tiếp tạo ra nguy cơ thiếu hụt nguồn cung dầu mỏ thế giới, nó sẽ tác động vàảnh hưởng trực tiếp đến việc đảm bảo an ninh dầu mỏ đối với Việt Nam trongviệc thực hiện Chiến lược an ninh năn
Trang 3Tôi cam đoan luận án tiến sĩ với đề tài “An ninh dầu mỏ trong tiến trình hội nhập quốc tế của Việt Nam từ năm 1995 đến nay” là công trình
nghiên cứu của tôi Các nội dung nghiên cứu và kết quả đƣợc trình bày trongluận án là trung thực và chƣa từng đƣợc công bố
Hà Nội, ngày tháng năm 2019
Tác giả luận án
Vũ Tiến Đạt
Trang 4Ngoại giao đã nhiệt tình giảng dạy và giúp đỡ tôi trong thời gian tôi học tập
và nghiên cứu tại Học viện Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tớithầy PGS.TS Đỗ Sơn Hải, Trưởng khoa Chính trị Quốc tế và Ngoại giao -Học viện Ngoại giao, thầy PGS.TS Nguyễn Anh Tuấn, Tổng biên tập Tạp chíNghiên cứu Quốc tế - Học viện Ngoại giao và thầy PGS.TS Dương VănQuảng, nguyên Giám đốc Học viện Ngoại giao về sự động viên, chỉ bảo vàhướng dẫn tận tình của các thầy đã dành cho tôi trong suốt quá trình nghiêncứu và hoàn thành luận án tiến sĩ này
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới tất cả các thầy, cô trongBan Giám đốc Học viện Ngoại giao, Lãnh đạo và cán bộ Khoa Đào tạo sauĐại học của Học viện Ngoại giao, cũng như các đồng nghiệp công tác tại Tậpđoàn Dầu khí Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam đã tạođiều kiện thuận lợi cho tôi trong việc tiếp cận với các nguồn tài liệu, số liệucần thiết, cũng như có những ý kiến đóng góp quý báu để luận án được hoànthiện hơn Và cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến những người thântrong gia đình, đặc biệt là bố mẹ và vợ con tôi, những người đã luôn ủng hộ,động viên về mặt tinh thần để tôi theo đuổi công tác nghiên cứu trong thờigian tôi vừa học tập, vừa công tác ở cơ quan, cũng như vào thời điểm khókhăn nhất đối với tôi Bởi vậy, tôi luôn cố gắng hết sức và muốn dành tất cảnhững thành quả này cho họ
Với đề tài “An ninh dầu mỏ trong tiến trình hội nhập quốc tế của Việt Nam từ năm 1995 đến nay”, đây là một đề tài mới, mang tính thời sự,
đòi hỏi học viên cần đi sâu nghiên cứu vấn đề một cách nghiêm túc Mặc dù
đã có nhiều cố gắng, nỗ lực của bản thân trong việc hoàn thiện luận án, tuy
Trang 5Hà Nội, ngày tháng năm 2019
Nghiên cứu sinh
Vũ Tiến Đạt
Trang 6LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 20
1.1 Khái niệm về an ninh và an ninh dầu mỏ 20
1.1.1 Khái niệm về an ninh 20
1.1.2 Khái niệm về dầu mỏ và an ninh dầu mỏ 26
1.2 Tình hình an ninh dầu mỏ thế giới trước thập kỷ 1990 30
1.3 Tầm quan trọng của an ninh dầu mỏ trong đời sống quốc tế 35
1.3.1 Vấn đề dầu mỏ trên thế giới hiện nay 35
1.3.2 Sự cạnh tranh về dầu mỏ trong quan hệ quốc tế 40
1.3.3 An ninh dầu mỏ trong chính sách đối ngoại của các quốc gia 46
TIỂU KẾT 53
CHƯƠNG 2 : VAI TRÒ VÀ THỰC TRẠNG CỦA AN NINH DẦU MỎ ĐỐI VỚI VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ 55
2.1 Hội nhập quốc tế và hội nhập quốc tế của ngành công nghiệp dầu mỏ 55
2.1.1 Những quan điểm cơ bản của Đảng Cộng sản Việt Nam về hội nhập quốc tế 56
2.1.2 Hội nhập quốc tế của ngành công nghiệp dầu mỏ của Việt Nam 65 2.1.3 Tác động của hội nhập quốc tế đến an ninh dầu mỏ của Việt Nam .69
2.2 Vai trò của an ninh dầu mỏ đối với sự nghiệp công nghiệp hoá -hiện đại hoá đất nước 72
2.2.1 An ninh dầu mỏ trong an ninh năng lượng quốc gia 72
Trang 72.3 Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực dầu mỏ của Việt Nam 82
