1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Ý thức công dân với việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa việt nam

181 123 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 181
Dung lượng 3,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vai trò của ý thức công dân trong xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủnghĩa Việt Nam và một số yếu tố ảnh hưởng tới việc phát huy vai trò của ý thức công dân...61 CHƯƠNG 3: Ý THỨC CÔN

Trang 3

Tôi xin cam đây là công trình nghiên cứu của riêng tôidưới sự dẫn dắt của thầy, cô hướng dẫn và góp ý của các hộiđồng khoa học Các số liệu, tài liệu, kết quả nghiên cứu nêutrong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được tríchdẫn đầy đủ theo quy định.

Tác giả

Nguyễn Lương Ngọc

Trang 4

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 61.1 Các công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề ý thức công dân, nhà nước phápquyền và vai trò của ý thức công dân trong xây dựng nhà nước pháp quyền 61.2 Các công trình nghiên cứu liên quan đến thực trạng và một số vấn đề đặt ra trongviệc phát huy vai trò ý thức công dân trong xây dựng nhà nước pháp quyền 221.3 Các công trình nghiên cứu liên quan đến một số giải pháp nhằm phát huy vaitrò ý thức công dân trong xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

Việt Vam 261.4 Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu và làm sáng tỏ thêm 32

CHƯƠNG 2: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ Ý THỨC CÔNG DÂN VÀ

VAI TRÒ CỦA NÓ TRONG XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP

QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HIỆN NAY352.1 Khái niệm, đặc điểm, kết cấu của ý thức công dân 352.2 Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam - Nội dung và

đặc trưng 512.3 Vai trò của ý thức công dân trong xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủnghĩa Việt Nam và một số yếu tố ảnh hưởng tới việc phát huy vai trò của ý

thức công dân 61

CHƯƠNG 3: Ý THỨC CÔNG DÂN VỚI VIỆC XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP

QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HIỆN NAY - THỰC

TRẠNG VÀ VẤN ĐỀ ĐẶT RA 853.1 Thực trạng ý thức công dân trong tham gia xây dựng nhà nước pháp quyền xãhội chủ nghĩa Việt Nam những năm qua 853.2 Vấn đề đặt ra trong việc phát huy ý thức công dân tham gia xây dựng nhà

nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay 114

CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP CƠ BẢN PHÁT HUY VAI TRÒ Ý THỨC CÔNG DÂN

TRONG XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HIỆN NAY 1214.1 Phát triển kinh tế - xã hội, giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa quyền lợi,

nghĩa vụ, trách nhiệm công dân 121

Trang 5

4.3 Nâng cao nhận thức và thực hành dân chủ của công dân 139

KẾT LUẬN 150

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ 152

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 153

PHỤ LỤC 168

Trang 7

(sắp xếp theo mức độ quan trọng).108Bảng 3.2: Mức độ thực hiện đúng và đầy đủ các quy định pháp luật của các cơ quan 113

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1: Ý kiến của người dân về quan điểm “Hiến pháp có vị trí tối cao trong

xã hội” 100Biểu đồ 3.2: Tỉ lệ công dân đi bầu cử so sánh qua 2 năm 2011 và 2016 105Biểu đồ 3.3: Tính minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước 109

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Công cuộc đổi mới đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng từ Đạihội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (tháng 12-1986) đến nay đã đạt được những thànhtựu to lớn trên mọi mặt của đời sống xã hội, từ phát triển kinh tế đến phát triển xãhội, nâng cao đời sống vật chất và đời sống tinh thần cho nhân dân, trong đó có quátrình mở rộng và phát huy vai trò làm chủ của nhân dân Tuy nhiên, để xây dựngmột nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa (XHCN) giàu mạnh, dân chủ, công bằng, vănminh, đòi hỏi cần có sự cố gắng, nỗ lực hơn nữa của cả hệ thống chính trị, cả xã hội

và mỗi công dân Trong đó, điều rất quan trọng là mỗi người dân ý thức đầy đủ vềvai trò làm chủ của mình, tham gia tích cực, chủ động vào quá trình xây dựng, bảo

vệ đất nước, trong đó bao hàm cả trách nhiệm xây dựng nhà nước Nói cách khác,phát huy vai trò của ý thức công dân (YTCD) chính là một trong những điều kiệnquan trọng của việc hoàn thành mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH) nóichung ở Việt Nam hiện nay và mục tiêu xây dựng, hoàn thiện nhà nước pháp quyền(NNPQ) nói riêng

Để thể hiện và thực hiện đầy đủ bản chất quyền lực của mình, nhà nướcXHCN phải tồn tại dưới hình thức chế độ dân chủ, hơn nữa phải là chế độ dân chủXHCN, chế độ dân chủ cao nhất, triệt để nhất và rộng rãi nhất Song, thời kỳ trướcđổi mới (1986), Việt Nam đã xây dựng nhà nước mang nặng tính quan liêu, mệnhlệnh hành chính, thiếu dân chủ, hoặc dân chủ hình thức Vì vậy, trong thời kỳ đổimới, Đảng ta khẳng định cần đổi mới nhà nước theo hướng dân chủ hóa tổ chức vàphương thức hoạt động của Nhà nước, đồng thời phải gắn liền với quá trình đổi mớicăn bản tổ chức và hoạt động của Nhà nước Để đáp ứng yêu cầu đó, việc lựa chọn

mô hình NNPQ XHCN ở Việt Nam là một tất yếu khách quan Bởi, thực hiện dânchủ là một trong những nội dung cơ bản của NNPQ, đặc biệt là NNPQ XHCN củadân, do dân, vì dân Không có NNPQ thực sự thì không có nền dân chủ rộng rãi vàbền vững Dân chủ đóng vai trò cơ sở, động lực thúc đẩy sự phát triển của NNPQ.Đối với nước ta, dân chủ hoá xã hội vừa là điều kiện tiên quyết để xây dựng và hoànthiện NNPQ XHCN, vừa là biện pháp căn bản để đẩy nhanh sự phát triển của đất

Trang 9

nước Thậm chí, ở một góc độ nhất định, có thể nói, việc xây dựng NNPQ XHCNcủa dân, do dân, vì dân ở nước ta có ảnh hưởng rất lớn đến sự thành bại của chế độ,của Đảng Cộng sản Điều này cũng đã thể hiện rõ trong thực tiễn đấu tranh chốngtham nhũng, chống lại một trong bốn nguy cơ lớn của Đảng và chế độ suốt nhiềunăm qua cũng như trong việc kiện toàn, hoàn thiện, nâng cao hiệu lực của bộ máynhà nước Có thể nói rằng, nếu chúng ta không tạo dựng được một NNPQ thực sựcủa dân, do dân, vì dân thì trong tương lai, xã hội ta, dân tộc ta có thể sẽ phải chịunhững hậu quả mà hiện nay khó lường được.

Theo đó, tại Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII, tháng1/1994, Đảng Cộng sản Việt Nam chính thức đưa ra quan điểm xây dựng NNPQ.Nội dung này tiếp tục được nhấn mạnh nhiều lần qua Hội nghị Trung ương (TW) 8khóa VII, Hội nghị TW3 khóa VIII và các kỳ đại hội đại biểu toàn quốc lần thứVIII, IX, X, XI, XII của Đảng Đặc biệt, vấn đề xây dựng NNPQ xã hội chủ nghĩa(XHCN) của dân, do dân, vì dân đã trở thành một trong tám đặc trưng của CNXH

mà Việt Nam đang xây dựng với mục tiêu là:

Thứ nhất, xây dựng NNPQ XHCN nhằm hướng tới của một xã hội tiến bộ,

văn minh, gắn liền với phát huy quyền dân chủ của công dân, phù hợp với xu thếvận động, phát triển, tiến bộ của nhân loại

Thứ hai, xây dựng NNPQ XHCN phải khẳng định hiến pháp và pháp luật giữ

vị trí tối thượng, tất cả mọi người, mọi tổ chức phải tôn trọng pháp luật, bộ máy nhànước chịu sự ràng buộc của chính pháp luật do nhà nước tạo ra, quy định rõ tráchnhiệm qua lại giữa nhà nước và công dân, công dân với nhà nước

Để xây dựng thành công NNPQ XHCN phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: sựlãnh đạo của Đảng, quá trình tổ chức và vận hành bộ máy nhà nước, sự hoàn thiệncủa hệ thống pháp luật, đội ngũ công chức, viên chức thực thi tốt công vụ, v.v Trong đó, đặc biệt phải kể đến vai trò quan trọng của công dân - với vị thế đặc biệtcủa mình, vừa là chủ thể nhưng cũng đồng thời là đối tượng quản lý của nhà nước

Tự bản thân nhà nước cùng với thể chế và thiết chế của nó không làm nên thànhcông sự nghiệp xây dựng NNPQ XHCN, mà bắt buộc phải có nhân tố công dântrong nhà nước, công dân của nhà nước đó Vì vậy, xây dựng NNPQ XHCN phải đề

Trang 10

cập tới vị trí, vai trò, quyền lợi, trách nhiệm của công dân và việc thực hiện nó trongthực tế, bởi: (i) Công dân là chủ thể quan trọng cùng với nhà nước xây dựng nênHiến pháp, pháp luật của quốc gia; (ii) Công dân là người thực thi Hiến pháp, phápluật; (iii) Công dân là chủ thể đóng vai trò quyết định trong việc quyền lực nhà nướcđược thực thi trong thực tế Có nghĩa là, công dân trong mối quan hệ với Nhà nước

có vai trò quyết định tới tiến trình xây dựng một NNPQ XHCN văn minh, tiến bộ.Điều đó đòi hỏi một sự nhận thức đầy đủ, trách nhiệm cao và những hành động cụthể, công dân phát huy tốt quyền làm chủ để đóng góp vào quá trình xây dựngNNPQ XHCN Trong đó, YTCD với tư cách là một bộ phận của ý thức xã hội đóngvai trò quan trọng, thông qua những hành vi cụ thể, tác động tới nhà nước và quátrình xây dựng NNPQ XHCN

Khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được thành lập đã khẳng định vị thếngười dân là công dân của nước Việt Nam tự do, độc lập và dân chủ YTCD dầnđược hình thành và phát triển Công dân ngày càng ý thức được quyền lợi, nghĩa vụ,trách nhiệm của mình trong xã hội cũng như quá trình tương tác với nhà nước, gópphần tham gia xây dựng nhà nước; các cơ chế thực hiện dân chủ được chú ý xâydựng, ban hành và thực thi trong cuộc sống, đáp ứng phần nào nhu cầu dân chủ hoáđời sống xã hội

Tuy nhiên, sau hơn 30 năm đổi mới đất nước, bên cạnh những thành tựu là

cơ bản, thì những bất cập, hạn chế đang tồn tại, nảy sinh những lực cản, khó khănmới trên con đường tiến tới hoàn thiện NNPQ XHCN Trong đó, trình độ dân trí củamột bộ phận công dân còn thấp, nhất là ý thức về quyền và nghĩa vụ của công dântrong mối quan hệ với nhà nước còn hạn chế, công dân chưa thực sự chủ động thamgia xây dựng NNPQ XHCN Chưa tạo ra sự gắn kết phát triển của cá nhân công dânvới nhiệm vụ xây dựng nhà nước và sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Điều đó ảnh hưởngkhông nhỏ tới quá trình xây dựng NNPQ XHCN

Chính vì vậy, việc nghiên cứu sâu mối quan hệ giữa YTCD với xây dựngNNPQ và trên cơ sở đó nghiên cứu, phân tích, tìm ra hướng giải pháp phát huy vaitrò của YTCD đối với việc xây dựng NNPQ XHCN là một trong những nhiệm vụcần thiết hiện nay

Trang 11

Xuất phát từ lý do đó, tác giả chọn chủ đề “Ý thức công dân với việc xây

dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay” làm đề tài

nghiên cứu luận án tiến sĩ triết học

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục tiêu

Trên cơ sở phân tích những vấn đề lý luận và thực trạng ý thức công dântrong quá trình xây dựng NNPQ XHCN ở Việt Nam những năm qua, luận án đềxuất một số giải pháp cơ bản nhằm phát huy vai trò của YTCD trong xây dựngNNPQ XHCN ở Việt Nam hiện nay

2.2 Nhiệm vụ của đề tài

Để thực hiện mục tiêu, đề tài giải quyết một số nhiệm vụ sau:

- Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

- Phân tích những vấn đề lý luận về YTCD, vấn đề xây dựng NNPQ XHCN Việt Nam; vai trò của YTCD trong xây dựng NNPQ XHCN ở nước ta hiện nay

- Phân tích thực trạng và những vấn đề đặt ra trong việc phát huy vai trò YTCD trong xây dựng NNPQ XHCN ở nước ta những năm qua

- Đề xuất một số nhóm giải pháp cơ bản nhằm phát huy vai trò YTCD trong xây dựng NNPQ XHCN Việt Nam hiện nay

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu YTCD trong xây dựng NNPQ XHCN Việt Nam

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận án nghiên cứu vai trò của YTCD trong xây dựng NNPQ XHCN ViệtNam từ năm 1994 đến nay, khi Đảng Cộng sản Việt Nam đưa ra quan điểm xâydựng NNPQ tại Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Cơ sở lý luận

Luận án dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ ChíMinh, các quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, pháp luật của Nhànước Cộng hòa XHCN Việt Nam về nhà nước, pháp luật, ý thức pháp luật, YTCD

Trang 12

Đồng thời, luận án tiếp thu, kế thừa có chọn lọc những giá trị khoa học của một sốcông trình nghiên cứu đã công bố liên quan đến nội dung của luận án.

