 40% An dirus bắt được trước 21h, gấp đôi so với các mùa khác
cùng thời gian [72]
Sự khác nhau về tập tính đốt người của An dirus giữa các khu vực có thể
do sự có mặt của các loài khác nhau trong phức hợp loài An dirus Ở Thái Lan, hoạt động đốt người ngoài nhà của An dirus C và B thường ở mức độ cao vào đầu buổi tối trong khoảng 18h - 20h và 19h - 21h Trong khi đó An dirus A và D
bắt đầu đốt người muộn hơn, thời điểm đốt người ngoài nhà cao nhất từ 21h
- 23h đối với An dirus A và từ 1h - 3h đối với An dirus D [58]
Đối với An maculatus hoạt động đốt người suốt đêm nhưng chủ yếu từ
chập tối đến 21 giờ và thường đốt máu người ngoài nhà hơn trong nhà [86]
1.2.1.2 Vai trò truyền bệnh của véc tơ sốt rét trên thế giới
Từ năm 1901, Ronal Ross đã phát hiện thoa trùng sốt rét trong muỗiAnopheles, và sau đó cũng đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về vai tròtruyền bệnh sốt rét của muỗi Anopheles [1] Về vai trò truyền bệnh sốt rét củamuỗi Anopheles đã có nhiều công trình nghiên cứu đáng kể, nhất là công trìnhcủa Mac Donald (1957) đã xác định một loài Anopheles là véc tơ sốt rét cần
có các điều kiện sau: Có thoa trùng trong tuyến nước bọt, ái tính với máungười (ưa đốt người), tần số đốt người cao, tuổi thọ đủ dài và có mật độ cao ởmùa truyền bệnh sốt rét Như vậy, để chứng minh vai trò truyền bệnh của mộtvéc tơ, người ta phải chứng minh được chúng có mang mầm bệnh Có nhiềuphương pháp như mổ muỗi hoặc gây nhiễm thực nghiệm Bên cạnh kỹ thuật
mổ muỗi tự nhiên (WHO, 1975; WHO, 1994), ngày nay nhờ có kỹ thuậtELISA xác định muỗi nhiễm KSTSR một cách đơn giản và cho phép xác định
ký sinh trùng đó là P falciparum hay P vivax [117]
Với những kết quả đạt được trong lĩnh vực nghiên cứu phân loại họcmuỗi Anopheles và vai trò truyền bệnh của muỗi Anopheles, cho đến nay trên
Trang 25thế giới trong giống Anopheles đã xác định khoảng 70 loài là véc tơ truyền KSTSR cho người (Hồ Đình Trung, 2005) [47].
1.2.2 Sinh thái, tập tính và vai trò truyền bệnh của Anopheles ở Việt Nam
1.2.2.1 Sinh thái, tập tính muỗi Anopheles ở Việt Nam
Theo Lê Khánh Thuận, Trương Văn Có nghiên cứu ở khu vực MT - TN
(2001): An minimus phát triển quanh năm, phân bố rộng từ vùng bìa rừng,
phát tán ra vùng savan cỏ bụi, véc tơ này có ưu thế ở vùng bìa rừng, mật độ
giảm ở vùng rừng và rừng rậm An minimus hoạt động đốt máu suốt đêm và
có mật độ cao nhất từ 22h đến 4h sáng Tỷ lệ An minimus nhiễm thoa trùng
tại Gia Lai năm 1994 là 2,58% [45]
Nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố khí hậu lên quần thể An minimus
tại Khánh Phú, các tác giả Nguyễn Tuyên Quang, Marchand, Nguyễn Thọ
Viễn (2002) nhận định: Khoảng nhiệt độ đẻ quần thể An minimus tồn tại và
phát triển là >18oC và <330C cùng với khoảng độ ẩm tương ứng là > 81% và
< 90% [39]
Hoạt động đốt mồi của véc tơ sốt rét khác nhau là không giống nhau
giữa các loài Hoạt động đốt mồi của An minimus thường là suốt đêm Tuy nhiên, đỉnh đốt mồi của An minimus ở Việt Nam là 22h đến 3h [50]
Khi phân tích theo nhóm loài giữa An minimus A và C cho thấy, An minimus C ưa đốt trâu bò, ưa đốt người ngoài nhà và trú đậu ngoài nhà; ngược lại An minimus A ưa đốt người và trú đậu trong nhà Do mức độ ưa đốt máu người khác nhau giữa An minimus A và An minimus C cho nên rất có thể sự
truyền sốt rét của chúng là không như nhau [47]
Đối với An dirus hoạt động đốt người diễn ra cả trong nhà và ngoài
nhà, ở miền Trung Việt Nam [43] An dirus bắt được trong nhà nhiều hơn 2
-5 lần ngoài nhà Một cuộc khảo sát tiến hành ở huyện Vân Canh cũng như ở
miền Trung Việt Nam cho thấy từ 18h - 22h mật độ An dirus đốt mồi ngoài
nhà cao hơn trong nhà, nhưng từ 22h - 5h thì mật độ đốt mồi trong nhà lại cao
Trang 26hơn ngoài nhà, do đó cả đêm mật độ chúng đốt mồi trong nhà và ngoài nhà tương đương nhau [35].
