1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tranh khắc gỗ tại thành phố hồ chí minh từ năm 1986 đến năm 2015

230 92 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 230
Dung lượng 11,89 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thứ ba, yếu tố đội ngũ họa sĩ sau 10 năm giải phóng 1985 được tăng cường ở Thành phố Hồ Chí Minh, gồm 3 nhóm: các họa sĩtại chỗ có từ trước năm 1975, các họa sĩ từ chiến khu cách mạng về

Trang 2

-Đoàn Minh Ngọc

TRANH KHẮC GỖ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ

MINH TỪ NĂM 1986 ĐẾN NĂM 2015

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGHỆ THUẬT

Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử mỹ thuật

Mã số: 9210101

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

GS.TS Nguyễn Xuân Tiên

Hà Nội – 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan: Luận án tiến sĩ đề tài Tranh khắc gỗ tại Thành phố

Hồ Chí Minh từ năm 1986 đến năm 2015 là công trình nghiên cứu của riêng

tôi Các trích dẫn, số liệu, hình ảnh minh họa, ý kiến và nhận định khoa họccủa những tác giả khác nêu trong luận án là trung thực và có xuất xứ rõ ràng

Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan này

Hà Nội, ngày 10 tháng 4 năm 2019

Tác giả luận án

Đoàn Minh Ngọc

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

LỜI CAM ĐOAN i

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT iii

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN - THỰC TIỄN 9

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 9

1.2 Cơ sở lý thuyết và lý luận 25

1.3 Sự hình thành và phát triển nghệ thuật tranh khắc gỗ tại Thành phố Hồ Chí Minh 35

Tiểu kết 55

Chương 2: CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG VÀ KHUYNH HƯỚNG SÁNG TÁC NGHỆ THUẬT TRANH KHẮC GỖ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH GIAI ĐOẠN 1986-2015 57

2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến nghệ thuật tranh khắc gỗ Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 1986-2015 57

2.2 Các khuynh hướng sáng tác nghệ thuật tranh khắc gỗ Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 1986-2015 83

Tiểu kết 110

Chương 3: MỘT SỐ ĐẶC TRƯNG VÀ ĐÓNG GÓP NGHỆ THUẬT CỦA TRANH KHẮC GỖ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH GIAI ĐOẠN 1986-2015 113

3.1 Đặc trưng nghệ thuật của tranh khắc gỗ Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 1986-2015 113

3.2 Những đóng góp về mặt nghệ thuật của tranh khắc gỗ Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 1986-2015 135

Tiểu kết 152

KẾT LUẬN 155

DANH MỤC CÔNG TRÌNH TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ 158

TÀI LIỆU THAM KHẢO 159

PHỤ LỤC 172

Trang 5

CLB : Câu lạc bộ

CNC : Computer Numerical Control

GS.TS : Giáo sư Tiến sĩ

L’EFEO : L’École Française d’Extrême Orient

LATS : Luận án Tiến sĩ

MDF : Medium Densit Fiberboard

NCS : Nghiên cứu sinh

UBND : Ủy ban nhân dân

VHNT : Văn hóa Nghệ thuật

VHTTDL: Văn hóa Thể thao Du lịch

XHCN : Xã hội chủ nghĩa

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Sài Gòn - Gia Định xưa và Thành phố Hồ Chí Minh ngày nay là mộttrung tâm kinh tế, văn hóa và chính trị của phía Nam, đồng thời cũng là trungtâm của nhiều loại hình nghệ thuật Trong đó hoạt động mỹ thuật được nhiềunhà nghiên cứu nhận định có vai trò không nhỏ trong xu hướng hình thành vàphát triển văn học nghệ thuật của vùng đất Nam Bộ nói chung và Thành phố

Hồ Chí Minh nói riêng

Với sự ra đời của Trường Vẽ Gia Định được thành lập năm 1913 (nay

là Trường Đại học Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh), trường Mỹ nghệ BiênHòa thành lập năm 1903 (nay là trường Cao đẳng Mỹ thuật Trang trí ĐồngNai), hoạt động sáng tạo mỹ thuật đã khởi nguồn phát triển cho tới ngày hômnay Đáng chú ý là từ sau năm 1975 sự ảnh hưởng của trường Đại học Mỹthuật Hà Nội đến các trường phía Nam đã hình thành các nội dung đào tạo,hoặc nghiên cứu về mỹ thuật dân tộc, trong đó có tranh khắc gỗ được pháttriển sâu rộng trong giới sáng tác và thị trường tiêu thụ

Trong các khuynh hướng sáng tác, cũng như chất liệu mới của mỹ thuậtđương đại Việt Nam, người ta thấy rất rõ mảng tranh khắc gỗ có những đặctrưng riêng bởi sự gắn liền với nghệ thuật khắc gỗ dân gian từ lâu đời Tuytrong bối cảnh mới thời hiện đại, nhiều sự cách tân của họa sĩ khi biểu đạt thếgiới tự nhiên và xã hội con người thông qua hình tượng và ngôn ngữ mỹ thuật

so với thời trước, thì tranh khắc gỗ Việt Nam lại luôn thể hiện một giá trịmang tính ổn định với mạch nguồn văn hóa dân tộc rất sâu đậm trong mỗi tácphẩm

Mặt khác, cũng cần ghi nhận tranh khắc gỗ Thành phố Hồ Chí Minhgiai đoạn 1986-2015 đã có nhiều sáng tạo, thử nghiệm, tìm kiếm những đổimới về mặt kỹ thuật cũng như hình thức thể hiện Đó là một quá trình tất yếu,

Trang 7

bởi mỹ thuật cũng là một thành tố văn hóa, chịu sự tác động nhất định từ thựctiễn xã hội, đồng thời mỹ thuật cũng là một sự tương tác, phản ánh thực tiễnsôi động từ xã hội theo một đường hướng đặc trưng riêng

NCS cho rằng có 4 yếu tố căn bản đã tác động tích cực đến sự đổi mới,phát triển và từng bước tạo lập những giá trị đặc trưng của mỹ thuật nói chung

và tranh khắc gỗ ở Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng Thứ nhất, vấn đề địavăn hóa của Thành phố Hồ Chí Minh, vốn là một trung tâm kinh tế, văn hóalớn có sức thu hút đặc biệt đối với các nhà khoa học, nhà đầu tư cũng như cácvăn nghệ sĩ cả nước và nước ngoài; Thứ hai, những tác động từ nhận thức vàthực tiễn xã hội từ sự đổi mới đất nước theo Nghị quyết đại hội TW VI, khóa

6, năm 1986 Thứ ba, yếu tố đội ngũ họa sĩ sau 10 năm giải phóng 1985) được tăng cường ở Thành phố Hồ Chí Minh, gồm 3 nhóm: các họa sĩtại chỗ có từ trước năm 1975, các họa sĩ từ chiến khu cách mạng về thànhphố, các họa sĩ từ miền Bắc vào sinh sống và sáng tác, nhóm họa sĩ trẻ đượcđào tạo sau 1975 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Thứ tư, đó là quy luật đổi mớikhông ngừng của mỹ thuật, một loại hình văn hóa trực quan, lấy cái “ngoạidiện của hình thức biểu đạt” để diễn đạt cái “chủ quan của tác giả” phản ánhcác đặc tính của thời gian và không gian xã hội của tác giả - tác phẩm

(1975-NCS cho rằng tranh khắc gỗ Thành phố Hồ Chí Minh vừa phản ánh sựkết nối truyền thống tranh khắc gỗ dân gian Việt Nam, vừa kế tục những giátrị của tranh khắc gỗ hiện đại, lại có những sắc thái riêng, từng bước định hìnhnhững đặc trưng của tranh khắc gỗ Thành phố Hồ Chí Minh Đã có nhiềucông trình nghiên cứu về tranh khắc gỗ Việt Nam, sách tranh vựng tập khắc

gỗ, tranh dân gian Đông Hồ, Hàng Trống, Kim Hoàng Nhiều bài viết liênquan đến tác giả, tác phẩm thể loại tranh khắc gỗ đương đại Nhiều triển lãm

mỹ thuật có mảng trưng bày tranh khắc gỗ, nhiều tác giả được giải thưởng làtranh khắc gỗ Mặc dù vậy, ở Việt Nam hiện nay vẫn có ít họa sĩ chuyên sángtác tranh khắc gỗ, như nhận xét của họa sĩ Đức Hòa: “Tiếp sau các họa sĩ từ

Trang 8

thời Trường Mỹ thuật Đông Dương như: Vũ Duy Nghĩa, Phùng Phẩm,Nguyệt Nga, Trần Nguyên Đán, Đỗ Đức… Đến cuối thế kỷ XX- đầu thế kỷXXI là Mai Anh, Lưu Thế Hân, Đức Hòa, Nguyễn Văn Cường, Lê Quốc Việt,

Vũ Bạch Liên, Tố Uyên, Thành Công” Phần lớn các họa sĩ khác chỉ dành mộtthời gian nhất định cho loại tranh này Nhiều trường mỹ thuật hiện nay chưathành lập một chuyên ngành đào tạo cho chất liệu khắc gỗ, như các chất liệusơn dầu, sơn mài, mà chỉ dành cho tranh khắc gỗ như một học phần chất liệutrong ngành đồ họa

NCS nhận thấy chưa có một công trình nghiên cứu chuyên sâu về tranhkhắc gỗ Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 1986-2015 Là một người hoạtđộng sáng tác mỹ thuật ở Thành phố Hồ Chí Minh, NCS có những mongmuốn nghiên cứu tìm căn cứ khoa học, giải đáp cho các vấn đề nêu trên NCS

lựa chọn đề tài nghiên cứu Tranh khắc gỗ tại Thành phố Hồ Chí Minh từ

năm 1986 đến năm 2015 làm luận án tiến sĩ chuyên ngành Lý luận và Lịch sử

Mỹ thuật Hy vọng có thể đóng góp một phần nhất định cho công tác lý luận,giáo dục và phát triển mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh, cũng như cho mỹthuật Việt Nam

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu

Nhận diện về những diễn biến cơ bản của tranh khắc gỗ Thành phố Hồ Chí Minh Qua đó tìm hiểu những yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển và chất lượng nghệ thuật của tranh khắc gỗ tại Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 1986-2015.

Khẳng định một số khuynh hướng sáng tác chủ yếu, tìm ra nét đặctrưng và giá trị nghệ thuật của tranh khắc gỗ Thành phố Hồ Chí Minh trongnền mỹ thuật Việt Nam hiện đại

Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nhận diện một cách cụ thể về cơ sở lý luận, thực tiễn đối với sự hình thành và phát triển tranh khắc gỗ tại Thành phố Hồ Chí Minh;

Trang 9

- Phân tích những yếu tố địa lý, văn hóa, bối cảnh kinh tế, chính trị, xãhội và chủ thể sáng tạo đã tác động đến sự đổi mới, phát triển của tranh khắc

gỗ tại Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 1986-2015;

- Phân tích một số khuynh hướng sáng tác chủ yếu của thể loại tranhkhắc gỗ tại Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 1986-2015, như: Bảo lưu

truyền thống - Cách tân - Trang trí - Hiện thực, từ đó chỉ ra những nét đặc trưng riêng

- Phân tích những đóng góp về mặt nghệ thuật của tranh khắc gỗ Thànhphố Hồ Chí Minh giai đoạn 1986-2015, đối với chuyên ngành đồ họa, mỹthuật khu vực Thành phố Hồ Chí Minh, Nam Bộ và với nền mỹ thuật Việt Nam hiện đại

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu tổng quát: Môi trường sáng tác, tác phẩm, tác giảthể loại tranh khắc gỗ tại Thành phố Hồ Chí Minh

Đối tượng nghiên cứu trọng tâm: Ngôn ngữ thể hiện trên các nhómtranh khắc gỗ của các nhóm tác giả, tác phẩm tranh khắc gỗ tiêu biểu tạiThành phố Hồ Chí Minh từ 1986-2015

Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi không gian nghiên cứu: Nghệ thuật tranh khắc gỗ tại Thànhphố Hồ Chí Minh thông qua một số tác giả, tác phẩm tiêu biểu trong các triểnlãm báo cáo trại sáng tác và sáng tác mới, triển lãm mỹ thuật khu vực, triểnlãm mỹ thuật toàn quốc

Phạm vi thời gian nghiên cứu: Từ năm 1986 đến năm 2015

4 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu

4.1 Câu hỏi nghiên cứu

Các câu hỏi NCS đưa ra để dẫn dắt, hình thành giả thuyết nghiên cứu là:

Trang 10

- Những yếu tố về địa lý, văn hóa, kinh tế, xã hội có tác động đến loạihình tranh khắc gỗ tại Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 1986-2015

như thế nào?

