TRÍCH YẾU LUẬN ÁNTên tác giả: Nguyễn Ngọc SơnTên Luận án: Nghiên cứu sử dụng chế phẩm nguồn gốc thảo dược phòng và trị bệnh viêm tử cung bò sữa Chuyên ngành: Sinh sản và bệnh sinh sản gi
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN NGỌC SƠN
DƯỢC PHÒNG VÀ TRỊ BỆNH VIÊM TỬ CUNG BÒ SỮA
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
NHÀ XUẤT BẢN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP – 2019
Trang 2H C VI N NÔNG NGHI P VI T NAM Ọ Ệ Ệ Ệ
Ngườ ưới h ng d n khoa h c:ẫ ọ
Sinh s n và b nh sinh s n gia súc ả ệ ả
9 64 01 06 PGS.TS Nguy n Văn Thanh ễ
TS Nguy n H u C ễ ữ ườ ng
NHÀ XUẤT BẢN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP - 2019
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiêncứu được trình bày trong luận án là trung thực, khách quan và chưa từng dùng bảo vệ đểlấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận án đã được cảm
ơn, các thông tin trích dẫn trong luận án này đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày 25 tháng 4 năm 2019
Tác giả luận án
Nguyễn Ngọc Sơn
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy giáo, cô giáo trong Học việnNông nghiệp Việt Nam, những người đã giảng dạy và dìu dắt tôi trong suốt hai năm họccao học, đồng thời tạo điều kiện để tôi tiếp tục học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận
án này
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Văn Thanh và TS.Nguyễn Hữu Cường - người thầy hướng dẫn khoa học, đã tận tình động viên, giúp đỡtôi trong cuộc sống cũng như quá trình hoàn thành luận án
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới ban lãnh đạo cùng toàn thể cán bộ Chi cụcThú y Hà Nội, cơ quan công tác của tôi đã tạo điều kiện thuận lợi nhất để tôi vừa hoànthành nhiệm vụ công việc, vừa hoàn thành công trình nghiên cứu của mình
Tôi xin chân thành cảm ơn các đơn vị sau đây đã nhiệt tình giúp đỡ tôi để hoànthành luận án này:
- Ban Giám đốc, Học viên Nông nghiệp Việt Nam;
- Ban Quản lý đào tạo, Học viện Nông nghiệp Việt Nam;
- Khoa Thú y, Học viện Nông nghiệp Việt Nam;
- Bộ môn Ngoại sản, Khoa Thú y, Học viện Nông nghiệp Việt Nam;
- Trung tâm Nghiên cứu Bò và Đồng cỏ Ba Vì;
- Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Nội
- Trung tâm Phát triển nông nghiệp Hà Nội;
- Chi cục Chăn nuôi và Thú y Hà Nội;
- Các hộ chăn nuôi thuộc huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội và huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc;
- Hợp tác xã Đầu tư nông trại xanh và phát triển bò Ba Vì, thành phố Hà Nội.Xin cảm ơn gia đình, người thân, các đồng nghiệp đã động viên, tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình công tác cũng như hoàn thành bản luận án này
Hà Nội, ngày 25 tháng 4 năm 2019
Tác giả luận án
Nguyễn Ngọc Sơn
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các chữ viết tắt vii
Danh mục bảng viii
Danh mục hình x
Trích yếu luận án xii
Thesis abstract xiv
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.2.1 Mục tiêu chung 3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 4
1.3 Phạm vi nghiên cứu 4
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 4
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 4
1.4 Những đóng góp mới của luận án 5
1.5 Ý nghĩa khoa học, ý nghĩa thực tiễn 5
1.5.1 Ý nghĩa khoa học 5
1.5.2 Ý nghĩa thực tiễn 5
Phần 2 Tổng quan tài liệu 6
2.1 Khái quát về bệnh viêm tử cung ở bò 6
2.1.1 Khái niệm về viêm tử cung 6
2.1.2 Phân loại viêm tử cung 6
2.1.3 Chẩn đoán bệnh viêm tử cung 9
2.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến bệnh viêm tử cung ở bò sữa 10
2.2.1 Ảnh hưởng của giống 10
2.2.2 Ảnh hưởng của mùa vụ 10
Trang 62.2.4 Ảnh hưởng của quá trình đẻ 10
2.2.5 Ảnh hưởng của sản lượng sữa 11
2.2.6 Ảnh hưởng của một số bệnh sản khoa 11
2.3 Điều trị bệnh viêm tử cung 13
2.3.1 Điều trị viêm tử cung bằng hormone 13
2.3.2 Điều trị viêm tử cung bằng hóa dược 14
2.3.3 Điều trị viêm tử cung bằng kháng sinh 15
2.3.4 Điều trị viêm tử cung bằng thuốc có nguồn gốc thảo dược 16
2.4 Hiện tượng kháng thuốc của vi khuẩn và tồn dư kháng sinh trong sản phẩm chăn nuôi 17
2.4.1 Hiện tượng kháng thuốc kháng sinh của vi khuẩn 17
2.4.2 Vấn đề tồn dư kháng sinh trong các sản phẩm chăn nuôi 18
2.5 Tình hình nghiên cứu bệnh viêm tử cung bò trên thế giới và tại Việt Nam 19
2.5.1 Tình tình nghiên cứu điều trị viêm cung bò trên thế giới 19
2.5.2 Tình hình nghiên cứu viêm tử cung bò tại Việt Nam 19
2.6 Sử dụng chế phẩm thảo dược để điều trị bệnh viêm tử cung bò 20
2.6.1 Tình hình sử dụng thảo dược để điều trị bệnh cho gia súc, gia cầm 20
2.6.2 Các chế phẩm thảo dược được sử dụng trong nghiên cứu 21
Phần 3 Vật liệu, nội dung và phương pháp nghiên cứu 32
3.1 Vật liệu nghiên cứu 32
3.2 Nội dung nghiên cứu 32
3.2.1 Thực trạng bệnh viêm tử cung ở bò sữa tại huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội và huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc 32
3.2.2 Một số yếu tố ảnh hưởng tới tỷ lệ viêm tử cung ở bò sữa 32
3.2.3 Sự biến đổi một số chỉ tiêu lâm sàng, vi khuẩn học trong bệnh viêm tử cung ở bò sữa 32
3.2.4 Tính mẫn cảm với kháng sinh của một số vi khuẩn hiếu khí được phân lập từ dịch tử cung bò sữa 33
3.2.5 Thử nghiệm sử dụng chế phẩm có nguồn gốc thảo dược phòng và trị bệnh viêm nội mạc tử cung ở bò sữa 33
3.3 Phương pháp nghiên cứu 34
Trang 73.3.1 Phương pháp nghiên cứu thực trạng bệnh viêm tử cung ở bò sữa tại huyện
Ba Vì, thành phố Hà Nội và huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc 34
3.3.2 Phương pháp nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng tới tỷ lệ viêm tử cung ở bò sữa 34
3.3.3 Phương pháp nghiên cứu sự biến đổi một số chỉ tiêu lâm sàng, vi khuẩn học trong bệnh viêm tử cung ở bò sữa 35
3.3.4 Phương pháp xác định tính mẫn cảm với kháng sinh của một số vi khuẩn hiếu khí được phân lập từ dịch tử cung bò sữa 35
3.3.5 Thử nghiệm sử dụng chế phẩm có nguồn gốc thảo dược phòng và trị bệnh viêm nội mạc tử cung ở bò sữa 35
3.3.6 Phương pháp xử lí số liệu 48
Phần 4 Kết quả và thảo luận 49
4.1 Thực trạng bệnh viêm tử cung trên đàn bò sữa tại huyện Ba Vì thành phố Hà Hội và huyện Vĩnh Tường tỉnh Vĩnh Phúc 49
4.1.1 Tỉ lệ mắc bệnh viêm tử cung trên đàn bò sữa tại huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội và huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc 49
4.1.2 Kết quả khảo sát tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung bò sữa ở các giai đoạn khác nhau 50
4.1.3 Kết quả khảo sát tỷ lệ mắc các thể viêm tử cung ở bò sữa 52
4.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến tỉ lệ viêm tử cung ở bò sữa 53
4.2.1 Ảnh hưởng của lứa đẻ đối với viêm tử cung ở bò sữa 53
4.2.2 Ảnh hưởng của sản lượng sữa đối với tỉ lệ mắc bệnh viêm tử cung ở bò sữa 54
4.2.3 Ảnh hưởng của bò đẻ khó và sát nhau đối với viêm tử cung ở bò sữa 56
4.3 Biến đổi một số chỉ tiêu lâm sàng, vi khuẩn học trong bệnh viêm tử cung ở bò sữa 57
4.3.1 Kết quả xác định sự thay đổi một số chỉ tiêu lâm sàng khi bò sữa bị viêm tử cung 57
4.3.2 Kết quả xác định sự biến đổi về tổng số vi khuẩn hiếu khí có trong dịch tử cung của bò sữa 60
4.3.3 Kết quả xác định sự biến đổi về thành phần vi khuẩn hiếu khí có trong dịch viêm tử cung của bò sữa 61
Trang 84.4 Tính mẫn cảm với kháng sinh của một số vi khuẩn hiếu khí được phân lập
từ dịch tử cung bò sữa 64
4.4.1 Kết quả xác định tính mẫn cảm của các vi khuẩn phân lập được từ dịch tử cung bò sữa với một số thuốc kháng sinh thông dụng 64
4.4.2 Kết quả xác định tính mẫn cảm của tập đoàn vi khuẩn có trong dịch viêm đường sinh dục bò sữa với một số thuốc kháng sinh 65
4.5 Thử nghiệm sử dụng chế phẩm nguồn gốc thảo dược để phòng và trị bệnh viêm nội mạc tử cung ở bò sữa 67
4.5.1 Khả năng ức chế vi khuẩn in vitro của cao dịch chiết thảo dược ở các nồng độ 100 mg/ml với vi khuẩn Staphylococcus spp và Streptococcus spp phân lập từ dịch viêm tử cung bò 67
4.5.2 Khả năng ức chế vi khuẩn in vitro của cao dịch chiết thảo dược ở các nồng độ khác nhau đối với vi khuẩn Staphylococcus spp phân lập từ dịch viêm tử cung bò 69
4.5.3 Khả năng ức chế vi khuẩn in vitro của cao dịch chiết thảo dược ở các nồng độ khác nhau đối với vi khuẩn Streptococcus spp phân lập từ dịch viêm tử cung bò 71