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp luận để triển khai luận án là chủ nghĩa duy vật biện chứng vàchủ nghĩa duy vật lịch sử Ngoài ra, luận án sử dụng phương pháp cụ thể như lôgíc

và lịch sử, phân tích và tổng hợp, phương pháp hệ thống, phương pháp đối chiếu, sosánh, xử lý số liệu để thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ mà đề tài luận án đặt ra

5 Những đóng góp khoa học của luận án

- Góp phần nghiên cứu sâu thêm về khái niệm, đặc điểm của YTCD, mốiquan hệ giữa YTCD với NNPQ và vai trò của nó đối với quá trình xây dựng NNPQXHCN Việt Nam hiện nay

- Góp phần chỉ ra thành tựu và hạn chế của YTCD trong việc xây dựng NNPQ XHCN Việt Nam những năm qua

- Đề xuất một số nhóm giải pháp cơ bản nhằm phát huy vai trò YTCD trong xây dựng NNPQ XHCN Việt Nam hiện nay

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

- Luận án góp phần cung cấp thêm một số cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu vấn đề ý thức xã hội, YTCD trong quá trình xây dựng NNPQ XHCN

- Luận án có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo, phục vụ nghiên cứu và giảng dạy một số chuyên đề triết học phần chủ nghĩa duy vật lịch sử

7 Kết cấu của luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục công trình khoa học đã công bố, phụlục, danh mục tài liệu tham khảo, luận án gồm có 4 chương, 12 tiết

Trang 13

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Từ trước đến nay, vấn đề YTCD và tác động của nó đến việc xây dựngNNPQ đã nhận được sự quan tâm, nghiên cứu của nhiều học giả trong nước, ngoàinước dưới các góc độ khác nhau, lĩnh vực khác nhau Trên cơ sở khảo cứu các côngtrình nghiên cứu gồm sách chuyên khảo, sách tham khảo, đề tài nghiên cứu khoahọc, giáo trình, luận án, bài báo khoa học trên các tạp chí chuyên ngành, nghiên cứusinh xin được khái quát, tóm tắt những quan điểm, tư tưởng của các nhà nghiên cứu

đi trước, cụ thể là:

1.1 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN VẤN ĐỀ Ý THỨC CÔNG DÂN, NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN VÀ VAI TRÒ CỦA Ý THỨC CÔNG DÂN TRONG XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN

1.1.1 Các công trình nghiên cứu về ý thức công dân

Đã có nhiều nhà khoa học, nhà tư tưởng nước ngoài và trong nước với cáccông trình nghiên cứu trực tiếp, gián tiếp về vấn đề YTCD, có thể kể đến như:

Các công trình nước ngoài:

Quan niệm về ý thức công dân (civic conciousness), Johan Sandahl cho rằng,YTCD phải bắt đầu từ việc giáo dục ý thức lịch sử và khái niệm này song hành với ýthức lịch sử Trên nền tảng hiểu biết về lịch sử giúp cho công dân suy nghĩ về hiện tại,tương lai quốc gia, về dân chủ, về tuân thủ pháp luật, hiểu bản sắc của chính mình vàngười khác [199] Theo cách tiếp cận của Johan Sandal, YTCD hình thành và phát triểngắn kết cả quá khứ, hiện tại và tương lai của mỗi quốc gia dân tộc và từ lâu đã được coi

là một phần quan trọng của con người Tuy nhiên, trong nghiên cứu của mình, JohanSandal chưa đề cập một cách rõ ràng mối quan hệ và sự tác động của YTCD tới xâydựng nhà nước Chủ thể chính đảm bảo thực thi dân chủ cho công dân

Trên bình diện toàn cầu, John M.Bunzl cho rằng, YTCD được hình thành dựatrên nhận thức của người dân rằng quản trị là cần thiết, rằng nó là chức năng để giảiquyết các vấn đề của xã hội, môi trường hoặc kinh tế ở một mức độ nhất định, cóthể ở cấp độ địa phương, quốc gia hay toàn cầu [190] Nghiên cứu vấn đề mang tính

vĩ mô và có cấp độ khác nhau phụ thuộc vào không gian hành động của công

Trang 14

dân, J.M Bunzl đã tiếp cận YTCD hướng đến thúc giục công dân tham gia hoạtđộng quản trên ba lĩnh vực xã hội, môi trường và kinh tế Tuy vậy, J.M Bunzl chưalàm rõ những phương thức, cơ chế tham gia và điều kiện cùng phối hợp, thúc đẩy,

hỗ trợ công dân tham gia hoạt động quản lý

Dưới góc độ trách nhiệm, YTCD được Jenifer Self cho rằng, trách nhiệm côngdân bao gồm các hành động và thái độ gắn liền với quản trị dân chủ và sự tham gia vàocác hoạt động xã hội Trách nhiệm công dân có thể bao gồm việc tham gia vào chínhphủ, nhà thờ, tình nguyện viên và hội viên các hiệp hội tự nguyện Hành động tráchnhiệm công dân có thể được thể hiện trong các vấn đề chính trị, kinh tế, dân sự, môitrường hoặc chất lượng cuộc sống Các giá trị đó bao gồm công lý, tự do, bình đẳng, đadạng, quyền hạn, quyền riêng tư, theo đúng trình tự, tài sản, tự tham gia, chân lý, lòngyêu nước, nhân quyền, luật pháp, khoan dung, hỗ trợ lẫn nhau, tự kiềm chế và tự tôntrọng Trường học dạy trách nhiệm công dân cho thế hệ trẻ nhằm tạo ra những công dân

có trách nhiệm và những người tham gia tích cực trong cộng đồng và chính phủ [200]

Trong nghiên cứu của mình, J.Shelf đã đề cập khá toàn diện các giá trị, các lĩnh vực,các khía cạnh của đời sống xã hội mà công dân bằng ý thức, trách nhiệm của mình cónhững đóng góp nhất định, tích cực cho cộng đồng và nhà nước

Abdumalik A Akramov quan niệm rằng, YTCD là một thành phần quan trọngcủa ý thức công cộng, nó phản ánh các lý tưởng quan trọng, mục đích, ý tưởng vềnhững cách thức phát triển của cá nhân cụ thể là thành viên của xã hội Ông cho rằng,công dân, nhất là thế hệ trẻ phải nhận thức được trách nhiệm xã hội, mỗi cá nhân phải

là người bảo vệ tích cực cho các giá trị truyền thống và giá trị công cộng Khi đề cậpđến người công dân Uzbekistan, Abdumalik A Akramov còn nhấn mạnh, nếu người đókhông có ý niệm về quê hương, Tổ quốc thì không thể coi là người công dân thực sự.Tuy nhiên, YTCD không chỉ giới hạn trong cảm giác yêu mến đất nước, mà còn đượcxác định bởi việc thực hiện có ý thức nhiệm vụ công dân, tham gia tích cực vào sự pháttriển đất nước YTCD không thể tách rời sự phục vụ tận tuỵ đối với quốc gia, và điều

đó làm nên một trong những giá trị quốc gia [188] Đề cao giá trị của YTCD, gắn vaitrò của YTCD với sự phát triển quốc gia, nhưng A.A Akramov chưa đề cập tới mốiquan hệ giữa YTCD với nhà nước Có lẽ, những phân tích của A.A Akramov

Trang 15

mới chỉ dừng lại như một lời kêu gọi tất cả mọi công dân phải làm, nên làm và cầnphát huy trách nhiệm của mình đối với đất nước.

Tác giả Tong Huasheng trong bài Một cuộc khảo sát về ý thức công dân ở

Trung Quốc đương đại [201] đã đề cập đến vấn đề YTCD như là một hình thức, một

cấu trúc của ý thức xã hội Theo nghĩa hẹp, ông cho rằng, YTCD là trái ngược với ýthức thần dân (servant consciousness) YTCD chủ yếu đề cập đến nhận thức vềphẩm chất và địa vị của công dân với sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ Còn theonghĩa rộng, YTCD hiện đại bao gồm một số khía cạnh: sáng kiến tri thức về mốiquan hệ giữa cá nhân với nhà nước và xã hội; nhận thức hợp lý về quyền và nghĩa

vụ công dân và các đức tính của công dân; nội bộ hoá và xác định các định mứchành vi xã hội và các giá trị cơ bản Trên cơ sở một cuộc khảo sát thực nghiệm, tácgiả phân loại YTCD thành một số nội dung: ý thức công dân nói chung, ý thức quốcgia dân tộc, ý thức chính trị, ý thức pháp luật, ý thức đạo đức, ý thức văn minh sinhthái và ý thức toàn cầu Tác giả nhận định rằng, việc nâng cao YTCD Trung Quốcđương đại thực sự cần thiết nhằm mang đến sự phát triển toàn diện cá nhân và làchìa khoá để thực hiện hiện đại hoá xã hội, nhưng không phải là sự phát triển quamột đêm, bởi điều đó còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: phải thay đổi ý thức thầndân đã tồn tại trong xã hội phong kiến hàng ngàn năm, phải chú trọng vấn đề giáodục, nâng cao trình độ dân trí cho công dân với những nội dung, mục tiêu vàphương pháp đúng Dù có thể có những ý kiến khác nhau về cách chia YTCD trongcác lĩnh vực khác nhau, nhưng công trình nghiên cứu của Tong Huasheng rất có giátrị tham khảo đối với luận án

Khi viết về Phong trào đòi Hiến pháp đế chế ở Đức những năm đầu thế kỷ

XIX với linh hồn phong trào là giai cấp tiểu tư sản, còn gọi là tầng lớp thị dân - làgiai cấp chiếm ưu thế trong xã hội lúc bấy giờ, Ph.Ăngghen đã đề cập tới “ý thứcgiác ngộ”, “nghĩa vụ công dân”, ông miêu tả họ hăng hái “tham gia vào các liênminh tháng Ba, vào các liên minh dân chủ lập hiến, vào các liên minh yêu nước,

và hầu hết vào tất cả các báo chí dân chủ thực ra, chỉ là ý thức giác ngộ của bảnthân đang nâng cao tâm hồn của nghĩa vụ công dân đã được làm tròn” [21, tr.461].Ph.Ăngghen đã có những luận điểm phản ánh mối quan hệ công dân với việc xâydựng nhà nước, YTCD về xây dựng một nhà nước dân chủ, tiến bộ thời kỳ đó

Trang 16

Các công trình trong nước:

Cuốn sách Toàn cầu hóa và quyền công dân ở Việt Nam do tác giả Trần Văn

Bính chủ biên đánh giá rằng: “Thực tiễn lịch sử đã chứng minh rằng, sự tồn tại,hưng vong của một nhà nước, trước hết tuỳ thuộc vào sự hoạt động của bản thânnhà nước đó, nhưng không thể không tùy thuộc vào điều kiện có tính quyết định là:

ý thức công dân, về trách nhiệm và quyền lợi của mình được phát huy ra sao, đếnmức độ nào” [11, tr.49-50] Luận điểm này cho thấy, một khi nhà nước ra đời, đồngthời thiết lập mối quan hệ giữa nhà nước với thành viên trong nhà nước đó và mốiquan hệ này có sự chi phối, ràng buộc, tác động lẫn nhau Thậm chí, “ý thức côngdân” là “điều kiện có tính quyết định” đối với sự phát triển của nhà nước