- Tranh khắc gỗ Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 1986-2015 cónhững khuynh hướng sáng tác nào tiêu biểu? Có một phong cách hay dòngtranh khắc gỗ Thành phố Hồ Chí Minh không?

- Đặc trưng riêng và giá trị nghệ thuật trong tranh khắc gỗ tại Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 1986-2015 là gì?

- Tranh khắc gỗ tại Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 1986-2015, cónhững đóng góp về mặt nghệ thuật đối với chuyên ngành Đồ họa, mỹ thuậtkhu vực Thành phố Hồ Chí Minh, Nam Bộ và với nền mỹ thuật Việt Namhiện đại như thế nào?

4.2 Giả thuyết nghiên cứu

Giả thuyết 1: Tranh khắc gỗ là một thành tố của văn hóa, tuân theo các

quy luật tương tác của văn hóa và thực tiễn xã hội Tranh khắc gỗ Thành phố

Hồ Chí Minh giai đoạn 1986-2015 không thể không chịu những tác độngmang tính thời sự của sự đổi mới toàn diện kinh tế xã hội đất nước theo Nghịquyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (năm 1986) Mặt nữa,vấn đề địa văn hóa, địa kinh tế trong nghiên cứu tranh khắc gỗ Thành phố HồChí Minh giai đoạn 1986-2015 không thể không quan tâm đến những ảnhhưởng từ những xung lực, chi phối nhất định từ số lượng và chất lượng họa sĩ,

đó là tính chất đa dạng về lứa tuổi, dân tộc, đặc điểm cá nhân của các nhómtác giả hội tụ từ nhiều nguồn khác nhau sau: họa sĩ tại chỗ trước 1975, họa sĩ

từ chiến khu, họa sĩ từ miền Bắc vào, họa sĩ trẻ đào tạo sau 1975…

Giả thuyết này gợi mở để NCS phân tích về tác giả, tác phẩm tiêu biểucủa mỗi khuynh hướng sáng tác thường có những đặc trưng riêng trong lựachọn chủ đề, cách thức bố cục, lựa chọn giải pháp kỹ thuật khắc, in và cuốicùng là đặc trưng biểu đạt của tác phẩm ở mỗi nhóm

Trang 11

Giả thuyết 2: Nghiên cứu tranh khắc gỗ tại Thành phố Hồ Chí Minh

giai đoạn 1986-2015, trước hết là nghiên cứu một thể loại tranh có xuất xứ lâuđời gắn liền với các dòng tranh dân gian nổi tiếng của Việt Nam Tiếp theo lànghiên cứu một thể loại tranh trong mỹ thuật Việt Nam đương đại

Giả thuyết này làm sáng tỏ vấn đề tranh khắc gỗ Thành phố Hồ ChíMinh hàm chứa chung các giá trị tiêu biểu của mỹ thuật đương đại là: tính dântộc, tính thời đại, tính quốc tế, tính cách tân trong bố cục (thông qua ngôn ngữnghệ thuật, và vấn đề chất liệu, kỹ thuật in và hình tượng biểu đạt…) Nhằmphân tích một số khuynh hướng sáng tác chủ yếu của thể loại tranh khắc gỗ tạiThanh phố Hồ Chí Minh giai đoạn 1986-2015, như: Bảo lưu truyền thống -Cách tân - Trang trí - Hiện thực, từ đó chỉ ra những nét đặc trưng riêng

Giả thuyết 3: Tranh khắc gỗ Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn

1986-2015 đã từng bước hình thành sắc thái đặc trưng riêng, giá trị nghệ thuật nhấtđịnh, đóng góp cho chuyên ngành đồ họa, khu vực Nam Bộ và sự đa dạng của

mỹ thuật Việt Nam đương đại

Giả thuyết trên được NCS triển khai bằng nghiên cứu, chứng minh, dẫn

dụ trên các nhóm tác phẩm, tác giả tiêu biểu thông qua ngôn ngữ đặc thù củatranh khắc gỗ là: tính đồng hiện, tính khúc chiết về nét, hình, mảng, tính độcđáo về màu do các cách in khác nhau Cuối cùng là các đặc trưng, giá trị nghệthuật của tranh khắc gỗ Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 1986-2015, mụctiêu của luận án phải làm sáng tỏ

5 Phương pháp nghiên cứu của luận án

5.1 Phương pháp nghiên cứu tư liệu

NCS vận dụng phương pháp này để thu thập thông tin, số liệu, tác giả,tác phẩm điển hình về tranh khắc gỗ Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn1986-2915 Tác phẩm của họ được tham gia các triển lãm toàn quốc, khuvực, thành phố hay triển lãm nhóm, cá nhân trong giai đoạn trên Thu thậpđược các số liệu trên từ nhiều nguồn tư liệu là một vấn đề thách thức Mặt

Trang 12

khác, quá trình tổng hợp, phân loại tư liệu, phân nhóm tác phẩm - tác giảtheo phân kỳ từ năm 1986 đến năm 2000 và từ năm 2000 đến năm 2015 làrất cần thiết cho nghiên cứu.

5.2 Phương pháp nghiên cứu nghệ thuật học

Phương pháp nghệ thuật học được NCS sử dụng làm trọng tâm trongnghiên cứu, đó là phương cách dựa trên ngôn ngữ biểu đạt của loại hìnhtranh khắc gỗ để phân tích sự diễn biến theo mỗi họa sĩ, nhóm họa sĩ ở từnggiai đoạn và không gian sáng tạo khác nhau Phương pháp này cũng giúpNCS dựa trên những nguyên tắc quan hệ của tác giả - tác phẩm - thị trường

và công chúng để phân tích các khuynh hướng sáng tác và sắc thái nghệthuật cũng như hiệu quả thẩm mỹ ở mỗi nhóm tác giả, tác phẩm tiêu biểutrong loại hình tranh khắc gỗ Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 1986-2015

5.3 Phương pháp tiếp cận liên ngành

Phương pháp tiếp cận liên ngành trong luận án được NCS chú trọngcác tương tác hữu ích của các phương pháp như: Văn hóa học nghệ thuật,Dân tộc học văn hóa, Giao lưu và tiếp biến văn hóa Đây là nội hàm áp dụng

để phân tích diễn giải về đặc trưng của 4 khuynh hướng sáng tác tranh khắc

gỗ tại Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 1986-2015 như: Khuynh hướngbảo lưu nghệ thuật tranh khắc gỗ truyền thống; Khuynh hướng cách tân;Khuynh hướng trang trí; Khuynh hướng tả thực

6 Kết quả và đóng góp của luận án

Quá trình nghiên cứu của luận án về đề tài Tranh khắc gỗ tại Thành

phố Hồ Chí Minh từ năm 1986 đến năm 2015 là một quá trình đi tìm và lý

giải các vấn đề khoa học mang tính logic cùng việc áp dụng các lý thuyết phùhợp, tương ứng trong nghiên cứu đề tài Kết quả của việc nghiên cứu, NCS hyvọng sẽ đem đến một số kết quả và đóng góp sau:

Trang 13

- Có được một quan điểm mới, cái nhìn mới, thông qua biện giải về thựctrạng, tiềm năng sáng tạo của lực lượng họa sĩ tranh khắc gỗ Thành phố HồChí Minh đương đại.

- Đưa ra được một tổng thể bao quát diễn biến phát triển tranh khắc gỗ Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 1986-2015 một cách khoa học và sát thực

- Xác định được những khuynh hướng sáng tác cơ bản, sắc thái và giá trịđặc trưng của nghệ thuật tranh khắc gỗ Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 1986-2015 và những đóng góp cho mỹ thuật Việt Nam

7 Bố cục của luận án

Ngoài phần mở đầu (08 trang), kết luận (03 trang), danh mục tài liệutham khảo (15 trang), phụ lục (52 trang), nội dung luận án gồm 03 chươngnhư sau:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận - thực tiễn(48 trang)

Chương 2: Các yếu tố ảnh hưởng và khuynh hướng sáng tác nghệ thuậttranh khắc gỗ tại Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 1986-2015 (56 trang)

Chương 3: Một số đặc trưng và đóng góp nghệ thuật của tranh khắc gỗtại Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 1986-2015 (43 trang)

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN - THỰC TIỄN

Có thể nói, tranh khắc gỗ Thành phố Hồ Chí Minh vừa phản ánh sự kếtnối truyền thống tranh khắc gỗ dân gian Việt Nam, vừa kế tục những giá trịcủa tranh khắc gỗ hiện đại, lại có sắc thái riêng, từng bước định hình nhữngđặc trưng của tranh khắc gỗ Thành phố Hồ Chí Minh trong thời kỳ đổi mới.Trong thực tế đã có nhiều công trình nghiên cứu về tranh khắc gỗ Việt Nam,nhiều sách vựng tập tranh khắc gỗ, nhiều bài viết liên quan đến tác giả, tácphẩm thể loại tranh khắc gỗ hiện đại, cùng với nhiều triển lãm mỹ thuật cótrưng bày tranh khắc gỗ, cũng như nhiều tác giả được giải thưởng là tranhkhắc gỗ Tuy nhiên, chỉ một số ít tác giả thường xuyên sáng tác với chất liệukhắc gỗ, còn lại phần lớn các họa sĩ khác chỉ dành một thời gian nhất định đểsáng tác cho loại tranh này

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, khảo sát thu thập tài liệu, NCS trân trọngtiếp thu những ý kiến, những quan điểm của các nhà nghiên cứu đi trước đểnghiên cứu các vấn đề mà đề tài luận án đặt ra NCS nhận thấy có một sốcông trình tiêu biểu của các nhà nghiên cứu đi trước có liên quan đến đề tài đểNCS có thể tham khảo và áp dụng vào luận án gồm:

1.1.1 Những công trình nghiên cứu liên quan đến nghệ thuật tranh khắc gỗ truyền thống Việt Nam

Thuật ngữ tranh khắc gỗ truyền thống sử dụng trong luận án này bao

hàm các nội dung nói về các thể loại tranh có sử dụng kỹ thuật khắc mộc bảntrên gỗ để in lên giấy, vải , như tranh thờ, tranh tôn giáo, tranh tết, tranhtrang trí Trong đó các dòng tranh dân gian đã nổi tiếng trong nước và quốc

tế là: tranh Đông Hồ, tranh Hàng Trống, tranh Kim Hoàng Ngoài

Trang 15

ra sự lan tỏa đến phía Nam có dòng tranh thờ Làng Sình (Huế) và tranh ĐồThế (Nam Bộ)… Tuy nhiên, Phương pháp in và khắc của từng dòng tranhtruyền thống Việt Nam có phần khác nhau như tranh Đồng Hồ thì sử dụngmột bản gỗ nét và nhiều ván in màu, còn tranh Hàng Trống, Kim Hoàng,tranh Sình, tranh Đồ Thế thì thường sử dụng một bản gỗ nét và tô màu bằngtay.