4.5.4 Đánh giá khả năng ức chế vi khuẩn in vitro của cao khô dịch chiết dược liệu khi phối hợp 74
4.5.5 Khả năng ức chế vi khuẩn in vitro của cao khô dược liệu khi pha loãng 77
4.5.6 Kết quả thử độ an toàn của chế phẩm có nguồn gốc thảo dược đến một số chỉ tiêu lâm sàng của bò 80
4.5.7 Nghiên cứu phòng bệnh viêm tử cung bò bằng chế phẩm có nguồn gốc thảo dược 87
4.5.8 Thử nghiệm điều trị bệnh viêm tử cung bằng chế phẩm có nguồn gốc thảo dược 92
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 99
5.1 Kết luận 99
5.2 Kiến nghị 99
Danh mục các công trình đã công bố liên quan đến luận án 101
Tài liệu tham khảo 102
Phụ lục 110
Trang 10DANH MỤC BẢNG
2.1 Chẩn đoán phân biệt các thể viêm tử cung 9
4.1 Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung ở bò sữa trong chăn nuôi nông hộ tại huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội và huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc 49
4.2 Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung bò sữa ở các giai đoạn khác nhau (n=189) 51
4.3 Tỷ lệ mắc các thể viêm tử cung ở bò sữa (n=189) 53
4.4 Sự ảnh hưởng của lứa đẻ đối với bệnh viêm tử cung ở bò sữa 53
4.5 Ảnh hưởng của sản lượng sữa đối với tỉ lệ mắc bệnh viêm tử cung ở bò sữa 55
4.6a Ảnh hưởng của đẻ khó đối với bệnh viêm tử cung ở bò sữa 56
4.6b Ảnh hưởng của sát nhau đối với bệnh viêm tử cung ở bò sữa 56
4.7 Kết quả theo dõi sự thay đổi một số chỉ tiêu lâm sàng của bò mắc bệnh viêm tử cung 58
4.8 Tổng số vi khuẩn hiếu khí có trong dịch tử cung của bò 60
4.9 Tần suất xuất hiện của một số vi khuẩn hiếu khí trong dịch tử cung 62
4.10 Tính mẫn cảm của vi khuẩn Staphylococcus spp và Streptococcus spp phân lập được từ dịch viêm tử cung bò sữa với một số thuốc kháng sinh 65
4.11 Kết quả xác định tính mẫn cảm của tập đoàn vi khuẩn 66
4.12 Khả năng ức chế vi khuẩn in vitro của cao dịch chiết thảo dược ở các nồng độ 100 mg/ml với vi khuẩn Staphylococcus spp và Streptococcus spp. phân lập từ dịch viêm tử cung bò 68
4.13 Khả năng ức chế vi khuẩn in vitro của cao dịch chiết thảo dược ở các nồng độ khác nhau đối với vi khuẩn Staphylococcus spp phân lập từ dịch viêm tử cung bò 70
4.14 Khả năng ức chế vi khuẩn in vitro của cao dịch chiết thảo dược ở các nồng độ khác nhau đối với vi khuẩn Streptococcus spp phân lập từ dịch viêm tử cung bò 72
4.15 Khả năng ức chế in vitro vi khuẩn Staphylococcus spp phân lập từ dịch viêm tử cung bò của các công thức thí nghiệm 75
4.16 Khả năng ức chế in vitro vi khuẩn Streptococcus spp phân lập từ dịch viêm tử cung bò của các công thức thí nghiệm 76
Trang 114.17 Tỷ lệ phối hợp các loại cao khô của công thức lựa chọn 77
4.18 Khả năng ức chế vi khuẩn in vitro của cao dịch chiết thảo dược ở các nồng
độ khác nhau đối với vi khuẩn Staphylococcus spp phân lập từ dịch viêm
tử cung bò 78
4.19 Khả năng ức chế vi khuẩn in vitro của cao dịch chiết thảo dược ở các nồng
độ khác nhau đối với vi khuẩn Streptococcus spp phân lập từ dịch viêm tử
cung bò 784.20 Kết quả theo dõi sự biến đổi thân nhiệt của bò khi sử dụng thảo dược dạng
huyền phù và dạng viên 814.21 Kết quả theo dõi sự biến đổi tần số hô hấp của bò khi sử dụng sản phẩm có
nguồn gốc thảo dược 824.22 Tổng hợp kết quả theo dõi sự biến đổi tần số mạch đập của những bò khi
sử dụng sản phẩm có nguồn gốc thảo dược 834.23 Kết quả theo dõi sự biến đổi tần số nhu động dạ cỏ của bò khi sử dụng sản
phẩm có nguồn gốc thảo dược 854.24 Ảnh hưởng của chế phẩm có nguồn gốc thảo dược đến phản ứng co bóp
của tử cung bò tại thời điểm ngày 1 sau khi thụt 864.25 Ảnh hưởng của chế phẩm có nguồn gốc thảo dược đến thời gian chảy sản
dịch của bò sau khi đẻ 884.26 Ảnh hưởng của chế phẩm có nguồn gốc thảo dược đến tỷ lệ mắc bệnh viêm
tử cung của bò sau khi đẻ 904.27 Quy chuẩn thức dây đo vòng ngực bò để tính khối lượng cơ thể của bò sữa 914.28 Tổng số vi khuẩn hiếu khí có trong dịch tử cung của bò trước khi sử dụng
chế phẩm có nguồn gốc thảo dược 924.29 Tổng số vi khuẩn hiếu khí có trong dịch tử cung của bò sau khi dùng sản
phẩm có nguồn gốc thảo dược 944.30 Hiệu quả của chế phẩm có nguồn gốc thảo dược điều trị bệnh viêm nội mạc
tử cung sau khi đẻ của bò 954.31 Kết quả đánh giá khả năng sinh sản của bò sau khi điều trị khỏi bệnh viêm
nội mạc tử cung 96
Trang 12DANH MỤC HÌNH
2.1 Viêm nội mạc tử cung 7
2.2 Viêm cơ tử cung 8
2.3 Đẻ khó do kích thước của bào thai không bình thường (thai quá to) 12
2.4 Đẻ khó do tư thế thai không bình thường 12
2.5 Cây Mò hoa trắng 22
2.6 Cây Bồ công anh 24
2.7 Cây Đơn đỏ 25
2.8 Cây Tô mộc 26
2.9 Cây Sài đất 27
2.10 Cây Mỏ quạ 28
2.11 Cây và các bộ phận của cây Huyền diệp 30
2.12 Cây Xuân hoa 31
3.1 Quy trình tách chiết các loại thảo dược 36
3.2 Cao thảo dược sau đông khô được phân tán trở lại dạng lỏng hòa vào ethanol 20% đến hỗn dịch chứa dược chất có nồng độ ban đầu là 1000mg/ml 39
3.3 Huyền phù sử dụng công thức 3 tại nồng độ 300 mg/ml 41
3.4 Viên thuốc bào chế bằng tá dược gelatin - glyceryl 43
3.5 Khuôn thuốc đặt thủ công loại 6 viên 44
3.6 Khuôn thuốc được mở nắp trong quá trình lấy viên thuốc ra khỏi khuôn 45
3.7 Sáu viên thuốc thu được sau một lần đổ khuôn 45
4.1 Bò sữa sau khi đẻ mắc viêm tử cung 51
4.2 Bò sữa sau đẻ mắc viêm tử cung 52
4.3 Bò đẻ lứa đầu bị viêm tử cung 54
4.4 Bò sữa có sản lượng sữa cao > 30 kg/ngày bị viêm tử cung 55
4.5 Bò sữa bị bệnh viêm tử cung 59
4.6 Tử cung bò sữa bị bệnh viêm tử cung 59
4.7 Kết quả thử phản ứng WST phát hiện bệnh viêm tử cung 61
4.8 Hình ảnh phân lập Streptococcus và Staphylococcus trên môi trường thạch máu 63
Trang 134.9 Phân lập Salmonella trên môi trường SS agar 64
4.10 Phân lập E.coli trên môi trường EM agar 64
4.11 Tác dụng ức chế vi khuẩn in vitro của cao khô dịch chiết lá cây Đơn đỏ khi
pha loãng 73
4.12 Tác dụng ức chế vi khuẩn in vitro của cao khô dịch chiết lá cây Huyền diệp
khi pha loãng 73
4.13 Hình ảnh thử khả năng ức chế vi khuẩn Staphylococcus spp của các chế
phẩm có nguồn gốc thảo dược 79
4.14 Hình ảnh thử khả năng ức chế vi khuẩn Streptococcus spp của các chế
phẩm có nguồn gốc thảo dược 804.15 Bò chảy sản dịch màu trắng 884.16 Bò chảy sản dịch màu hồng 884.17 Một số hình ảnh bò được điều trị khỏi bệnh viêm nội mạc tử cung và đang
mang thai 97
Trang 14TRÍCH YẾU LUẬN ÁNTên tác giả: Nguyễn Ngọc Sơn
Tên Luận án: Nghiên cứu sử dụng chế phẩm nguồn gốc thảo dược phòng và trị bệnh
viêm tử cung bò sữa
Chuyên ngành: Sinh sản và bệnh sinh sản gia súc Mã số: 9 64 01 06
Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp điều tra, phỏng vấn trực tiếp người chăn nuôi kết hợp với việc theodõi trực tiếp để xác định các chỉ tiêu lâm sàng của bò mắc bệnh viêm tử cung;
Phương pháp Whiteside test;
Phương pháp thử kháng sinh đồ;
Phương pháp tách chiết, bào chế, pha loãng dịch chiết thảo dược;
Phương pháp nuôi cấy vi khuẩn;
Phương pháp xác định mật độ vi khuẩn
Xác định sự biến đổi một số chỉ tiêu lâm sàng của trâu bò mắc bệnh viêm tửcung bằng phương pháp thường quy đếm nhiều lần hoặc quan sát vào một thời điểm quyđịnh và lấy số bình quân
Phương pháp xử lí số liệu
Kết quả chính và kết luận
Tỷ lệ bò sữa bị mắc bệnh viêm tử cung khi nuôi trong nông hộ trên địa bànhuyện Ba Vì, thành phố Hà Nội và huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc là khá cao, trungbình 22,05%, bệnh thường tập trung trong giai đoạn ≤ 24 ngày sau đẻ (30,93%), bò đẻ
từ 5 lứa trở lên (32,00%), bò có sản lượng sữa cao >30 kg (30,32%), bò đẻ khó và bò bịsát nhau
Trang 15Trong tổng số các trường hợp bò sữa bị viêm tử cung, tỷ lệ mắc thể viêm nộimạc tử cung chiếm tỷ lệ cao nhất (80,43%), tiếp đến là thể viêm cơ tử cung (15,34%) vàthấp nhất là viêm tương mạc tử cung (4,23%).
Khi bò bị viêm tử cung, các chỉ tiêu sinh lý lâm sàng có sự thay đổi rõ rệt Thânnhiệt, tần số mạch đập và tần số hô hấp của bò viêm tử cung đều tăng lên so với bò bìnhthường
Tổng số vi khuẩn hiếu khí có trong dịch viêm tử cung tăng lên gấp 112,93 lần sovới trong dịch tử cung của bò sữa không bị viêm (7,95 ± 2,71) x 108 so (7,04 ± 2,95) x
106 CFU/ml
Đối với dịch tử cung, tỷ lệ mẫu phát hiện thấy Staphylococcus và Streptococcus
ở bò không bị viêm tử cung lần lượt là 24,00% và 16,00%, khi bị viêm tử cung phát
hiện là 100% mẫu bệnh phẩm.