Trong cuốn sách Dân chủ và dân chủ hoá ở cơ sở nông thôn trong tiến trình

đổi mới, tác giả Hoàng Chí Bảo cho rằng “Không có ý thức dân chủ thì không thể

hình thành được năng lực dân chủ và năng lực thực hành dân chủ” [6, tr.14] Tác giảđưa ra định nghĩa: “Ý thức dân chủ trước hết là sự nhận thức của con người vềchính bản thân mình, là khả năng tự ý thức về vị thế của mình, về sự ràng buộc giữalợi ích và trách nhiệm, giữa quyền và nghĩa vụ, bổn phận” [6, tr.14-15] Có thể thấy,tác giả đã gián tiếp đề cập tới YTCD, nếu không muốn nói là, dù không sử dụng thậtngữ YTCD nhưng những luận điểm của tác giả chính là nói đến YTCD Nói cáchkhác, cách tiếp cận ý thức dân chủ của tác giả rất gần nghĩa với YTCD

Nghiên cứu YTCD dưới giác độ “tính tích cực chính trị” của công dân, tácgiả Nguyễn Thị Kim Hoa cho rằng:

Tính tích cực chính trị của công dân là toàn bộ những biểu hiện của sự tựgiác, chủ động, sáng tạo trong hoạt động của công dân tham gia vào quátrình chính trị, trên những cơ sở, điều kiện xác định nhằm thực hiệnnhững mục tiêu chính trị tiến bộ, thúc đẩy sự phát triển của công dân vàcủa cộng đồng [85, tr.106]

Tác giả cho rằng, thông qua thái độ quan tâm tới chính trị, tích cực tham giacác hoạt động chính trị và rộng hơn cả là thông qua lao động có ích công dân thựchiện các mục tiêu chính trị vì cộng đồng và nó chỉ xuất hiện ở những công dân đãtrưởng thành, là chủ thể mang nhân cách

Trang 17

Tác giả Đào Duy Tấn trong luận án tiến sĩ triết học Những đặc điểm của quá

trình hình thành ý thức pháp luật ở Việt Nam hiện nay [148], cho rằng, xã hội Việt

Nam chưa trải qua thể chế “xã hội công dân” mà từ “xã hội thần dân” phong kiếnquá độ lên xây dựng CNXH, người dân Việt Nam quen với “lệ làng”, chưa quensống theo phép nước Tác giả nhìn thấy sự thay đổi “thân phận” của người dân từ

“thần dân” lên “công dân” và mối quan hệ giữa công dân với nhà nước, ở đó phảnánh tính hai chiều thông qua cầu nối pháp luật

Dưới góc nhìn lịch sử, tác giả Nguyễn Trọng Phúc trong bài viết Bản lĩnh

truyền thống của dân tộc Việt Nam với qua trình xây dựng đất nước, phát triển xã hội

[127] cho rằng, “Sự ra đời và hoạt động của bộ máy nhà nước Văn Lang - Âu Lạc đánh

dấu sự phát triển về tổ chức cộng đồng của văn minh sông Hồng là nhà nước sơ khaicủa một hình thái dân chủ làng xã của cư dân nông nghiệp Cư dân Việt đã bám chắcđịa bàn làng xã để xây dựng kinh tế, giữ gìn giá trị văn hóa, truyền thống, mặt kháckiên cường và khôn khéo chống lại chiến lược đồng hóa của một quốc gia mạnh hơnnhiều lần” Điều đó cho thấy ý thức về một đất nước, lãnh thổ có chủ quyền, có nền vănhóa riêng của người dân Việt Nam đã được hun đúc nên từ xa xưa Tương đồng với

quan điểm trên, tác giả Phạm Văn Đức trong bài viết Phát huy tinh thần dân tộc trong

bối cảnh toàn cầu hóa ở Việt Nam hiện nay [68] cũng khẳng định, tinh thần dân tộc

Việt Nam chính là ý thức dân tộc Việt Nam đã được hình thành trong suốt tiến trình lịch

sử và được biểu hiện ở các giá trị trong truyền thống văn hóa của người Việt Trongđiều kiện hiện nay, tinh thần dân tộc (ý thức dân tộc) đóng vai trò hết sức quan trọngđối với công cuộc cải cách, hiện đại của quốc gia, trong đó được thể hiện trong việc tìmkiếm mô hình phát triển cho xã hội Việt Nam Bên cạnh hai quan điểm này, các tác giả

Trần Văn Phòng, Ngô Thị Nụ trong bài viết Cơ sở của ý thức cộng đồng Việt Nam

[126] cũng đề cập khá sâu sắc tới lịch sử hình thành và phát triển của YTCD dưới gócnhìn là “ý thức cộng đồng” Các tác giả đã làm toát lên tính đặc thù của YTCD ở ViệtNam, của người Việt Nam mang tính cộng đồng, hòa với cộng đồng nhiều hơn làYTCD của cá nhân

Trên cơ sở quan điểm của Hồ Chí Minh “Nhân dân có quyền lợi làm chủ thìphải có nghĩa vụ làm tròn bổn phận công dân, giữ đúng đạo đức công dân” [113,

Trang 18

tr.258], tác giả Phạm Thị Hương [94], đã phân tích trách nhiệm công dân trong nềnhành chính nhà nước theo những gợi ý của Người, bao gồm: tuân theo pháp luật nhànước; tuân theo kỷ luật lao động; giữ gìn trật tự kỷ cương; đóng góp đúng kỳ, đúng

số để xây dựng mục đích chung; hăng hái tham gia công việc chung; bảo vệ tài sảncông cộng và bảo vệ Tổ quốc Cũng nhấn mạnh đến trách nhiệm công dân, tác giảNguyễn Hữu Khiển [96] cho rằng, trách nhiệm công dân trong quá trình xây dựngnhà nước dân chủ là rất quan trọng Đó là một phạm trù của nền dân chủ, nó có sứcmạnh ghê gớm cả trên phương diện kinh tế, thể chế và văn minh, ở đó, quyền vàtrách nhiệm của người dân là thống nhất trong mọi hành vi, quyền lợi và tráchnhiệm công dân gắn bó hữu cơ với nhau

Một điểm thú vị khác, khi phân tích Quyền công dân và cơ chế bảo vệ quyền

công dân theo Hiến pháp 2013 [73], các tác giả Vũ Công Giao, Nguyễn Minh Tâm

đã đề cập tới khái niệm công dân trong lịch sử, so sánh quyền công dân với quyềncon người, các tác giả đã thống kê có 41 quyền được đề cập đến trong Hiến phápnăm 2013 trong đó 16 quyền dành cho công dân và 25 quyền là quyền chung dànhcho tất cả mọi người Các tác giả đã chỉ ra sự tiến bộ của Hiến pháp năm 2013 làkhông đồng nhất quyền công dân với quyền con người, bổ sung cơ chế bảo vệ Hiếnpháp cũng chính là bảo vệ quyền công dân Điều đó cũng đồng nghĩa với việc quantâm tới vai trò của ý thức công dân trong quá trình xây dựng NNPQ XHCN

Khái lược đánh giá các công trình nghiên cứu nêu trên, nghiên cứu sinh nhậnthấy, có tác giả đã đề cập thẳng vào YTCD, làm toát lên vai trò của công dân trongviệc xây dựng nhà nước và nhà nước đó quay lại phục vụ chính họ Công dân ý thứcđược việc mình làm, thấy được trách nhiệm của mình trong đó và nhận được kết quảcho mình hay dưới cái nhìn là ý thức cộng đồng, ý thức dân tộc, ý thức về chủquyền lãnh thổ quốc gia, ý thức chính trị - YTCD là nhận thức về chính mình trướccộng đồng, đóng góp cho cộng đồng, vì quê hương, vì sự tồn tại và phát triển đấtnước (Johan Sandahl, A.A.Akramov, Tong Huasheng, Trần Văn Phòng, Ngô Thị

Nụ, Phạm Văn Đức, Nguyễn Trọng Phúc, Trần Văn Bính và cộng sự); là tráchnhiệm tham gia vào các hoạt động kinh tế, chính trị, hành chính, dân sự, môitrường, chất lượng cuộc sống, công dân phải sáng suốt, tích cực để tham gia bảo vệ

Trang 19

pháp luật, bảo vệ cộng đồng, YTCD là sự dấn thân vì cái chung, vì xã hội (JeniferShelf, Phạm Thị Hương, Nguyễn Hữu Khiển); là tính tích cực chính trị để thúc đẩy

sự phát triển của công dân và cộng đồng (Nguyễn Thị Kim Hoa) Bên cạnh đó, một

số tác giả tiếp cận trên phương diện ý thức pháp luật và sự cần thiết phải nâng cao ýthức pháp luật của nhân dân trong bối cảnh phát triển đất nước ngày nay (Đào DuyTấn) Tất cả những quan điểm, đánh giá, phân tích của các nhà khoa học có điểmchung là đều khẳng định công dân với ý thức của mình, trách nhiệm của mìnhkhông chỉ tỏ thái độ và hành động vì lợi ích cá nhân mà cao hơn thế, luôn hướng tớilợi ích của cộng đồng, xã hội, quốc gia dân tộc, là sự kết hợp hài hòa giữa cái riêng

và cái chung, giữa suy nghĩ, thái độ và hành vi, hành động Những công trình nêutrên là vô cùng quý giá, giúp cho nghiên cứu sinh có cái nhìn nhiều chiều cạnh vềYTCD trước khi đi phân tích, tìm hiểu vai trò của nó đối với quá trình xây dựngNNPQ XHCN Việt Nam hiện nay

1.1.2 Các công trình nghiên cứu về nhà nước pháp quyền:

Các công trình nước ngoài:

Chúng ta biết rằng, tư tưởng pháp quyền đã có từ thời Hy Lạp, La Mã cổ đạivới những đại biểu như Solon, Pitagore, Heraclite, Socrate, Democrite, Platon,Aristotle, Masillius, Ciceron và được tiếp nối phát triển thành những luận thuyếtngày càng hoàn chỉnh về NNPQ thời kỳ Phục hưng cận hiện đại với những đại biểunhư N.Machiavelli, Jean Bodin, Thomas Hobbes, John Locke, C.Montesquieu,J.J.Rousseau, Voltaire, D.Diderot, B.d’Holbach, Christian Thomasius, ChristianWolff, I.Kant, J.G.Fichte, G.W.Hegel, R.v.Mohl, C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin,Ernst Rudolf Bierling, Rudolf Jhering, Hans Kelsen, Gustav Radbruch, John Rawls,Arthur Kaufmann, cùng nhiều học giả khác

Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin không đặt ra cho mình nhiệm vụ(xét thấy chưa cần thiết vào lúc đó) là nêu những quan điểm trực tiếp về một NNPQdành cho giai cấp vô sản khi họ giành được chính quyền, mà nhiệm vụ trước mắtcủa các ông là phơi bày bản chất của giai cấp tư sản, sự bóc lột, áp bức bất công củagiai cấp tư sản đối với giai cấp vô sản, giúp cho giai cấp vô sản cách mạng hiểu rõ

và có định hướng, mục tiêu, con đường, cách thức đấu tranh cách mạng đúng đắn để

Trang 20

xoá bỏ bóc lột, áp bức, bất công để tiến tới xây dựng xã hội cộng sản Nhưng, bằngviệc phân tích, lột tả cuộc đấu tranh giai cấp diễn ra trong quốc hội Pháp giữa cácphe phái như “đảng trật tự”, “phái Núi”, “phái chính thống”, “phái Óoc-lê-ăng”,

“phái bảo hoàng”, v.v là những lực lượng đại diện cho các giai tầng, nhóm lợi íchtrong xã hội Pháp lúc bấy giờ, C.Mác đã sử dụng những thuật ngữ như “quyền lựcnhà nước”, “vấn đề ủy quyền, phân quyền, tập quyền”, “kéo dài nhiệm kỳ của Tổngthống”, “chế độ phổ thông đầu phiếu là kết quả của ý chí chủ quyền nhân dân”,

“ban hành đạo luật”, “cơ sở pháp lý của pháp luật”, “quyền lập pháp, quyền hànhpháp, chế độ cộng hòa”, v.v cho thấy ông hoàn toàn nắm rõ vấn đề nhà nước nóichung và nhà nước pháp quyền tư sản nói riêng Ph.Ăngghen cũng đã nhắc tới thuậtngữ “nhà nước pháp quyền” khi phê phán quan điểm của Các Hai-nơ-xten khi ông

này “gắng sức” thiết lập một nhà nước pháp quyền thực sự (!) bằng việc “tiến hành

tất cả những cuộc cải cách xã hội mà tính đúng đắn về mặt lý luận (!) và tính hiệulực thực tế (!) của chúng bắt nguồn từ sự phát triển phổ biến (!)”!!! Ph.Ăngghencho rằng, ý định thì tốt đẹp, nhưng văn phong trình bày lại rối rắm, sáo rỗng và lýluận mang tính ảo tưởng [19, tr.402] Bên cạnh đó, khi nói về thực chất, sức mạnhcủa nhà nước kiểu mới lại được các ông đề cập sâu sắc, đó là dân chủ triệt để, dânchủ đến cùng, là một nhà nước hợp hiến, hợp pháp, do nhân dân tự quy định, từ

“nhân dân của nhà nước” sang “nhà nước của nhân dân” Trong tác phẩm Nội chiến

ở Pháp C.Mác đã khẳng định: “sự cai quản nhân dân do chính nhân dân đảm

nhiệm” [20, tr.461] là một xu hướng tất yếu dưới CNXH V.I.Lênin trong tác phẩm

Nhà nước và cách mạng cho rằng, đó là một nhà nước mà “quần chúng nhân dân

vươn lên tham gia một cách độc lập không những vào việc bầu cử và tuyển cử, mà

cả vào việc quản lý hàng ngày nữa” [176, tr.143].