Có thể nói, tranh Đông Hồ có ảnh hưởng nhiều nhất tới nghệ thuậttranh khắc gỗ hiện đại Việt Nam, vì nó mang đầy đủ các yếu tố đặc trưng củamột dòng tranh riêng biệt, đồng thời có kỹ thuật khắc và in mẫu mực Tranhchủ yếu in trên giấy Dó, giấy Điệp với phong cách tạo hình mộc mạc, giản dị

và thường dùng màu tự nhiên để in Nét nổi bật của dòng tranh Đông Hồ làphương pháp in bằng cả ván in nét và ván in màu Đường nét trong tranh dângian Đông Hồ thường thô mộc, thiên về cách diễn tả nét đơn giản nhưng côđọng, chắc khoẻ, biểu hiện tình cảm chân thật, phù hợp với nhu cầu thẩm mỹbình dân

Nét đặc trưng của tranh Hàng Trống là chỉ bằng một nhát bút, một lầnlấy mực nhưng nghệ nhân có thể vừa diễn tả màu sắc, vừa diễn tả được đậmnhạt, sáng tối và vờn khối Đề tài chủ yếu ở tranh Hàng Trống là mảng tranhthờ nhằm phục vụ cho nhu cầu tín ngưỡng của người dân thành thị như TamPhủ, Tứ Phủ, Bạch hổ và Ngũ hổ, Hắc hổ Bên cạnh đó, còn có nhiều đề tàikhác phản ánh các sinh hoạt trong xã hội, con người, vẽ đẹp thiên nhiên nhưTam đa, Thất đồng, Tứ bình, Tố nữ, Lý ngư vọng nguyệt, Tiến lộc,…

Tranh Kim Hoàng có nét khắc thanh mảnh, tỉ mỉ hơn tranh Đông Hồ,màu sắc lại tươi như tranh Hàng Trống Đề tài của tranh Kim Hoàng có phầnhạn chế, không có nhiều mẫu mới như tranh Đông Hồ và Hàng Trống, nhưnglại có những cách biểu hiện riêng và thường có những câu thơ in khắc trêntranh Kim Hoàng được viết theo lối chữ Thảo bên góc trái tranh, đây là điểmđặc biệt khác mà các dòng tranh dân gian khác không có

Trang 16

Đặc trưng của tranh làng Sình và tranh Đồ Thế là phản ánh ước vọngcũng như đời sống tâm linh của con người và đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng, tôngiáo và phần nào đó đóng vai trò của đồ mã phục vụ cõi âm.

Một số sách, tài liệu chuyên khảo NCS xem như nguồn tài liệu quan

trọng cho luận án tham khảo tư liệu gồm: Lược sử Mỹ thuật Việt Nam của tác giả Nguyễn Phi Hoanh, Nxb Khoa học Xã hội, 1970 [30]; Làng tranh Đông

Hồ của hai tác giả Nguyễn Bá Vân và Chu Quang Trứ, Nxb Văn hóa, 1984

[114]; Mỹ thuật Việt Nam của tác giả Nguyễn Phi Hoanh, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1984 [31]; Địa chí văn hóa Tp Hồ Chí Minh (tập III phần nghệ

thuật) của hai tác giả Trần Văn Giàu và Trần Bạch Đằng, Nxb Thành phố Hồ

Chí Minh, 1990 [27]; Nghệ thuật đồ họa của tác giả Nguyễn Trân, Nxb Hà Nội, 1995 [98]; 12 gương mặt họa sĩ Nam Bộ của họa sĩ Lê Thanh Trừ, Nxb Văn nghệ, 2005 [106]; 100 câu hỏi đáp về mỹ thuật ở Sài Gòn - Thành phố

Hồ Chí Minh, của ba tác giả Uyên Huy, Trương Phi Đức, Lê Bá Thanh, Nxb

Văn hóa - Văn nghệ, 2011 [51]; Mỹ thuật đô thị Sài Gòn - Gia Định

1900-1975 của tác giả Huỳnh Văn Mười, Nxb Mỹ thuật, 2014 [63]; Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh: Một thoáng hôm nay, một chút xưa của Huỳnh Văn

Mười, Nxb Mỹ thuật, 2016 [64]…, cùng với rất nhiều bài viết trên các tạp chí

chuyên ngành đề cập đến các dòng tranh dân gian và các bài viết về mỹ thuậtThành phố Hồ Chí Minh Với hệ thống tư liệu này, có bài viết chuyên sâunhưng cũng có bài nghiên cứu mang tính tổng quát…

Công trình nghiên cứu Lược sử mỹ thuật Việt Nam [30] của tác giả

Nguyễn Phi Hoanh là cuốn sách đầu tiên viết về lịch sử mỹ thuật Việt Namnhư một loại tài liệu sách giáo khoa về lịch sử mỹ thuật cho các trường mỹthuật ở những năm đầu TK XX và đã đạt được những thành công nhất định.Cuốn sách có cấu trúc chương mục sơ lược về mỹ thuật Việt Nam được phân

kỳ theo giai đoạn lấy các mốc của thể chế chính trị xã hội Tuy nhiên mảng

mỹ thuật dân gian Việt Nam, nghệ thuật Chăm pa, mỹ thuật Kh’mer, mỹ thuật

Trang 17

Tây Nguyên, tác giả đặt thành các tiểu mục riêng Trong đó, mỹ thuật dângian Việt Nam tác giả giới thiệu một cách vắn tắt về tranh dân gian Đông Hồ,Hàng Trống, Kim Hoàng, Làng Sình, Đồ Thế NCS cho rằng đó cũng lànguồn tài liệu khởi đầu cho việc bổ sung thông tin cho NCS trong nghiên cứutiếp theo về tranh khắc gỗ.

Hai tác giả Nguyễn Bá Vân và Chu Quang Trứ với cuốn sách Tranh

dân gian Việt Nam [113] là cuốn sách chuyên khảo, với bộ sưu tập khá công

phu và in khá chất lượng Dưới mỗi tranh, dòng tranh dân gian tác giả có đoạnchú giải về ý nghĩa nội dung cũng như thông số xuất xứ của tác phẩm giúpngười đọc dễ dàng tiếp cận vấn đề Bộ sách nhiều tập này nhanh chóng trởthành một trong những cuốn sách tham khảo của hàng vạn giáo viên mỹ thuật

ở các cấp học phổ thông sử dụng để soạn bài theo chương trình giáo dục nghệthuật của Bộ Giáo dục và Đào tạo trong nhiều năm qua

NCS nhận thấy cách lý giải về thể loại, kỹ thuật, hình tượng biểu đạt ởmỗi dòng tranh dân gian của các tác giả mang tính phổ cập, chưa tập trung lýgiải sâu hơn về tính đặc trưng trong diễn hình, kỹ thuật in và biểu cảm củahình tượng ở mỗi dòng tranh dân gian Việt Nam Tuy nhiên, NCS quý trọng

và có thể sử dụng hệ thống sưu tập tranh dân gian trong công trình để tiếp tụcphát triển mở rộng trong nghiên cứu của luận án

Địa chí văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh (tập III phần nghệ thuật) [27]

do hai tác giả Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng (chủ biên) đã quy tụ đượcnhững nhà nghiên cứu hàng đầu ở từng lĩnh vực Trong đó, lĩnh vực mỹ thuật

có các bài nghiên cứu về mỹ thuật rất bổ ích cho việc nghiên cứu đề tài củaNCS như bài “Một mảng tranh dân gian ở Thành phố”, “Mỹ thuật Sài Gòn từđầu thế kỷ đến năm 1975” của tác giả Huỳnh Hữu Ủy, “Nghệ thuật tạo hìnhthời kháng chiến” của họa sĩ Quách Phong, “Mỹ thuật ở Thành phố sau30/4/1975” của hai tác giả Phước Sanh - Nguyễn Trung, “Nghệ thuật chạmkhắc gỗ ở Thành phố Hồ Chí Minh” của nhà nghiên cứu Huỳnh Ngọc

Trang 18

Trảng, Công trình đã giúp cho NCS có cái nhìn bao quát về văn hóa - nghệthuật Thành phố Hồ Chí Minh Từ việc hình thành nên dòng tranh dân gian

Đồ Thế đến sự hình thành và phát triển của các trường mỹ thuật cũng như cácphong trào mỹ thuật của phía Nam

Nhóm tác giả Phan Cẩm Thượng, Lê Quốc Việt, Cung Khắc Lược

(1999) với công trình Đồ họa cổ Việt Nam [90], đã phân chia nội dung chuyên

khảo theo từng thể loại như: tranh dân gian, tranh sinh hoạt xã hội, tranh minhhọa, tranh phục vụ tôn giáo và tranh cho hoạt động tín ngưỡng nói chung, Với cách cấu trúc của sách cho thấy tranh dân gian được nhóm tác giả đưavào thể loại tranh đồ họa Việc phân tích về ngôn ngữ biểu đạt trong tranh dângian Việt Nam cho thấy các tác giả đã chú trọng đến đặc trưng riêng về tínhthẩm mỹ (quan niệm về cái đẹp) của nghệ nhân tiền bối ở các làng tranh Đông

Hồ, Hàng Trống là rất độc đáo Đó là mỹ cảm giàu chất lãng mạn của ngườiViệt ở các làng quê vùng châu thổ sông Hồng, vùng đất khởi nguồn các giá trịvăn hóa truyền thống Việt Nam Chính từ quan niệm về cái đẹp chất phác vàphóng túng được thể hiện trên đường nét, mảng, hình siêu ảo nhưng vẫn cảmnhận như sự mộc mạc, giản đơn trong dòng tranh dân gian này Có thể nhậnbiết rất sâu sắc những bức tranh dân gian Đông Hồ, Hàng Trống, Kim Hoàngđược nghệ nhân tiếp tục vẽ nối tiếp nhau qua nhiều thế hệ, từ hàng mấy trămnăm nhưng sự sáng tạo đó chưa bao giờ dừng lại trên mỗi thể loại tranh, chủ

đề tranh Nghĩa là vẫn nét đó, hình đó, bố cục đó, nghệ nhân các đời sau vẽlại, nắn chỉnh lại, thả hồn vào tiếp theo mỗi nét, hình, sắc làm cho sáng tạomới trở nên tinh túy đến mức thuần hậu, giản lược nhưng sâu lắng, đến mứccảm như thô mộc khác thường Chính nhiều họa sĩ phương Tây đã nhìn thấymanh nha của phong cách biểu hiện hiện đại trong các dòng tranh dân gianphương Đông là như vậy

Nhiều bài viết mang tính chuyên khảo đăng trên các tạp chí, kỷ yếu hộithảo khoa học về tranh dân gian như: “Nguy cơ thất truyền những kỹ thuật cổ

Trang 19

truyền trong tranh khắc gỗ Việt Nam” của họa sĩ Nguyễn Đức Hòa (Tạp chí

Mỹ thuật, số 38, tr.11/2001) [33], Một mảng tranh dân gian ở Thành phố của

tác giả Huỳnh Hữu Ủy [27], Từ kỹ thuật in mộc bản cổ truyền đến nghệ thuật

thủ ấn họa của họa sĩ Trương Văn Ý (Thông tin, Trường Đại học Mỹ thuật

Tp Hồ Chí Minh, số 7-8 (11-2005), tr 36) [115], “Khái quát về tranh dân

gian Việt Nam” của GS.TS Trương Quốc Bình (Tạp chí Di sản văn hóa, số 2

951/2015, tr 28-33) [5] , mang những gợi ý mới cho nghiên cứu liên quanđến luận án NCS sẽ tiếp thu phát triển trong luận án