Norfloxacin là loại kháng sinh có tính mẫn cảm cao nhất đối với cả 2 loại vi
khuẩn: Staphylococcus và Streptococcus phân lập được từ dịch viêm tử cung bò.
Bồ công anh, Đơn đỏ, Huyền diệp, Mò hoa trắng và Sài đất là 05 loại dược liệu
có khả năng ức chế vi khuẩn khuẩn in vitro đối với cả hai chủng vi khuẩn Staphylococcus spp và Streptococcus spp phân lập từ dịch viêm tử cung bò.
Chế phẩm có nguồn gốc thảo dược dạng viên và dạng huyền phù không gây ảnhhưởng tới các chỉ tiêu sinh lí của bò như thân nhiệt, hô hấp, tim mạch, nhu động dạ cỏ
và phản ứng co của tử cung
Chế phẩm có nguồn gốc thảo dược dạng viên hoặc dạng Huyền phù được đặthay thụt vào tử cung đảm bảo tiêu chí an toàn, có tác dụng phòng và trị bệnh viêm tửcung tương đương với kết quả khi sử dụng kháng sinh
Khả năng sinh sản của bò sau khi điều trị khỏi bằng chế phẩm có nguồn gốc thảodược là khá cao, kết quả tương đương, thậm chí có phần cao hơn nhóm bò sử dụngkháng sinh
Trang 16THESIS ABSTRACTPhD candidate: Nguyen Ngoc Son
Thesis Title: Study on the use of herbal products for prevention and treatment of
metritis in dairy cows
Major: Veterinary Theriogenology Code: 9 64 01 06
Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)
Materials and Methods
To use survey method, direct interview of livestock farmers in combination withdirect monitoring to determine the clinical parameters of cows infected with metritis;
Whiteside test method;
Antimicrobial test method;
Method of extraction, preparation, dilution of herbal extracts;
Bacterial culture method;
Determination of bacterial density
Determination of some of the clinical parameters of daily cows with metritis byroutine method or observation at a prescribed time and on an average basis
Main findings and conclusions
The rate of dairy cows infected with metritis in households in Ba Vi, Ha Noi andVinh Tuong district, Vinh Phuc province is quite high, an average of 22.05% Thedisease is often concentrated in period ≤ 24 days postpartum (30.93%), cows from 5farrowings or more (32.00%), high milk cows (> 30 kg) (30.32%), difficult calving,placenta placental retention
Trang 17Of the total number of cases of metritis, the incidence of endometritis washighest (80.43%), followed by cervicitis (15.34%) and lowest in metritis (4.23%).
When cows become infected with metritis, the clinical physiological parameterschange dramatically Body temperature, pulse rate and respiratory rate of metritisinfected cows are increased compared to normal cows
The total number of aerobic bacteria in the uterine mucus was 112.93 timeshigher than in the non-infected cows (7.95 ± 2.71) x 108 compared with (7.04 ± 2.95) x
106 CFU/ml
For uterine mucus, the rate of Staphylococcus and Streptococcus in
non-infectious cows was 24.00% and 16.00%, respectively In case of the metritis was found
to be 100% samples
Norfloxacin is the most susceptible antibiotic for both bacterial strains:
Staphylococcus and Streptococcus isolated from cows infected with metritis.
Dandelion, Excoecaria cochinchinensis, Green Champa, Clerodendron fragrans
Vent, and Wedelia chinensis are 05 kinds of drugs that inhibit bacteria in vitro for both strains of Staphylococcus spp and Streptococcus spp isolated from cows infected with
metritis
Medicinal compositions derived from herbal tablets or suspensions do not affectthe physiological indicators of cows such as body temperature, respiratory,cardiovascular, rumen motility and uterine contraction
Medicinal compositions derived from herbal tablets or suspensions placed orimplanted in uterus ensures safety criteria, operates to prevent and treat metritis in cowsequivalent to the results when using antibiotics
Reproductive performance of cows after treatment with herbal extracts wasrelatively high, with a similar result, even somewhat higher than that of cows usingantibiotics
Trang 18PHẦN 1 MỞ ĐẦU1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trong những qua, ngành chăn nuôi bò sữa và chế biến sữa ở nước ta đã đạtđược nhiều nhiều thành tựu lớn về tổng đàn, năng suất, chất lượng, an toàn thựcphẩm, năng lực đầu tư công nghệ cao, năng lực chế biến sữa và đa dạng hóa sảnphẩm của các doanh nghiệp chế biến sữa Những thành tựu này của Ngành sữaViệt Nam đã được cộng đồng quốc tế đánh giá là dẫn đầu vùng Đông Nam Á vềquy mô chăn nuôi, công nghệ áp dụng và thương mại hóa sản phẩm Theo báocáo của Cục Chăn nuôi trong giai đoạn từ 2001-2017, tổng đàn bò sữa tăngtrưởng 13,24 %/năm, sản lượng sữa tăng 17,73 %/năm, cao nhất trong tất cả cáclĩnh vực trong chăn nuôi Điều này góp phần quan trọng cho tăng trưởng tổngdoanh thu của ngành sữa đạt tốc độ 17,6 %/năm, đạt 95.000 tỷ VNĐ Trong năm
2017, toàn ngành sữa tại Việt Nam đạt doanh thu 100 ngàn tỷ VNĐ (tương đương4,4 tỷ USD), tăng trưởng 10% so với năm 2016 Tăng trưởng ngành sữa nước tatrong năm 2017 chủ yếu dựa vào 2 sản phẩm chủ yếu là sữa dạng lỏng và sữa bột,chiếm tới 75% doanh thu của toàn ngành Việt Nam tiêu dùng trên 1,33 tỷ lít sữa,tăng 6,6% so với năm 2016 và tiêu dùng 127,4 ngàn tấn sữa bột, tăng 10,4% sovới năm 2016
Trong 5 năm gần đây, đàn bò sữa nước ta tăng cả về số lượng và chấtlượng, cụ thể năm 2013 đàn bò sữa đạt 186 ngàn con, tăng 11,62% so với cùng
kỳ năm 2012, năm 2014 tăng 22,1% lên 227,6 ngàn con, năm 2015 đạt 275,3ngàn con tăng gần 21% so với năm 2014; sản lượng sữa đạt 723,153 ngàn tấn,tăng 31,59% so với cùng kỳ năm 2014 Năm 2017, chăn nuôi bò sữa phát triển ổnđịnh, đàn bò sữa tiếp tục phát triển tốt do một số doanh nghiệp tăng cường đầu tư
và mở rộng quy mô chăn nuôi kết hợp với điều kiện thuận lợi tại một số địaphương và những tác động nhất định của Chương trình sữa học đường Quốc gia;đàn bò sữa tiếp tục phát triển tốt và mở rộng thêm ở một số địa phương như: PhúYên, Thanh Hóa, Lâm Đồng, Hà Giang Theo số liệu của Tổng cục Thống kê tạithời điểm 01/10/2017, tổng đàn bò sữa cả nước đạt 283 ngàn con tăng 6,6% sovới cùng kỳ năm 2016 cho sản lượng sữa bò đạt 881,3 ngàn tấn, tăng gần 12,6%
so với cùng kỳ 2016
Trang 19Chất lượng đàn bò sữa ngày càng được cải thiện do quá trình chọn lọc và cảitiến quy trình nuôi dưỡng Năng suất sữa ở bò lai từ 3,25 tấn/chu kỳ năm 2001 lên4,0 tấn/chu kỳ năm 2010 và 4,28 tấn/chu kỳ năm 2013; ở bò thuần HF từ 4,26tấn/chu kỳ năm 2001 lên 5,57 tấn/chu kỳ năm 2010 và 5,60 tấn/chu kỳ năm 2013,năng suất sữa bò trung bình cả nước là 5,186 tấn/chu kỳ năm 2013 Một số cơ sởchăn nuôi bò sữa tập trung, áp dụng công nghệ cao, năng suất của bò thuần HF đạt7.000-8.000 kg sữa/chu kỳ, cá biệt có nhiều con đạt 11.000 kg/chu kỳ, con cao nhấtđạt 13.000 kg/chu kỳ ở Công ty Cổ phần bò sữa Mộc Châu.
Cùng với những thành tựu trên, ngành chăn nuôi bò sữa cũng còn gặpkhông ít khó khăn, trở ngại Ngoài các yếu tố về thời tiết, dinh dưỡng, quản lý thìcác bệnh trên bò sữa cũng có ảnh hưởng rất lớn trong chăn nuôi bò sữa Bệnh ởđường sinh dục bò là nguyên nhân lớn gây ra các thiệt hại về năng suất sinh sản,năng suất sữa Trong số các bệnh ở đường sinh dục bò cái, bệnh thường gặp vàgây thiệt hại về kinh tế lớn nhất là bệnh viêm tử cung Bệnh viêm tử cung có tỉ lệmắc ở bò sau đẻ thường rất cao và mọi quá trình bệnh lý ở tử cung đều ảnhhưởng trực tiếp đến khả năng sinh sản, sản lượng và chất lượng sữa bò
Thông thường, bò bị viêm tử cung thường sẽ được điều trị bằng kháng sinh
và các loại thuốc bổ trợ Tuy nhiên, điều này làm nảy sinh ba vấn đề quan trọng
đó là thiệt hại kinh tế, mất an toàn vệ sinh thực phẩm và kháng kháng sinh ở vikhuẩn Bên cạnh đó, trong thời gian bò điều trị bệnh viêm tử cung, sữa của bòbệnh sẽ kém chất lượng không đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm nên số sữanày không thể bán được cho các công ty thu mua sữa gây thiệt hại kinh tế chongười chăn nuôi Hơn nữa nếu sữa kém chất lượng dùng để chế biến thành thựcphẩm thì sẽ là một mối nguy hại lớn cho sức khỏe của người tiêu dùng
Về điều trị bệnh viêm tử cung bò, hiện nay có rất nhiều loại kháng sinh được
sử dụng có hiệu quả, song không phải kháng sinh nào cũng có thể được kiểmnghiệm vì trên thực tế người chăn nuôi còn hạn chế về kiến thức sử dụng khángsinh, thiếu các dụng cụ chuyên ngành, các loại kiểm tra (test) để nhận dạng sự cómặt của kháng sinh trong sữa Như vậy, sữa có chứa kháng sinh sẽ tự do lưu thôngtrên thị trường, gây ra mối nguy cơ về an toàn sức khỏe cho người tiêu dùng Mặtkhác, việc sử dụng nhiều loại kháng sinh không theo những qui định nghiêm ngặtdẫn đến tăng nguy cơ kháng kháng sinh ở vi khuẩn Trên thực tế nhiều bò sữa bịbệnh viêm tử cung sau quá trình điều trị kháng sinh đã bị nhờn thuốc khi bò tái
Trang 20phát các bệnh khác tỷ lệ chữa khỏi thấp, thời gian điều trị kéo dài làm ảnh hưởngkhông nhỏ đến thời gian sinh trưởng và phát triển của con vật, tốn kém trong quátrình điều trị.