Ở Việt Nam, thời điểm đốt mồi cao nhất là từ 20h - 24h [32] Ở một số
nơi, số lượng An dirus bắt được trước nửa đêm là trên 85% tổng số muỗi bắt được
trong cả đêm [43]
1.2.2.2 Vai trò truyền bệnh của véc tơ sốt rét ở Việt Nam
Bệnh sốt rét ở Việt Nam lưu hành quanh năm với l - 2 đỉnh cao trongnăm, tuỳ thuộc vào véc tơ truyền bệnh chính và có liên quan chặt chẽ với mùa
mưa Ở những vùng mà véc tơ chính là An minimus thì mùa sốt rét có 2 đỉnh
cao trong năm, vào đầu mùa mưa và cuối mùa mưa; ở những vùng mà véc tơ
chính là An dirus thì mùa sốt rét chỉ có một đỉnh cao vào giữa mùa mưa; còn
ở những vùng mà véc tơ chính là An minimus phối hợp cùng An dirus thì
mùa sốt rét có đỉnh cao kéo dài suốt mùa mưa
Việc xác định vai trò truyền bệnh của một loài muỗi Anopheles dựa theonhững căn cứ: Sự phù hợp dịch tễ học của phân bố bệnh sốt rét và sự phân bốmuỗi theo không gian và thời gian; tính ưa đốt người của muỗi cao; muỗi phảisống đủ lâu để KSTSR hoàn thành sự phát triển trong muỗi và cuối cùng là tỷ
lệ nhiễm thoa trùng của muỗi trong tự nhiên Sự phát hiện ra thoa trùngKSTSR trong muỗi là bằng chứng xác thực nhất về vai trò véc tơ của một loàimuỗi Tuy vậy, việc mổ muỗi xét nghiệm tìm ra thoa trùng ở tuyến nước bọtluôn là việc khó khăn về kỹ thuật, cũng như trong tự nhiên, xác suất phát hiệnthoa trùng là rất nhỏ Hiện nay, kỹ thuật ELISA đã tạo điều kiện thuận lợi hơncho việc xác định muỗi nhiễm KSTSR
Như thế, khả năng của một loài muỗi trở thành một véc tơ truyền bệnhmang bản chất sinh học và mối quan hệ giữa người-KSTSR-muỗi đã đượchình thành trong lịch sử lâu dài Tuy nhiên, vai trò của các loài véc tơ ở cácđịa phương khác nhau thể hiện với các mức độ khác nhau; mà một trong các
Trang 27nguyên nhân gây ra là do mức độ phát triển của quần thể véc tơ và sự thay đổitập tính của muỗi tùy thuộc vào hoàn cảnh môi trường cụ thể.
Ở hai thí điểm nghiên cứu sốt rét Vân Canh (Bình Định) và Iakor (GiaLai), các tác giả Lê Khánh Thuận, Trương Văn Có, và cs (2001) cho biết, tại Vân
Canh mùa sốt rét tháng 4, 5 do quần thể An minimus đóng vai trò chính; còn tháng
10, 11 do quần thể An dirus đóng vai trò quan trọng Ở Tây Nguyên, mùa truyền bệnh sốt rét hầu như quanh năm, An minimus là véc tơ truyền bệnh rất quan trọng,
có đỉnh phát triển thứ nhất vào tháng 4 - 5; đỉnh phát triển thứ hai vào tháng 9 - 11
Tỷ lệ đẻ của An minimus ở Iakor là 72,8
% Tỷ lệ nhiễm KSTSR của An minimus là 3,46%) [44]
Nguyễn Đức Mạnh, Trần Đức Hinh, Lê Đình Công và cs (2002) [28],cho thấy trong giai đoạn 1996 - 2000, ở tất cả các tỉnh có rừng núi (39 tỉnh
trong cả nước) đều bắt được muỗi An minimus; muỗi An dirus bắt được ở 21
tỉnh từ miền Trung Việt Nam trở vào Trong tổng số 12.867 muỗi thử nghiệm
ELISA chỉ mới thấy 2 loài muỗi nhiễm KSTSR là An minimus (1,59 % 6,0%) và An dirus (2,78 % - 6,97 %) và tập trung ở MT – TN và Nam Bộ, muỗi An minimus ở miền Bắc chưa thấy trường hợp nào dương tính.
-Khu vực MT - TN đã phát hiện 48 loài Anopheles, chiếm 81,35% số
lượng loài cả nước An minimus và An dirus là hai véc tơ truyền bệnh SR
trong khu vực Mùa truyền bệnh SR ở MT-TN duy trì quanh năm; tuy nhiên
có 2 đỉnh cao: Đỉnh thứ nhất vào mùa khô (tháng 3, 4, 5) và đỉnh thứ hai vào
mùa mưa (tháng 9, 10, 11) An minimus là véc tơ đóng vai trò truyền bệnh SR quan trọng nhất ở khu vực và An dirus cũng là véc tơ quan trọng góp phần
gia tăng mức độ truyền bệnh SR vào những tháng mùa mưa trong năm [44]
Từ các kết quả nghiên cứu về vai trò truyền bệnh sốt rét của các loàiAnopheles ở Việt Nam chúng tôi có thể xác định được các loài Anopheles lànhững véc tơ sốt rét ở khu vực miền Trung-Tây Nguyên như sau: các véc tơ
Trang 28chính An dirus và An minimus; các véc tơ phụ là: An aconitus, An jeyporiensis và An maculatus.