Trên đây là những công trình nghiên cứu liên quan đến nghệ thuật tranhkhắc gỗ truyền thống Việt Nam NCS xem đó là nguồn tư liệu thiết thực, bổsung cho nhiều vấn đề khoa học trong luận án cần đến Từ đó, có thể giúpNCS có cái nhìn tổng quát về tranh khắc gỗ dân gian Việt Nam, nắm bắt được

sự phát triển của khuynh hướng, đặc trưng thể loại tranh khắc gỗ theo từnggiai đoạn lịch sử, và đưa ra nét đặc trưng riêng của tranh khắc gỗ tại Thànhphố Hồ Chí Minh trong giai đoạn 1986-2015

1.1.2 Những công trình nghiên cứu về nghệ thuật tranh khắc gỗ hiện đại Việt Nam

Phần lớn các công trình nghiên cứu về nghệ thuật tranh khắc gỗ hiện đại

Việt Nam được viết từ sau năm 1970 Đầu tiên là những cuốn vựng tập Tranh

khắc gỗ Việt Nam của Nxb Văn hoá năm 1978 [67], Tranh khắc gỗ Việt Nam

Nxb Mỹ thuật năm 1997 [69], Nghệ thuật đồ hoạ của tác giả Nguyễn Trân viết vào năm 1995 [98] và Cuốn sách Đồ họa in khắc gỗ hiện đại Việt Nam [75] của

PGS.TS Hoàng Minh Phúc do Nxb Thế giới phát hành năm 2015

Cuốn sách Tranh khắc gỗ Việt Nam 1978 của Nxb Văn hoá giới thiệu

92 tác phẩm khắc gỗ của các hoạ sĩ Việt Nam sáng tác từ năm 1943 đến năm

1977 Cuốn sách là nguồn tư liệu tốt và tập hợp nhiều ảnh tác phẩm thể hiệnqua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ Quá trình lựa chọn hàng

Trang 20

ngàn sáng tác của nhiều tác giả để chúng ta có được những tác phẩm phản ánhđược con người, xã hội Việt Nam và mang đậm tính dân tộc.

Cuốn sách Tranh khắc gỗ Việt Nam của Nxb Mỹ thuật năm 1997 [69]

là cuốn sách thứ hai giới thiệu 100 tác phẩm đồ hoạ của các tác giả đồ hoạtiêu biểu từ năm 1925 đến năm 1995, bao gồm khắc gỗ đen trắng, khắc gỗ

màu, khắc kẽm, tranh in độc bản Ưu điểm của cuốn sách Tranh khắc gỗ Việt

Nam là phần tranh khắc gỗ của các hoạ sĩ được bổ sung cho giai đoạn từ năm

1925 đến năm 1945 và thêm các tác phẩm mới từ năm 1996 đến năm 1997.Tuy nhiên, hạn chế của cuốn sách là khi để lẫn 19 tranh loại khác vào (in kẽm,

in đá và in độc bản)

Có thể nói, sau cuốn sách Tranh khắc gỗ Việt Nam của Nxb Văn hoá

năm 1978 là sự tiếp nối, bổ sung những tác phẩm khắc gỗ từ năm 1943 đến

năm 1977 của cuốn sách Tranh khắc gỗ Việt Nam [69] Với trên 100 tác phẩm

khắc gỗ từ hai cuốn sách này là nguồn tư liệu quan trọng giúp tác giả luận án

có cái nhìn xuyên suốt sự phát triển và những đổi thay về chủ đề, ngôn ngữtạo hình của tranh khắc gỗ Việt Nam từ năm 1925 đến năm 1995 Tuy nhiên,

ở hai cuốn sách này thiếu các tác phẩm khắc gỗ từ 1996 đến nay, NCS sẽnghiên cứu bổ sung thêm trong luận án của mình các tác giả, tác phẩm khắc

gỗ tiêu biểu ở Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 1996 đến năm 2015

Cuốn sách Nghệ thuật đồ họa [98] của tác giả Nguyễn Trân là công trình

nghiên cứu tiêu biểu khi bàn về lịch sử đồ họa, phân loại và ngôn ngữ nghệ thuật

đồ họa nói chung Đây thực sự là cuốn sách rất cần thiết cho các nhà nghiên cứu

mỹ thuật khi bàn về lý luận cơ bản nghệ thuật đồ họa Điều đặc biệt của cuốnsách này là đã tập hợp những tư liệu về Mỹ thuật miền Nam 1945-1975 và mộtphần nói về mỹ thuật của các họa sĩ Việt Kiều Tuy nhiên, phần nghệ thuật tranhkhắc gỗ chỉ chiếm một phần nhỏ Công trình này xuất bản từ năm 1995, đến nay

đã qua hơn 20 năm, khoảng thời gian đó nghệ thuật khắc gỗ đã có những bướctiến rất dài trong quá trình hội nhập và phát triển Do vậy,

Trang 21

NCS cảm thấy cần thiết phải bổ sung thêm những thay đổi của nghệ thuậtkhắc gỗ ở Thành phố Hồ Chí Minh để khẳng định đóng góp mới của luận án.

Một số luận văn của tác giả Nguyễn Công Bằng (2003), với đề tài Vai

trò của đường nét trong tranh đồ họa, luận văn thạc sĩ mỹ thuật của họa sĩ

Trần Thanh Trúc (2006), Phong cảnh Việt Nam trong tranh khắc gỗ [103] và luận văn thạc sĩ mỹ thuật của họa sĩ Đặng Văn Long (2007), với đề tài Nét

đẹp của tranh khắc gỗ truyền thống và sự kế thừa trong tranh khắc gỗ Việt Nam hiện đại [57] là nguồn tư liệu rất tốt cho NCS tham khảo.

Năm 2009 Hội Mỹ thuật Việt Nam xuất bản cuốn sách Kỷ yếu hội thảo

Những vấn đề Mỹ thuật Việt Nam hiện đại [42], với sự tập trung của gần 100

họa sĩ, điêu khắc và nhà phê bình mỹ thuật khắp cả nước, nhằm giới thiệuthành tựu của ngành Phê bình Mỹ thuật trong những năm gần đây Cuốn sách

603 trang và chia thành ba phần: Phần thứ nhất nói về tổng quan mỹ thuậtViệt Nam thế kỷ XX bao gồm các bài viết về những thành tựu, thực trạng,giải pháp, những thay đổi, những khuynh hướng của mỹ thuật Việt Nam thế

kỷ XX Phần thứ hai bàn về mỹ thuật Việt Nam trong thời kỳ đổi mới baogồm các bài phê bình mỹ thuật trong thời kỳ Đổi mới, mỹ thuật Việt Namtrong thời kỳ Hội nhập quốc tế Phần thứ ba bàn về bản quyền tác giả tronglĩnh vực mỹ thuật Việt Nam

Công trình nghiên cứu Những thay đổi trong đời sống văn hóa ở Thành

phố Hồ Chí Minh thời gian 1986-2006 của tác giả Cao Tự Thanh (chủ biên) là

công trình nghiên cứu về lịch sử văn hóa - nghệ thuật Nội dung của côngtrình nghiên cứu đề cập đến nhiều vấn đề thay đổi rất đa dạng và phong phútrong đời sống văn hóa ở Thành phố Hồ Chí Minh suốt 20 năm Các tác giả đãphác họa bức tranh toàn cảnh một cách chân thực, rõ ràng những nét lớn về cơcấu kinh tế - xã hội, hoạt động giải trí, du lịch, xây dựng văn hóa cơ sở, bảo

vệ di sản văn hóa, hệ thống báo chí, tín ngưỡng, đạo đức, âm nhạc, sân khấu,điện ảnh, văn học, nghệ thuật , sự biến đổi của đời sống văn hóa ở

Trang 22

Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 1986 đến năm 2006 Công trình này có ýnghĩa quan trọng về mặt tư liệu và phương pháp tiếp cận Tuy nhiên, theonhận định của GS.TS Nguyễn Chí Bền thì “Sự thay đổi của đời sống văn hóa

ở Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 1986 đến nay là một vấn đề lớn, không dễkhái quát trình bày trong một chuyên luận mang tính tổng hợp đầu tiên Vả lại

đề tài còn quy tụ nhiều tác giả, nên mỗi chương, mỗi phần có sự khác nhau vềphong cách và chất lượng ” [86, tr.10]

Tiếp theo là cuốn sách Mỹ thuật đô thị Sài Gòn - Gia Định 1900-1975

[63] của Họa sĩ, Nhà giáo Nhân dân Huỳnh Văn Mười là công trình sưu tầm,nghiên cứu có giá trị về mặt lịch sử, nhất là các cơ sở đào tạo mỹ thuật tại SàiGòn - Gia Định, Biên Hòa, Lái Thiêu vốn là những cái bệ đầu tiên để hìnhthành nền mỹ thuật phương Nam Đây là công trình nghiên cứu một cách toàndiện và hệ thống quá trình hình thành và phát triển của mỹ thuật Sài Gòn -Gia Định Đặc biệt là phần giới thiệu tóm lược tiểu sử và những sáng tác tiêubiểu của các họa sĩ là nguồn tư liệu bổ ích cho NCS có cái nhìn bao quát hơn

về mỹ thuật ở Thành phố Hồ Chí Minh

Cuốn sách Đồ họa in khắc gỗ hiện đại Việt Nam [75] của PGS.TS

Hoàng Minh Phúc do Nxb Thế Giới phát hành năm 2015, gồm 8 chương với

285 minh họa màu và đen trắng Đây là một công trình nghiên cứu khoa họctốt, đặc biệt trong phần II nói về nghệ thuật in khắc gỗ hiện đại Việt Nam,phần này có 6 chương và mỗi chương có nội dung cụ thể, rõ ràng, mạch lạc.Cuốn sách là nguồn tài liệu quý, trong cuốn sách này NCS đặc biệt quan tâm

và đánh giá cao các chương 6, 7, 8 với những nội dung và hình ảnh tranh khắc

gỗ hiện đại Việt Nam từ năm 1946 đến 2013 Qua đó làm cơ sở để so sánh về

kỹ thuật chất liệu và phong cách tạo hình của tranh khắc gỗ ở Thành phố HồChí Minh với các vùng miền khác

Ngoài những cuốn sách nêu trên còn có các bài viết, bài nghiên cứu, bàitham luận về tranh khắc gỗ hiện đại Việt Nam in trên các tạp chí chuyên

Trang 23

ngành trong thời gian gần đây như: “Lý luận, phê bình mỹ thuật ở Việt Nam

những năm 1990 đầu năm 2000” của tác giả Bùi Thị Thanh Mai, Tạp chí

Nghiên cứu mỹ thuật, số 03 (07), tr 4-13 [60], “Tranh khắc gỗ mới - phương

tiện mở rộng thực hành nghệ thuật đương đại” của PGS.TS Nguyễn Nghĩa

Phương, Tạp chí Mỹ thuật, số 227, tr 42-44 [78], “Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh sau 30 năm giải phóng” của tác giả Nguyễn Thị Hợp, Tạp chí Mỹ

thuật, số 132, tr.7/2005 [47], Mỹ thuật Sài Gòn sau 30.4.1975” của họa sĩ Quách Phong, Tạp chí Mỹ thuật, số 232, tr 15-23/2012 [70] Số lượng bài

viết về mỹ thuật trên tạp chí thì nhiều, nhưng bài viết riêng cho lĩnh vực tranhkhắc gỗ thì hạn chế Do đó, trong quá trình nghiên cứu NCS cũng gặp khókhăn về nguồn tư liệu

Nhìn chung các bài viết, các công trình nghiên cứu trên đã giới thiệu vềlịch sử hình thành - phát triển của tranh khắc gỗ Việt Nam và một số nước châu

Âu, với những nghiên cứu mới trong kỹ thuật chất liệu, màu sắc, bố cục trong tácphẩm Các công trình đã phân tích về kỹ thuật, chất liệu, khuynh hướng tranhkhắc gỗ và những bước thăng trầm của chất liệu này Tuy nhiên, chưa có côngtrình nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống hoặc đi vào phân tích cụ thể từng tácgiả, tác phẩm tiêu biểu trong quá trình hình thành - phát triển của nghệ thuậttranh khắc gỗ tại Thành phố Hồ Chí Minh để khẳng định đặc trưng ngôn ngữ, giátrị nghệ thuật của tranh khắc gỗ tại Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 1986-

2015 Phần lớn các công trình nghiên cứu về tranh khắc gỗ nói chung chưa phân

ra các vùng miền cụ thể, hoặc là nếu có thì cũng mang tính chất sơ lược và chưa

đi sâu vào phân tích từng nhóm tác phẩm điển hình Trên cơ sở kế thừa, tiếp thunhững thành tựu của các công trình đi trước, tác giả luận án sẽ đi sâu vào phântích những yếu tố tạo nên tranh khắc gỗ tại Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn1986-2015 về chủ thể sáng tạo, phong cách thể hiện, kỹ thuật chất liệu và nhữngthay đổi đặc trưng ngôn ngữ tạo hình Thông qua một số tác phẩm tiêu biểu của

Trang 24

các thế hệ họa sĩ để tìm ra nét đặc trưng ngôn ngữ nghệ thuật của tranh khắc gỗtại Thành phố Hồ Chí Minh.