Trong cuốn sách Bàn về chính quyền (On Government), nhà tư tưởng vĩ đại

thời kỳ La Mã Marcus Tullius Cicero (106-43 TCN) trên cơ sở kế thừa tư tưởng vềnền cộng hòa của Platon, đã nêu lên tư tưởng pháp quyền rất rõ nét, ông viết: “Chứcnăng của một quan chức nhà nước là điều hành cũng như ban hành các chỉ thị côngbằng, hữu ích và đúng luật Quả thật, có thể nói một cách đúng đắn là: quan chức làluật pháp biết nói, còn luật pháp là quan chức lặng thầm” [37, tr.261], “Một dân tộc

Trang 21

chỉ có thể được cho là tồn tại khi cá nhân tạo nên nó bị ràng buộc với nhau bởi mộtmối quan hệ cộng tác được hình thành dựa trên luật” [37, tr.253].

Là một trong những người khởi xướng nền dân chủ pháp quyền,C.Montesquieu quan niệm rằng, pháp luật là điều kiện tiên quyết để ngăn chặn tìnhtrạng độc tài và tránh cho xã hội đi đến chỗ diệt vong Pháp luật còn là phương tiệnhữu hiệu trong việc duy trì trật tự xã hội, chế ước quyền lực nhà nước Ông tin rằng,nền dân chủ được thiết lập trên tinh thần thượng tôn pháp luật là cách tốt nhất đểgiải quyết những xung đột và bất đồng xã hội, điều hòa các quan hệ lợi ích, mang lạibình đẳng và tự do cho mọi người C.Montesquieu viết: “Tự do là quyền được làmtất cả những điều mà luật cho phép Nếu một công dân làm điều trái luật thì anh takhông còn được tự do nữa…” [117, tr.105]

Nhà tư tưởng theo trường phái tự do người Pháp Claude Frederic Bastiat 1850) đã viết: “Nếu luật pháp không được tôn trọng, ở một mức độ nhất định nào đó,thì xã hội không thể tồn tại được Biện pháp an toàn nhất làm cho người ta tôn trọngluật pháp là làm cho luật pháp đáng được tôn trọng” [9, tr.54] Trong NNPQ, mối quan

(1801-hệ giữa nhà nước và công dân đều được chi phối bởi pháp luật Ở đây, pháp luật chứađựng những giá trị ổn định, chuẩn mực của các quan hệ xã hội và có các chức năng đặcbiệt là tổ chức, bảo vệ và trọng tài Pháp luật là sản phẩm của quá trình con ngườikhách quan hóa cái chủ quan, nhưng điều đó đòi hỏi cái chủ quan của công dân nóichung, chủ thể cầm quyền nói riêng phải phản ánh được quy luật khách quan

A.V.Dicey (1835-1922) nhà lập pháp nổi tiếng người Anh khi nghiên cứu và

đề cập tới NNPQ, ông đã chỉ ra 8 đặc trưng cơ bản của NNPQ gồm: (1) Tính tốithượng của pháp luật, tất cả mọi cá nhân và chính phủ đều phải tuân theo pháp luật;(2) Công lý và quyền con người được đảm bảo; (3) Hạn chế việc thực thi quyền lựctuỳ tiện; (4) Dựa trên lý luận về Tiền lệ án và phương pháp luận Thông luật; (5)Pháp luật cần phải theo hướng vượt trước (prospective) chứ không phải hồi tố; (6)

Tư pháp độc lập; (7) Quyền lập pháp do nghị viện thực thi và quyền hành pháp sẽ hạn chế thực thi quyền lập pháp; (8) Tất cả các điều luật phải xuất phát từ đạo đức[208] Bên cạnh những đặc trưng mà A.V.Dicey nêu ra, Joseph Raz (sinh năm1939) nhà triết học chính trị, đạo đức và luật pháp gốc Israel, đã bổ sung thêm một

Trang 22

số đặc trưng nữa, đó là: (1) Bình đẳng trước pháp luật; (2) Trách nhiệm giải trình;(3) Công bằng trong việc áp dụng pháp luật; (4) Người dân phải được tham gia vào quá trình ra quyết định; (5) Minh bạch về khung pháp luật và thủ tục [191].

Tác giả Bodo Pieroth (giáo sư đại học Munster, CHLB Đức) trong bài viết

Sự phát triển và các yếu tố cơ bản của nhà nước pháp quyền [130] khẳng định rằng,

NNPQ là một nhu cầu phổ quát Nếu nhiều người cho rằng tài phán hiến pháp làđỉnh cao của NNPQ, thì điều đó lần đầu tiên được ghi nhận trong Hiến pháp Áonăm 1920 Bodo Pieroth chỉ ra rằng, dù khái niệm NNPQ lần đầu tiên xuất tại Đứcvào khoảng năm 1800, thì nó cũng trải qua sự phát triển lịch sử thăng trầm, thậm chí

là méo mó cực đoan thời kỳ chủ nghĩa quốc xã Điều đó để thấy rằng, NNPQ khôngphải cái gì đó bất biến và đã sinh ra là cứ thế tồn tại, mà biến đổi đa dạng trong lịch

sử phát triển Ông cho rằng, NNPQ bao gồm hai yếu tố: Một là, sự ràng buộc nhànước vào pháp luật - nghĩa là, nhà nước thống trị qua pháp luật chứ không theo ýmuốn của người thống trị và thống trị qua pháp luật là đối cực của thống trị tùy tiện.Tuy trong NNPQ cũng có những lĩnh vực cuộc sống không được pháp luật bao trùmhay không được bao trùm tuyệt đối, nhưng ở đâu đã có luật thì luật đứng cao hơnmọi thước đo khác (kinh tế, đạo đức, đạo lý, tôn giáo hay chính trị) Tính cưỡngbách đó của pháp luật không chỉ có giá trị áp dụng cho công dân một nhà nước, màcòn cho cả chính nhà nước, các cơ quan nhà nước, công chức và nhân viên nhànước Nhà nước phải tuân thủ pháp luật, cả khi trong trường hợp cụ thể thấy khóchịu và phiền nhiễu Chỉ có thế thì chúng ta mới có một NNPQ, khi pháp luật mạnhhơn mọi trở lực Hai là, bảo đảm quyền con người, quyền công dân là điểm cốt lõicủa NNPQ Như vậy, nhà nước phụ thuộc vào người dân và chỉ vì dân mà tồn tại

Các công trình trong nước:

Ở Việt Nam, thuật ngữ NNPQ được đề cập chính thức trong văn kiện Đảngnăm 1994 và được ghi nhận chính thức trong Hiến pháp và các văn bản quy phạmpháp luật (QPPL) nước ta từ năm 2001, nhưng tư tưởng về NNPQ thì đã có từnhững năm đầu thế kỷ XX

Tiếp thu tư tưởng pháp quyền của các tác gia lớn như J.J.Rousseau,C.Montesquieu, trong bài diễn thuyết có tựa đề “Quân trị chủ nghĩa và dân trị chủ

Trang 23

nghĩa”, nhà yêu nước Phan Chu Trinh đã nêu bật mong muốn xây dựng Hiến pháp

và một nhà nước dân chủ, ông nhấn mạnh:

Trong nước có Hiến pháp, ai cũng phải tôn trọng Hiến pháp, cái quyềncủa Chính phủ cũng bởi Hiến pháp quy định cho, lười biếng không được

mà dẫu có muốn áp chế cũng không chỗ nào thò ra được Vả lại khi cóđiều gì vi phạm đến pháp luật thì người nào cũng như người nào, từ ôngTổng thống cho đến một người nhà quê cũng chịu theo pháp luật nhưnhau [48, tr.817]

So sánh chế độ quân chủ với chế độ dân chủ, ông viết:

So sánh hai cái chủ nghĩa quân trị và dân trị thì ta thấy chủ nghĩa dân trị hayhơn chủ nghĩa quân trị nhiều lắm Lấy theo ý riêng của một người hay củamột triều đình mà trị một nước thì cái nước ấy không khác nào một đàn dêđược no ấm vui vẻ hay đói khát khổ sở tùy theo lòng của người chăn Cònnhư theo cái chủ nghĩa dân trị thì quốc dân lập ra Hiến pháp, luật lệ, đặt racác cơ quan để lo việc chung của cả nước, lòng quốc dân thế nào thì làm thếđấy, dù không có người tài giỏi thì cũng không đến nỗi phải để dân khốnkhổ làm tôi mọi một nhà, một họ nào [48, tr.816]

Trong Yêu sách của nhân dân An Nam [106, tr.440-441] gửi tới Hội nghịVersailles tổ chức ngày 18/6/1919, các nhà yêu nước Nguyễn Ái Quốc, Phan ChuTrinh, Phan Văn Trường đã đề cập tới tinh thần pháp quyền khi đề nghị “cải cáchnền pháp lý ở Đông Dương bằng cách cho người bản xứ cũng được quyền hưởngnhững đảm bảo về mặt pháp luật như người châu Âu”, được “tự do báo chí và tự dongôn luận”, “tự do lập hội và hội họp” và “Thay chế độ ra các sắc lệnh bằng chế độ

ra các đạo luật” Những luận điểm này sau được chuyển sang thể lục bát để phổ biếntrong dân chúng: “Trăm điều phải có thần linh pháp quyền” một cách ngắn gọn, dễnhớ, dễ hiểu và đầy đủ ý nghĩa Nghĩa là, tất cả mọi việc, mọi hoạt động trong đờisống xã hội đều phải có và cần có sự điều chỉnh của pháp luật, phải được quy định

và hạn chế bằng luật “Thần linh pháp quyền” khẳng định sức mạnh của pháp luật,một sức mạnh mang tính linh thiêng, phải được tôn trọng trong mọi hoàn cảnh Tấtnhiên, đó phải là một pháp luật đúng, theo kịp đời sống, bảo vệ quyền lợi và phục

vụ cho đời sống con người, những quyền mà người ta đã mang theo từ khi sinh ra

Trang 24

Trong cuốn sách chuyên khảo Lịch sử tư tưởng triết học pháp quyền Đức từ

thế kỷ XVIII đến thế kỷ XX [42, tr.15, tr.19, tr.45], tác giả Ngô Thị Mỹ Dung đã khái

lược tư tưởng triết học pháp quyền từ thời cổ đại, trung đại (trung cổ) đã được cácnhà tư tưởng Đức kế thừa và phát triển mạnh mẽ Chẳng hạn, Arthur Kaufmann(1923-2001), học giả người Đức cho rằng, sự hội nhập và phát triển mang tính toàncầu hóa trên toàn thế giới đòi hỏi phải có một khái niệm chung vừa đáp ứng nộidung của luật và cả những điều vượt ra ngoài thực tiễn của nó, thực tiễn của các đạoluật Tuy nhiên, khó có thể xây dựng được một khái niệm có tính nội dung về phápquyền có giá trị cho mọi nền văn hóa Trên cơ sở phân tích tư tưởng, quan điểm củacác nhà tư tưởng pháp quyền Đức, có sự so sánh với các nhà tư tưởng trước đótrong lịch sử, tác giả Ngô Thị Mỹ Dung kết luận: các nhà triết học pháp quyềnphương Tây thế kỷ XX cho rằng, một khái niệm pháp quyền hiện đại không thểthiếu các nguyên tắc pháp quyền chung và yếu tố hiện thực với những điều kiệnkinh tế - xã hội cụ thể của mỗi dân tộc