Nhằm tháo gỡ những khó khăn đó, nhiều nhà khoa học đã tiến hành nghiêncứu, sử dụng chiết xuất của các thảo dược nhằm điều trị viêm tử cung ở bò Vớinhững nguồn gốc tự nhiên, chiết xuất thảo dược được cho là an toàn đối với bò
và người sử dụng sữa, thịt bò Có khá nhiều thảo dược đã được các nhà nghiêncứu trên toàn thế giới chứng minh là có tác dụng với vi khuẩn gây bệnh Việc sửdụng cây thuốc trong điều trị các bệnh do vi khuẩn đang ngày càng được ưachuộng bởi tính an toàn, ít tác dụng phụ và khả năng gây kháng chậm (NguyễnVăn Thanh và Nguyễn Thanh Hải, 2014) Các chất có nguồn gốc thiên nhiên, dùđược sử dụng dưới dạng truyền thống hay các dạng đã được tinh chế và chiết táchđược đánh giá là một nguồn đáng kể cho việc tìm hiểu và khám phá ra các thuốcthay thế các chất hóa học tổng hợp Thảo dược đang ngày càng chứng minh vaitrò quan trọng của mình trong nền công nghiệp dược phẩm như là một giải pháp
an toàn thay thế cho các thuốc hóa học tổng hợp (Mahesh and Satish, 2008;
Nguyễn Thanh Hải và Bùi Thị Tho, 2013) Ở nước ta, những nghiên cứu về câythuốc trong phòng và trị bệnh viêm tử cung ở bò sữa còn ít và cũng chỉ giới hạntrong việc khai thác, áp dụng các bài thuốc cổ truyền, còn thiếu cơ sở khoa họcnên kết quả phòng và điều trị bệnh không như mong đợi
Để nghiên cứu sâu hơn về bệnh viêm tử cung ở bò sữa và sử dụng phối hợpcác sản phẩm kháng sinh có nguồn gốc thảo dược đạt hiệu quả cao trong phòng,điều trị bệnh viêm tử cung trên bò sữa, chúng tôi thực hiện đề tài
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
Xác định những yếu tố ảnh hưởng đến bệnh viêm tử cung ở bò sữa trongchăn nuôi nông hộ để tìm các giải pháp ngăn chặn bệnh, hạn chế rủi ro, nâng caohiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi
Đánh giá kết quả khi sử dụng chế phẩm có nguồn gốc thảo dược để phòng
và trị bệnh viêm tử cung cho bò sữa có hiệu quả, nhằm hạn chế sử dụng khángsinh, hạn chế tồn dư kháng sinh trong sữa, trong thực phẩm góp phần đảm bảo antoàn thực phẩm cho người tiêu dùng
Trang 21Xác định thành phần, số lượng, tính mẫn cảm với một số thuốc kháng sinh
và chế phẩm có nguồn gốc thảo dược của nhóm vi khuẩn gây bệnh viêm tử cung
ở bò
Đánh giá kết quả của việc sử dụng chế phẩm có nguồn gốc thảo dượctrong phòng, trị bệnh viêm tử cung bò sữa Đi sâu nghiên cứu kết quả sử dụngthảo dược ở hai dạng huyền phù và dạng viên
1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.3.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Đàn bò cái lai hướng sữa Holstein Friesian nuôi tại các nông hộ thuộchuyện Ba Vì, thành phố Hà Nội và ở huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc
Với 8 loại dược liệu khảo sát chọn lọc ra 05 loại có tác dụng kháng khuẩntốt nhất để nghiên cứu sâu và chế biến thành dạng viên và dạng huyền phù ứngdụng phòng, trị bệnh viêm tử cung
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
* Địa điểm nghiên cứu
- Học Viện Nông nghiệp Việt Nam
+ Phòng thí nghiệm trọng điểm Công nghệ sinh học Thú y, Khoa Thú y, Học viện Nông nghiệp Việt Nam;
+ Phòng thí nghiệm bộ môn Ngoại Sản;
+ Phòng thí nghiệm Công nghệ Sinh học Thực vật, Khoa Công nghệsinh học
- Các nông hộ chăn nuôi bò sữa
+ Huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội;
+ Huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc
* Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 3/2016 đến tháng 8/2018
Trang 221.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN
Luận án đã tiếp cận một nghiên cứu mới trong việc sử dụng thảo dược đểphòng và điều trị bệnh viêm tử cung ở bò sữa Với những kết quả thu được từnghiên cứu này, dự kiến sẽ giảm được chi phí điều trị bệnh viêm tử cung ở bòsữa, nhất là trong chăn nuôi nông hộ, tránh hiện tượng kháng kháng sinh và tồn
dư chất kháng sinh trong sữa bò Đảm bảo an toàn thực phẩm cho người tiêudùng, nâng cao hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi
1.5 Ý NGHĨA KHOA HỌC, Ý NGHĨA THỰC TIỄN
1.5.1 Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần bổ sung số liệu, tài liệu khoahọc về tỷ lệ mắc và các yếu tố ảnh hưởng đến bệnh viêm tử cung trên đàn bò sữatại huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội và đàn bò sữa huyện Vĩnh Tường, tỉnh VĩnhPhúc; thành phần, số lượng, tính mẫn cảm với một số thuốc kháng sinh và chếphẩm có nguồn gốc thảo dược của nhóm vi khuẩn gây bệnh viêm tử cung ở bò
Đề tài cung cấp thêm những kiến thức khoa học trong việc sử dụng chếphẩm có nguồn gốc thảo dược để phòng và trị bệnh cho bò sữa
Kết quả của luận án là tài liệu tham khảo cho các nhà chuyên môn thamkhảo dùng trong giảng dạy, học tập, nghiên cứu và ứng dụng trong thực tiễn sảnxuất
1.5.2 Ý nghĩa thực tiễn
Sự thành công của đề tài sẽ làm cơ sở để sản xuất các chế phẩm có nguồngốc thảo dược điều trị bệnh viêm tử cung ở bò sữa góp phần giải quyết được 3vấn đề đó là:
- Làm giảm thiệt hại kinh tế cho người chăn nuôi bò sữa do bệnh viêm tử cung gây ra ở bò sữa;
- Hạn chế sử dụng kháng sinh trong điều trị bệnh viêm tử cung từ đó làm giảm nguy cơ kháng kháng sinh của vi khuẩn;
- Giảm thiểu sự tồn dư kháng sinh trong các sản phẩm sữa và làm tăng giátrị của sữa bò góp phần đảm bảo an toàn thực phẩm, bảo vệ sức khỏe cho ngườitiêu dùng
Kết quả nghiên cứu của luận án còn là cơ sở cho việc xây dựng các chínhsách, các quy định về việc hạn chế sử dụng kháng sinh trong chăn nuôi nóichung, chăn nuôi bò sữa nói riêng, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn và nhu cầungày càng cao của xã hội
Trang 23PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU2.1 KHÁI QUÁT VỀ BỆNH VIÊM TỬ CUNG Ở BÕ
2.1.1 Khái niệm về viêm tử cung
Theo Sheldon et al (2006), viêm tử cung là một trong những bệnh sinh
sản thường gặp ở gia súc sinh sản nói chung và bò sữa nói riêng Đây là quá trìnhbệnh lý ở tử cung gây ra bởi các loại vi khuẩn làm tử cung chảy dịch, mùi khóchịu, gia súc sốt, uể oải, mệt mỏi, giảm ăn, nhịp tim tăng và sản lượng sữa giảm
2.1.2 Phân loại viêm tử cung
Theo Theo Black et al (1953), Nguyễn Văn Thanh và cs (2016), viêm tử
cung được chia ra ba thể: Viêm nội mạc tử cung, viêm cơ tử cung và viêm tươngmạc tử cung
2.1.2.1 Viêm nội mạc tử cung (Endomestritis)
Theo Black et al (1953), viêm nội mạc tử cung là viêm lớp niêm mạc của
tử cung Đây là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm suy giảm khả năngsinh sản của gia súc cái
Viêm nội mạc tử cung phổ biến và chiếm tỷ lệ cao nhất trong các thể viêm
ở tử cung Samad et al (1987) theo dõi 17.293 trâu mắc bệnh đường sinh dục, rối
loạn sinh sản cho biết: Tỷ lệ trâu bị viêm nội mạc tử cung là cao nhất và chiếm35,9% Bệnh viêm nội mạc tử cung thường xảy ra sau khi gia súc sinh đẻ, nhất làtrong những trường hợp đẻ khó phải can thiệp bằng tay hoặc dụng cụ làm niêmmạc tử cung bị xây sát, tổn thương Sau đó là do sự tác động của các vi khuẩn
Streptococcus, Staphylococcus, E.coli, Salmonella, Brucella, roi trùng gây viêm
nội mạc tử cung (Nguyễn Văn Thanh và Lê Trần Tiến, 2007).