1.3 Phòng chống véc tơ sốt rét
1.3.1 Phòng chống véc tơ sốt rét trên thế giới
Những năm đầu của thế kỷ XX, con người đã có biện pháp phòng chốngsốt rét bằng cách đắp màn, tấm đắp, lấp ao hồ, vũng nước đọng, khơi thôngdòng chảy để diệt bọ gậy của muỗi Anopheles và đã khám phá ra hoạt tínhdiệt côn trùng của DDT, sau đó các nhóm hóa chất diệt côn trùng được nghiêncứu thành công và sử dụng như nhóm lân hữu cơ, nhóm Clo hữu cơ và nhómCarbamat; đã có nhiều công trình nghiên cứu về hiệu quả diệt của các hóachất này; cũng như vấn đề kháng hóa chất của côn trùng
Hóa chất nhóm Pyrethroid được Schechter tổng hợp năm 1924 có tên làBioallthrin; năm 1973, Elliott và Onwaris đã tổng hợp thành công permethrin;sau này, những hóa chất như lambdacyhalothrin, deltamethrin,alphacypermethrin cũng đã được tổng hợp thành công và cũng có nhiều côngtrình nghiên cứu hiệu quả sử dụng phun tồn lưu trên tường vách của các loạihóa chất này Các tác giả nghiên cứu hầu hết cho rằng màn tẩm permethrine
an toàn đối với người, ít mùi, không màu, có khả năng hạn chế véc tơ vào nhàhút máu và lan truyền sốt rét Do vậy, WHO (1989) đã khuyến cáo sử dụngbiện pháp này trên diện rộng trong chương trình PCSR ở các nước trên thếgiới như Trung Quốc, quần đảo Solomon, Tân Ghine, Việt Nam [8]
Ngoài ra, còn có các biện pháp khác như vật lý, sinh học, sinh thái họccũng được nghiên cứu ở nhiều nơi Vinod (1991) đã nghiên cứu việc quản lý
môi trường trong phòng chống sốt rét do An culicifacies và An stephensi
truyền bệnh ở Ấn Độ, Gorgas đã thành công trong công việc sử dụng nhữngbiện pháp quản lý môi trường để làm giảm đi bệnh SR cho công nhân trênkênh đào Panama [108]
Trang 29Binka và cs (1996) nghiên cứu tại Ghana cho thấy, sau 2 năm sử dụngmàn tẩm Permethrin, tỷ lệ chết ở trẻ em từ 6 tháng đến 4 tuổi giảm 17% [61].Kết quả cũng được ghi nhận ở Gambia: sau 1 năm sử dụng màn tẩmPermethrin, tỷ lệ chết ở trẻ em từ 1 - 9 tuổi giảm 25% và tình trạng dinhdưỡng của trẻ em sống trong khu vực sử dụng màng tẩm hoá chất cũng đượccải thiện
Tại làng Banlingo và Banjul của Malaisia, Yap (1996) đã so sánh hiệuquả xua và diệt muỗi khi sử dụng các loại xà phòng có chứa DEEP 20 % vàpermethrin 0,5%, xà phòng chỉ có DEEP 20% và xà phòng chỉ có permethrin0,5% Kết quả cho thấy, loại xà phòng có chứa DEEP và Permethrin làm giảmtrung bình 62% số lượng muỗi đốt, p < 0,001 Xà phòng chỉ chứa DEEP làmgiảm trung bình 70% số lượng muỗi đốt, p < 0,001 Xà phòng chỉ có chứapermethrin làm giảm trung bình 29% số lượng muỗi đốt, P< 0,05 [118]
Ngoài ra, tính kháng hóa chất diệt côn trùng - một hiện tượng có thểxuất hiện trong mọi nhóm côn trùng truyền bệnh sau một thời gian tiếp xúcvới hóa chất diệt cũng đã được chú trọng trong công tác phòng chống véc tơsốt rét Năm 1946, mới chỉ phát hiện có hai loài Anopheles kháng DDT,nhưng đến năm 1991 đã có tới 55 loài kháng với một số hóa chất Trong 55loài có 53 loài kháng với DDT, 27 loài với lân hữu cơ, 17 loài với carbamate
và 10 loài với pyrethroid, 16 loài có kháng với 4 loại hóa chất diệt Có 21 loàitrong 55 loài kháng là véc tơ quan trọng đã được WHO báo cáo năm 1992
1.3.2 Phòng chống véc tơ sốt rét ở Việt Nam
Vào đầu năm 1980, mặc dù DDT vẫn còn hiệu lực trong phòng chốngVTSR, nhưng WHO đã khuyến cáo không sử dụng DDT trong y học Cùngvới xu thế chung của thế giới, các chuyên gia phòng chống véc tơ sốt rét(PCVTSR) ở Việt Nam đã bắt đầu nghiên cứu các biện pháp sử dụng các hóachất thuộc nhóm Pyrethroid để PCVT sốt rét Một số công trình nghiên cứu
Trang 30về hiệu quả PCSR của màn tẩm permethrine như: Nguyễn Văn Chí và cs (1986 – 1991), Bùi Đình Bái và cs (1991 – 1993), Vũ Thị Phan và ctv (1987– 1990) kết luận là có thể sử dụng màn tẩm permethrine trong PCSR ở những vùng sốt rét nặng [8].