2.3.1 Sự cần thiết của hợp tác quốc tế về thăm dò khai thác dầu mỏ 842.3.2 Quá trình hợp tác quốc tế trong lĩnh vực thăm dò, khai thác dầumỏ 882.3.3 Kết quả của hợp tác quốc tế trong lĩnh vực thăm dò, khai thác dầu
mỏ của Việt Nam trong thời gian qua 912.3.4 Một số hạn chế và nguyên nhân ảnh hưởng tới việc đầu tư ra nướcngoài trong lĩnh vực thăm dò, khai thác dầu mỏ của Việt Nam 96
TIỂU KẾT 100 CHƯƠNG 3 : GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO AN NINH DẦU MỎ CỦA VIỆT NAM TRONG TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ TỚI NĂM 2030 101
3.1 Chiến lược hội nhập quốc tế của Việt Nam tới năm 2030 101 3.2 Cơ hội và thách thức đối với Việt Nam trong việc đảm bảo an ninh dầu mỏ 104
3.2.1 Dự báo về thị trường dầu mỏ thế giới và Việt Nam đến năm 2030 1053.2.2 Cơ hội, thuận lợi 1093.2.3 Nguy cơ, thách thức 1123.2.4 Kinh nghiệm của một số quốc gia về đảm bảo an ninh dầu mỏ vàbài học rút ra đối với Việt Nam 122
3.3 Giải pháp và khuyến nghị nhằm đảm bảo an ninh dầu mỏ của Việt Nam đến năm 2030 130
3.3.1 Giải pháp bảo đảm an ninh dầu mỏ trong tiến trình hội nhập quốctế 131
Trang 8TIỂU KẾT 139
KẾT LUẬN 141
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 143
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 144
PHỤ LỤC 161
Phụ lục 1: Nghị quyết của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế 161
Phụ lục 2: Bản đồ phân Lô dầu mỏ trên lãnh thổ Việt Nam 171
Phụ lục 3: Đóng góp của Petrovietnam trong nền kinh tế trong những năm qua 172
Phụ lục 4: Sản lượng khai thác dầu mỏ hàng năm giai đoạn 1986-2015 173
Phụ lục 5: Các dự án TDKT dầu mỏ mà Việt Nam triển khai hợp tác tại một số quốc gia trên thế giới 174
Trang 91 ADB Asian Development Bank Ngân hàng phát triển châu Á
3 ANPTT Non-Traditional Security An ninh phi truyền thống
4 APEC Asia-Pacific Economic Diễn đàn hợp tác kinh tế
5 ASEAN Association of South East Hiệp hội các quốc gia Đông
6 CNH-HĐH Industrialization - Công nghiệp hóa - Hiện đại
7 BCC Business Cooperation Hợp đồng hợp tác kinh
8 CNOOC China National Offshore Tổng Công ty Dầu khí Hải
Oil Corporation Dương Trung QuốcCode of Conduct for the Bộ Quy tắc ứng xử các Bên
China SeaDeclaration on Conduct of Tuyên bố về ứng xử của các
10 DOC the Parties in the South Bên ở Biển Đông
China Sea
12 FDI Foreign Direct Investment Vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài
Trang 1016 ODA Official Development Hỗ trợ phát triển chính thức
AssistanceOrganization for Tổ chức Hợp tác và Phát
17 OECD Economic Co-operation triển Kinh tế
and Development
18 ONGC Oil and Natural Gas Công ty Dầu khí Quốc gia
Corporation Limited Ấn ĐộOrganization of the Tổ chức các nước xuất khẩu
Countries
20 PVEP Petrovietnam Exploration Tổng Công ty Thăm dò khai
Production Corporation thác Dầu khí Việt Nam
21 PETROVIETNAM Vietnam Oil and Gas Tập đoàn Dầu khí Việt Nam
27 WTO World Trade Organization Tổ chức Thương mại Thế
giới
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ngày nay, dầu mỏ đã trở thành một loại năng lượng mang tính chiếnlược, là “nguồn máu” nuôi sống ngành công nghiệp, an ninh dầu mỏ gắn liềnvới cuộc sống và sự an toàn của mỗi quốc gia Trên thực tế, dầu mỏ đã trởthành một “thương phẩm mang tính chính trị chiến lược”, các quốc gia đang
cố gắng tranh giành nguồn tài nguyên này để bảo đảm an ninh quốc gia, thậmchí một số chính trị gia đã tuyên bố “ai chiếm được dầu mỏ cũng có nghĩa làđược cả thế giới” Đối với các nước lớn trên thế giới như Mỹ, Trung Quốc,Nga, Ấn Độ, Nhật Bản và EU đều tìm mọi cách gây ảnh hưởng hoặc liêndoanh hợp tác trên lĩnh vực năng lượng với những khu vực có trữ lượng dầu