Căn cứ vào tính chất, trạng thái của quá trình bệnh lý, viêm nội mạc tửcung có thể chia ra làm hai loại: Viêm nội mạc tử cung thể cata cấp tính có mủ vàviêm nội mạc tử cung có màng giả
* Viêm nội mạc tử cung thể cata cấp tính có mủ (Endomestritis Puerperalis)
Bệnh này gặp nhiều ở bò sau sinh đẻ, niêm mạc cổ tử cung và âm đạo bịtổn thương, xây sát dẫn đến nhiễm khuẩn nhất là khi gia súc bị sát nhau, đẻ khóphải can thiệp
Trang 24Khi bị bệnh, gia súc biểu hiện một số triệu chứng chủ yếu: thân nhiệt tăngnhẹ, ăn uống giảm, lượng sữa giảm Con vật có trạng thái đau đớn nhẹ, đôi khicong lưng rặn, tỏ vẻ không yên tĩnh Từ cơ quan sinh dục thải ra ngoài hỗn dịch,niêm dịch lẫn với dịch viêm, mủ, lợn cợn những mảnh tổ chức chết Khi con vậtnằm, dịch viêm thải ra càng nhiều, xung quanh âm môn, gốc đuôi, hai bên môngdính nhiều dịch viêm có khi khô lại hình thành từng đám vẩy, màu trắng xám.Kiểm tra qua âm đạo, niêm dịch và dịch viêm thải ra nhiều Cổ tử cung hơi mở và
có mủ chảy qua cổ tử cung Niêm mạc âm đạo bình thường, kiểm tra qua trựctràng có thể phát hiện được một hay cả hai sừng tử cung sưng to, hai sừng tửcung không cân xứng nhau, thành tử cung dày và mềm hơn bình thường Khikích thích nhẹ lên sừng tử cung thì mức độ phản ứng co lại của chúng yếu ớt.Trường hợp trong tử cung tích lại nhiều dịch viêm, nhiều mủ thì có thể phát hiệnđược trạng thái chuyển động sóng
* Viêm nội mạc tử cung màng gi
Thể viêm này, niêm mạc tử cung thường bị hoại tử Vết thương đã ăn sâuvào tầng cơ của tử cung và chuyển thành hoại tử, lúc này con vật xuất hiện triệuchứng toàn thân rõ: thân nhiệt lên cao, lượng sữa giảm có khi hoàn toàn mất sữa,
kế phát viêm vú, con vật ăn uống kém và không nhai lại, biểu hiện trạng thái đauđớn, luôn rặn, lưng và đuôi cong lên Từ cơ quan sinh dục luôn thải ra ngoài hỗndịch: dịch viêm, máu, mủ, lợn cợn những mảnh tổ chức hoại tử, niêm dịch
Hình 2.1 Viêm nội mạc tử cung
Nguồn: Nguyễn Văn Thanh và cs (2016)
Trang 252.1.2.2 Viêm cơ tử cung (Myomestritis Puerperalis)
Theo Nguyễn Văn Thanh và Nguyễn Thanh Hải (2016), viêm cơ tử cungthường kế phát từ viêm nội mạc tử cung, niêm mạc tử cung bị thấm dịch thẩmxuất, vi khuẩn xâm nhập và phát triển sâu vào tử cung làm niêm mạc bị phângiải, thối rữa gây tổn thương mạch quản và lâm ba quản Từ đó làm cho các lớp
cơ và một ít lớp tương mạc tử cung bị hoại tử Trường hợp này có thể dẫn đếnhiện tượng nhiễm trùng toàn thân, huyết nhiễm trùng hoặc huyết nhiễm mủ Cókhi vì lớp cơ và lớp tương mạc tử cung bị phân giải, bị hoại tử mà tử cung bịthủng hay bị hoại tử từng đám
Hình 2.2 Viêm cơ tử cung
Nguồn: Nguyễn Văn Thanh và cs (2016)
2.1.2.3 Viêm tương mạc tử cung (Perimestritis Puerperali)
Viêm tương mạc tử cung thường kế phát từ viêm cơ tử cung Thể viêmnày thường cấp tính, cục bộ, toàn thân xuất hiện những triệu chứng điển hình vànặng Bò sữa biểu hiện triệu chứng toàn thân: nhiệt độ tăng cao, mạch nhanh, convật ủ rũ, mệt mỏi, uể oải, đại tiểu tiện khó khăn, ăn uống kém hoặc bỏ ăn Lượngsữa rất ít hoặc mất hẳn, thường kế phát viêm vú Con vật luôn biểu hiện trạngthái đau đớn, khó chịu, lưng và đuôi cong, rặn liên tục Từ âm hộ thải ra ngoài rấtnhiều hỗn dịch lẫn mủ và tổ chức hoại tử, có màu nâu và mùi thối khắm Khikích thích vào thành bụng thấy con vật có phản xạ đau rõ hơn, rặn nhanh hơn, từ
âm hộ dịch chảy ra nhiều hơn Trường hợp một số vùng của
Trang 26tương mạc đã dính với các bộ phận xung quanh thì có thể phát hiện được trạngthái thay đổi về vị trí và hình dáng của tử cung, có khi không tìm thấy một hoặc
cả hai buồng trứng Nếu điều trị không kịp thời sẽ chuyển thành viêm mãn tính,tương mạc đã dính với các bộ phận xung quanh thì quá trình thụ tinh và sinh đẻlần sau sẽ gặp nhiều khó khăn, có thể dẫn tới vô sinh Thể viêm này thường kếphát bệnh viêm phúc mạc, bại huyết, huyết nhiễm mủ
2.1.3 Chẩn đoán bệnh viêm tử cung
Trong vòng vài ngày đầu sau khi bò đẻ, sản dịch chảy ra có màu hồng, lẫnmáu, sau đó biến thành màu vàng nhạt, cuối giai đoạn là màu trong suốt, cuối giaiđoạn sản dịch không chảy ra nữa Lúc đầu sản dịch chảy ra không có vi khuẩn,sau đó sản dịch chảy ra có vi khuẩn xâm nhập nhưng cơ thể mẹ không có biếnđổi, thân nhiệt không tăng lên, con vật không có triệu chứng gì, vì vi khuẩn có sốlượng ít Nhưng nếu sản dịch chảy ra kéo dài thì tử cung bò có thể bị viêm(Nguyễn Văn Thanh và cs., 2016)
Để chẩn đoán phân biệt các thể viêm tử cung người ta dựa vào những triệuchứng điển hình ở cục bộ và toàn thân Việc chẩn đoán phân biệt các thể viêm tửcung có một ý nghĩa quan trọng trong việc áp dụng những phác đồ điều trị thíchhợp với từng thể viêm nhằm đạt kết quả điều trị cao: Thời gian điều trị ngắn, chiphí cho điều trị thấp đặc biệt là đảm bảo khả năng sinh sản cho gia súc cái
Bảng 2.1 Chẩn đoán phân biệt các thể viêm tử cung Triệu chứng Viêm nội mạc Viêm cơ Viêm tương mạc
Dịch viêm
Trang 272.2 MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN BỆNH VIÊM TỬ CUNG Ở BÕ SỮA
2.2.1 Ảnh hưởng của giống
Mỗi một giống bò có nguồn gốc xuất xứ khác nhau và thích nghi với điềukiện khí hậu cũng như điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng đặc trưng của vùng đó.Khi di chuyển hay thay đổi môi trường sống, bò có thể không thích nghi đượchoặc bị xáo trộn nặng dẫn đến giảm sức đề kháng Từ đó, những nguyên nhângây bệnh có cơ hội xâm nhập và gây bệnh cho bò Những giống bò sữa cao sảnthường dễ bị viêm tử cung hơn
2.2.2 Ảnh hưởng của mùa vụ
Thời tiết trong giai đoạn thu đông thì nhiệt độ mát mẻ làm sức đề khángcủa con vật được nâng cao Mặt khác, có những thời điểm nhiệt độ hạ thấp xuốngrất thấp gây sự bất lợi cho các vi khuẩn gây bệnh phát triển Vì thế mà các bệnhxảy ra trên đàn bò sữa cũng giảm Điều đó cho thấy tỷ lệ bệnh viêm tử cung ở haithời điểm khác nhau có sự khác nhau rõ rệt (Hossein-Zadeh and Ardalan, 2011)
2.2.3 Ảnh hưởng của lứa đẻ
Tác giả Bruun et al (2002) thấy rằng, bò đẻ lứa đầu và bò đẻ lứa thứ 3 trở
đi có nguy cơ mắc viêm tử cung cao hơn ở lứa thứ 2 Trong một nghiên cứu ở
Argentina, Giuliodori et al (2013) cho biết bò đẻ ở lứa sau có xu hướng mắc
viêm tử cung thấp hơn so với lứa đẻ đầu (tỉ suất chênh = 0,65, khoảng tin cậy
95% = 0,37-1,25, P = 0,08) Tuy nhiên, Gröhn et al (1990) khi nghiên cứu trên
61.124 bò ở Phần Lan thấy rằng không có mối liên hệ nào giữa lứa đẻ và tỉ lệmắc bệnh viêm tử cung
2.2.4 Ảnh hưởng của quá trình đẻ
Bò sữa đẻ bình thường sẽ làm khả năng nhiễm bệnh đường sinh dục thấphơn khi bò đẻ phải can thiệp Tuy nhiên, thời gian đẻ kéo dài và có một số yếu tốkhác dẫn đến cần sự can thiệp của người chăn nuôi, cán bộ kỹ thuật Người chănnuôi hoặc cán bộ kỹ thuật dùng tay hoặc dây kéo, các thiết bị hỗ trợ khác để đưathai ra đều có thể làm gây xây xát niêm mạc và dễ nhiễm vi khuẩn từ ngoài môitrường vào gây viêm tử cung
Trang 28Theo các tác giả Fishwick (1997), Nguyễn Văn Thanh và Nguyễn ThanhHải (2016), nguyên nhân dẫn đến hiện tượng viêm tử cung thường là do niêmmạc âm đạo, tử cung bị xây xát trong các trường hợp can thiệp đẻ khó bằng tayhay dụng cụ sản khoa.