Lê Khánh Thuận, Trương Văn Có và cs (1997) nghiên cứu áp dụng một
số biện pháp PCVT ở MT-TN Phun ICON 10WP, phun K-Othrin 5WP; tẩmmàn bằng permethrin và kem xua DEET làm giảm KSTSR ở cộng đồng dân
cư có tập quán ngủ rẫy Nguyễn Đức Mạnh và cs (1997), thử nghiệm vectron
20 WP phun tồn trên tường gỗ, tre, nứa; và tẩm màn bằng vectron 10EC.Trương Văn Có (2007) [9] nghiên cứu ở khu vực Tây Nguyên xác định ICONtẩm màn có hiệu lực tồn lưu kéo dài trên 8 tháng
Năm 2001, Trần Đức Hinh và ctv [16] đã nghiên cứu so sánh hiệu lựcdiệt tồn lưu của màn tẩm permethrin, deltamethrin, lambdacyhalothrin,etofenprox và alphacypermethrin ở Việt Nam Kết quả sau một năm thửnghiệm đã kết luận: Các hóa chất đều có tác dụng PCVT, tác dụng phụ khôngđáng kể và được cộng đồng chấp nhận, qua đó đề xuất hóa chất sử dụng chochương trình PCSR Quốc gia
Nguyễn Tuấn Ruyện và cs (2001) [42] đã đánh giá hiệu quả củafendona 10 SC tại thực địa trong PCSR ở miền Bắc Việt Nam cho thấy tácdụng tồn lưu của fendona trên tường gỗ là 11 tháng, trên tường gạch là 9tháng với liều 30 mg/m2
Triệu Nguyên Trung và ctv (2009) [49] nghiên cứu đánh giá hiệu lựccủa fendona 10 SC phun tồn lưu và tẩm màn trong phòng chống muỗi sốt rét
ở khu vực MT-TN cho thấy hiệu lực tồn lưu của hóa chất trên tường vách ởthực địa kéo dài 6-8 tháng
Dựa trên những kết quả nghiên cứu nêu trên, hiện nay ở Việt Nam, cácbiện pháp phòng chống véc tơ được lựa chọn sử dụng trong Chương trìnhQuốc gia PCSR là phun tồn lưu và tẩm màn bằng hóa chất Các hóa chất đang
Trang 31được sử dụng là fendona 10SC, ICON 10WP và ICON 2,5CS; trong đó:ICON 10WP và fendona 10SC được chỉ định sử dụng để phun tồn lưu; vàICON 2,5CSvà fendona 10SC được chỉ định sử dụng để tẩm màn.
Tuy nhiên, hiện nay việc PCVTSR cho người đi rừng, ngủ rẫy rất khókhăn vì: Khu vực nhà rẫy thường có mật độ véc tơ truyền bệnh cao; Nhà rẫynằm rải rác trên núi cao nên việc phun tẩm hóa chất rất khó khăn; Người dânchưa có ý thức mang màn theo khi ngủ rẫy Nhiều nơi người dân chưa đủ màn
để mang đi ngủ tại nhà rẫy [10]
Ngoài ra, tại một số nơi có tình hình sốt rét gia tăng do ở những đốitượng đi rừng, ngủ rẫy cũng đã có nghiên cứu hiệu quả của các biện phápphòng chống véc tơ bổ sung phun tồn lưu nhà rẫy và tẩm màn cho đồng bào
có tập quán ngủ rẫy Nghiên cứu của Nguyễn Thị Duyên (2011) ở Bình Định
cho thấy: An dirus có mặt quanh năm tại khu vực nhà rẫy, có đỉnh phát triển vào tháng 10, 11, An dirus nhiễm KSTSR tỷ lệ là 2,86%; các biện pháp phun
tồn lưu và tẩm màn có hiệu lực tồn lưu 6-7 tháng và đã làm giảm cả tỷ lệngười nhiễm KSTSR từ 1,75% xuống còn 0,84-0,42% [10]
Nguyễn Xuân Quang và ctv (2012) nghiên cứu muỗi Anopheles ở các
Vườn Quốc gia Chư Mom Ray, Vườn Quốc gia Kon Ka Kinh và Khu bảo tồnthiên nhiên Ea Sô đã chỉ ra vai trò của các loài được xác định là véc tơ truyềnbệnh sốt rét; cung cấp một số dẫn liệu về sinh thái học và tập tính của các loàivéc tơ, gắn liền với vai trò truyền bệnh của chúng; cho biết hiện trạng mắc sốtrét ở các cộng đồng tại ba khu vực nghiên cứu, đặc biệt trong mối liên quanvới tập quán đi rừng, ngủ rẫy của đồng bào Kết quả thử nghiệm biện pháp sửdụng võng và bọc võng tẩm Fendona 10SC liều lượng 25 mg a.i/m2 phối hợptruyền thông tích cực đã mang lại một số kết quả như: sau can thiệp 2 tháng
và 5 tháng, mật độ các véc tơ sốt rét An dirus, An aconitus và An maculatus
ở trong nhà rẫy có giảm Tỷ lệ KSTSR sau 5 tháng can thiệp là 0,96%, giảm
so với trước can thiệp (4,31%); sau 12 tháng can thiệp giảm còn
Trang 320,49%; tỷ lệ SRLS sau 5 tháng can thiệp là 1,44%, giảm so với trước canthiệp (4,79%); sau 12 tháng can thiệp giảm còn 0,49% [39].