1.1.3 Những công trình nghiên cứu, vựng tập, bài viết về nghệ thuật tranh khắc gỗ tại Thành phố Hồ Chí Minh

Sách Mỹ thuật đô thị Sài Gòn - Gia Định 1900-1975 [63] của Họa sĩ,

Nhà giáo Nhân dân Huỳnh Văn Mười là công trình sưu tầm, nghiên cứu cógiá trị về mặt lịch sử và là công trình nghiên cứu một cách toàn diện và hệthống quá trình hình thành và phát triển của Mỹ thuật Sài Gòn - Gia Định Dokhông gian và thời gian của công trình là mỹ thuật Sài Gòn - Gia Định từ1900-1975, nên thông tin về tác giả tác phẩm thuộc lớp tiền bối là rất quantrọng Như cách đặt vấn đề trong nghiên cứu, NCS coi trọng tính kế thừa, giaothoa, tiếp biến trong văn hóa áp dụng vào tranh khắc gỗ Thành phố Hồ ChíMinh giai đoạn 1986-2015 Vì thế, những tiếp nối, ảnh hưởng từ mỹ thuật cácthời kỳ trước và sau năm 1975 đến tranh khắc gỗ đương đại Thành phố HồChí Minh là mang tính khoa học và tính biện chứng tất yếu

Sách Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh: Một thoáng hôm nay, một chút

xưa [64] của Họa sĩ, Nhà giáo Nhân dân Huỳnh Văn Mười (Uyên Huy) là

công nghiên cứu mà tác giả đã tập hợp một số những tham luận và bài viếtđiển hình nhất của Ông trong suốt thời gian qua Nội dung của sách gồm haiphần: Phần một là phần chính với nhiều bài nghiên cứu về mỹ thuật nói chung

và hoạt động sáng tác mỹ thuật tại Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng Phầnhai nói về dòng chảy của mỹ thuật Sài Gòn năm xưa, đặc biệt là sự tổng hợpnhững vấn đề rất sinh động từ thực tế sáng tác đến hoạt động lý luận thực tiễn

Từ công trình nghiên cứu này đã gợi mở cho NCS có cách nhìn tốt hơn về sựtương đồng và khác biệt giữa các chất liệu hội họa và đồ họa qua từng giaiđoạn khác nhau

Họa sĩ Trần Khánh Chương đã có bài tham luận về “Tổng quan về Mỹthuật Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh” [14], tại Hội thảo Mỹ thuật Sài Gòn

Trang 25

-Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ nhất tại Thành phố Hồ Chí Minh Nội dungbài tham luận đã nêu lên được khái quát sự hình thành và phát triển của mỹthuật miền Nam nói chung và Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng Ông đãđánh giá cao vai trò của mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh đối với mỹ thuậtViệt Nam.

Kỷ yếu 100 năm Trường Vẽ Gia Định, Trường Đại học Mỹ thuậtThành phố Hồ Chí Minh 1913 - 2013 [111], đã nói lên một bức tranh toàncảnh của quá trình đào tạo các thế hệ họa sĩ và nhà điêu khắc cho cả phíaNam Với nhiều biến cố lịch sử và thay đổi của ngôi trường 100 năm tuổi đã

để lại cho thế hệ ngày hôm nay những thành tựu to lớn về giá trị nghệ thuật và

cả về lịch sử nghệ thuật Việt Nam Nhưng đối với NCS thì đây là nguồn tưliệu rất quý cho quá trình nghiên cứu về tranh khắc gỗ Thành phố Hồ ChíMinh, vì phần lớn các họa sĩ sáng tác tranh khắc gỗ hiện nay ở thành phố đềuhọc từ ngôi trường này và bản thân NCS cũng vậy

Sách Vựng tập của họa sĩ Hoàng Trầm [101], tác giả Nguyễn Quân đã

giới thiệu các tác phẩm của họa sĩ Hoàng Trầm và đưa ra nhận định: “Đâykhông chỉ là những mẫu mực tạo hình của trào lưu nghệ thuật xã hội chủnghĩa mà còn cảm được cái tình, cái chất Nam Bộ cương nghị, bộc trực, đônhậu không thể khác được của tác giả và các nhân vật trong tranh” Tư liệu củasách đã giúp NCS phát triển trong phần khẳng định về đặc trưng tranh khắc

gỗ Thành phố Hồ Chí Minh thông qua các tác giả, tác phẩm tiêu biểu

Sự đa dạng về lực lượng sáng tác, sự tác động từ chính sách, vai trònòng cốt của Hội nghề nghiệp là nhân tố tạo nên sự phát triển và sự đa dạngtrong nghệ thuật tranh khắc gỗ NCS đưa ra thống kê số liệu về các cuộc triểnlãm và giải thưởng trong 5 năm (2010-2015) như sau: năm 2010 có 72 cuộctriển lãm; năm 2011 có 68 cuộc triển lãm; năm 2012 có 65 cuộc triển lãm;năm 2013 có 47 cuộc triển lãm; năm 2014 có 62 cuộc triển lãm Thành phố

Hồ Chí Minh có 640 hội viên, mỗi năm Hội Mỹ thuật Thành phố tổ chức các

Trang 26

trại sáng tác ở nhiều tỉnh thành của cả nước như: năm 2010 tổ chức 9 trại sángtác; 2011 tổ chức 7 trại sáng tác; 2012 tổ chức 8 trại sáng tác; 2013 tổ chức 8trại sáng tác; 2014 tổ chức 8 trại sáng tác Những tác phẩm được giải thưởng

và đầu tư trong triển lãm báo cáo hàng năm đã in sách: Sáng tác mới 2010,

Sáng tác mới 2011, Sáng tác mới 2012, Sáng tác mới 2013, Sáng tác mới 2014 , đã được Hội Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh ấn hành (theo số liệu

ở Báo cáo tổng kết 5 năm tại Đại hội đại biểu Hội Mỹ thuật Thành phố Hồ

Chí Minh nhiệm kỳ VII (2015-2020) [40].

Nhìn chung, hoạt động nghệ thuật của Hội Mỹ thuật Thành phố Hồ ChíMinh có vai trò rất quan trọng trong việc thúc đẩy lực lượng sáng tác, quảng

bá xã hội và kết nối thị trường tiêu thụ tranh cho nghệ sĩ Đây là yếu tố quantrọng NCS tiếp nhận thông tin trong mục bàn luận về yếu tố tác động đếntranh khắc gỗ Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 1986-2015

Các công trình nghiên cứu trên cho thấy căn bản diễn biến quá trìnhhình thành và phát triển của mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh Khẳng địnhtính chất đặc trưng của mỹ thuật Nam Bộ được thể hiện một cách cô đọngtrong mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh Mặt khác cho thấy tính tiên phongtrong việc công bố khuynh hướng Postmodern Art ảnh hưởng từ phương Tâythông qua Triển lãm Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh năm 1992 Tuy nhiên,Các công trình nghiên cứu trên chỉ đề cập rất mờ nhạt, thiếu hệ thống và ítbàn luận sâu sắc về nghệ thuật tranh khắc gỗ Thành phố Hồ Chí Minh NCScho rằng các thể loại tranh sơn dầu, tranh sơn mài, tranh lụa, tranh khắc gỗ ,

có những đặc trưng riêng, thậm chí rất khác nhau về nhiều tiêu chi trong đánhgiá, nghiên cứu Ví như, tranh khắc gỗ hay tranh sơn mài dù có muốn cách tânchất liệu hay kỹ thuật đến đâu cũng không thể dễ dàng cách tân như tranh sơndầu, màu nước Bởi vì các chất liệu sơn dầu, màu nước có thể giúp họa sĩnhanh chóng biểu đạt cảm xúc thăng hoa bất chợt mà chất liệu khắc gỗ, haysơn mài bắt buộc phải có thời gian để xử lý kỹ thuật Mặt khác, tranh khắc gỗ

Trang 27

hay sơn mài luôn luôn gần với truyền thống dân gian, nên con đường và cáchthức biểu đạt khi cách tân cũng rất khác với chất liệu sơn dầu Đây cũng làđiểm cần rút ra và NCS cần làm sáng rõ trong luận án của mình.

1.1.4 Những công trình nghiên cứu theo hướng nghệ thuật học

Khi nghiên cứu về những yếu tố tạo nên tranh khắc gỗ Thành phố HồChí Minh thì NCS dựa vào những tài liệu cũng như các công trình nghiên cứucủa nhiều tác giả trong và ngoài nước về mỹ học, nghệ thuật học, cái đẹp vànghệ thuật, giáo trình bố cục, lịch sử mỹ thuật để phân tích tác phẩm qua cácyếu tố bố cục, đường nét, màu sắc, mảng hình,

Năm 1997, TS Lâm Vinh đã giới thiệu công trình nghiên cứu Mỹ học

về cái đẹp - về nghệ thuật - về con người [114] Nội dung cuốn sách gồm ba

phần: Phần I: giới thiệu về Mỹ học và cái đẹp, Phần II: Mỹ học và Nghệ thuật,Phần III: Mỹ học và con người Tác giả đã đề cập đến các vấn đề bao quát từcái đẹp đến nghệ thuật và đặc biệt là đi vào phân tích đặc điểm ngôn ngữ tạohình, các yếu tố ngôn ngữ của hội họa và đồ họa như: dựng hình đường nét,màu sắc, bố cục, Đồng thời, công trình nghiên cứu này cũng bàn đến vai tròcủa giáo dục thẩm mỹ và định hướng thẩm mỹ trong nghệ thuật

Luận án tiến sĩ của Nora Annesley Taylor, một học giả nghệ thuật Hoa

Kỳ (1997), The artist and the state: the polictics of painting and national

identity in Hanoi, Vietnam, 1925-1995 (Nghệ sĩ và Nhà nước: Hội họa và bản

sắc Quốc gia ở Hà Nội, Việt Nam) Taylor cho rằng “mỹ thuật Việt Nam cómột đặc trưng gắn liền và phản ánh tinh thần văn hóa dân tộc ở mỗi thời kỳrất rõ ràng” Với cách nhận định trên, bà minh họa đặc trưng hình tượng trong

mỹ thuật ở các giai đoạn “thuộc địa”, “cách mạng và kháng chiến”, “thốngnhất đất nước”, “thời mở cửa” phân biệt khá rõ ràng