2.2.5 Ảnh hưởng của sản lượng sữa
Suriyasathaporn et al (2000) cho biết, xeton huyết làm giảm khả năng hấp
dẫn bạch cầu vào trong các tổ chức khi có tác động của nguyên nhân gây viêmdẫn đến làm giảm số lượng bạch cầu đa nhân trong các tổ chức bị viêm, bạch cầucũng giảm sản xuất các cytokines quan trọng trong quá trình viêm và phòng ngựcủa cơ thể như interferon, interleukin, tumor necrosis factor, những bò có năngsuất sữa cao thì bị stress nhiều hơn các bò có năng suất thấp Stress làm tăng tiếthormone cortisol, tình trạng này kéo dài dẫn đến suy giảm miễn dịch và làm tăngnguy viêm tử cung ở bò sữa
Theo Norgaard et al (1999), những bò có năng suất sữa cao thì bị stress
nhiều hơn các bò có năng suất thấp Stress làm tăng tiết hormone cortisol, tìnhtrạng này kéo dài dẫn đến suy giảm miễn dịch và làm tăng nguy viêm tử cung ở
Trong quá trình tiến hành thủ thuật đỡ đẻ, do không nắm vững các thao tác
kỹ thuật nên làm sây sát niêm mạc tử cung, vi khuẩn xâm nhập từ ngoài vào gâyviêm Chính vì vậy, có thể nói đẻ khó là một trong những nguyên nhân chính gâyviêm tử cung ở gia súc sinh sản nói chung và bò sữa nói riêng
Trang 29Hình 2.3 Đẻ khó do kích thước của bào thai không bình thường
(thai quá to)
Nguồn: Nguyễn Văn Thanh và cs (2016)
Hình 2.4 Đẻ khó do tư thế thai không bình thường
Nguồn: Nguyễn Văn Thanh và cs (2016)
* Viêm âm môn, tiền đình và âm đạo
Trong quá trình gia súc sinh đẻ, khi can thiệp những trường hợp đẻ khó,khi đỡ đẻ bình thường hoặc khi phối giống không đúng kỹ thuật thường làm choniêm mạc âm môn, tiền đình, âm đạo bị sây sát, bị tổn thương và nhiễm khuẩn.Quá trình viêm âm môn, tiền đình, âm đạo nếu không điều trị kịp thời sẽ kế phátbệnh viêm tử cung ở bò sữa
Trang 302.3 ĐIỀU TRỊ BỆNH VIÊM TỬ CUNG
2.3.1 Điều trị viêm tử cung bằng hormone
Trong một nghiên cứu trên 445 bò cái Holstein mắc bệnh đẻ khó, sót nhau
hoặc cả hai, tác giả Risco et al (1994) sử dụng PGF2α và GnRH riêng lẻ hoặc
kết hợp Trong nghiên cứu này, các chỉ tiêu đẻ khó và sót nhau được dùng để xácđịnh bò không có sự hồi phục tử cung một cách bình thường PGF2α được sửdụng vào ngày 12 và 26 sau khi đẻ cho kết quả thụ thai cao hơn bò không đượcđiều trị Đối với bò được dùng GnRH riêng lẻ và bò dùng PGF2α 10 ngày sau khidùng GnRH, kết quả thụ thai không thay đổi so với bò không được điều trị Ởnhững bò được sử dụng GnRH, sự rụng trứng và thể vàng hóa nang trứng xảy rađồng thời với thời gian tử cung bị nhiễm trùng Khi hàm lượng progesterone tăngcao trong thời điểm tử cung đang nhiễm trùng càng làm cho sự viêm nhiễm trùng
ở tử cung trầm trọng hơn do đó mà làm giảm tỉ lệ thụ thai Nghiên cứu trước đâycho thấy hầu hết bò sữa ở thời gian 26-30 ngày sau đẻ đều có thể vàng có thể
phản ứng với PGF2α (Risco et al., 1994) Sử dụng PGF2α vào khoảng thời gian
30 ngày sau đẻ để điều trị các loại viêm tử cung khác nhau có thể kích thích bòđộng dục
Trong nghiên cứu của Risco et al (1994), tác giả không đánh giá hiệu quả
của PGF2α đơn lẻ tại ngày 12 hoặc 26, nhóm tác giả kết luận rằng khi sử dụngPGF2α vào ngày 12 và tiếp theo là mũi PGF2α thứ 2 vào ngày 26 có thể cải thiệnđược tỉ lệ thụ thai ở lần thụ tinh đầu tiên đối với bò bị sót nhau
Ở Việt Nam đã có nghiên cứu sử dụng hormone PGF2α trong điều trịbệnh viêm tử cung bò Tác giả Nguyễn Văn Thanh và Lê Trần Tiến (2007) thửnghiệm sử dụng 03 phác đồ điều trị bệnh viêm tử cung bò
* Phác đồ 1: Thụt rửa tử cung bằng dung dịch Rivanol 0,1% ngày 1 lần,
sau khi thụt rửa kích thích cho dung dịch thụt rửa chảy hết ra ngoài, dùng
Norfloxacin 5mg/kg thể trọng pha với 100ml nước cất bơm vào tử cung; kết hợp
điều trị toàn thân bằng ADE, B.complex Liệu trình điều trị không quá 5 ngày
* Phác đồ 2: Dùng 6ml Oxytocin tiêm dưới da, thụt rửa tử cung 500ml dung dịch Lugol 0,1%, Norfloxacin 5mg/kg thể trọng pha với 100ml nước cất
bơm vào tử cung ngày một lần; kết hợp điều trị toàn thân bằng ADE, B.complex.Liệu trình điều trị không quá 5 ngày
Trang 31* Phác đồ 3: Dùng Lutalyze một dẫn xuất của PGF2α tiêm dưới da 2ml (25mg), tiêm 1 lần; thụt rửa tử cung 500ml dung dịch Lugol 0,1%, dùng Norfloxacin5mg/kg thể trọng pha với 100ml nước cất bơm vào tử cung ngày một lần; kết hợp điều trị toàn thân
bằng ADE, B.complex Liệu trình điều tối đa là 5 ngày
Kết quả cho thấy trong 03 phác đồ thử nghiệm, phác đồ 3 (phác đồ có sửdụng PGF2α) có hiệu quả tốt nhất, thể hiện ở các chỉ tiêu: tỷ lệ khỏi bệnh cao(100%); số ngày điều trị ngắn, tỷ lệ động bò động dục lại cao đồng thời thời tỷ lệphối lần đầu có thai lại là cao nhất Theo các tác giả nêu trên sở dĩ phác đồ 3 cóhiệu quả điều trị cao theo chúng tôi do chế phẩm Lutalyze chứa hoạt chất PGF2α
có tác dụng kích thích tử cung co bóp, tống hết dịch viêm ra ngoài, đồng thời cótác dụng phá vỡ thể vàng, kích thích nang trứng phát triển gây hiện tượng độngdục Lugol có chứa nguyên tố Iod có tác dụng sát trùng, đồng thời thông quaniêm mạc tử cung cơ thể hấp thu được dung dịch Iod giúp cho cơ quan sinh dụcmau chóng hồi phục làm xuất hiện chu kỳ sinh dục sớm hơn
2.3.2 Điều trị viêm tử cung bằng hóa dƣợc
Các chất hóa dược được được sử dụng trong điều trị viêm tử cung baogồm Iodine, Chlorhexidine và Saline (Pulfer and Riese, 1991) Tuy vậy, ít có cácnghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá hiệu quả của các chất này trong điềutrị bệnh viêm tử cung cho bò Hiện nay có một hóa dược không phải là khángsinh được cấp phép để điều trị viêm tử cung trên bò sữa ở Mỹ, đó làChlorhexidine (Bouters and Vandeplassche, 1977) Không chỉ trực tiếp diệt vikhuẩn, các chất này gây kích ứng niêm mạc của tử cung và được cho là sẽ làmtăng sự co bóp, cung cấp máu và kích thích hệ miễn dịch ở tử cung của bò Khảnăng tiêu diệt vi khuẩn và phản ứng viêm được gây ra bởi Chlorhexidine đượccho là làm giảm số lượng vi khuẩn ở trong tử cung và giúp cho quá trình loại thảicác dịch viêm ở trong tử cung ra ngoài Các nghiên cứu cho thấy khi sử dụng cáchóa chất kích ứng tử cung có thể rút ngắn quãng thời gian tử khi điều trị đến khi
bò động dục lại Tuy nhiên, nhìn chung việc sử dụng các hóa chất để điều trịviêm tử cung không được khuyến khích Việc điều trị này có thể gây ra tổnthương trên đường sinh dục của bò cái và có thể làm tăng nguy cơ nhiễm trùngthứ phát bởi các loại vi khuẩn khác
Trang 322.3.3 Điều trị viêm tử cung bằng kháng sinh
Việc sử dụng kháng sinh để điều trị bệnh viêm tử cung ở bò hiện nay là rấtphổ biến và có nhiều loại kháng sinh đã được sử dụng
Oxytetracycline cũng được sử dụng nhiều trong điều trị viêm tử cung trên
bò Thuốc được sử dụng nhiều nhất đối với các thể bệnh viêm tử cung nhẹ
(Gilbert and Schwark, 1992) Nghiên cứu bởi Bretzlaff et al (1993) cho thấy liều
11mg/kg tiêm tĩnh mạch, 2 lần/ngày mới đủ để điều trị bệnh Khi sử dụng liềutrên, tiêm 1 lần/ngày, hiệu quả điều trị bệnh sẽ thấp, đây là một liệu trình không
có tính thực tiễn cao Chính vì vậy, mặc dù là thuốc duy nhất được Cục quản líthực phẩm và dược phẩm Mỹ cấp phép cho sử dụng điều trị viêm tử cung sau đẻ
ở bò sữa, nhưng Oxytetracycline không phải là kháng sinh ưa thích trong điều trị viêm tử cung ở đối tượng này
Các kháng sinh có thể được kết hợp với nhau để điều trị viêm tử cung ở
bò Nhiều tác giả khuyến cáo việc dùng Penicillin kết hợp với Oxytetracycline tại
chỗ để điều trị bệnh (Thurmond et al., 1993) Tuy nhiên việc sử dụng liệu trình
này gây ra vấn đề tồn lưu kháng sinh trong sữa trong một thời gian dài làm giảmlợi nhuận từ sữa Hơn nữa, nếu không biết được thời gian cần loại bỏ sữa hoặckhông quan tâm tới thời gian cần loại bỏ sữa, hoặc không có kit để chẩn đoánkháng sinh trong sữa thì sẽ làm tăng nguy cơ tồn lưu kháng sinh trong các sảnphẩm sữa Chính vì các lí do đó mà việc sử dụng kháng sinh để điều trị viêm tửcung trên bò cần phải được xem xét cẩn thận Ceftiofur cũng được sử dụng đểđiều trị viêm tử cung trên bò (Reppert, 2015) Đối với kháng sinh này, không cầnphải loại bỏ sữa sau khi điều trị Tuy nhiên cần phải chú ý rằng, Ceftiofur khôngphải là kháng sinh được cấp phép cho sử dụng để điều trị viêm tử cung ở bò Vìvậy, việc sử dụng kháng sinh này được coi là không tuân thủ theo hướng dẫn
Việc sử dụng kháng sinh để điều trị toàn thân hay điều trị cục bộ để điềutrị viêm tử cung cần phải được cân nhắc Có nhiều yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quảđiều trị bệnh Việc lựa chọn phương pháp điều trị viêm tử cung cần căn cứ vàonguyên nhân gây bệnh, sự mẫn cảm của nguyên nhân gây bệnh, sự tương tácgiữa kháng sinh và môi trường của tử cung, động lực học của thuốc, sự miễn dịchcủa cơ thể bò và sự tồn dư kháng sinh trong sữa và thịt Chính vì các yếu tố đó,việc lựa chọn kháng sinh hiệu quả để điều trị viêm tử cung ở bò sữa là một vấn
đề rất nan giải
Trang 332.3.4 Điều trị viêm tử cung bằng thuốc có nguồn gốc thảo dƣợc
Ahmed et al (2014) sử dụng một số chiết suất thảo dược từ các cây Sầu đông (Aradirachta indica), Bông cận đông (Gossypium berbaceum), Bạch hoa xà (Plumbago zeylanica) và Keo (Aacacia catechu) để điều trị bệnh viêm tử cung
cho bò Các tác giả cho biết với các tính chất kháng nấm, kháng vi khuẩn, khángvirus và kháng viêm của các hoạt tính trong các chiết suất từ các thảo dược trên,chúng đều có khả năng điều trị bệnh viêm tử cung cho bò
Sử dụng chiết suất từ tỏi và hormone PGF2α để điều trị bệnh viêm tử cung
cho bò, Sarkar et al (2006) cho thấy tỉ lệ bò khỏi bệnh ở hai nhóm là tương đương nhau Marquez et al (2007) cho biết chiết suất từ cây Sim (Montanoa
tomentosa) cho hiệu quả điều trị bệnh viêm tử cung ở bò sữa rất cao mà không
làm ảnh hưởng đến chức năng của buồng trứng
Cui et al (2014) cho biết dịch chiết từ cây Ích mẫu (Herba Leonuri), Đương qui (Angelicae Sinensis Radix), Hồng hoa (Flos Carthami), Cỏ gấu (Rhizoma Cyperi) và Mộc dược (Myrrha) hòa tan trong cồn 70 làm tăng nhanh
quá trình đào thải nhau thai ở bò bị sát nhau Bò được xác định là sát nhau nếusau 12h từ khi đẻ mà nhau chưa được đẩy ra ngoài Mỗi bò sát nhau được dùng450ml dung dịch tương đương với 0,45g bột hỗn hợp của các thảo dược/kg thểtrọng trong 1 lần hoặc có thể dùng lần 2 nếu sau 4-6h mà nhau vẫn chưa ra Ởnhóm đối chứng, bò được dùng 2.000 mg Oxytetracyclin trong 3 ngày liên tục.Kết quả so sánh giữa nhóm dùng dịch chiết thảo dược và nhóm dùngOxytetracyclin cho thấy bò ở nhóm dùng thảo dược có thời gian động dục lại sau
đẻ ngắn hơn và tỉ lệ thụ thai cao hơn so với nhóm dùng kháng sinh
Esparza-Borges et al (1996) cho biết dịch chiết của Tỏi (Allium sativum,
L), Khuynh diệp (Eucalyptus globules) và Rau khúc (Gnaphalium conoideum) có
tác dụng rút ngắn thời gian động dục lại sau đẻ của bò bị viêm tử cung
Một nghiên cứu khác cho thấy Kim ngân hoa (honeysuckle), Hoa mai (forsythia), Bồ công anh (dandelion), hoa Violet Tokyo (Tokyo violet), Ngải cứu (motherwort), Đương qui (angelica), Xuyên khung (chuanxiong), Địa hoàng (rehmannia), Hồng hoa (safflower), Cam thảo (radix glycyrrhizae) có tác dụng
tăng cường khả năng miễn dịch của các tế bào biểu mô tử cung của bò, do đó có
thể dùng để điều trị bệnh viêm tử cung (Du et al., 2010).