Hầu hết các nghiên cứu đều chỉ ra hiệu quả PCSR tốt của các biện pháp
bổ sung cho những đối tượng đi rừng, ngủ rẫy, nhưng cũng đồng thời khuyếncáo cần thiết phải có những nghiên cứu sâu hơn, rộng hơn để có những biệnpháp PCSR khác nhau, phù hợp cho từng vùng, từng nơi có những yếu tố dịch
tễ sốt rét, yếu tố véc tơ, cũng như yếu tố tập quán đi rừng, ngủ rẫy của ngườidân khác nhau, đặc biệt là ở MT - TN nơi mà đa số người dân địa phương vẫncòn tập quán đi rừng, ngủ rẫy Các véc tơ SR thường tấn công người vào banđêm, thời gian này người đồng bào chủ yếu tập trung trong nhà rẫy Thựctrạng nhà rẫy và hoạt động của muỗi ở nơi này như thế nào và liệu có phải xử
lý phòng chống trong khu vực nhà rẫy hay không là câu hỏi cần phải trả lờicho các nhà nghiên cứu về SR
Như vậy, hiện nay ở MT - TN, việc nghiên cứu muỗi Anopheles và cácvéc tơ sốt rét, cũng như nghiên cứu các biện pháp phòng chống véc tơ, PCSRcho những người đi rừng, ngủ rẫy là cần thiết trong tình hình hiện nay
1.4 Kháng hóa chất diệt côn trùng của véc tơ sốt rét
1.4.1 Định nghĩa kháng hóa chất
Kháng hóa chất là sự chọn lọc đặc điểm có tính kế thừa của một quần thểcôn trùng gây ra thất bại một sản phẩm hóa chất mong đợi khi sử dụng theo
quy định Theo định nghĩa của WHO “Kháng hóa chất là sự phát triển khả
năng sống sót của một số cá thể sau khi tiếp xúc với nồng độ của một hoá chất mà với nồng độ đó đa số cá thể trong một quần thể bình thường của loài
đó sẽ bị chết sau khi tiếp xúc”.
Khả năng phát triển tính kháng hoá chất diệt phụ thuộc vào các yếu tố:Sinh học, sinh thái học của côn trùng, thời gian tồn lưu của hoá chất và cường
độ sử dụng gồm liều lượng và thời gian sử dụng
Trang 331.4.2 Cơ sở sinh học của tính kháng hóa chất diệt ở côn trùng
Hiện tượng kháng hóa chất không phải là một quá trình thích nghi sinh
lý của các cá thể trong quần thể Hiện tượng này bắt nguồn từ sự sai khác tựnhiên có bản chất di truyền về mức độ mẫn cảm đối với các chất độc giữa các
cá thể trong quần thể Sự khác biệt này có sẵn trong các quần thể tự nhiênngay từ khi chưa tiếp xúc với hóa chất
Tính kháng hoá chất là một hiện tượng tiến hóa, là kết quả của quá trìnhchọn lọc các gen kháng ở côn trùng dưới áp lực của hoá chất Các gen kháng
có thể có sẵn trong quần thể hoặc sinh ra do đột biến Những cá thể trongquần thể mang gen kháng sống sót mặc dù tiếp xúc với hoá chất và truyềnnhững gen kháng cho thế hệ sau
Việc sử dụng lặp lại một hoá chất sẽ loại bỏ các cá thể nhạy và tỷ lệ các
cá thể kháng sẽ tăng và cuối cùng số cá thể kháng sẽ trội lên trong quần thể.Kết quả là quần thể không phục hồi trở lại được tính mẫn cảm của hóa chất
đó Do vậy, giám sát và phát hiện ngay từ những dấu hiệu đầu tiên là quantrọng để kịp thời có một chương trình quản lý tính kháng hóa chất diệt
1.4.3 Một số cơ chế kháng của côn trùng
Hóa chất có thể xâm nhập vào cơ thể muỗi bằng nhiều cách và ảnhhưởng đến sự sống sót của chúng ở các mức độ khác nhau Dựa vào khả nănghóa chất bị phân giải trực tiếp hay không khi tác động lên cơ thể muỗi để chia
ra các cơ chế kháng:
- Kháng do giảm tính thẩm thấu: Là cơ chế mà trong đó hóa chất diệt
không bị phân hủy trực tiếp, song tính kháng hình thành là do giảm khả năng thấm.Nhiều loại hoá chất diệt côn trùng thâm nhập vào cơ thể côn trùng qua lớp biểu bì.Những thay đổi của lớp biểu bì của côn trùng làm giảm tốc độ thẩm thấu của hoáchất diệt côn trùng gây nên sự kháng đối với một số hoá chất diệt Đơn thuần tínhthấm giảm chỉ gây ra sự kháng ở mức độ thấp Cơ
Trang 34chế này hiếm khi được đề cập tới, nó thường được coi là thứ yếu thậm chíkhông được nhắc tới ở muỗi Tuy nhiên, nếu phối hợp với các cơ chế khángkhác, nó có thể tạo nên sự kháng cao Cơ chế này hầu hết được phát hiện quacác nghiên cứu tính thấm sử dụng hoá chất diệt.