mỏ lớn như Trung Đông, Trung Á, Bắc Phi, Mỹ La-tinh
Dầu mỏ được phát hiện từ lâu nhưng mới bắt đầu được khai thác mangtính công nghiệp rộng rãi từ nửa cuối thế kỷ XIX, dầu mỏ là một bộ phận cấuthành của vấn đề an ninh năng lượng quốc gia, ứng dụng của dầu mỏ đã tạonền tảng cho sự phát triển của nền kinh tế thế giới Một mặt, dầu mỏ làm chocuộc sống của nhân loại ngày càng thay đổi, mặt khác con người cũng ngàycàng phụ thuộc và trở nên không thể tách rời khỏi dầu mỏ Trong các mốiquan hệ quốc tế hiện đại, dầu mỏ trở thành nguyên nhân của những cuộc đốikháng, xung đột, thậm chí cả chiến tranh để tranh giành ảnh hưởng và khốngchế nguồn dầu mỏ Trên thực tế, nhiều cuộc chiến tranh đã xảy ra trên thế giới
mà nguyên nhân sâu xa cũng bắt nguồn từ dầu mỏ Trong những năm gầnđây, chủ đề an ninh năng lượng, đặc biệt là an ninh dầu mỏ luôn trở thành vấn
đề được đặt lên hàng đầu trong chiến lược phát triển của mỗi quốc gia, cũngnhư trên các diễn đàn năng lượng quốc tế toàn cầu Mặc dù khoa học côngnghệ đã phát triển vượt bậc và ngày càng có nhiều nguồn năng lượng mớiđược sử dụng như năng lượng gió, năng lượng mặt trời, dầu đá phiến
Trang 12Tuy nhiên, dầu mỏ vẫn là một trong những nguồn năng lượng chủ đạo, có ảnhhưởng trực tiếp đến đời sống thế giới trong nhiều năm tới, đặc biệt trong viễncảnh một ngày không xa, nguồn dầu mỏ được ví như “vàng đen” của nhânloại sẽ dần cạn kiệt trong tương lai Đối với các quốc gia trên thế giới, tốc độphát triển càng cao thì yêu cầu về đảm bảo an ninh dầu mỏ cho nền kinh tếcàng lớn và trở nên bức thiết hơn bao giờ hết.
Quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam kể từ khi mở cửa nền kinh tế
từ năm 1986 đến nay đã thu được những kết quả quan trọng, mang lại nhiềuđổi thay tích cực cho nền kinh tế và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.Sau hơn ba mươi năm đổi mới, đất Việt Nam về cơ bản đã thoát khỏi khủnghoảng kinh tế - xã hội trong những năm đầu mở cửa Tăng trưởng kinh tếtrong những năm qua luôn đạt mức cao, ổn định, cơ cấu nền kinh tế đượcchuyển đổi theo hướng CNH - HĐH với sự gia tăng tỷ trọng giá trị sản phẩmcông nghiệp Để đạt được điều nói trên thì việc đảm bảo nhu cầu về dầu mỏ
để phục vụ cho sự nghiệp CNH - HĐH luôn được nhà nước Việt Nam coitrọng và mang tính chiến lược quốc gia trong bối cảnh mà nhu cầu sử dụngcác sản phẩm có nguồn gốc dầu mỏ không ngừng tăng nhanh
Dự báo trong những năm tới, nhu cầu về dầu mỏ vẫn tiếp tục tăng caohơn nữa khi công cuộc CNH - HĐH của Việt Nam tiếp tục mở rộng cả về quy
mô và mức độ Trong khi đó nguồn dự trữ dầu mỏ quốc gia có hạn và sảnlượng khai thác đang có chiều hướng đi xuống, khả năng sản xuất, cung cấpcác sản phẩm có nguồn gốc từ dầu mỏ trong nước bị hạn chế cả về sản lượng
và chất lượng Trong tương lai gần, Việt Nam sẽ phải đối diện với việc nhậpkhẩu các nguồn dầu mỏ từ bên ngoài để đáp ứng cho nhu cầu phát triển kinh
tế - xã hội trong nước Ngoài ra, sự biến động liên tục của tình hình chính trị
và kinh tế trên thế giới luôn tiềm ẩn những bất ổn, rủi ro có thể làm gián đoạncác nguồn cung năng lượng, trong đó có dầu mỏ Đây cũng là tác nhân gián
Trang 13tiếp tạo ra nguy cơ thiếu hụt nguồn cung dầu mỏ thế giới, nó sẽ tác động vàảnh hưởng trực tiếp đến việc đảm bảo an ninh dầu mỏ đối với Việt Nam trongviệc thực hiện Chiến lược an ninh năng lượng quốc gia và sự nghiệp CNH -HĐH đất nước trong thời gian tới.