Tác phẩm khác cũng là Luận án tiến sĩ với tựa đề Vietnamesese

Aestheties from 1925 orwards (Thẩm mỹ Việt Nam từ năm 1925 đến nay) do

Huỳnh Bội Trân hoàn thành tại Đại học Sydney năm 2005 Trong đó đề cập

Trang 28

đến “tính can dự ảnh hưởng to lớn của Nhà nước đến mỹ thuật, bởi Văn hóaViệt Nam luôn luôn được kích thích, nuôi dưỡng bằng các chính sách và sự

hỗ trợ từ nhà nước, đặc biệt trước thời kỳ đổi mới năm 1986” Bà cho rằngphần lớn các họa sĩ trước năm 1975 đều thuộc biên chế nhà nước ở các Hộinghề nghiệp, Sở Văn hóa thông tin, hay Xưởng mỹ thuật Nhà nước thườngxuyên hỗ trợ khuyến khích phát triển mỹ thuật bằng kinh phí mở trại sáng tác,triển lãm mỹ thuật ở các cấp tỉnh, khu vực hay toàn quốc và nhiều tác phẩmđược tặng giải thưởng Các Hội đồng thẩm định trong các triển lãm trênthường có quyền lực chuyên môn to lớn, chi phối hướng phát triển của mỹthuật ở mỗi thời kỳ

Trong công trình nghiên cứu Mỹ thuật học [92] của GS.TS Nguyễn

Xuân Tiên đã cung cấp những kiến thức cơ bản về mỹ thuật và vai trò của nótrong đời sống; một số loại hình của mỹ thuật như: Điêu khắc, hội họa, kiếntrúc và mỹ thuật ứng dụng Công trình này đã hệ thống kiến thức về các lĩnhvực mỹ thuật nhằm nghiên cứu đối tượng, bản chất, chức năng, giá trị của tácphẩm nghệ thuật Việc sử dụng lý thuyết mỹ thuật học thông qua ngôn ngữtạo hình, các phương pháp phân tích tác phẩm để làm sáng tỏ đặc trưng ngônngữ nghệ thuật của từng tác giả sẽ tạo nên tính mới cho đề tài luận án

Cuốn sách Màu sắc và phương pháp sử dụng của tác giả Uyên Huy

(Huỳnh Văn Mười) đã đề cập về lý thuyết màu và phương pháp vận dụngtrong thực tiễn sáng tác hội họa nói chung Màu sắc là một phần quan trọngcủa tranh, làm thế nào để sử dụng màu sắc hiệu quả? Cuốn sách này cung cấpnhững thông tin quan trọng cần thiết để áp dụng màu sắc một cách sáng tạo vàhiệu quả Qua công trình nghiên cứu này sẽ có thêm phần lý thuyết về màusắc và phương pháp vận dụng để củng cố cho phần lý thuyết của luận án đượctốt hơn

Năm 2013, Trong cuốn Phương pháp tư duy & thực hành bố cục mỹ

thuật của Nhà giáo nhân dân, Họa sĩ Uyên Huy là một trong những tài liệu

Trang 29

nghiên cứu đã góp phần đáp ứng nhu cầu tìm tòi, sáng tạo của những ngườithích tìm hiểu về mỹ thuật Nội dung sách phân tích các bố cục thị giác vànguyên lý bố cục mỹ thuật Các khái niệm cơ bản nhằm giải thích các kháiniệm quan trọng của ngôn ngữ hình ảnh như điểm, đường thẳng, mặt phẳng,

tỷ lệ, độ phân cấp các lớp, và sự chuyển động trong bố cục Qua đó, tác giảcũng phân tích rất nhiều các tác phẩm nổi tiếng bằng ngôn ngữ dễ hiểu, ngắngọn và súc tích Công trình này sẽ giúp cho NCS có được những kiến thức bổích khi đi sâu vào phân tích cụ thể từng tác phẩm của các tác giả khác nhau

Nghiên cứu của tác giả Trương Phi Đức trong bài viết Nhận diện các

đặc điểm trong hoạt động và sáng tác mỹ thuật thời kỳ đổi mới (giai đoạn 1990-2005), và tác giả Nguyễn Thị Hợp trong bài viết Mỹ thuật Thành phố

Hồ Chí Minh sau 30 năm giải phóng [47], đã phần nào nói lên được các hoạt

động mỹ thuật tại Thành phố Hồ Chí Minh có những bước chuyển biến mạnh

mẽ và theo hướng hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng Từ đó, quan điểmsáng tác cũng như quan niệm về cái đẹp có những thay đổi

Năm 2006, trong cuốn sách Liên hiệp các Hội văn học Nghệ thuật

Thành phố Hồ Chí Minh [55], đã giới thiệu 49 tác phẩm của các chuyên

ngành: Văn học, Âm nhạc, Múa, Sân khấu, Điện ảnh, Nhiếp ảnh, Kiến trúc và

Mỹ thuật đoạt giải thưởng về Văn học Nghệ thuật Thành phố Hồ Chí Minhlần thứ nhất Các tác phẩm đã thể hiện được sự tìm tòi sáng tạo về hình tượng,ngôn ngữ, thủ pháp nghệ thuật, Qua tư liệu này đã giúp cho NCS có cái nhìnbao quát về hoạt động Văn học Nghệ thuật Thành phố Hồ Chí Minh trongthời kỳ hội nhập và phát triển Tuy nhiên, về hình ảnh thì NCS chỉ sử dụngđược sáu tác phẩm của chuyên ngành mỹ thuật

Cuốn sách 100 câu hỏi đáp về mỹ thuật ở Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí

Minh [51] của ba tác giả Uyên Huy, Trương Phi Đức, Lê Bá Thanh do Nxb

Văn hóa - Văn nghệ phát hành năm 2011 là công trình sưu tầm, nghiên cứu cógiá trị về mặt lịch sử mỹ thuật Sài Gòn - Gia Định, Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 30

Đây là công trình nghiên cứu mang tính tổng hợp các vấn đề sự kiện, nhân vật

đã và đang hoạt động nghệ thuật để giới thiệu về hội họa Thành phố Hồ ChíMinh Nội dung của cuốn sách này là 100 câu hỏi đáp về quá trình hình thành

và phát triển của Mỹ thuật Sài Gòn - Gia Định - Thành phố Hồ Chí Minh quacác thời kỳ lịch sử Đặc biệt, ở mỗi giai đoạn đều nói lên được đặc điểm nghệthuật cùng với những họa sĩ tiêu biểu của từng thời kỳ và cuối cùng đưa ranhững nhận định về đặc trưng mỹ thuật ở Thành phố đầu thế kỷ XXI Có thểnói, đây là nguồn tư liệu tham khảo bổ ích và gợi mở cho NCS về những vấn

đề đặt ra về tính đặc thù vùng miền được thể hiện qua từng tranh khắc gỗ ởThành phố Hồ Chí Minh và những biến đổi của nó như thế nào

Quá trình nghiên cứu và thực tiễn sáng tác, chúng ta có thể lý giải vềnghệ thuật hội họa một cách hoàn toàn từ cảm nhận tinh thần các yếu tố ngônngữ của hình và màu sắc Nhìn chung, những công trình nghiên cứu về lýthuyết, những bài viết hay các tham luận được đề cập ở trên sẽ là cơ sở đểNCS có thể đi vào nghiên cứu sâu, phân tích, so sánh, đánh giá và tìm ranhững đặc trưng về ngôn ngữ tạo hình của tranh khắc gỗ tại Thành phố HồChí Minh để làm nổi bật tính mới của đề tài luận án

1.2 Cơ sở lý thuyết và lý luận

1.2.1 Cơ sở lý thuyết

Nghiên cứu theo hướng lý thuyết giao lưu và tiếp biến văn hóa

NCS cho rằng khi nghiên cứu văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh lànghiên cứu quy luật chung của văn hóa vào một trường hợp đặc biệt, đó làThành phố Hồ Chí Minh Thành phố Hồ Chí Minh là vùng đất từ hơn 300năm nay luôn luôn là một trung tâm kinh tế, văn hóa, chính trị của vùng Nam

Bộ, nay là một trung tâm lớn phía Nam của đất nước Về vị trí quốc tế, khuvực Đông Nam Á, Thành phố Hồ Chí Minh là một cửa ngõ thông thương vớinhiều lợi thế nổi trội Giới thuyết nghiên cứu của luận án trong việc vận dụng

lý thuyết giao lưu và tiếp biến văn hóa ở đây để làm sáng tỏ một số vấn đề

Trang 31

trong luận án: 1 Sức hút mạnh mẽ của thành phố đối với các họa sĩ 2 Sự tích

tụ đa dạng văn hóa và sự trẻ trung trong đổi mới, 3 Sự kích thích sáng tạo từmôi trường năng động…

Lý thuyết giao lưu và tiếp biến văn hóa là một quan điểm về tương táchai chiều giữa các cá thể văn hóa trong một hoàn cảnh nhất định Một số nhà

lý luận văn hóa như GS Phan Ngọc, GS.TS Ngô Đức Thịnh áp dụng luậnthuyết này khi nghiên cứu văn hóa Việt Nam tiếp xúc với văn hóa phươngTây, Ấn Độ, Trung Hoa Luận thuyết này cho rằng khi hai hay nhiều nền vănhóa tiếp xúc với nhau thì luôn luôn xảy ra hiện tượng ảnh hưởng lẫn nhau chứkhông phải chỉ ảnh hưởng một chiều từ nền văn hóa cho là có ưu thế hơn.Trong trường hợp đó là hiện tượng người Mỹ hiện đại đã tiếp thu âm nhạc củacác bộ tộc da đen trong nhạc rap, vũ điệu hiphop Nhà nghiên cứu nghệ thuật

người Mỹ Ken Johnson viết trong bài How a Japaniese Master enlightened

the West –TBNY 1.7.2005 Ông cho rằng “Nghệ thuật tranh khắc của các họa

sĩ Nhật như Utagawa Hiroshige và Kasushika Hokusai đã gợi cảm hứng chohọa phái Ấn tượng hiện đại từ Manet, Bonnart, Gauguin, Cézanne,… họ đãhọc được cách biểu cảm bởi sự trong trẻo của màu sắc, tinh gọn tối đa vềmảng, và kiệm lược về nét như thế nào…” [127]

Lý thuyết giao lưu và tiếp biến văn hóa là một cách nhìn tích cực và

nhân văn hơn lý thuyết “khuyếch tán văn hóa” ở Tây Âu vào cuối thế kỷ

XIX- đầu thế kỷ XX Đây là trường phái văn hóa - lịch sử ở Đức và Áo (đạidiện là F.Ratzel, I.Frobenius, F.Grabner, W.Schmidt) và trường phái truyền bá

văn hóa ở Anh (đại diện là W.Rivers, G.Elliot Smith) Thuyết “khuyếch tán

văn hóa” đề cao vai trò của các trung tâm văn hóa lớn, ra đời từ các cuộc

chinh phục thuộc địa của chủ nghĩa thực dân, thường chú trọng chuyển độngvăn hóa một chiều

Tính chất đặc biệt của Thành phố Hồ Chí Minh được thể hiện trong nộidung trả lời chất vấn tại Quốc Hội ngày 16/8/2017 của Chủ tịch UBND

Trang 32

Tp.HCM Nguyễn Thanh Phong: “Thành phố Hồ Chí Minh là một thành phố vớigần 13 triệu dân sinh sống, gần 170.000 người nước ngoài cư ngụ, 300.000 dukhách quốc tế vãng lai mỗi tháng và là trung tâm đô thị lớn nhất Việt Nam xéttrên bình diện kinh tế và sự đa dạng kết cấu hạ tầng văn hóa xã hội”.