- Kháng tập tính: Đó là sự thay đổi của côn trùng trong tập tính né tránh
được liều gây chết của hóa chất Những thay đổi bao gồm sự giảm xu hướngbay vào vùng sử dụng hoá chất hay tránh xa khỏi bề mặt có hoá chất Tuynhiên, cơ chế kháng này cũng hiếm khi được đề cập đến và như hậu quả thayđổi gây ra trực tiếp bởi sự có mặt của hoá chất diệt côn trùng
- Kháng “hạ gục”: Kháng “hạ gục” được đặt tên từ việc quan sát các
côn trùng sau khi cho tiếp xúc với hóa chất Các côn trùng nhạy cảm sau khi tiếp xúc với hoá chất diệt nhanh chóng bị tê liệt hay “hạ gục” (knockdown)
- Kháng do cơ chế chuyển hóa: Trong có chế này khi phân tử hóa chất
diệt xâm nhập vào cơ thể dưới tác dụng của các enzym khác nhau trong cơ thểmuỗi kháng, hóa chất sẽ bị phân giải theo nhiều con đường khác nhau như: oxyhóa, thủy phân, hydro hóa, khử clo, ankyl hóa trở thành chất không độc Cơ chếnày tạo ra một mức độ kháng mạnh mẽ nhất của muỗi đối với từng hóa chất Sựkháng hóa chất là kết quả của sự thay đổi về mặt cấu trúc enzym làm tăng khảnăng giải độc của nó hoặc tăng số lượng enzym dẫn đến tăng sự đào thải độc tốhóa chất diệt côn trùng ra khỏi cơ thể chúng
1.5 Tình hình kháng hóa chất diệt côn trùng của véc tơ sốt rét
1.5.1 Tình hình kháng hóa chất diệt côn trùng của véc tơ sốt rét trên thế giới
Tính kháng hoá chất diệt côn trùng là một hiện tượng có thể xuất hiệntrong mọi nhóm côn trùng truyền bệnh Năm 1946 mới chỉ có hai loàiAnopheles kháng DDT, nhưng đến năm 1991 đã có tới 55 loài kháng với 1hoặc nhiều loại hóa chất Trong 55 loài có 53 loài kháng với DDT, 27 loài
Trang 35kháng với phốt pho hữu cơ, 17 loài kháng với carbamate và 10 loài kháng vớipyrethroid, 16 loài có kháng với cả 4 loại hóa chất diệt (Rodriguez, 2000) [94].
Có 21 loài trong 55 loài kháng là véc tơ quan trọng đã được WHO báo cáo năm
1996 Một số kháng điển hình như: An aconitus với DDT ở Kalimantan,
Bangladesh, Ấn Độ, Nepal và Thái Lan Sự kháng DDT ở muỗi đã đặt ra vấn đềphải tìm ra hoá chất khác thay thế nó Nhiều hoá chất diệt muỗi đã được đưa rathử nghiệm và đem lại kết quả tốt, đã được WHO khuyến cáo sử dụng trongchương trình PCSR (WHO, 1975) [110] Tuy nhiên, vấn đề nảy sinh khi dần dầncác véc tơ trở nên kháng với các hoá chất này Tới năm 1992, WHO công bố 72loài muỗi kháng hoá chất, trong đó 69 loài kháng DDT, 38 loài kháng phốt phohữu cơ Sự kháng hoá chất của muỗi ngày càng tăng cả về số lượng loài lẫn mức
độ kháng và một loài kháng với nhiều hoá chất Đến năm 2000, đã có khoảng
100 loài muỗi kháng hoá chất trong đó hơn 50 loài Anopheles Một trong những
lý do dẫn đến sự kháng ngày càng tăng nhanh và trầm trọng là do sự sử dụng trànlan hoá chất trong nông nghiệp và y tế
Năm 2010, tổng cộng 60 quốc gia đã báo cáo véc tơ sốt rét kháng với ítnhất một nhóm hóa chất diệt côn trùng, 50 quốc gia khác đã báo cáo khángvới hai hoặc nhiều nhóm hóa chất diệt côn trùng Tình trạng kháng hóa chấtdiệt côn trùng nhóm pyrethroid của các véc tơ sốt rét lan rộng ở nhiều quốcgia châu Phi cũng như Trung Á và Đông Nam Á (Hình 1.1) Năm 2015, hơn3/4 số quốc gia đã báo cáo kháng với nhóm hóa chất pyrethroid [113]
Kháng hoá chất ở các véc tơ truyền bệnh sẽ ảnh hưởng trực tiếp và sâusắc tới sự xuất hiện trở lại của các bệnh do véc tơ truyền Tại những nơi nào
mà kháng hoá chất chưa ảnh hưởng tới sự xuất hiện của dịch bệnh thì nó cũng
đe dọa sự khống chế dịch bệnh Chính vì vậy, sự hiểu biết về kháng hoá chấtdiệt côn trùng ở các véc tơ truyền bệnh có thể giúp đề ra các chiến lược phùhợp để đấu tranh với chúng (Harrison, 1980) [76]
Trang 36Tuy vậy, PCVT bằng hoá chất diệt côn trùng chỉ bị tác động khi mức độkháng đủ lớn để tác động rõ ràng đến hiệu lực của hoá chất và sự lan truyềnbệnh Trong nhiều trường hợp, việc PCVT có thể không bị ảnh hưởng bởimức độ kháng Chẳng hạn hoạt động phòng chống kiểm soát được 75% quầnthể véc tơ trong khi mức độ kháng thấp hơn 10% thì tính kháng sẽ không ảnhhưởng đến hiệu quả PCVT Trong trường hợp này, tăng cường kiểm tra, giámsát tần số kháng là đủ và không cần thay đổi phương pháp PCVT (Harrison,1980) [76] Mặc dù vậy, nhìn chung các điều tra giám sát kháng hoá chất làcần thiết bởi: Hoạt động này cung cấp dữ liệu cơ bản cho việc lập chươngtrình, chọn lọc các hoá chất diệt côn trùng thích hợp trước khi thực hiện côngviệc PCVT và phát hiện kháng hoá chất ở giai đoạn sớm nhằm thực hiện kịpthời các biện pháp quản lý Tuy nhiên, trong những trường hợp này, bất cứmột biện pháp phòng chống nào trừ khi thay thế hoá chất diệt côn trùng đềukhó có thể thực hiện
Hình 1.2 Tình hình kháng hóa chất của véc tơ sốt rét
giai đoạn 2010 - 2014 (Nguồn WHO (2016)
Trang 37Hiện nay, các hoá chất thuộc nhóm pyrethroid (alpha-cypermethrin,lambda-cyhalothrin, deltamethrin, permethrin, etofenprox…) đang được sửdụng rộng rãi trong chương trình PCSR ở nhiều nước trên thế giới trong đó cóViệt Nam Vì vậy, sự phát triển tính kháng của véc tơ sốt rét với các hoá chấtnày có thể gây trở ngại cho sự thành công của hoạt động PCSR.