Về lý luận, mặc dù đã có một số nghiên cứu quốc tế và Việt Nam đề cậpđến an ninh dầu mỏ, an ninh năng lượng như một bộ phận của vấn đề an ninhphi truyền thống, nhưng những nghiên cứu đi sâu vào phân tích nội hàm vànội dung của đảm bảo an ninh dầu mỏ trong bối cảnh hội nhập còn thiếu vắng
Về thực tiễn, đối với Việt Nam, nhận thức về các thách thức của an ninh dầu
mỏ trong quá trình hội nhập quốc tế còn có bất cập, chưa đầy đủ và chưa theokịp những diễn biến nhanh chóng của tình hình Do đó, việc tìm ra các giảipháp, đặc biệt là các giải pháp về mặt chính sách nhằm đảm bảo an ninh dầu
mỏ trong quá trình hội nhập quốc tế, góp phần vào sự ổn định an ninh nănglượng quốc gia và phát triển kinh tế xã hội là yêu cầu cấp thiết, khách quanđặt ra trong bối cảnh Việt Nam đang phát triển và hội nhập sâu vào nền kinh
tế toàn cầu như hiện nay Xuất phát từ những lý do trên và căn cứ vào đặc thù
công tác của bản thân, nghiên cứu sinh đã chọn đề tài: “An
ninh dầu mỏ trong tiến trình hội nhập quốc tế của Việt Nam từ năm 1995 đến nay” cho luận án tiến sĩ của mình.
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Theo Cơ quan Năng lượng quốc tế (IEA), vấn đề an ninh năng lượngkhông phải là vấn đề mới, đã được đưa vào nghiên cứu đặc biệt từ sau khủnghoảng dầu mỏ năm 1973 Tính đến nay, số lượng các bài nghiên cứu quốc tế về
an ninh năng lượng vô cùng đa dạng và phong phú, tuy nhiên số lượng các bàiviết về an ninh dầu mỏ còn rất hạn chế Đa phần các bài viết về an ninh dầu mỏchỉ xem dầu mỏ như là một nhân tố cấu thành của an ninh năng lượng nói chung
và phân tích trong tổng thể về an ninh năng lượng, chứ không có đi
Trang 14sâu nghiên cứu mối quan hệ giữa an ninh dầu mỏ với hội nhập quốc tế Trướctiên, có thể kể đến công trình nghiên cứu của một số tác giả như sau:
+ Công trình nghiên cứu của Hillard G Huntington (2008) “The Oil Security Problem” sử dụng công cụ phân tích kỹ thuật đề đánh giá mức ảnh
hưởng của giá dầu liên quan đến chính trị, các chính sách xã hội và nền kinh
tế Dự báo giá dầu cũng như tác động của nó đến tăng trưởng kinh tế Mỹ 10năm tiếp theo trên cơ sở nghiên cứu số liệu giai đoạn 1997-2006 để xem xétđến vấn đề an ninh dầu mỏ
+ Công trình nghiên cứu của Christopher Dula (2015) “The Future of Petroleum Security in ASEAN” đăng trên tạp chí Asian Management Insights
số 02 năm 2015 Tác giả đã đi vào phân tích sự thay đổi trong nhu cầu dầu khícủa các nước Châu Á trong những năm qua đang tăng lên nhanh chóng và xuhướng này càng tiếp tục sẽ đe doạ sự cân bằng nguồn cung, đặc biệt là cácnước Đông Nam Á Từ đó để đảm bảo an ninh dầu khí cho sự phát triển thìcần có những giải pháp về hợp tác đầu tư và khai thác, chế biến các sản phẩmdầu khí, hoá dầu, kinh doanh và phân phối các sản phẩm của ngành dầu khígiữa các nước ASEAN
+ Công trình nghiên cứu của E.G Frankel (2008) “Oil and Security: A
World beyond Petroleum” cung cấp một sự đánh giá toàn diện về các nhân tố
kinh tế xã hội, chính trị, môi trường ảnh hưởng đến việc sử dụng và phát triểncủa năng lượng toàn cầu Xem xét việc phát triển công nghệ tạo ra nhiên liệu
và năng lượng thay thế nhiên liệu dầu khí nhằm đảm sạch hơn và an toàn anninh năng lượng trong tương lai
+ Công trình nghiên cứu của Bo Kong (2009) “China’s International Petroleum Policy” tập trung vào xem xét cách thức quản lý trong lĩnh vực dầu
mỏ của Trung Quốc, những điểm chính trong chính sách về hội nhập dầu mỏquốc tế của quốc gia này, bên cạnh việc gia tăng ảnh hưởng về chính trị vàkinh tế của mình, Trung Quốc cũng phải đương đầu với nhiều khó khăn,
Trang 15thách thức trên bàn cờ dầu mỏ quốc tế trong bối cảnh thế giới đang có nhiềudiễn biến phức tạp và bất ổn về chính trị ở nhiều quốc gia giàu tiềm năng dầu
mỏ, điều này ít nhiều đã tác động đến chính sách ngoại giao dầu mỏ củaTrung Quốc
+ Công trình nghiên cứu của Subhes C.Bhattacharyya và Govinda
R.Timilsina (2009) “Energy demand models for policy formulation – A comparative study of energy demand models” tổng kết những dạng mô hình