Đã có một số nghiên cứu so sánh tác dụng điều trị bệnh viêm tử cung của
bò bằng thảo dược và bằng kháng sinh cho kết quả rất khả quan, ủng hộ quan
Trang 34điểm sử dụng thảo dược Một nhóm tác giả cho thấy dịch chiết của tỏi kết hợpvới sâm Ấn Độ có tác dụng tốt hơn Ciprofloxacin trong điều trị viêm tử cung củanhững bò phối giống nhiều lần không chửa Trong nghiên cứu trên, những bòđược điều trị bằng thảo dược thì lượng dịch viêm tử cung ít hơn, nhanh hết hơn,
số lượng vi khuẩn cũng giảm nhanh hơn ở nhóm dùng kháng sinh Một điều quantrọng hơn nữa là tỷ lệ chửa sau khi chữa khỏi bệnh ở nhóm dùng thảo dược cũngcao hơn ở nhóm dùng kháng sinh
2.4 HIỆN TƢỢNG KHÁNG THUỐC CỦA VI KHUẨN VÀ TỒN DƢ KHÁNG SINH TRONG SẢN PHẨM CHĂN NUÔI
2.4.1 Hiện tƣợng kháng thuốc kháng sinh của vi khuẩn
Tổ chức Y tế thế giới (WHO) ngày 30/4/2014 ra cảnh báo kháng thuốc khángsinh là mối đe dọa nghiêm trọng đến sức khỏe cộng đồng Sau khi thu thập dữ liệutại 114 quốc gia trên toàn cầu về tình trạng kháng thuốc, trong đó đặc biệt là khángsinh, báo cáo của WHO nêu rõ mối đe dọa nghiêm trọng này không còn là dự báocho tương lai mà đang diễn ra ở mọi khu vực trên thế giới, có nguy cơ ảnh hưởng tớimọi người dân ở mọi lứa tuổi và các quốc gia khác nhau Theo ông Keiji Fukuda(Trợ lý Tổng Giám đốc WHO), nếu không phối hợp hành động tức thời, thế giới sẽđối mặt với một kỷ nguyên “hậu thuốc kháng sinh”, khi đó các bệnh truyền nhiễmthông thường hoặc những vết thương nhỏ trước đó có thể chữa trị được thì nay cóthể gây chết người do kháng thuốc kháng sinh (WHO, 2014)
Nghiên cứu của Phạm Khắc Hiếu và Bùi Thị Tho (1999) đã tìm thấychủng vi khuẩn kháng lại 11 loại kháng sinh, đồng thời cũng chứng minh khảnăng di truyền tính kháng thuốc giữa các vi khuẩn thông qua plasmid
Theo nghiên cứu của Cù Hữu Phú và cs (1999), 80-90% vi khuẩn
Salmonella phân lập được kháng mạnh với Penicillin và Ampicillin.
Nguyễn Ngọc Nhiên và cs (1999) khi nghiên cứu các chủng phân lập từsữa bò bị viêm vú cho thấy hầu hết các chủng phân lập được đều kháng lại nhiềuloại kháng sinh như Chloramphenicol, Sulfadimethoxine, Tetracycline
Các chủng vi khuẩn Salmonella có độ mẫn cảm cao với Furazolidon
(100%), Chloramphenicol (87,5%), ít mẫn cảm với Penicillin (25%) và hoàn toànkháng lại Tetracyclin (Đỗ Trung Cứ và cs., 2003)
Trang 35Nghiên cứu tính kháng kháng sinh của 106 chủng vi khuẩn phân lập được
từ lợn con theo mẹ bị tiêu chảy ở một số tỉnh phía Bắc, Việt Nam Đỗ Ngọc Thúy(2002) đã thu được kết quả các chủng có xu hướng kháng mạnh với các loạikháng sinh thông thường dùng để điều trị đặc biệt với Streptomycin lên tới88,68% Hiện tượng kháng thuốc của vi khuẩn với trên 3 loại kháng sinh là kháphổ biến (chiếm 90,57%)
Theo số liệu giám sát trong năm 2012 tại bệnh viện Nhiệt đới Trung ương
(2012), tỷ lệ kháng ampicilin của E.coli lên tới 81,4%; kháng
amoxicillin/clavunanic và ampicillin/sulbactam khoảng 40% Các kháng sinhnhóm cephalosporin thế hệ ba cũng bị kháng đến gần một nửa, và nhóm fluoro-quinolon cũng bị kháng khoảng 45%
2.4.2 Vấn đề tồn dƣ kháng sinh trong các sản phẩm chăn nuôi
Ngày nay, chất kháng sinh được sử dụng rộng rãi trong ngành nôngnghiệp như chăn nuôi, trồng trọt, nuôi trồng thủy hải sản, có tác dụng rất lớn làgiúp cho vật nuôi chống lại bệnh tật từ vi sinh vật Tuy vậy, chất kháng sinh nhưmột con dao hai lưỡi Một mặt giúp sinh vật chống lại bệnh tật, mặt khác, có thểlàm cho sinh vật xuất hiện phản ứng phụ và đặc biệt là lượng chất kháng sinh tồn
dư sinh vật có thể ảnh hưởng đến chất lượng thực phẩm, nhất là sức khỏe ngườitiêu dùng
Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thành phố HồChí Minh (2014), trong đợt kiểm tra an toàn thực phẩm những tháng đầu năm
2014, cơ quan chức năng đã phát hiện nhiều mẫu thịt có tồn dư kháng sinh vượtngưỡng Cụ thể, khi lấy ngẫu nhiên 60 mẫu thịt (30 mẫu thịt lợn, 30 mẫu thịt giacầm) từ thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh đem về giết mổ tại 2 cơ sở giết mổlớn trên địa bàn thành phố, qua kiểm tra cơ quan chức năng phát hiện 13/30 mẫuthịt lợn (tỷ lệ 43,33%) và 01/30 mẫu thịt gia cầm (3,33%) có hàm lượng khángsinh sulfadimidin vượt giới hạn cho phép
Kháng sinh Tetracycline trong 290 mẫu thịt lợn trên thị trường thuộc cácquận huyện nội, ngoại thành Hà Nội được xác định bằng phương pháp kiểm tra khảnăng ức chế vi khuẩn trên đĩa thạch (agar inhibition test) với chủng Bacillus cereus(ACTT 11778) Các mẫu nghi ngờ được xác định bằng phương pháp sắc ký lỏnghiệu năng cao (high-performance liquid chromatography - HPLC) 5,5% số
Trang 36mẫu nói trên cho kết quả dương tính (có tồn dư kháng sinh tetracycline) (Duong Van Nhiem, 2005).
2.5 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU BỆNH VIÊM TỬ CUNG BÕ TRÊN THẾ GIỚI VÀ TẠI VIỆT NAM
2.5.1 Tình tình nghiên cứu điều trị viêm cung bò trên thế giới
Vấn đề về bệnh sinh sản của gia súc, bệnh viêm tử cung cũng là chủ đề đượccác nhà thú y đặc biệt quan tâm Tác giả Chaffaux and Bhat (1987) đã tiến hành sinhthiết niêm mạc tử cung bò bị bệnh sản khoa để tìm hiểu quá trình sinh bệnh cho biết:hậu quả của thụ tinh nhân tạo thô bạo, sai nguyên tắc đã làm tăng tỷ lệ bệnh viêm tử
cung trong chăn nuôi bò sữa Bhattacharyya et al (2011) nghiên cứu điều trị lâm sàng bệnh viêm tử cung bò Barman et al (2013) nghiên cứu tính kháng kháng sinh của vi khuẩn được phân lập từ dịch viêm tử cung bò Bhat et al (2014) nghiên cứu
sử dụng phương pháp WST chẩn đoán phát hiện bệnh viêm tử cung bò
Đã có nhiều công trình nghiên cứu ứng dụng thảo dược trong điều trị bệnh
viêm tử cung bò, sử dụng cây sầu đông (Aradirachta indica), bông Cận Đông (Gossypium berbaceum), bạch hoa xà (Plumbago zeylanica) và keo (Aacacia
catechu) (Ahmed et al., 2014); dịch chiết xuất từ tỏi (Sarkar et al., 2006); cây sim
(Montanoa tomentosa) (Marquez et al., 2007); cây ích mẫu (Herba Leonuri), đương qui (Angelicae Sinensis Radix), hồng hoa (Flos Carthami), cỏ gấu (Rhizoma Cyperi) và mộc dược (Myrrha) (Cui et al., 2014).
2.5.2 Tình hình nghiên cứu viêm tử cung bò tại Việt Nam
Hơn 10 năm trở lại đây, phong trào chăn nuôi bò sữa tại Việt Nam đangphát triển mạnh về số lượng và chất lượng ở trang trại cũng như trong nông hộ.Tình hình dịch bệnh đang diễn ra phức tạp, đặc biệt là các bệnh về lĩnh vực sinhsản, bệnh viêm tử cung là một trong những bệnh đang được các nhà khoa học vàngười chăn nuôi quan tâm
Một số nghiên cứu về tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung trên đàn bò sữa thôngbáo: tại Việt Nam, tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung trên đàn bò sữa sau đẻ là khá caotùy thuộc vào từng địa phương: 21,32% tại Hà Nội và Bắc Ninh (Nguyễn VănThanh và Lê Trần Tiến, 2007)
Ở một nghiên cứu khác, khi khảo sát tình hình mắc bệnh đường sinh dụccủa đàn bò sữa tại một số cơ sở giết mổ thuộc thành phố Hà Nội và tỉnh Bắc
Trang 37Ninh Nguyễn Văn Thanh (2007) cho biết, trong các bệnh sinh sản của bò sữa,bệnh viêm tử cung chiếm tỷ lệ cao nhất (47,23%).