Pyrethroid là dẫn xuất của este cacboxylat (còn gọi là este pyrethrum
hoặc este pyrethrin) có nguồn gốc tự nhiên từ cây hoa cúc họ Chrysanthemum cinerariefolium và C roseum, chứa nhiều hoạt chất pyrethrin có độc tính cao
với côn trùng nhưng có độc tính thấp với động vật máu nóng Mô phỏng cấutrúc của pyrethrin, người ta thay đổi nhóm thế để tổng hợp lên các chất mới
có hiệu lực diệt côn trùng mạnh hơn Tuy nhiên, tính kháng pyrethroid đangbiểu hiện rõ dần bất chấp sự lạc quan ban đầu cho rằng lớp hoá chất diệt côntrùng mới và lớn này sẽ không tạo nên tính kháng vì hoạt động gây độc nhanhcủa nó
Một số nghiên cứu về tính kháng hóa chất diệt côn trùng cũng được thựchiện ở nhiều nơi trên thế giới nhằm tìm ra nguyên nhân kháng của véc tơ sốtrét, từ đó có biện pháp phòng chống thích hợp Nghiên cứu tại Nam Phi, muỗi
An funestus đã kháng với nhóm pyrethroid, carbamat, và clo hữu cơ, nguyên
nhân kháng là do các gen cytochrome P450 điều khiển Các gen này có liênquan đến kháng trao đổi chất [60] Tại Rwanda, thử nhạy cảm muỗi An gambiae sensu lato (s.l.) và An arabiensis với các giấy tẩm hóa chất cho thấy
85% điểm thử kháng với lambdacyhalothrin; 25% điểm thử kháng permethrin,25% điểm thử kháng deltamethrin và 50% điểm thử kháng DDT [70] Hai loàimuỗi này cũng kháng hóa chất nhóm pyrethroid tại miền Tây Kenya có 5điểm thử nhạy cảm cho tỷ lệ muỗi chết từ 52 - 75,3% và 2 điểm thử cho tỷ lệmuỗi chết là 80,4 - 87,2% [109] Nghiên cứu của Emmanuel khi phân tích
kiểu gen kháng kdr (knockdown resistance) ở An gambiae s.s và
Trang 38An arabiensis, kết quả cho thấy trong quần thể của cả 2 loài này đều mang
allen kháng kdr [70] Cũng tương tự, ở miền Tây Kenya các đột biến gen kdr
L1014S từ 73 - 88% ở quần thể An gambiae s.s nhưng ở An arabiensis lại
thấp hơn (7 - 31%) [109] Nghiên cứu của Taye về độ nhạy cảm của An arabiensis cũng cho thấy loài muỗi này kháng với hóa chất nhóm pyrethroid
nhưng còn nhạy cảm với hóa chất propoxur (thuộc nhóm carbamate) Tuy
nhiên, đối với loài muỗi An pharoensis còn nhạy cảm với cả nhóm pyrethroid
và carbamate và khuyến cáo propoxur nên sử dụng để phun tồn lưu trong nhà[103] Muỗi An stephensi bắt được tại thực địa ở Iran kháng với hóa chất
DDT và lambdacyhalothrin, tăng sức chịu đựng với deltamethrin Tuy nhiên,loài này còn nhạy cảm với malathion và permethrin [88]
1.5.2 Tình hình kháng hóa chất diệt côn trùng của véc tơ sốt rét ở Việt Nam
Tại Việt Nam, một số kết quả nghiên cứu mức độ nhạy cảm với hoáchất nhóm pyrethroid cũng đã được công bố Theo Nguyễn Tuấn Ruyện(1997) [41], một số quần thể An minimus ở Gia Lâm (Hà Nội), Khánh Vĩnh (Khánh Hoà), An jeyporiensis ở Võ Nhai (Bắc Thái); An aconitus, An philippinensis ở Chiêm Hoá (Tuyên Quang), An aconitus ở Na Hang (Tuyên Quang), An sinensis ở Sóc Trăng đã tăng mức chịu đựng (có khả năng kháng)
với pyrethroid
Theo Van Bortel, Hồ Đình Trung, Lê Khánh Thuận và cs (2008) [62],nghiên cứu véc tơ sốt rét kháng hóa chất ở tiểu vùng sông Mê Kông đã xácđịnh một số véc tơ đã tăng sức chịu đựng, kháng với hóa chất; trong đó xác
định An epiroticus ở miền Nam Việt Nam đã kháng với các loại hóa chất nhóm pyrethroid Tuy nhiên cho đến nay An dirus và An minimus vẫn còn
nhạy với các hóa chất đang sử dụng Vào thập kỷ 80, mặc dù DDT vẫn cònhiệu lực trong phòng chống véc tơ sốt rét, nhưng WHO đã khuyến cáo không
Trang 39nên sử dụng DDT trong y học, nên các chuyên gia phòng chống véc tơ sốt rét
ở Việt Nam đã bắt đầu nghiên cứu các biện pháp sử dụng các hóa chất mớithuộc nhóm pyrethroid để phòng chống các véc tơ sốt rét [39] Các nghiên