dự báo nhu cầu năng lượng được sử dụng trên thế giới từ những năm 70 đếntrước năm 2009 Với việc sử dụng các mô hình dự báo để xác định tổng cầucủa nền kinh tế cũng nhu cầu năng lượng của các lĩnh vực của nền kinh tế từ
đó đưa ra các chính sách phù hợp đảm bảo nhu cầu này
+ Công trình nghiên cứu của Trung tâm Nghiên cứu Năng lượng Châu
Á - Thái Bình Dương Asia Pacific Energy Research Centre (2009), “APEC Energy Demand and Supply”, trong đó có dự báo trong giai đoạn 2005-2030
tỷ lệ nhu cầu sử dụng năng lượng bình quân mỗi năm 3,4% tương ứng với tỷ
lệ tăng dân số bình quân mỗi năm là 1,1% và tỷ lệ tăng GDP bình quân là 6,5%/năm
+ Công trình nghiên cứu của các tác giảBruce Jones, David Steven và
Emily O'Brien (2014), “Fueling a New Order? The New Geopolitical and Security Consequences of Energy” chỉ ra những biến đổi lớn trong thị trường
năng lượng quốc tế, đặc biệt là dầu mỏ có tác động địa chính trị sâu sắc, kể cảtrong quan hệ an ninh giữa các cường quốc hàng đầu thế giới.Những thay đổinày đã tăng cường sức ảnh hưởng của Mỹ trên thế giới; đồng thời những thayđổi trong sản xuất và tiêu thụ năng lượng toàn cầu đang ngày càng khiếnnhững cường quốc mới nổi phải đối mặt với nhiều rủi ro Ngoài những nguy
cơ trực tiếp về địa chính trị còn có một tập hợp các rủi ro phát sinh khi các thịtrường năng lượng quốc tế mạnh gặp phải những thể chế nhà nước yếu kém.Những rủi ro này có thể thấy được từ việc phổ biến vũ khí hạt nhân, an ninh
Trang 16vận chuyển năng lượng qua đường ống và đường biển, cho đến mối quan hệvới các quốc gia kém phát triển bền vững và cả vấn đề thiếu năng lượng dokhông có khả năng sản xuất cũng như nhập khẩu.
+ Công trình nghiên cứu của học giả Zhang Jianxin (2010), “Oil Security Reshapes China’s Foreign Policy” làm rõ những vấn đề về khái niệm
an ninh năng lượng, tầm quan trọng của dầu mỏ đối với Trung Quốc từ đó chiphối đến chính sách ngoại giao dầu mỏ và chiến lược đảm bảo an ninh nănglượng dầu mỏ của Trung Quốc
+ Các công trình nghiên cứu của Shinji Omoteyama (2009), “Energy sector Situation in Vietnam” và của United Nations ESCAP(2007), “Impacts
of current energy policies and energy development in Vietnam from sustainability point of view” đều cho thấy nhu cầu sử dụng năng lượng của
Việt Nam, trong đó có dầu mỏ đang tăng rất nhanh để đáp ứng công cuộccông nghiệp hoá và phát triển kinh tế đất nước Tuy nhiên, cũng đặt ra mối đedoạ trong việc đảm bảo nguồn cung ứng khi tính hiệu quả trong sử dụng năng lượng ở Việt Nam đang còn thấp
+ Tác phẩm “International Oil Security: Problem and Policies” của tác
giả Michael A.Toman đăng trên Tạp chí Energy Journal số 02 - 04 tháng 1năm 2002 Trong bài viết, tác giả đã phân tích các thành tố cấu thành của anninh năng lượng Các yếu tố đó theo Michael A Toman bao gồm: Quyền lựcđiều tiết thị trường bởi các nước xuất khẩu dầu mỏ, sự biến động giá cả củadầu mỏ và các loại năng lượng khác Sau đó, tác giả đã khẳng định mức độnghiêm trọng của vấn đề an ninh dầu mỏ hiện nay thông qua một ví dụ vềTrung Đông và sự can thiệp của Mỹ tại Trung Đông, từ đó đề xuất chính sách
hành động phù hợp Bên cạnh đó, có thể kể đến bài viết “The oil security problem” của tác giả Hillard G Huntington đăng trên kỷ yếu hội thảo quốc tế
về kinh tế năng lượng tháng 2 năm 2008, tác giả đã nêu ra những thách thức
Trang 17năng lượng mà nhiều quốc gia sẽ gặp phải trong một vài thập kỷ tới.Huntington đã đưa ra những ví dụ về sự thất bại của thị trường có thể ảnhhưởng đến an ninh dầu mỏ nói riêng và an ninh dầu mỏ nói chung của mộtquốc gia như thế nào Sau đó, tác giả đã tập trung phân tích tính dễ tổnthương của nền kinh tế khi xảy ra tình trạng gián đoạn về nguồn cung dầu mỏbởi sự phụ thuộc của hầu hết các quốc gia về nguồn năng lượng dầu mỏ nhưhiện nay Cuối cùng, ông đưa ra khuyến nghị để có thể giảm thiểu những tácđộng có thể xảy ra do gián đoạn nguồn cung dầu mỏ trong tương lai, các quốcgia nên tập trung cắt giảm trữ lượng dầu mỏ tiêu dùng hơn là tìm cách hạnchế nguồn dầu mỏ nhập khẩu.