Ngày 24/11/2017 tại Kỳ họp lần 4 của Quốc hội khóa 14, đã thông quaquy chế trao 4 cơ chế đặc biệt cho thành phố có quy mô lớn nhất, đông dânnhất, thành phố trung tâm kinh tế lớn nhất nước Chính vấn đề nhiều khác biệtcủa Thành phố Hồ Chí Minh là sự minh chứng cho tính khả thi vận dụng lý

thuyết “vùng văn hóa” vào trong nghiên cứu tranh khắc gỗ ở Thành phố Hồ

Chí Minh giai đoạn 1986-2015 Vấn đề là NCS cần xem xét tìm ra mối liên hệtác động của kinh tế, văn hóa xã hội tác động đến quá trình hình thành các giátrị đặc trưng tranh khắc gỗ Thành phố Hồ Chí Minh như thế nào

Nghiên cứu theo hướng lý thuyết Vùng văn hóa

Trên thế giới, việc nghiên cứu vùng văn hóa được chú trọng phát triển

từ cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, với ba trường phái đỉnh cao: Thứ nhất

là thuyết “khuyếch tán văn hóa” ở Tây Âu vào cuối thế kỷ XIX- đầu thế kỷ

XX với trường phái văn hóa-lịch sử ở Đức và Áo (đại diện là F.Ratzel,

I.Frobenius, F.Grabner, W.Schmidt) và trường phái truyền bá văn hóa ở Anh

(đại diện là W.Rivers, G.Elliot Smith) Thứ hai là thuyết “vùng văn hóa”

trong nhân loại học Mỹ vào nửa đầu thế kỷ XX với đại diện là F.Boas,

O.T.Mason, C.Wissler, A.L.Kroeber Thứ ba là thuyết “loại hình kinh tế-văn

hóa” và “khu vực văn hóa-lịch sử” của dân tộc học Xô Viết vào giữa thề kỷ

XX với đại diện là N.N.Cheboksarov cùng với M.G.Levin, S.A.Tokarev và một số người khác

Theo Alfred Kroeber (1876-1960) thì vùng văn hóa có liên hệ mật thiếtvới vùng tự nhiên; vùng văn hóa là một khu vực địa lý xác định, được đặctrưng bởi sự tương đồng về phần lớn các đặc điểm văn hóa Nhìn chung,

“vùng văn hóa” thường được định nghĩa như một khu vực địa lý mà trong đó

Trang 33

các cộng đồng cư dân khác nhau hoặc các nền văn hóa khác nhau có nhữngđặc trưng văn hóa giống nhau, có cùng một kiểu phương thức hoạt động, hoặc

có cùng một định hướng văn hóa chủ đạo như nhau [87]

Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu về văn hóa đưa ra một số định nghĩa

“vùng văn hóa” cũng không giống nhau, Ngô Đức Thịnh thì định nghĩa:

“Vùng văn hóa là một vùng lãnh thổ có những tương đồng về mặthoàn cảnh tự nhiên, dân cư sinh sống ở đó từ lâu đã có những mốiquan hệ nguồn gốc và lịch sử, có những tương đồng về trình độ pháttriển kinh tế-xã hội, giữa họ đã diễn ra những giao lưu, ảnh hưởngvăn hóa qua lại, nên trong vùng đã hình thành những đặc trưngchung, thể hiện trong sinh hoạt văn hóa vật chất và văn hóa tinhthần của cư dân, có thể phân biệt với vùng văn hóa khác” [87.tr.42].Còn định nghĩa của Trần Quốc Vượng thì tập trung vào tính hệ thống:

“Một vùng văn hóa là một tổng thể hệ thống với một cấu trúc (structure sustem) - hệ thống bao gồm các hệ dưới hay tiểu hệ (sub-system) theo lối tiếpcận hệ thống (system analysis)” [87.tr.43] Định nghĩa của Ngô Đức Thịnh thìrất cụ thể, vì vậy mà thiếu sức khái quát, còn định nghĩa của Trần QuốcVượng thì rất khái quát và dẫn đến thiếu đầy đủ, sơ sài

-Từ các định hướng về nghiên cứu lý thuyết vùng văn hóa, NCS chorằng có thể áp dụng nhận diện trong loại hình mỹ thuật ở Thành phố Hồ ChíMinh Với vai trò là một trung tâm kinh tế - văn hóa lớn phía Nam, Thành phố

Hồ Chí Minh còn thể hiện một cách tập trung, mang tính điển hình của vănhóa Nam Bộ Với những kết quả nghiên cứu và thực nghiệm của nhiều tác giả

đi trước, nhiều sự đồng thuận cho rằng “Trong quá trình lịch sử và hoàn cảnh

xã hội đã tạo nên tính cách văn hóa của người Sài Gòn, có thể mang tính đạidiện cho người Nam Bộ” [29] NCS cần đưa ra nhận định mới về nghệ thuậttranh khắc gỗ Thành phố Hồ Chí Minh đoạn từ 1986 đến 2015

Trang 34

có mang tính đại diện cho phong cách tranh khắc gỗ Nam Bộ hay không, nếu

có thì tại sao?

1.2.2 Một số khái niệm liên quan đến luận án

Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: Tranh khắc gỗ là dạng tranh khắc

trên tấm gỗ (ván) phổ cập từ lâu đời từ nhiều nước Á, Âu Có thể in nhiềumàu, mỗi màu có bản khắc riêng Ví dụ: Tranh Đông Hồ, tiêu biểu cho dòngtranh dân gian Việt Nam; tranh Hàng Trống in một bản nét đen và tô màubằng tay Bộ dao khắc gồm nhiều chiếc (mũi dao có hình dạng khác nhau) đểkhắc, nạy, đẩy rãnh… [36, tr.532]

Từ những khái niệm trên tác giả luận án đưa ra khái niệm về tranh khắcgỗ: Tranh khắc gỗ là tác phẩm nghệ thuật tạo hình, được hình thành thông qua

kỹ thuật khắc và in ấn trong nghệ thuật đồ họa Người ta quan tâm đến nghệthuật khắc trên ván theo các thể hình: nét, tổ hợp nét, mảng màu lớp trước lớpsau, hay in màu theo kiểu độc bản, sử dụng chế bản in gỗ theo nhiều phươngpháp khác nhau nhằm tạo ra những hiệu ứng biểu đạt thẩm mỹ mới lạ

Lối in truyền thống của nghệ nhân Đông Hồ thuộc loại cổ điển nhất, đểtạo một bộ mộc bản, người ta chú trọng đến chọn gỗ, loại gỗ dai, ít cong, thớdẻo, cỡ kích theo kích thước tranh Trong nhiều trường hợp tranh to quá cỡngười nghệ nhân phải tạo ra mộc bản là ván ghép nhiều mảnh Người nghệnhân can vẽ hình, nét, bố cục lên gỗ, dùng dao khắc bỏ các thành phần không

in trên tranh ra khỏi bề mặt của khối gỗ đã được bào nhẵn, tùy theo thể loạitranh mà bản mộc có bản nét riêng, bản màu riêng hay nhiều bản màu in có độtrùng biên hay in chồng màu… Kỹ thuật in là sử dụng màu theo ý muốn, phachế màu xốp, hay đặc, tùy theo mỗi tác phẩm, phủ màu (mực in) lên các phầnnổi của mỗi mộc bản, nếu tranh nhiều mộc bản cần cố định khuôn in cho cácbản sao cho chính xác mảng, nét theo phác thảo Hiệu quả của màu in (xốp,mỏng, đậm hay mờ) là thuộc rung cảm thẩm mỹ cộng với kinh nghiệm củamỗi họa sĩ tranh khắc gỗ mang lại Kỹ thuật in khắc gỗ theo lối truyền thống

Trang 35

bao giờ cũng mang lại những hiệu quả thẩm mỹ khác tranh in bằng máy mócsản xuất hàng loạt.

Lối in tranh khắc gỗ hiện đại là: in tay, in máy và kết hợp giữa in máy

và in tay, đôi khi kết hợp cả phần tạo mache trên giấy trước khi in Số ván sửdụng in tranh là một ván in nét, một hoặc nhiều ván in màu, hoặc ván in nét

và ván in màu sử dụng cùng trên một bản khắc

Phong cách nghệ thuật

Theo Macxen Pruxt nhà văn Mỹ (TK XX) cho rằng: “Đối với nhà văncũng như nghệ sĩ, phong cách không phải là vấn đề kỹ thuật mà là vấn đề của

cái nhìn” [131] Tương tự như vậy Thái Bá Vân viết trong sách Tiếp xúc với

nghệ thuật, ông cho rằng: Không phải bất cứ con mắt nào đi qua tấm vải vẽ

đóng khung kia cũng thấy (tranh), (tr 11); Tác phẩm nghệ thuật ( ) khôngmiêu tả mà nói lên (tr 15); Bao giờ ta cũng chỉ viết, vẽ, chạm, tạc ra chínhtâm hồn mình” [114, tr 9] NCS cho rằng phong cách là thể hiện cá tính nộitâm và ngoại hình ở mỗi người, bộc lộ những thuộc tính riêng của mỗi cá thể,đối với họa sĩ cá tính sáng tạo thể hiện ở tác phẩm của họ Phong cách nghệthuật là những phẩm chất riêng có tính nhất quán của mỗi nghệ sĩ thể hiện trêntác phẩm thông qua ngôn ngữ nghệ thuật được nghệ sĩ sử dụng theo cáchriêng của mình Phong cách nghệ thuật của một nhóm nghệ sĩ là những tươngđồng nhất định về hình thức biểu đạt, đặc tính phản ánh nghệ thuật, có thể cótuyên ngôn, triết lý hay hình thành ngẫu nhiên, thể hiện cá tính sáng tạo vàphẩm chất nghệ thuật chung, đó cũng là tiền đề để hình thành các trường pháinghệ thuật Trường phái nghệ thuật có thuộc tính xã hội và tính lịch sử nhấtđịnh Nhiều sách dịch của Việt Nam khi nói về “phong cách” hội họa phươngTây thường đôi lúc thay thế bằng “chủ nghĩa” Ví dụ: Impression - trườngphái ấn tượng, Impressionism - chủ nghĩa ấn tượng NCS cho rằng khi nóimột chủ nghĩa trong nghệ thuật là ẩn ý cho rằng trường phái đó có ảnh hưởngsâu rộng trong đời sống xã hội và có triết lý riêng…

Trang 36

Khuynh hướng nghệ thuật

Trong Từ điển Tiếng Việt ghi: “Khuynh hướng là sự thiên về một phía

nào đó trong hoạt động, trong quá trình phát triển” Trong thực tiễn nhiều khi

có sự sử dụng cặp từ “xu hướng” và “khuynh hướng” thay thế trong nhiềutrường hợp Xu hướng chỉ một lựa chọn đã cụ thể mang tính vận động theomột hướng, đích đã rõ ràng, trong khi đó “khuynh hướng” lại áp dụng chotrường hợp, hướng vận động mà chưa đủ điều kiện về lượng và chất để địnhhình cụ thể Áp dụng vào nghiên cứu lịch sử mỹ thuật Việt Nam cận hiện đại,khi nghệ thuật phương Tây mới đến Việt Nam ở những năm đầu của TK XXvới sự ra đời Trường Mỹ thuật Đông Dương năm 1925 (L’Ecole des Beaux-Arts de L’Indochine), nhiều họa sĩ Việt Nam chịu ảnh hưởng của các trườngphái mỹ thuật Pháp, đặc biệt phong cách của chủ nghĩa Ấn tượng(Impressionisme) Tuy nhiên, sự ảnh hưởng của nó trong xã hội là chưa đủsâu rộng, đồng thời quy mô lực lượng tác giả không phải nhiều để có thể tạo

ra sự lay chuyển đáng kể Do vậy, ở Việt Nam khi viết về tình hình trên người

ta thường dùng cụm từ “xu hướng vẽ theo Ấn tượng ở Việt Nam” thay cho

“trường phái Ấn tượng hội họa Việt Nam” …

Áp dụng vào luận án, NCS sử dụng một số khuynh hướng sáng táctranh khắc gỗ Thành phố Hồ Chí Minh để nhận diện đặc trưng, sắc thái riêngcủa thể loại nghệ thuật này, nhưng đồng thời cũng cho thấy tính giới hạn vềmức độ, bởi những khuynh hướng sáng tác tranh khắc gỗ cũng như mỹ thuậtThành phố Hồ Chí Minh tuy có bản sắc riêng, nhưng đang trong quá trìnhhình thành, từng bước hoàn thiện để có thể định hình rõ nét trong tương lai