cứu trước năm 1996 ở Việt Nam đều có nhận xét là một số véc tơ SR khángDDT nhưng vẫn còn nhạy với các hóa chất nhóm pyrethroid Một số nghiên
cứu cho thấy véc tơ chính miền rừng núi An dirus có thể kháng với pyrethroid, An minimus cũng một số điểm tăng sức chịu đựng (nay gọi là có thể kháng), An epiroticus nhiều nơi ở miền Tây Nam bộ đã kháng cao với
pyrethroid [62]
Với kết quả nghiên cứu về mức độ nhạy cảm của muỗi Anopheles vớicác hóa chất diệt côn trùng và hiệu lực diệt tồn lưu của các loại hóa chất ởthực địa cho thấy trong giai đoạn này việc sử dụng các hóa chất alpha-cypermethrin (như Fendona, Alé) và lambdacyhalothrin (như ICON) để
phòng chống véc tơ sốt rét An dirus và An minimus cho khu vực MT-TN là
phù hợp và hiệu quả [21]
Tổng hợp kết quả thử nhạy cảm trên cả nước từ 2003 - 2012 với 3 véc tơ
chính: An dirus, An minimus và An epiroticus và 6 loài véc tơ phụ: An maculatus, An aconitus, An jeyporiensis, An vagus, An subpictus, An sinensis Kết quả cho thấy có 49/132 điểm thử kháng với alphacypermethrin;
59/126 điểm thử kháng với lambdacyhalothrin; 4/10 điểm thử kháng vớideltamethrin; 34/77 điểm thử kháng với permethrin; 16/59 điểm thử khángvới DDT và 1/6 điểm thử kháng với etofenprox [5]
1.6 Tình hình sốt rét miền Trung - Tây Nguyên
Miền Trung - Tây nguyên là khu vực có SR lưu hành nặng nhất so vớicác khu vực khác trên cả nước Miền Trung - Tây Nguyên nằm ở vị trí địa lý
có kinh độ kéo dài 1060 - 1080 kinh độ đông và 110 - 170 vĩ độ Bắc Rừngchiếm đến 4/5 diện tích, có nhiều khe, suối, sông ngòi…Nhiệt độ trung bình
Trang 40trong tháng lạnh nhất cũng lớn hơn 220C trên toàn khu vực, độ ẩm trung bìnhtháng 70 % - 90%, mùa mưa kéo dài từ 4 - 6 tháng Cùng với sự có mặt của 2
véc tơ sốt rét chính là An dirus và An minimus cùng các véc tơ phụ như: An jeyposiensis, An maculates, An aconitus…Tất cả những yếu tố trên là điều
kiện thuận lợi cho muỗi sốt rét sinh sản, phát triển, và bệnh sốt rét lưu hànhquanh năm ở khu vực này
Miền Trung - Tây Nguyên là khu vực trọng điểm sốt rét của ViệtNam, gồm 15 tỉnh với dân số khoảng 20 triệu người, trên 40 dân tộc trong đógần 50% dân số sống trong vùng sốt rét lưu hành Đánh giá về sự phân bố,những thay đổi về thành phần loài, mật độ, cũng như các đặc điểm sinh học,sinh thái học của quần thể muỗi Anopheles nhằm đưa ra biện pháp phòngchống véc tơ thích hợp là việc làm thường xuyên Sau nhiều năm PCSR ở khuvực miền Trung - Tây Nguyên SR đã giảm nhiều, nhưng nguy cơ sốt rét quaytrở lại vẫn còn rất lớn Chương trình PCSR đang đứng trước những trở ngại
và thách thức như dân số sống trong môi trường có sự lan truyền sốt rét cònquá lớn, dân còn nghèo, dân trí thấp, còn du canh, ngủ rẫy, không có thóiquen ngủ màn Sự di biến động dân từ đồng bằng lên miền núi, từ phía Bắcvào Tây Nguyên còn quá lớn; ngoài sự kiểm soát của ngành y tế, họ chưa cómiễn dịch sốt rét, chưa có điều kiện và phương tiện thích hợp phòng chống sốtrét [2], [7].Ở vùng sốt rét lưu hành nặng, vùng sâu, vùng xa thì mạng lưới y tế
xã, thôn, buôn còn yếu và thiếu
Theo số liệu thống kê số bệnh nhân sốt rét và tử vong tại miền Trung Tây Nguyên có xu hướng giảm, không có dịch SR xảy ra Những năm trướcđây, tỷ lệ mắc và TVSR luôn luôn cao dai dẳng ở 4 tỉnh Tây Nguyên (Gia Lai,Kon Tum, Đắk Lắk, Đắk Nông) và Khánh Hoà; tỷ lệ mắc và chết SR tậptrung chủ yếu ở dân di cư tự do, dân đi rừng, ngủ rẫy Những năm gần đây, tỷ
-lệ sốt rét giảm so với trước đây, tuy nhiên tỷ -lệ mắc bệnh và nhiễm KSTSR ở