Ngoài ra, có thể kể đến công trình nghiên cứu của Yergin, Daniel đượcđăng trên Tạp chí Foreign Affairs số tháng 5 năm 2006, với nội dung bài viết
“Ensuring Energy Security” Trong đó tác giả nhấn mạnh một số nguyên tắc
mà các quốc gia phải tuân theo để duy trì an ninh năng lượng Trước tiên, đó
là đa dạng hóa nguồn cung Sự đa dạng hóa sẽ làm giảm ảnh hưởng của việcgián đoạn nguồn cung nhờ có những nguồn khác thay thế, cũng như mang lạithị trường ổn định, vốn là mối quan tâm hàng đầu của cả người tiêu dùng lẫnngười sản xuất Quy tắc thứ hai được biết đến như là khả năng phục hồi hay
“khoảng dư an ninh” Khoảng dư này bao gồm nhiều yếu tố, bao gồm năngsuất dự phòng, các kho dự trữ chiến lược, nguồn cung thiết bị dự phòng, khảnăng dự trữ đầy đủ theo chuỗi cung ứng Cuối cùng, tác giả đã chỉ ra nguyêntắc về sự mở rộng khái niệm an ninh năng lượng theo hai chiều: Sự côngnhận tính toàn cầu hóa của an ninh năng lượng và chuỗi cung ứng nănglượng toàn cầu cần được bảo vệ
Về vấn đề an ninh dầu mỏ, tác giả Thomas Loren Friedman trong tác
phẩm “The First Law of Petropolis” đăng trên tạp chí Foreign Policy số 154
tháng 5 năm 2006 đã phát hiện rằng: Giá dầu luôn tỷ lệ nghịch với tiến trình
Trang 18tự do ở những quốc gia nhiều dầu mỏ Theo đó, khi giá dầu thô trung bình củathế giới càng lên cao thì quyền tự do ngôn luận, quyền tự do báo chí, các cuộcbầu cử tự do và công bằng, bộ máy tư pháp độc lập, nền pháp trị và các đảngchính trị độc lập càng bị mất dần Và những xu hướng tiêu cực này đangđược củng cố bởi một thực tế rằng khi giá dầu càng lên cao thì các nhà lãnhđạo ở các quốc gia dầu mỏ lại càng ít nhạy cảm với những gì thế giới nghĩ haynói về họ Ngược lại khi giá dầu càng hạ thấp thì các quốc gia dầu mỏ càngbuộc phải hướng đến một hệ thống chính trị xã hội trong sạch hơn, nhạy cảmhơn và thu hút nhiều đầu tư nước ngoài hơn.
Ngoài những bài viết nghiên cứu chung về an ninh năng lượng, nhiềuhọc giả đã xuất bản những công tình nghiên cứu về vấn đề này tại một sốquốc gia và khu vực cụ thể Có thể kể đến công trình nghiên cứu của Lauran
Steveny về “An ninh năng lượng tại Châu Âu và công trình nghiên cứu Năng lượng và an ninh: Lý thuyết và thực tiễn ở Mỹ và Trung Quốc” Các bài viết
về cơ bản đã nêu bật được thực trạng tình hình an ninh năng lượng chung và
an ninh dầu mỏ nói riêng, đưa ra một khung phân tích lý thuyết hoàn chỉnh
+ Tác phẩm: “Dầu mỏ và An ninh” của tác giả Bo Heineback, Nhà xuất
bản Almqvist & Wiksell, Thuỵ Điển năm 1974 đã chỉ ra tình trạng thiếu hụtnguồn dầu mỏ, dẫn đến cuộc khủng hoảng dầu mỏ năm 1973 - 1974 đã tácđộng đến các vấn đề an ninh quốc gia, trong đó có các cuộc chạy đua vũtrang, gia tăng quân sự, bất ổn chính trị ở một số nước có thể xảy ra nếunguồn cung dầu mỏ không được đảm bảo giữa các nước
Ngoài ra, còn có một số bài báo viết về vấn đề an ninh năng lượng trênthế giới đã được đăng tải trên một số Tạp chí, trang mạng uy tín như:
+ Bài viết: "Châu Á trước những thách thức an ninh năng lượng và lương thực" của Song Phương đăng trên báo điện tử tại website
www.petrotimes.vn ngày 11/12/2012, tác giả đã dự báo sự phát triển quá
Trang 19nóng tại các quốc gia châu Á đi kèm với nhu cầu về năng lượng và lươngthực tăng cao Giải quyết bài toán này cần nỗ lực chung của toàn khu vực,mọi hành động đơn phương đều bị coi là nguy hiểm.