Trong tác phẩm Tư tưởng lập hiến Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX [151], hai tácgiả Trương Đăng Thanh, Trương Thị Hoà đã khái quát, hệ thống hoá các luồng tưtưởng lập hiến trong giai đoạn đầu nước ta chuyển mình từ một nước quân chủphong kiến, thuộc địa trở thành một quốc gia độc lập theo chính thể cộng hoà, từmột nền pháp luật cổ truyền không có hiến pháp đến sự ra đời của Hiến pháp năm

1946 Đó là bản hiến pháp của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở ViệtNam, một hiến pháp dân chủ và tiến bộ ở Đông Nam Á lúc bấy giờ Các tác giả chorằng, tư tưởng lập hiến là một bộ phận quan trọng của tư tưởng pháp quyền Banđầu tư tưởng lập hiến rất đa dạng, có diễn biến đầy cam go, trải qua con đường đấutranh quyết liệt với nhau trong bối cảnh lịch sử vô cùng phức tạp Nhờ đó, chúng tacàng thấy rõ tính chất cách mạng, dân chủ, tiến bộ của tư tưởng pháp quyền Hồ ChíMinh và được hiện thực hoá bằng bản Hiến pháp năm 1946, đánh dấu sự ra đời củanước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa [151]

Các tác giả Nguyễn Duy Quý, Nguyễn Tất Viễn trong cuốn sách Nhà nước

pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân, vì dân - lý luận và thực tiễn

[142] tập hợp các nhà khoa học là những chuyên gia đầu ngành trong các lĩnh vực triết

Trang 25

học, chính trị học, luật học và một số lĩnh vực khác như Hoàng Văn Hảo, Đào Trí Úc,Nguyễn Đình Lộc, Hoàng Chí Bảo, Lê Minh Tâm, Đinh Ngọc Vượng, đã tổng hợptrong lịch sử tư tưởng nhân loại về học thuyết NNPQ của phương Tây và phươngĐông, quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước vàpháp luật XHCN, nêu lên những đặc trưng của NNPQ XHCN Việt Nam, phân tích một

số yếu tố quy định, chi phối quá trình xây dựng NNPQ XHCN ở Việt Nam và đề ra một

số phương hướng, giải pháp chủ yếu xây dựng NNPQ XHCN Việt Nam Đây là côngtrình nghiên cứu với các nội dung khá toàn diện, công phu, hệ thống về vấn đề nhànước pháp quyền nói chung và NNPQ XHCN Việt Nam nói riêng

Trong cuốn sách Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh với công

cuộc đổi mới của Việt Nam, tác giả Lê Hữu Nghĩa đã khái quát sự phát triển của tư

tưởng về NNPQ trong lịch sử, đề cập tới quá trình nhận thức của Đảng Cộng sảnViệt Nam về NNPQ XHCN, trong đó khẳng định rằng, “Nhà nước pháp quyềnkhông phải là một kiểu nhà nước mà là hình thức phân công và tổ chức quyền lựcnhà nước” [121, tr.561] Và “một thời kỳ dài chúng ta nhận thức không đúng về nhànước pháp quyền Về sau, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhận thức ra rằng, nhànước pháp quyền không phải là cái riêng có của chủ nghĩa tư bản Chủ nghĩa xã hộicũng phải thực hiện nhà nước pháp quyền” [132, tr.562] Tác giả cho rằng, quá trìnhxây dựng NNPQ XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân trong thời kỳ đổimới ở Việt Nam trước hết phải nâng cao nhận thức về NNPQ XHCN Hai là, pháthuy dân chủ, đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân trong xây dựng nhà nước vàquản lý xã hội Ba là, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật và tổ chứcthực hiện pháp luật thật tốt Bốn là, đổi mới tổ chức và hoạt động của nhà nước.Năm là, đảm bảo vai trò lãnh đạo và đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng Cộngsản Việt Nam đối với NNPQ XHCN Tuy không đề cập trực tiếp đến mối quan hệgiữa YTCD với quá trình xây dựng NNPQ XHCN ở Việt Nam, nhưng nhữngphương hướng lớn được tác giả nêu lên đều gián tiếp tác động tới YTCD, thúc đẩyYTCD, đó là quan tâm trước tiên tới vấn đề nâng cao nhận thức và phát huy dân

chủ Đồng quan điểm, tác giả Phạm Văn Đức trong bài Về một số nét đặc thù của

nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam [69] cũng khẳng định NNPQ

Trang 26

không phải là một hình thái nhà nước độc lập, mà là một phương thức, cách thức tổchức quyền lực nhà nước Đồng thời khái lược sự hình thành ý tưởng về NNPQ đã

có từ rất sớm trong lịch sử ở cả phương Tây lẫn phương Đông và phát triển dần tớihiện thực Trên cơ sở đó, tác giả nêu lên một số dấu hiệu đặc trưng của NNPQ (4đặc trưng chung) và một số nét biểu hiện đặc thù hay những đặc điểm đặc thù củaNNPQ XHCN mà chúng ta đang xây dựng ở Việt Nam hiện nay Từ đó, tác giả kếtluận, xây dựng NNPQ XHCN Việt Nam là sự thống nhất giữa cái phổ biến và cáiđặc thù

1.1.3 Một số công trình nghiên cứu liên quan tới vai trò của công dân, ý thức công dân trong xây dựng nhà nước

Ngay từ thời cổ đại, trong tác phẩm The Laws (Luật pháp), khi phân tích và

đánh giá những hạn chế của các mô hình: nhà nước quân chủ độc tài, nhà nước dânchủ, nhà nước lý tưởng, Platon đã đưa ra quan điểm cho rằng, quyền lực nhà nướcchỉ có thể đứng vững với sự tham gia và chấp thuận nhất định của dân chúng trong

mô hình nhà nước hỗn hợp [82, tr.60-62] Aristotle đã nêu lên quan điểm có tínhchất kinh điển về vấn đề dân chủ, ông viết: “Người công dân chỉ cần có một đặctính duy nhất là người có quyền tham gia vào việc thực thi công lý và đảm nhiệmcác chức vụ trong chính quyền” [3, tr.169]

Marsillius đã trình bày quan điểm tiến bộ về ý nghĩa của chính phủ dân cử vàchủ quyền nhân dân Marsillius lập luận rằng luật pháp phải do “toàn thể nhân dânhay bộ phận có uy tín nhất của nó” thông qua thảo luận kỹ lưỡng về ước muốn của

họ tại quốc hội - làm ra Ông viết:

Ý chí của nhân dân là phép thử căn bản cho việc giải thích đúng đắnnhững mục tiêu mà cộng đồng đang hướng tới và cũng là cơ sở duy nhấtcho việc sử dụng hợp pháp lực lượng cưỡng bức Quyền ban hành luậtpháp thuộc về “toàn thể công dân”; chỉ họ mới có quyền thông qua luật.Trong một cộng đồng dân sự có kỷ cương thì “nhân dân hoặc toàn thểcông dân, hoặc bộ phận có uy tín nhất của nó, thông qua bầu cử hoặc ýchí được thể hiện bằng lời nói trong cuộc họp toàn thể công dân, ra lệnhhay quyết định một việc gì đó, liên quan đến hành động dân sự của con

Trang 27

người, có thể làm hoặc không làm thì sẽ bị trừng phạt” là nguồn gốc củaluật pháp và kỷ cương Quyền lực và sức mạnh là hợp pháp khi chúngđược sử dụng một cách đúng đắn, nghĩa là được sự chấp thuận của cáccông dân [82, tr.78, tr.81].

C.Montesquieu cho rằng: “Dân chúng có quyền lực tối cao phải tự mình làmlấy những điều có thể làm tốt được, còn những điều mà dân không thể làm tốt đượcthì phải giao cho các vị bộ trưởng thừa hành Các vị bộ trưởng nếu không do dân cửthì không phải là của dân” [117, tr.48]

Trong tác phẩm “Nền dân trị Mỹ”(Democracy in America) được xuất bản

năm 1835, Alexis de Tocqueville (1805-1859) - học giả người Pháp, dựa trên nhữngtrải nghiệm, ghi chép, quan sát, nghiên cứu của chính bản thân trong thời gian viếngthăm nước Mỹ những năm 1832-1833, ông đã tổng kết, luận giải nhiều vấn đề quantrọng liên quan tới vấn đề tổ chức quyền lực nhà nước, sự vận dụng các học thuyếttiến bộ của nước Mỹ, trong đó đề cập nhiều tới vai trò của người dân, ông nhấnmạnh: “Nhân dân được can thiệp vào các việc công ích, tự do bỏ phiếu về thuếkhoá, trách nhiệm của các quan chức, tự do cá nhân và việc xử án bởi hội đồng xét

xử, là những điều được xác định trong luật mà không cần bàn cãi và đều được thựcthi” [160, tr.123] Ông viết tiếp:

Nhân dân tham gia vào việc soạn thảo các bộ luật thông qua việc lựachọn các nhà làm luật, nhân dân áp dụng các bộ luật đó thông qua việcbầu ra những người trong bộ máy hành pháp Ta có thể nói là nhân dân tựcai trị mình, phần dành cho công việc cai quản càng yếu và hạn hẹp thìnền hành pháp này càng cảm thấy nó từ nhân dân mà ra và tuân phục cáisức mạnh đã làm toát ra nó Nhân dân là nguyên nhân và là mục đíchcủa mọi điều Tất cả đều từ nhân dân mà ra và tất cả đều được tích tụ vàonhân dân [160, tr.164]

Những quan điểm trên đây của A.Tocqueville về việc nhân dân - công dântham gia vào việc thực thi quyền lực nhà nước thể hiện trên cả ba mặt: làm ra luật,bầu ra người đại diện để làm luật (lập pháp), thực thi luật, định ra thuế khoá, giámsát quan chức (hành pháp), giám sát việc xét xử (tư pháp) là khá đầy đủ, phản ánh

Trang 28

trình độ phát triển về nhận thức và ý thức của người dân Hoa Kỳ trong đời sốngchính trị, luật pháp nửa đầu thế kỷ XIX.