Tác giả Nguyễn Văn Thanh và cs (2016) nghiên cứu thành phần, số lượng vàtính mẫn cảm với kháng sinh của một số vi khuẩn hiếu khí được phân lập từ dịch tửcung bò sữa thông báo: số lượng vi khuẩn hiếu khí trong dịch tử cung bị viêm tănglên gấp nhiều lần số lượng vi khuẩn có trong dịch tử cung của bò không bị viêm và ở
dịch viêm tử cung vi khuẩn Staphylococcus và Streptococcus được phát hiện ở 100%
mẫu bệnh phẩm đồng thời cho biết tính mẫn cảm với kháng sinh của vi khuẩn hiếukhí được phân lập từ dịch tử cung bò sữa là không cao
Tác giả Nguyễn Văn Thanh và Nguyễn Thanh Hải (2016) nghiên cứu ảnh
hưởng của dung môi đến hiệu suất chiết và tác dụng kháng khuẩn invitro của cao khô dịch chiết cây đơn đỏ (Excoecaria cochinchinensis Lour) với vi khuẩn
Staphylococcus spp và Streptococcus spp, phân lập từ dịch viêm tử cung bò,
Nguyễn Thị Thanh Hà và cs (2017) nghiên cứu khả năng ức chế in vitro của dịch chiết một số thảo dược đối với vi khuẩn Streptococcus spp, Staphylococcus spp
phân lập từ dịch viêm tử cung bò Nguyễn Văn Thanh (2018) nghiên cứu tính
kháng khuẩn của cây Bồ công anh đối với vi khuẩn Streptococcus spp.,
Staphylococcus spp phân lập từ dịch viêm tử cung bò.
2.6 SỬ DỤNG CHẾ PHẨM THẢO DƢỢC ĐỂ ĐIỀU TRỊ BỆNH VIÊM
TỬ CUNG BÕ
2.6.1 Tình hình sử dụng thảo dƣợc để điều trị bệnh cho gia súc, gia cầm
Việc sử dụng thuốc có nguồn gốc hóa chất để điều trị bệnh cho gia súc,gia cầm tuy mang lại nhiều kết quả khả quan, nhưng lại làm dấy lên lo ngại vềviệc tồn dư kháng sinh, an toàn thực phẩm và kháng kháng sinh của vi khuẩn gâybệnh Hiện tượng vi khuẩn kháng lại kháng sinh hiện đang trở thành vấn đề lớntrên toàn thế giới
Nhằm tháo gỡ những khó khăn đó, nhiều nhà khoa học đã tiến hành nghiêncứu, sử dụng chiết suất của các thảo dược nhằm điều trị bệnh cho gia súc, giacầm nói chung và bệnh viêm tử cung bò nói riêng Rất nhiều thảo dược đã đượccác nhà nghiên cứu trên toàn thế giới chứng minh là có tác dụng với vi khuẩn gây
bệnh Các bộ phận của cây Huyền diệp (Polyalthia longifolia) được sử dụng để
điều trị sốt, bệnh lậu, hạ huyết áp, đái đường và rong kinh đã được biết đến để sử
Trang 38dụng như một loại thảo dược khá thông dụng ở Ấn Độ (Jain et al., 2009) Tác giả
Du et al (2010) cho biết Bồ công anh (dandelion) có tác dụng là tăng cường khả
năng miễn dịch của các tế bào biểu mô tử cung của bò, do đó có thể dùng để điều
trị bệnh viêm tử cung Theo dân gian, vỏ Polyalthia longifolia có tác dụng tốt để
chữa cao huyết áp, kích thích hô hấp và đặc trị làm hạ cơn sốt, bệnh ngoài da,
bệnh tiểu đường và cao huyết áp (Nair et al., 2004) Tại Ấn Độ, hạt của cây này
đã được sử dụng để giải nhiệt (Raghunathan and Mitra, 1982) Vỏ thân cây đượcnghiền thành bột và trộn với bơ để điều trị bệnh lậu vùng Genitalial Ấn Độ
(Singh et al., 1998; Katewa and Jain, 2006).
Ở Việt Nam, đã có một số công trình nghiên cứu sử dụng dịch chiết thảodược để chữa bệnh trên gia súc Tác giả Vĩnh Định và cs (2002) cho biết thànhphần của flavanon của lá cây Đơn đỏ có chứa liquiritigenin Bùi Thị Tho và
Nguyễn Thị Thanh Hà (2009) đã nghiên cứu tác dụng của Bồ công anh (Lactuca
indica L.) chống tồn dư kháng sinh enrofloxacin trong điều trị tiêu chảy ở gà Ở
một nghiên cứu khác, lá Xuân hoa cho thấy có tác dụng điều trị bệnh tiêu chảy ởlợn con (Bùi Thị Tho và Nguyễn Thành Trung, 2010) Bùi Thị Tho và NguyễnThị Thanh Hà (2009) đã nghiên cứu tác dụng lợi tiểu, tiêu độc của Bồ công anh,ứng dụng chế phẩm của Bồ công anh để phòng hội chứng tiêu chảy trong chănnuôi gà công nghiệp hướng thịt và chống tồn lưu kháng sinh (enrofloxacin) trongthịt gà Nguyễn Văn Thanh và Nguyễn Thanh Hải (2014) cho biết, dịch chiết cây
Mò hoa trắng tiêu diệt vi khuẩn Salmonella in vitro và cho kết quả điều trị cao
đối với lợn con bị bệnh phân trắng
2.6.2 Các chế phẩm thảo dƣợc đƣợc sử dụng trong nghiên cứu
Từ các nguồn tư liệu trên, chúng tôi đã chọn ra 8 loại dược liệu để khảo sát
tác dụng kháng khuẩn gồm: cây Mò hoa trắng (Clerodendrum viscosum Vent.),
Bồ công anh (Taraxacum dens – leonis Desf.), Huyền diệp (Polyalthia longifolia
var pendula Hort.), Đơn đỏ (E cochinchinensis Lour var cochichinensis và E cochinchinensis Lour var viridis), Tô mộc (Caesalpinia sappan L.), Mỏ quạ
(Cudrania tricuspidata (Carr.) Bur), Sài đất (Wedelia calendalacea (L.) Less), Xuân hoa (Pseuderanthemum palatiferum (Nees) Radlk).
Với 8 loại dược liệu khảo sát trên chọn lọc ra 05 loại có tác dụng khángkhuẩn tốt nhất để nghiên cứu sâu về tác dụng diệt khuẩn gây bệnh viêm tử cungcủa các loại thảo dược này Vì nếu sử dụng thảo dược dạng tươi có chứa hàm
Trang 39lượng nước lớn, hàm lượng dược liệu nhỏ, dạng sử dụng không tiện lợi nênchúng tôi tiến hành bào chế thảo dược dạng huyền phù và dạng viên để khắcphục những hạn chế nêu trên khi sử dụng dạng tươi để ứng dụng phòng, trị bệnhviêm tử cung.
2.6.2.1 Cây Mò hoa trắng
Ở Việt Nam có 4 loại được gọi là Mò hoa trắng Đó là ClerodendrumViscosum, Clerodendrum fragrans, Clerodendvim cannescens và Clerodendrumphilippinum Chúng tôi lựa chọn cây Clerodendrum philippinum – Var để nghiêncứu Cây này được chính thức ghi trong Dược điển Việt Nam (2002) Mò hoatrắng còn có các tên gọi khác là Bạch đồng nữ, Bấn trắng, Leo trắng
Từ cây Clerodendrum philippinum – Var được chế biến thành dược liệu
Mò hoa trắng với tên khoa học là Herba Clerodendrum philippinum – Var
Theo Dược điển Việt Nam (2002), dược liệu Mò hoa trắng phải đạt cáctiêu chuẩn sau:
Nguồn gốc phân loại:
Cây Mò hoa trắng có tên khoa học: Clerodendrum viscosum Vent
Clerodendrum canescens Wall Thuộc họ: Cỏ Roi ngựa (Verbenaceae)
Mô tả thực vật:
Cây bụi nhỏ, cao khoảng 1m; thường rụng lá Nhánh vuông, có lông vàng
Lá mọc đối, hình tim, có lông cứng và tuyến nhỏ, mép có răng nhọn hay nguyên.Chuỳ hoa to, hình tháp có lông màu vàng hung Hoa trắng vàng vàng, đài cótuyến hình khiên; tràng có lông nhiều, nhị thò ra Quả hạch đen, mang đài màu
đỏ tồn tại ở trên Cây ra hoa tháng 2-3 (Đỗ Tất Lợi, 1999)
Hình 2.5 Cây Mò hoa trắng
Nguồn: Nguyễn Đức Quang (2009)
Trang 40Nước sắc 3/1 của Cleodendrum philippinum đã được thử kháng sinh đồtrên các chủng vi khuẩn phân lập từ các vết thương nhiễm khuẩn, thấy có tácdụng ức chế sự phát triển các vi khuẩn Pseudononas aeruginosa, Staphylococus
aureus, Escherichia coli và các Proteus.
Theo tài liệu nước ngoài, lá, hoa và rễ Xích đồng nam giống như cây Bạchđồng nữ, Mò hoa trắng có tác dụng chống co thắt hồi tràng cô lập súc vật thínghiệm gây nên bởi Acetylcholin hoặc Histamin
Chất đắng Clerodin chiết xuất từ lá cũng có tác dụng trị giun (Tài nguyêncây thuốc Việt Nam)
Dịch ép lá tươi được bơm vào hậu môn có tác dụng trị giun đũa (Tàinguyên cây thuốc Việt Nam)
2.6.2.2 Cây Bồ công anh
Nguồn gốc phân loại:
Tên khoa học: Taraxacum offcinal Wig (Taraxacum dens-leonis Desf) Họkhoa học: Bồ công anh thuộc họ Cúc (Compositae)
Mô tả thực vật:
Cây Bồ công anh thuộc dạng cây cỏ sống dai, rễ đơn, dài, khỏe, thuộc loại
rễ hình trụ Lá mọc từ rễ nhẵn, thuôn dài hình trái xoan ngược, có khía răng uốnlượn hoặc xẻ lông chim, mép giống như bị xé rách Đầu màu đơn độc ở ngọn,cuống dài rỗng, từ rễ mọc lên Tổng bao hình chuông gồm nhiều dãy lá bắc,những cái ở phía ngoài xòe ra và cong xuống, còn các cái ở trong thì mọc đứng.Hoa hình nhỏ ở phía ngoài có màu nâu ở mặt lưng, quả bé 10 cạnh, có mỏ dài.Các tơ của màu lông sắp theo 1 dẫy, ra hoa từ tháng 3-10 Phân bố: Bồ công anhmọc hoang ở những nơi vùng núi cao như Đà Lạt, Tam Đảo, Sa Pa, mọc hoangnhiều ở Trung Quốc (Đỗ Tất Lợi, 1999)