+ Bài viết: "Chính sách năng lượng mới của Mỹ" của Nguyễn Thông đã coi
trọng việc khai thác, tiết kiệm năng lượng và phát triển các nguồn năng lượng kiểu mới, thoát khỏi sự phụ thuộc vào các nguồn năng lượng truyền thống.
+ Bài viết: "Vấn đề an ninh năng lượng ở Đông Á: Thực trạng và giải pháp" của Hoàng Minh Hằng đã cho rằng, năng lượng có một vai trò hết sức
quan trọng, nó không chỉ cải thiện chất lượng cuộc sống mà còn làm cho kinh
tế và xã hội phát triển Mỗi quốc gia dù giàu hay nghèo đều coi việc đảm bảonguồn năng lượng là tiền đề cần thiết cho sự phát triển bền vững của mình.Đông Á hiện là một trong những khu vực có mức cầu về năng lượng lớn trênthế giới Trong tương lai, mức cầu này sẽ còn tăng hơn cùng với sự phát triểnmạnh mẽ của các nền kinh tế trong khu vực Vì vậy, đảm bảo an ninh nănglượng đang ngày càng trở thành nhiệm vụ cấp bách đối với toàn khu vực
+ Bài: "Quan hệ đối tác về công nghệ tái tạo: Lối thoát cho an ninh năng lượng" (Technology Partnerships for Renewables: Key to Energy
Security) của tác giả Bertrand Fort, Francis X Johnson đã đưa ra cách tiếpcận riêng để giải quyết an ninh năng lượng và an ninh môi trường Đáng chú
ý, tác giả đã chỉ ra giải pháp công nghệ cho đảm bảo an ninh năng lượng, nhờ
đó mới có thể tận dụng được năng lượng tái tạo, năng lượng sạch, nănglượng mới Điều đó tạo nên ý nghĩa kép: Vừa đảm bảo an ninh năng lượng,vừa đảm bảo an ninh môi trường
+ Bài: "Năng lượng và An ninh phi truyền thống ở châu Á" (Energy and
Non-Traditional Security (NTS) in Asia) của Mely Caballero-Anthony,
Youngho Chang, Nur Azha Putra đã đề cập đến an ninh năng lượng, tư duychính sách truyền thống đã tập trung vào việc bảo đảm cung cấp mà khôngchú trọng nhiều đến tác động kinh tế, xã hội và môi trường
Trang 202.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Đối với Việt Nam, thời gian qua đã có một số công trình nghiên cứuliên quan tới lĩnh vực dầu mỏ nhưng chưa thực sự phong phú mà mới chỉ tậptrung vào một số đề tài như:
+ Cuốn sách “Cuộc khủng hoảng giá dầu hiện nay: Xu hướng, nguyên nhân tác động và giải pháp” của PGS.TS Nguyễn Anh Tuấn, Nhà xuất bản
Chính trị Quốc gia - Sự thật năm 2016 đã khắc họa rõ nét diễn biến thực trạngtình hình dầu mỏ toàn cầu từ năm 1973 đến nay, phân tích nguyên nhân và hậuquả của cuộc khủng hoảng giá dầu giảm hiện nay, xu hướng tình hình dầu mỏđến năm 2020 Tác giả đã khái quát đầy đủ bức tranh cung - cầu về dầu mỏ củaViệt Nam, tác động của cuộc khủng hoảng giá dầu giảm hiện nay đối với ViệtNam, đặc biệt đã đề xuất được một số giải pháp thực tiễn cũng như các khuyếnnghị chính sách cụ thể nhằm giúp Việt Nam đối phó chủ động và hiệu quả vớinhững diễn biến khó lường của giá dầu nhằm mục tiêu đảm bảo an ninh dầu mỏ
để phục vụ cho sự nghệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
+ Luận án Tiến sĩ: “Đảm bảo nhu cầu năng lượng dầu khí cho sự tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế” của Tiến sĩ Nguyễn Trung Hiếu, Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh đã nghiên cứu tới
hai vấn đề chính đó là: (i) xây dựng và lựa chọn mô hình để dự báo nhu cầu
sử dụng dầu mỏ ở Việt Nam; (ii) phân tích thực trạng cung cầu dầu mỏ ở ViệtNam trong những năm qua kết hợp với các kết quả dự báo cung và cầu đưa racác giải pháp thực hiện để đảm bảo nhu cầu dầu mỏ cho tăng trưởng kinh tế ởViệt Nam Ngoài ra, luận án cũng làm rõ tính chất đặc thù của các hoạt độngdầu mỏ, những khó khăn, thách thức đặt ra trong bối cảnh hội nhập quốc tếngày càng sâu rộng của Việt Nam
+ Luận án Tiến sĩ kinh tế:“Nghiên cứu về phát triển bền vững ngành dầu khí Việt Nam” của Tiến sĩ Đinh Văn Sơn năm 2011 đã đi sâu phân tích và
Trang 21làm sáng tỏ các vấn đề lý luận về phát triển bền vững trên ba trụ cột kinh tế,