Tác giả David Held trong tác phẩm Các mô hình quản lý nhà nước hiện đại

(Models of Democracy) [82], trong khi trình bày khái quát các mô hình quản lý nhà

nước theo triết lý dân chủ từ thời cổ đại Hy Lạp cho đến ngày nay, xuyên suốt tácphẩm phản ảnh tinh thần, thái độ, ý thức tham gia của công dân vào đời sống chínhtrị, tham gia xây dựng nhà nước, đồng thời mô tả sự ảnh hưởng, tác động và tầmquan trọng của pháp luật trong quá trình quản trị xã hội Dù mỗi mô hình nhà nước,mỗi chế độ chính trị xác định đối tượng là công dân khác nhau, nhưng càng về sau,

sự xuất hiện của các mô hình nhà nước dân chủ hiện đại thì sự tham gia trực tiếpcủa các công dân trong việc điều chỉnh các thiết chế của xã hội, cả ở nơi làm việclẫn tại cộng đồng địa phương đều tăng lên, phản ảnh chất lượng tham gia của côngdân vào các hoạt động chính trị Tác giả đánh giá rằng, những mô hình hiện đại xuấthiện trong những năm gần đây cho thấy, không chỉ đơn thuần là người dân đượcquyền tham gia lựa chọn người đại diện hoặc đề xuất giải pháp cho các vấn đềchung, mà quan trọng là họ có thể đưa ra lựa chọn một cách duy lý

Trong cuốn sách Xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân, tác

giả Nguyễn Trọng Thóc đã luận giải khá kỹ vấn đề NNPQ XHCN và dân chủXHCN, nhấn mạnh tới mối quan hệ giữa việc xây dựng NNPQ XHCN với phát huydân chủ của nhân dân Trên cơ sở thực trạng xây dựng NNPQ, tác giả nêu lên một

số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc xây dựng NNPQ XHCN và phát huy dânchủ của nhân dân ở nước ta Bên cạnh những giải pháp như: nâng cao vai trò lãnhđạo của Đảng, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, tácgiả đề cập tới phải “giải quyết mối quan hệ giữa công dân với nhà nước” vì “đó làmối quan hệ chính trị cơ bản để xây dựng nhà nước của dân, do dân và vì dân” Cơ

sở để giải quyết mối quan hệ này là vấn đề quyền và nghĩa vụ của tất cả mọi ngườiđược pháp luật ghi nhận và bảo vệ Tác giả đặc biệt chú ý tới vai trò của nhà nướcnhư: nhà nước có nghĩa vụ tôn trọng giá trị cao nhất là con người; “nhà nước đề rapháp luật đồng thời phải tuân thủ pháp luật và bảo đảm cho công dân được chống lạichính sự tùy tiện của nhà nước” [157, tr.202-203], chống lại biểu hiện lộng

Trang 29

quyền, lạm quyền và mặt khác, chống lại những hành vi tự do, vô chính phủ Nhànước phải bảo đảm cho công dân sự an toàn pháp lý, được hưởng các quyền và tự

do cơ bản và bảo hộ họ trong trường hợp bị vi phạm, kể cả từ phía các cơ quan nhànước và những người có chức vụ Bên cạnh đó, giải quyết mối quan hệ công dân vànhà nước là xây dựng chế độ trách nhiệm qua lại giữa nhà nước và công dân (cánhân), tức là giữa một bên là người đại diện quyền lực nhà nước và một bên vừa làchủ thể vừa là khách thể của quyền lực nhà nước [157, tr.204]

Thông qua các công trình nghiên cứu nêu trên, khi trình bày những tư tưởng,quan điểm về NNPQ, NNPQ tư sản, NNPQ XHCN, các tác giả đều nhấn mạnh sựcần thiết hiện diện phổ biến của yếu tố pháp luật và vai trò, trách nhiệm, ý thức củacông dân trong việc hiện thực hoá pháp luật và mô hình NNPQ Xây dựng NNPQcũng đồng thời là quá trình phát huy dân chủ, nâng tầm công dân, tạo điều kiện chocông dân có thể đảm nhận được vai trò làm chủ của mình Những luận giải của cáccông trình nghiên cứu đi trước giúp cho tác giả luận án càng vững tin, có cơ sở đisâu tìm hiểu sâu hơn về vai trò của YTCD trong quá trình xây dựng NNPQ

1.2 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN THỰC TRẠNG

VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG VIỆC PHÁT HUY VAI TRÒ Ý THỨC CÔNG DÂN TRONG XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN

Đề tài KHCN cấp Nhà nước Cơ sở khoa học của việc xây dựng ý thức pháp

luật và lối sống theo pháp luật [184] đi sâu nghiên cứu, làm rõ những hạn chế, yếu

kém, chỉ ra những nguyên nhân sâu xa vì sao ý thức pháp luật của công dân và đờisống pháp luật của các đối tượng xã hội trước thời kỳ đổi mới lại hạn chế như vậy

Từ đó, kiến nghị những giải pháp tích cực, những căn cứ khoa học của việc xâydựng pháp luật và thực hiện pháp luật XHCN trong thời kỳ đổi mới, đó là phải tôntrọng và xuất phát từ nhu cầu sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng phápluật phải dựa trên nguyên tắc khách quan, dân chủ và pháp chế XHCN

Đề tài KHCN cấp Nhà nước Xây dựng lối sống theo pháp luật nhìn từ góc độ

lịch sử truyền thống, xây dựng ý thức và lối sống theo pháp luật [71] tập trung

nghiên cứu quá trình hình thành nhu cầu đời sống pháp luật, sự cần thiết xây dựnglối sống theo pháp luật trong thời kỳ mới, những thách thức của cơ chế thị trường,mâu thuẫn gay gắt với sự bảo tồn phát huy những giá trị truyền thống lịch sử dân

Trang 30

tộc; đánh giá thực trạng ý thức pháp luật và lối sống theo pháp luật của nhân dân tabên cạnh những mặt tích cực, đáng ghi nhận thì nhìn chung còn những hạn chế, yếukém, bất cập chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý nhà nước, quản lý xã hội bằngpháp luật Từ đó, đề xuất một số phương hướng và giải pháp tích cực xây dựng lốisống theo pháp luật trong đó nhấn mạnh phải kế thừa, phát huy những giá trị truyềnthống của dân tộc, đảm bảo phát triển trong tương lai, trân trọng quá khứ.

Đề tài NCKH cấp Bộ Một số vấn đề lý luận và thực tiễn giáo dục pháp luật

trong công cuộc đổi mới [185] phân tích, trong bối cảnh xây dựng NNPQ không thể

thiếu vắng việc thực hành pháp luật, nhưng thực trạng công dân có hành trang pháp luật

để sử dụng hay không là một vấn đề lớn, một thách thức Các tác giả cho rằng, công tácgiáo dục pháp luật cho công dân ở nước ta trong thời kỳ đổi mới còn những hạn chế,yếu kém, nội dung và phương thức chậm đổi mới, nặng về hình thức dẫn đến hiệu quảkhông cao Vì vậy, cần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm luật, đầu tư thoả đángcho công tác tuyên truyền giáo dục pháp luật cho mọi đối tượng, chú trọng địa bànnông thôn, vùng sâu, vùng xa, dân tộc ít người, để từ đó, pháp luật phải trở thành công

cụ, phương tiện chính yếu, phổ biến trong đời sống xã hội

Trong cuốn sách Hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn nước ta hiện nay, tác giả

Hoàng Chí Bảo và các cộng sự đã để cập tới “xã - là một đơn vị ở tầm vi mô trong bốncấp của hệ thống quản lý hành chính” [5, tr.183] nước ta Tác giả cho rằng, “nói tới cơ

sở là nói tới vị thế (là chủ) và hành động (làm chủ) của dân Đó là dân chủ với tất cảtính xác định thực tiễn của hoạt động chủ thể Chính điều này đã khách quan hoá tầmquan trọng sống còn của vấn đề thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, đặc biệt là dân chủcủa nông dân ở nông thôn nước ta” khi “đang phải vượt qua những hạn chế của dân chủlàng xã truyền thống để xây dựng nền dân chủ và nhà nước pháp quyền xã hội chủnghĩa” [5, tr.184] Suy rộng ra, muốn phát huy được YTCD của công dân khu vực nôngthôn (chủ yếu là nông dân) thì vấn đề đặt ra là phải vượt qua những hạn chế của dânchủ làng xã truyền thống để xây dựng nền dân chủ XHCN

Tác giả Nguyễn Minh Đoan trong cuốn sách Vai trò của pháp luật trong đời

sống xã hội [66] đã đề cập đến tác động và mối quan hệ của pháp luật tới mọi lĩnh vực

của đời sống xã hội như tới nhà nước, chính trị, đạo đức, kinh tế, tới đường lối chính

Trang 31

sách của Đảng, tôn giáo, hương ước, tập tục, dân chủ và dư luận xã hội Chỉ ra nhữngtương đồng, khác biệt, sự tác động qua lại với các lĩnh vực nói trên trong sự vận động

và phát triển của xã hội Trong mối quan hệ với dân chủ, tác giả cho rằng, pháp luậtchứa đựng nội dung dân chủ, là công cụ để nhân dân làm chủ và để xử lý các hành vi viphạm nền dân chủ xã hội Hệ thống pháp luật được xây dựng trên nguyên tắc dân chủ

sẽ là tiền đề, cơ sở cho việc tự giác thực hiện pháp luật của các tổ chức và cá nhân

Trong luận án tiến sĩ triết học Ý thức pháp luật với việc thực hiện dân chủ ở

nông thôn Việt Nam hiện nay [91] tác giả Lê Xuân Huy sau khi phân tích cấu trúc,

quan niệm về ý thức pháp luật, tác giả đi sâu phân tích phát huy vai trò ý thức phápluật trong việc thực hiện dân chủ ở nông thôn Việt Nam hiện nay, một số nguyênnhân chủ yếu của tình trạng ý thức pháp luật của công dân chưa đáp ứng được yêucầu thực hiện dân chủ ở nông thôn hiện nay và đưa ra một số giải pháp cơ bản nângcao vai trò của ý thức pháp luật của công dân nhằm thực hiện dân chủ ở nông thônViệt Nam hiện nay

Tác giả Đào Duy Tấn trong luận án tiến sĩ triết học Những đặc điểm của quá

trình hình thành ý thức pháp luật ở Việt Nam hiện nay [148], cho rằng, xã hội Việt

Nam, người dân quen với “lệ làng”, chưa quen sống theo phép nước Trong nhândân nói chung, trình độ hiểu biết pháp luật, thái độ tôn trọng, chấp hành pháp luậtcòn thấp, dẫn đến việc thực thi pháp luật từ hai phía còn nhiều vấn đề đặt ra Điều

đó cho thấy, ý thức công dân mà trọng tâm là ý thức pháp luật cần phải được nânglên, đáp ứng yêu cầu xây dựng xã hội mới

Tác giả Trần Quang Nhiếp trong bài viết Nâng cao hiệu quả giáo dục pháp luật

trên các phương tiện truyền thông đại chúng, góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa [123] cho rằng có bốn yếu tố và chúng đều đặc biệt quan trọng

như nhau để xây dựng một xã hội pháp quyền, đó là: (1) xây dựng hệ thống luật pháphoàn chỉnh, (2) hệ thống tổ chức bộ máy nhà nước từ Trung ương tới cơ sở vững chắc,(3) các cơ quan giám sát thi hành pháp luật nghiêm minh, và (4) trình độ văn hoá phápluật và ý thức của người dân đạt tới sự hiểu biết, tự giác cao Trong số các yếu tố trên,YTCD được tác giả đánh giá, xem xét dưới góc độ “nhân dân có hiểu biết và tự giácthực hiện pháp luật” mang tính quyết định việc xây dựng được hay

Trang 32

không một xã hội pháp quyền Vì ở trong xã hội ấy, “luật pháp cho dù có hoàn chỉnhđến mấy, nếu người dân cư tự do sống theo kiểu của mình không cần biết đến luậtpháp, thì không những xã hội không phát triển mà còn rất tồi tệ và bất ổn” Chính vìvậy, phải làm sao cho “pháp luật phải đi vào cuộc sống, nhân dân thấy cần pháp luậtnhư cần không khí để hít thở vậy” Nỗi trăn trở của tác giả Trần Quang Nhiếp đã

được các tác giả Nguyễn Minh Đoan, Nguyễn Minh Đức trong bài viết Luật để tạo

ra pháp luật [67], chi ra rằng, Việt Nam là một trong những nhà nước cố gắng ban

hành ra luật để tạo ra pháp luật Tuy nhiên, vai trò của nhân dân trong quá trình

ban hành pháp luật giai đoạn vừa qua là không nhiều, nhân dân chỉ được hỏi ý kiến

khi cơ quan nhà nước xét thấy cần thiết, chưa có cơ chế để nhân dân kiểm soát được

hoạt động ban hành pháp luật của các cơ quan nhà nước Điều đó cũng phản ánhhoặc là trình độ, khả năng tham gia xây dựng pháp luật của nhân dân còn hạn chế,hoặc do các cơ quan nhà nước chưa mạnh dạn ban hành cơ chế tạo điều kiện chonhân dân tham gia đóng góp, xây dựng pháp luật và thực hiện pháp luật

Ở một khía cạnh khác, các tác giả Phạm Hữu Nghị, Tô Văn Đồng trong bài

viết Về phát huy dân chủ, đấu tranh phòng, chống tham nhũng trong các dự thảo

văn kiện Đại hội XII của Đảng Cộng sản Việt Nam [120], đã nhận định rằng, dân

chủ cần được hiểu là dân chủ trong Đảng và dân chủ toàn xã hội, dân chủ ngaytrong các cộng đồng dân cư, dân chủ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Thếnhưng, có một thực tế phải thừa nhận là phần đông trong xã hội, từ cán bộ, đảngviên đến người lao động đều chưa thực sự biết sử dụng và phát huy quyền dân chủcủa mình Rõ ràng là, phát huy dân chủ để đấu tranh phòng, chống tham nhũng cũngchính là góp phần xây dựng nhà nước trong sạch, vững mạnh Có nghĩa là, tác giảcũng đã đề cập đến một nội dung thể hiện vai trò YTCD trong xây dựng NNPQ Vàgắn liền với yêu cầu phát huy dân chủ thì nhà nước phải thể hiện tính chủ động, tiên

phong, tác giả Đoàn Minh Huấn trong bài viết Vai trò của giám sát và phản biện xã

hội đối với việc xây dựng nhà nước pháp quyền [90], cho rằng:

Một nhà nước dân chủ là một nhà nước minh bạch Thiếu minh bạch,công khai của nhiều thể chế chính trị cũng là nguyên cớ cho các thế lựcthù địch bên ngoài “thọc gậy bánh xe”, xuyên tạc những vấn đề nội bộ

Trang 33

đất nước, mà bản thân quần chúng cũng không có điều kiện kiểm chứngđúng - sai, thật - giả Vì vậy, những thông tin minh bạch, chính thống từthể chế trong quá trình giám sát xã hội và phản biện xã hội có tác dụngcủng cố và nuôi dưỡng lòng tin của nhân dân [90].