Ví dụ: khi nói “Khuynh hướng hiện thực” là một đặc trưng của tranh khắc gỗThành phố Hồ Chí Minh, NCS muốn nhận định về tính nổi trội trong tỷ lệ (sốlượng) cũng như tính phổ quát trong số đông tác giả, tính phản ánh thực tiễnsôi động của giai đoạn đổi mới sôi động của thành phố ở những năm 1986-2015

Trang 37

Khuynh hướng sáng tác

Từ “khuynh hướng” được áp dụng ghép với từ “sáng tác” tạo thành mộtcụm từ “khuynh hướng sáng tác” mang tính thuật ngữ nghệ thuật NCS chorằng “khuynh hướng sáng tác” áp dụng trong luận án nhằm nhận định về đặcđiểm, hướng sáng tác theo các sắc thái khác nhau của các họa sĩ, nhóm họa sĩ.Nhưng phần trên NCS đã dẫn luận từ các từ “xu hướng” và “khuynh hướng”,

“khuynh hướng nghệ thuật” tranh khắc gỗ Thành phố Hồ Chí Minh mặc dù đãtạo nên những sắc thái riêng, nhưng đủ lượng và chất, thời gian định hình nênphong cách nghệ thuật riêng cụ thể, do vậy NCS sử dụng cụm thuật ngữkhuynh hướng nghệ thuật cho phù hợp thực tiễn áp dụng đối tượng nghiêncứu NCS áp dụng phân tích các nhóm khuynh hướng khác nhau trong nghệthuật tranh khắc gỗ Thành phố Hồ Chí Minh như: 1.Nhóm khuynh hướng bảolưu phong cách truyền thống tranh khắc gỗ Việt Nam 2 Nhóm khuynh hướngcách tân 3 Nhóm khuynh hướng trang trí 4 Nhóm khuynh hướng thiên về

kỹ thuật…Mỗi nhóm khuynh hướng thể hiện những đặc trưng riêng trongbiểu đạt ngôn ngữ tạo hình như cách thức bố cục, cách thức khắc và in, sửdụng màu sắc, cách thức xây dựng hình tượng của riêng mình…

1.2.3 Nghệ thuật đồ họa tranh in

Là một loại hình nghệ thuật gián tiếp, đưa màu từ một khuôn in sang

bề mặt khác và phải dùng kỹ thuật in ấn để thể hiện tác phẩm Phương phápnày còn được gọi là phương pháp nhân bản vì có thể nhân rộng số lượng tácphẩm Do vậy, tranh đồ họa thường có nhiều bản gốc bởi số lượng tranh được

in nhiều Một tác phẩm đồ họa, ngoài những yêu cầu về chủ đề, bố cục, hìnhtượng thì người họa sĩ còn phải chú ý tới các yêu cầu về kỹ thuật khắc và kỹthuật in Vì đó là những yếu tố quyết định một phần của chất lượng tác phẩm.Nghệ thuật đồ họa tranh in bao gồm ba kỹ thuật và phương pháp cơ bản là: innổi, in lõm và in phẳng (In nổi áp dụng cho các chất liệu như khắc gỗ, khắc

Trang 38

thạch cao, khắc cao su In lõm như khắc đồng, khắc kẽm In phẳng như in đá).Các loại khắc này đều là quá trình sáng tác hình ảnh một cách gián tiếp và đưamàu từ một khuôn in sang một bề mặt khác.

Mỗi một loại hình nghệ thuật đều có kỹ thuật chất liệu, nét đặc trưng vàngôn ngữ nghệ thuật riêng Trong tranh khắc gỗ thì tranh khắc gỗ đen trắng cónhững điểm khác biệt với tranh khắc gỗ màu

Tranh khắc gỗ đen trắng: là tranh khắc gỗ đơn sắc Trên một ván gỗ,

người nghệ sĩ thể hiện hoàn chỉnh chủ đề cần được biểu hiện và khắc nhữngphần hình tượng cần khắc, khi khắc xong dùng mực đen hoặc màu đơn sắc lănđều, sau đó đặt giấy in lên trên và lực ép cần phải phân bổ đều trên mặt giấybằng cách xoa đều bằng tay hoặc thông qua máy in

“Một tác phẩm khắc gỗ đen trắng đẹp phụ thuộc vào tài năng của họa sĩphải biết sắp xếp, điều tiết các yếu tố nét và mảng sao cho thuận mắt, biếtcách xử lý các nét khắc nông, sâu, và vệt xước bằng dao khắc trên gỗ để tạomache (matière) khác nhau” [98] Hệ thống nét ngắn, dài và phân bố mảngđậm, nhạt của tranh khắc gỗ đen trắng sẽ có yêu cầu khác so với tranh khắc gỗmàu Vì thế tưởng chừng sẽ có chung một bản khắc nét nhưng thực tế mỗiloại có cách làm, cách thể hiện riêng

Tranh khắc gỗ màu: Là phương pháp sử dụng một ván in nét và một

hoặc nhiều ván in màu Ván in màu sẽ được in trước và sau đó in nét đenchồng lên trên để định hình, hoặc cũng sử dụng một ván in nét nhưng không

sử dụng ván in màu mà dùng tay vẽ màu và tạo mache trực tiếp lên giấy rồisau đó in nét chồng lên để hoàn tất tranh

Tranh khắc gỗ màu có những nét đặc trưng mà khắc gỗ đen trắng khôngthể có được như quá trình in nhiều lớp màu chồng lên nhau sẽ tạo nên mache,

độ thẩm thấu của màu và cuối cùng thì in nét chồng lên trên để tạo nên sự liênkết giữa các đối tượng trong tranh Trong tranh khắc gỗ màu, bản gỗ màu sẽ

Trang 39

là yếu tố làm tăng thêm màu sắc của tranh và bản gỗ nét mới là yếu tố rấtquan trọng để quyết định chất lượng tác phẩm.

Tranh khắc gỗ phá bản: Là cách chế ván in tranh khắc gỗ nhiều màu

chỉ trên một tấm gỗ Kỹ thuật này đưa vào giảng dạy từ năm 2007 tại Khoa

Đồ họa Trường Đại học Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh

Kỹ thuật khắc phá bản gỗ thực hiện theo nguyên lý xúc bỏ phần gỗ

đã in màu lần trước để tạo phần tử in cho bản màu tiếp sau trêncùng một ván gỗ Cụ thể hơn, sau khi in màu thứ nhất, vẫn trên ván

gỗ đó ta phá đi những phần cần thiết để khi in màu thứ hai thì màu

đó không bị che mất bởi màu sau Bằng quá trình khắc phá dần nhưvậy, họa sĩ tranh in có thể thực hiện một tác phẩm khắc gỗ nhiềumàu (trên 15 màu) mà không quá khó khăn và ít tốn kém vật chất,thời gian [78, tr 42-44]

Trước đây, khi làm tranh khắc gỗ màu người họa sĩ muốn thể hiện tranhbao nhiêu màu thì phải cần bấy nhiều ván khắc Nhưng hiện nay, với ưu thếcủa kỹ thuật khắc phá bản thì người họa sĩ sáng tác chỉ cần một ván khắc duynhất sẽ thực hiện được tranh khắc gỗ nhiều màu với kích thước lớn thật dễdàng và hiệu quả nghệ thuật cao Ngày nay, với kỹ thuật khắc phá, cùng với

sự hỗ trợ của máy khắc công nghệ cao laser, CNC (Computer NumericalControl) và màu in đa dạng thì họa sĩ có thể thực hiện được nhiều nội dung,hình thức thể hiện trong nghệ thuật đương đại và đã tạo nên hiệu quả thị giácmới trong tranh khắc gỗ hiện đại Tuy nhiên, bên cạnh những mặt thuận lợi,thú vị của kỹ thuật khắc phá bản như chúng ta đề cập đến ở phấn trên thì cũng

có mặt hạn chế của kỹ thuật này là sau khi in xong, những ván khắc đó khôngthể sử dụng để in tiếp được Do đó, cách làm này đòi hỏi người họa sĩ phải rấtchủ động và tính toán kỹ các bước, các khâu trước khi khắc tranh vì nhữngphần khắc bỏ sẽ không làm lại được

Trang 40

1.3 Sự hình thành và phát triển nghệ thuật tranh khắc gỗ tại Thành phố Hồ Chí Minh

1.3.1 Tranh khắc gỗ tại Thành phố Hồ Chí Minh trước năm 1975

Tranh khắc gỗ ở nước ta có nguồn gốc từ lâu đời và là một vốn nghệthuật quý của dân tộc Từ thời Lý, nghề in khắc gỗ đã được sử dụng trongviệc in Kinh Phật, nhưng đến khoảng thế kỷ XVII-XVIII mới thực sự nở rộqua các dòng tranh: Đông Hồ, Hàng Trống và Kim Hoàng Mỗi dòng tranh có

vẻ đẹp ở phong cách tạo hình cũng như kỹ thuật khắc, in, tô màu rất riêng làmcho người xem không hề lẫn lộn, đó mới là cái quý của nghệ thuật

Theo bước cư dân Việt hành trình trên đường Nam tiến, người Việtmang theo các tài sản văn hóa tinh thần và tái hiện tại các vùng đất mới đểphục vụ cho chính cuộc sống của họ Khoảng cuối thế kỷ XIX, tại Nam Bộ códòng tranh Đồ Thế, loại tranh thờ được người nghệ nhân sáng tạo với một lốikhắc nét khúc chiết, hình nét khá giản lược, tính biểu cảm khá độc đáo, đượcngười Việt ở Nam Bộ sử dụng trong lễ, tết làm vật thờ cúng dâng lên tổ tiên

Có thể xem đây là một loại tranh mộc bản thuộc tín ngưỡng dân gian đã tồntại từ lâu đời Loại tranh này cũng rất phổ biến ở miền Trung, chỉ khác ở têngọi và cách thể hiện tạo hình mà thôi Tại Huế có Làng Sình, một làng venbiển, cách trung tâm thành phố 7km, vẫn chuyên in ấn các tấm tranh cúng thếmạng, gọi chung là các “con ảnh”, dùng để cúng rồi đốt (hóa mã) Các hình vẽtrong bộ Đồ Thế có nhiều điểm thực hết sức độc đáo, thích mắt, rất Việt Nam

mà lại rất miền Nam [26]

Tranh Đồ Thế vẽ Bà Mẹ Độ (Thánh Mẫu) với Kim Đồng, Ngọc Nữđứng hầu hai bên, phía đằng sau là thiếu nữ chăm sóc cảnh vườn của bà đangtưới nước lên chậu hoa kiểng, toàn cảnh được một Ông Hổ trấn giữ

Cách bố cục tấm tranh vẫn nằm trong tính truyền thống của nghệ thuậtmộc bản dân gian, chú trọng vào ý nghĩa mà sắp xếp và nhất là làm thế nào đểbức tranh có được một trật tự hợp lý và mang tính mỹ thuật cao Tất cả đều

Ngày đăng: 09/10/2019, 13:57

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w