Các công trình khoa học của các tác giả đi trước trên các phương diện khácnhau, với những đối tượng nghiên cứu khác nhau đã chỉ ra những tồn tại, bất cậptrong quá trình xây dựng NNPQ, xây dựng lối sống theo pháp luật Chẳng hạn, nói

về những yếu kém, hạn chế của YTPL của người dân chưa đáp ứng yêu cầu quản lýnhà nước, quản lý xã hội bằng pháp luật (Đề tài KHCN) Dưới góc độ mối quan hệgiữa YTPL với dân chủ, nhiều tác giả đã chỉ ra nguyên nhân của tình trạng YTPLcủa công dân chưa đáp ứng được yêu cầu thực hiện dân chủ ở nông thôn hiện nayhay chưa thực sự biết sử dụng và phát huy quyền dân chủ của mình (Lê Xuân Huy,Phạm Hữu Nghị, Tô Văn Đồng) Các tác giả khác đề cập tới vấn đề công dân cònnặng lòng với lệ làng, chưa quen với phép nước, thái độ tôn trọng pháp luật, chấphành pháp luật còn thấp, người dân sống tự do theo kiểu của mình mà không cầnbiết đến luật pháp (Đào Duy Tấn, Trần Quang Nhiếp) Ở một khía cạnh khác, cáctác giả nhận thấy chưa có sự tranh thủ ý kiến của nhân dân trong quá trình ban hànhcác văn bản QPPL hay quản lý xã hội, nguyên nhân bao gồm từ phía nhà nước và từphía công dân, chưa có sự minh bạch, công khai từ phía nhà nước (Nguyễn MinhĐoan, Nguyễn Minh Đức, Đoàn Minh Huấn), Những công trình nêu trên đã đềcập tới YTCD, trách nhiệm công dân ở những khía cạnh khác nhau trong xây dựngNNPQ, xây dựng xã hội văn minh, nhưng tựu chung lại, sự tác động của YTCD đốivới việc xây dựng NNPQ thì mạnh mẽ nhất, trực tiếp nhất, quan trọng nhất là thôngqua pháp luật, xây dựng và thực hành pháp luật

1.3 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT HUY VAI TRÒ Ý THỨC CÔNG DÂN TRONG XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Các học giả, các nhà khoa học trên cơ sở nghiên cứu và cách tiếp cận củamình với mong muốn xây dựng NNPQ mà ở đó nhân dân là người chủ thực sự,quyền lực nhà nước phục vụ lợi ích của nhân dân một cách tối đa, pháp luật đượctôn trọng tuyệt đối Những kiến giải ở mỗi phương diện khác nhau, cách thức đề cập

Trang 34

khác nhau ít nhiều phản ánh mối quan hệ và vai trò tác động của YTCD đối với quá trình xây dựng NNPQ.

Trong cuốn sách Chủ nghĩa lập hiến hiện đại ở Việt Nam: Những thành tựu

và các vấn đề đang đặt ra trong Hiến pháp: Những vấn đề lý luận và thực tiễn

[184] tác giả Đào Trí Úc cho rằng, hướng về cơ sở, phát huy vai trò của người dântham gia trực tiếp vào công việc của chính quyền và bảo đảm sự can dự của họ vàohoạt động quản lý của các cơ quan chính quyền cũng chính là bài học dân chủ ởViệt Nam trong quá trình đổi mới” Điều đó đòi hỏi trình độ dân trí phải cao, ý thứctrách nhiệm của công dân phải mạnh mẽ thì việc tham gia trực tiếp vào công việccủa chính quyền mới có hiệu quả thực sự và qua đó dân chủ mới được thực thi

Tác giả Trần Thành trong cuốn sách Vấn đề dân chủ và dân chủ hoá đời

sống xã hội - lịch sử và hiện đại [153] cho rằng, “Trong điều kiện hiện nay, tuy dân

chủ trực tiếp chưa phải là phương thức chủ yếu, nhưng thiếu nó quyền lực của nhândân sẽ không được thực hiện đầy đủ, thiếu nó sẽ không có “mối liên hệ ngược”,thiếu sự giám sát, phản biện xã hội của nhân dân đối với Nhà nước thì sớm muộnNhà nước cũng sẽ xa rời nhân dân” [153, tr.86], và “Một xã hội dân chủ là một xãhội không bỏ sót bất cứ một tổ chức, cá nhân nào có khả năng đóng góp vào côngviệc chung, đồng thời có sự phát triển cho bản thân mình” [153, tr.90]

Trong cuốn sách Hình thức nhà nước và vấn đề xây dựng nhà nước pháp

quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam [150], tác giả Mai Thị Thanh đã đề cập xuyên suốt

vấn đề NNPQ trong lịch sử và tính tất yếu, tính đặc thù trong việc xây dựng NNPQXHCN Việt Nam Bên cạnh đó, khi đề cập tới một số phương hướng chủ yếu xâydựng NNPQ XHCN ở nước ta trong thời gian tới, trong đó đã nhấn mạnh phải pháthuy vai trò làm chủ của nhân dân đối với nhà nước Sự tham gia quản lý nhà nước,giám sát các công việc của nhà nước của nhân dân sẽ chỉ làm cho “sức mạnh củanhà nước được nhân lên gấp bội” [150, tr.218] tác giả nhấn mạnh tới vai trò củamặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội, nghề nghiệp như là

“cầu nối giữa công dân, các tầng lớp quần chúng nhân dân với chính quyền”, là

“những hình thức, phương tiện để nhân dân thực hiện quyền dân chủ, quyền làmchủ nhà nước của mình” [150, tr.222-223] và “là môi trường để nâng cao trình độdân trí, ý thức, năng lực và đòi hỏi dân chủ của nhân dân” [150, tr.224]

Trang 35

Trong bài viết Nhà nước pháp quyền, xã hội dân sự với vấn đề quyền và

nghĩa vụ công dân [161], tác giả Phạm Thị Ngọc Trầm cho rằng:

vì nhà nước pháp quyền được xây dựng trên cơ sở dân chủ, theo nhữngnguyên tắc dân chủ, nên chỉ khi, mỗi công dân ý thức được một cáchđầy đủ chủ quyền của mình, ý thức được một cách rõ ràng sự bình đẳng

về mặt pháp luật giữa các cá nhân trong cộng đồng; đồng thời, có khảnăng tự khẳng định “cái Tôi” của nhân cách để làm chủ bản thân mình.Nói cách khác, khi đó, mỗi người mới nhận thức được đầy đủ sự cânbằng giữa quyền và nghĩa vụ đối với nhà nước, đối với xã hội và đối vớibản thân mình Do vậy, việc xây dựng và phát triển Nhà nước phápquyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân gắn liền với việc xâydựng và phát triển xã hội dân chủ [161, tr.7]

Trong bài viết Một số giải pháp thực hành dân chủ trong điều kiện xây dựng

nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay [35], tác giả Nguyễn

Trọng Chuẩn đã đưa ra bốn giải pháp thực hành dân chủ, trong đó khẳng định chỉ cóNNPQ mới có khả năng và mới có đầy đủ quyền hạn trên cơ sở luật pháp dân chủ

để bảo đảm chắc chắn, mạnh mẽ và cơ bản cho sự thực thi dân chủ trong xã hội, chocác quyền dân chủ mà mỗi công dân của xã hội đó đáng được hưởng

Tác giả Hoàng Chí Bảo trong bài viết Thực hiện dân chủ và phát huy quyền

làm chủ của nhân dân trong đổi mới và hội nhập quốc tế ở Việt Nam [8] cho rằng,

“Để biểu thị tư cách và thực hiện quyền năng của mình, từ những cá nhân công dânđến cộng đồng dân cư đều đòi hỏi, đồng thời cũng chủ động xây dựng nhà nước của

mình là nhà nước pháp quyền và xã hội là xã hội dân chủ với chính thể dân chủ và

đời sống xã hội phải thực sự là một môi trường xã hội dân chủ”

Bài viết Xây dựng nhà nước pháp quyền, phát huy dân chủ trực tiếp cho

nhân dân, nâng cao phản biện xã hội theo quy định của Hiến pháp 2013 [80], tác

giả Võ Trí Hảo đã đưa ra thuật ngữ “nhà nước pháp chế” để so sánh với “nhà nướcpháp quyền” và cho rằng, trong nhà nước pháp chế chỉ đặt ra một chiều nhà nước -công dân và đòi hỏi công dân phải tuân thủ pháp luật, nhà nước pháp chế sử dụngpháp luật như một công cụ để quản lý xã hội, thay cho “đức trị” của thời kỳ phongkiến hay quản lý theo kiểu “đầu đội chính sách, vai mang chủ trương, tay cầm

Trang 36

phương châm” của thời kỳ bao cấp Khác với điều đó, NNPQ theo Hiến pháp năm

2013 là “Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật” Tácgiả cũng đánh giá rằng, tài phán hiến pháp chính là vương miện của NNPQ, là hiệnthân của tư tưởng nhà nước phải đặt mình dưới luật, vì đằng sau hiến pháp và luậtpháp nói chung là ý chí của nhân dân Luật pháp cũng như nhà nước trong NNPQ là

để phục vụ dân, mang lại sự công bằng và hợp lý cho người dân, cao hơn nữa làmang lại hạnh phúc cho nhân dân chứ không phải cai trị, nô dịch nhân dân

Trong bài viết Tư tưởng thượng tôn pháp luật trong văn hoá chính trị Việt

Nam hiện nay [74] tác giả Nguyễn Ngọc Hà đã đánh giá “tư tưởng thượng tôn pháp

luật là giá trị của văn hoá chính trị hiện đại”, nó “gắn liền với tư tưởng dân chủ”.Bên cạnh việc nêu lên thực trạng vi phạm pháp luật (tức là không có tư tưởngthượng tôn pháp luật) và nguyên nhân như: hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện, tìnhtrạng tuyệt đối hoá vai trò của đạo đức, tình trạng Đảng làm thay Nhà nước còn tồntại, trình độ hiểu biết pháp luật của một số người dân chưa cao, tác giả đã đề ra một

số giải pháp tương ứng nhằm phát huy tư tưởng thượng tôn pháp luật trong điềukiện phát kinh tế thị trường, xây dựng NNPQ XHCN và hội nhập quốc tế Đây làđiều vô cùng cần thiết và có ý nghĩa quan trọng

Tác giả Cao Thu Hằng trong bài Tăng cường đồng thuận xã hội ở Việt Nam

hiện nay [77] đã chỉ ra ba biện pháp thích hợp để tạo ra những nhân tố củng cố đồng

thuận xã hội trong giai đoạn hiện nay ở nước ta gồm: Một là, đảm bảo hài hoà lợiích của các thành viên trong xã hội - có nghĩa là vấn đề lợi ích sẽ được giải quyếtchỉ khi mỗi người, mỗi cộng đồng, tổ chức nhận thức rõ vai trò của mình trong xãhội cũng như vai trò của xã hội đối với bản thân, thấy được ý nghĩa cuộc sống,quyết tâm đấu tranh chống lại cái ác, cái xấu; bảo vệ những giá trị tốt đẹp của xãhội, của đất nước; đoàn kết, khoan dung, chấp nhận sự khác biệt; công bằng xã hộiđược thực hiện; pháp luật được thực hiện nghiêm minh, vấn đề dân sinh được coitrọng Hai là, thực hiện dân chủ, sẽ huy động được một lực lượng đông đảo nhândân tham gia vào các công việc của Nhà nước, xã hội, góp phần xây dựng đất nước

Ba là, tăng cường đối thoại xã hội để tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau, để mọingười được tự do bày tỏ ý kiến của mình, nâng cao trình độ dân trí, quyền đượcthông tin của người dân được coi trọng, mở rộng các diễn đàn, các kênh đối thoại

Trang 37

Trong bài viết Cơ chế nhân dân kiểm soát quyền lực nhà nước ở một số nước

và những giá trị tham khảo cho Việt Nam [2], tác giả Nguyễn Quang Anh đã nêu ra

cơ chế nhân dân kiểm soát quyền lực nhà nước ở các nước phát triển như Mỹ, Anh,Nhật, Pháp, Nga, các nước Bắc Âu, đưa ra những so sánh về mức độ tham gia kiểmsoát quyền lực nhà nước của công dân, thể hiện tính trách nhiệm công dân cao trong

xã hội Từ đó, tác giả đưa ra năm bài học và khuyến nghị cho Việt Nam, trong đónổi bật lên vai trò, trách nhiệm và năng lực của công dân khi trực tiếp lựa chọn đượcngười xứng đáng thực thi quyền lực nhà nước

Các tác giả Đỗ Hương Giang, Phan Thị Thuỳ Trâm trong bài viết Về vai trò

của các tổ chức chính trị - xã hội trong việc thực hiện dân chủ cơ sở (qua khảo sát tại vùng nông thôn Nam Bộ [72], cho rằng, để khắc phục được tình trạng sức ỳ còn

nặng nề, lối suy nghĩ tiểu nông vẫn còn hiện hữu ở nhiều địa phương khu vực Nam

Bộ thì một trong các giải pháp đó là để nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mìnhtrên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội - chính trị mà trước tiên là nâng cao nhận thứccủa nhân dân về thực hiện dân chủ, làm cho hiểu rõ người dân là người trực tiếpthực hiện, trực tiếp hưởng lợi, được thông tin đầy đủ, được bàn bạc công khai, dânchủ, người dân sẽ nâng cao ý thức trách nhiệm, tích cực tham gia vào các hoạt độngsản xuất, hoạt động văn hoá, giáo dục, y tế

Báo cáo của UNESCO (1998) “Giáo dục công dân cho thế kỷ XXI”

(Citizenship Education for the 21st Century) [174] cũng nêu lên ba mục tiêu chính của giáo dục công dân: Một là, giáo dục công dân về quyền công dân và quyền con

người thông qua sự hiểu biết về các nguyên tắc và thể chế (quản trị địa phương hay

quản trị quốc gia); hai là, học tập để thực hành một đánh giá nào đó và năng lực phản biện, năng lực phê phán; ba là, giáo dục công dân nhằm đạt được ý thức cá

nhân và trách nhiệm cộng đồng Xuất phát từ ba mục tiêu này, Báo cáo đề xuất bốn

chủ đề chính cho giáo dục công dân, bao gồm: thứ nhất, mối quan hệ giữa cá nhân

và xã hội, giữa cá nhân và tập thể và từ chối bất cứ sự phân biệt đối xử nào; thứ hai,

mối quan hệ giữa công dân và chính phủ, gồm những gì liên quan tới dân chủ và tổ

chức nhà nước; thứ ba, mối quan hệ giữa công dân và đời sống dân chủ; thứ tư,

trách nhiệm của cá nhân và công dân trong cộng đồng quốc tế Báo cáo củaUNESCO không nêu trực tiếp việc giáo dục công dân nhằm tới xây dựng NNPQ,

Trang 38

nhưng về nội dung đề xuất lại tương đồng với các giải pháp nhằm phát huy mạnh

mẽ vai trò trách nhiệm, ý thức của công dân trong việc thực thi dân chủ và quản trịquốc gia, quản trị toàn cầu

Tác giả Nguyễn Tuế trong bài viết Cần bồi dưỡng ý thức công dân và trách

nhiệm cộng đồng cho thế hệ trẻ [170] thông qua phân tích và so sánh thực trạng có

chiều hướng tiêu cực về YTCD ở một bộ phận giới trẻ các nước như Trung Quốc,Nga, Mỹ như sống không có phương hướng, không có lý tưởng, thông minh, năngđộng nhưng hời hợt, thiếu trưởng thành về cảm xúc, tự tin nhưng ích kỷ, ít quan tâmđến người khác, ý thức cộng đồng, tình cảm công dân còn mờ nhạt Từ đó, tác giả

đề nghị coi bồi dưỡng YTCD phải là “điều quan tâm đặc biệt” gắn với việc nângcao sự nhận thức về bản sắc quốc gia, tư duy và hành vi, hành động cá nhân gắn vớitrách nhiệm cộng đồng, xã hội, Tổ quốc

Các công trình khoa học đều nêu ra phương hướng chung cũng như một sốgiải pháp cơ bản nhằm phát huy vai trò công dân, YTCD (trên các phương diệnkhác nhau) trong tiến trình xây dựng NNPQ và phát triển đất nước Chẳng hạn, yêucầu một sự phát triển đồng bộ, toàn diện từ thể chất tới đạo đức, pháp luật và tráchnhiệm công dân để phát triển con người toàn diện hay đề xuất gia tăng sự can dựtrực tiếp của công dân vào công việc của chính quyền, phát huy dân chủ trực tiếp ở

cơ sở (Nguyễn Trọng Chuẩn, Đào Trí Úc, Trần Thành, Đỗ Hương Giang, Phan ThịThuỳ Trâm, Nguyễn Quang Anh); việc bảo vệ Hiến pháp có ảnh hưởng quan trọngtới YTCD (Võ Trí Hảo) hay sự đồng thuận xã hội trong nhân dân để cùng nhau pháttriển kinh tế, để chống lại cái ác, giữ gìn kỷ cương xã hội và để phát huy dân chủ,công bằng xã hội, giáo dục dân chủ, giáo dục quyền con người với ý thức tráchnhiệm công dân (Phạm Thị Ngọc Trầm, Hoàng Chí Bảo, Cao Thu Hằng); và nhấnmạnh tới giáo dục YTCD cho thế hệ trẻ (Nguyễn Tuế) Nhìn chung, tuy nhiều côngtrình nghiên cứu về ý thức pháp luật, trách nhiệm công dân, đạo đức công dân gắnvới xây dựng NNPQ trên nhiều bình diện, nhiều góc độ khác nhau nhưng nghiêncứu sâu và hệ thống vấn đề mối quan hệ và tác động của YTCD trong quá trình xâydựng NNPQ XHCN thì chưa có hoặc chưa rõ ràng Do đó, tác giả xin chọn vấn đềnày làm đề tài nghiên cứu của mình

Trang 39

1.4 NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA CẦN TIẾP TỤC NGHIÊN CỨU VÀ LÀM SÁNG TỎ THÊM

1.4.1 Một số vấn đề lý luận về vai trò tác động của ý thức công dân trong xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Mặc dù các công trình nghiên cứu trong nước và nước ngoài đã đề cập ítnhiều đến vấn đề YTCD từ các cách tiếp cận khác nhau với mục đích đề cao nộidung của chiều cạnh ấy Trên các phương tiện thông tin truyền thông, thuật ngữYTCD được sử dụng để chỉ các hành vi, hành động của các cá nhân công dân trongđời sống xã hội tuy có hơi hướng phê phán những ứng xử tiêu cực, chẳng hạn nhưkhông xếp hàng nơi công cộng, vi phạm luật lệ giao thông, v.v Và nó dường nhưđối lập với xu thế vận động, phát triển của đất nước hướng tới một xã hội văn minh,tiến bộ Thuật ngữ này chính thức được sử dụng trong Văn kiện Đại hội lần thứ XIIcủa Đảng Cộng sản Việt Nam trong nội dung phát triển văn hoá, xây dựng conngười mới XHCN và nhiều lần được nhắc lại bằng các thuật ngữ tương đương như

“nghĩa vụ công dân”, “trách nhiệm công dân” với hàm ý đề cao vai trò của nó trongxây dựng nhà nước, phát triển xã hội Tuy nhiên, diễn đạt một cách đầy đủ nội hàmcủa YTCD và đặt nó trong mối quan hệ tác động qua lại với quá trình xây dựngNNPQ XHCN Việt Nam thì chưa nhiều tác giả đi sâu Chính vì vậy, nhiệm vụ củaluận án là góp phần làm rõ hơn thuật ngữ YTCD và chỉ ra vai trò của YTCD tới quátrình xây dựng NNPQ trong giai đoạn hiện nay Theo đó, sự phát huy mạnh mẽ ýthức trách nhiệm của công dân trong quản trị quốc gia, phát triển xã hội sẽ tác độngmạnh mẽ tới tiến trình xây dựng NNPQ Ngược lại, khi NNPQ phát triển ngày cànghoàn thiện về thể chế, bộ máy nhà nước hoạt động hiệu lực, hiệu quả hướng vềngười dân, về đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức vận hành chuyên nghiệp, tậntâm, trách nhiệm cũng sẽ khuyến khích công dân ngày càng tích cực phát huy vaitrò của mình trong xu thế dân chủ hoá và tiến bộ xã hội

1.4.2 Thực trạng vai trò của ý thức công dân trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hiện nay và một số vấn đề đặt ra

Thông qua chắt lọc thông tin, những cứ liệu khoa học và nghiên cứu của cánhân, tổ chức, luận án cố gắng hệ thống hoá thực trạng phát huy vai trò của YTCD

Trang 40

Mặc dù YTCD có thể tác động hoặc tồn tại trong nhiều mối quan hệ khác nhau,nhưng ở phạm vi luận án, nghiên cứu sinh tập trung làm rõ biểu hiện của YTCDtrong từng nhiệm vụ, nội dung xây dựng NNPQ chẳng hạn như: YTCD trong việctham gia xây dựng, hoàn thiện tổ chức bộ máy nhà nước; YTCD trong việc tham giaxây dựng hoàn thiện hệ thống pháp luật và YTCD trong việc tham gia kiểm tra,giám sát việc thực thi công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong hệthống cơ quan nhà nước và phát huy dân chủ Qua đó, nhận diện những vấn đề cònbất cập, tồn tại là những lực cản để phát huy vai trò của YTCD trong xây dựngNNPQ XHCN Việt Nam Cụ thể là: Năng lực nhận thức và thực hành dân chủ củacông dân; Về hệ thống quy định pháp luật như là công cụ quan trọng nhất để giúpcho YTCD được biểu đạt rõ nhất và phát huy vai trò của nó; Về những hạn chếtrong hoạt động của bộ máy nhà nước, vận hành những thiết chế dân chủ để pháthuy vai trò của YTCD Như vậy, tìm hiểu mối quan hệ tác động qua lại giữa YTCDvới việc xây dựng NNPQ XHCN của dân, do dân, vì dân thực sự là vấn đề vừamang tính học thuật và vừa mang tính thời sự.

1.4.3 Một số giải pháp phát huy vai trò ý thức công dân trong xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay

Từ lý luận về YTCD, đặc điểm và vai trò của YTCD trong việc xây dựngNNPQ XHCN, từ những thực trạng tác động của YTCD đến xây dựng NNPQXHCN, luận án đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy vai trò YTCD trong (phục

vụ cho) xây dựng NNPQ XHCN Việt Nam hiện nay Tác giả luận án hiểu rằng, khótránh khỏi có những giải pháp trùng lặp, đã được nhiều nhà khoa học đề cập trênnhững phương diện khác nhau Ở phạm vi mối quan hệ giữa YTCD với quá trìnhxây dựng NNPQ XHCN mà luận án đề cập, với bốn nhóm giải pháp cơ bản, hyvọng sẽ góp thêm tiếng nói mới, giải pháp mới bổ sung cho việc phát huy vai tròcủa YTCD nói chung đối với sự phát triển xã hội và mục tiêu xây dựng NNPQXHCN Việt Nam nói riêng

Ngày đăng: 09/10/2019, 13:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w