xã hội, môi trường nói chung và phát triển bền vững của ngành dầu mỏ trongđiều kiện thực tế của Việt Nam nói riêng Qua đó chỉ ra những thách thức, tồntại cần khắc phục trên quan điểm phát triển bền vững trong lĩnh vực dầu mỏ
+ Luận văn Thạc sĩ:“Đẩy mạnh thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào hoạt động thăm dò khai thác dầu mỏ ở Việt Nam” của Thạc sĩ Nguyễn Thị
Tám đã hệ thống hóa lý luận về đầu tư trực tiếp nước ngoài, từ những kinhnghiệm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) của một số nước trênthế giới từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam Phân tích và đánh giáthực trạng thu hút vốn FDI vào lĩnh vực hoạt động tìm kiếm thăm dò, khaithác dầu mỏ và đưa ra những kết luận để làm căn cứ đề xuất hoàn thiện các
cơ chế chính sách phù hợp nhằm kích thích đầu tư trong hoạt động dầu mỏ ởViệt Nam góp phần đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia
+ Luận văn Thạc sỹ chuyên ngành quan hệ quốc tế của tác giả NguyễnThị Việt Nga thực hiện ở trường Học viện Ngoại giao tháng 7 năm 2010 với
đề tài “Chính sách an ninh năng lượng của Việt Nam và ảnh hưởng của nó đến sự phát triển của ngành dầu khí”, luận văn đánh giá tầm quan trọng của
an ninh năng lượng, trong đó vấn đề cốt lõi là an ninh dầu mỏ của các nướctrên thế giới cũng như ở Việt Nam Tuy nhiên, luận văn này tập trung nghiêncứu tổng thể về lĩnh vực năng lượng như than, điện, nhiên liệu sinh học trongkhi đề cập tới lĩnh vực an ninh dầu mỏ còn nhiều hạn chế, chưa chuyên sâu
+ Cuốn sách:“An ninh quốc gia - Những vấn đề an ninh phi truyền thống” của GS.TS Tạ Ngọc Tấn, Nhà xuất bản Chính trị - Hành chính, năm
2013, trong công trình tác giả đã nghiên cứu về an ninh quốc gia không chỉgiới hạn trong lĩnh vực quân sự, ngoại giao (an ninh truyền thống) mà gồm cả
an ninh kinh tế, tài chính, xã hội, sinh thái, nhân văn, lương thực, năng lượng,dầu mỏ… và nhiều vấn đề khác (an ninh phi truyền thống); đồng thời cũng
Trang 22không chỉ giới hạn ở mục tiêu bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền quốc gia(an ninh truyền thống) mà còn bao gồm cả bảo vệ con người, cộng đồng vànhân loại trong bối cảnh liên kết quốc tế (an ninh phi truyền thống).
+ Bài viết: “Một số nguyên nhân mất ổn định an ninh năng lượng ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế” của tác giả Đinh Thị Xuân Tươi
cho thấy: Năng lượng nói chung và dầu mỏ nói riêng có một vai trò hết sứcquan trọng, nó không chỉ cải thiện chất lượng cuộc sống mà còn làm cho kinh
tế và xã hội phát triển Trong bối cảnh toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng hiệnnay, an ninh năng lượng - một vấn đề an ninh phi truyền thống đang nổi lênnhư những vấn đề toàn cầu hết sức bức thiết Trước hết, đó là do vai tròquyết định của an ninh năng lượng đối với an ninh của mỗi cá nhân conngười và sự phát triển bền vững của từng quốc gia An ninh năng lượng làmột trong những vấn đề toàn cầu còn do việc thực hiện nó mang tính chấtxuyên quốc gia, đòi hỏi sự tham gia hợp tác của tất cả các quốc gia trên thếgiới Nguy cơ đe doạ đến an ninh năng lượng xuất hiện ngày một nhiều khiếncho vấn đề này càng trở nên bức thiết và đòi hỏi sự hợp tác giải quyết củatoàn thế giới vì một nền an ninh năng lượng toàn cầu
+ Bài viết: “Chính sách an ninh năng lượng của Trung Quốc đầu thế
ký XXI và vấn đề tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông” của Tiến sĩ Nguyễn
Minh Mẫn đăng trên Tạp chí Khoa học Đại học Sư phạm Thành phố Hồ ChíMinh, số 46 năm 2013, bài viết đã tập trung nghiên cứu và phân tích về việcđảm bảo nguồn cung năng lượng ổn định với giá cả hợp lý, Chính phủ TrungQuốc đã đề ra chiến lược năng lượng quốc gia và chính sách an ninh nănglượng với các mục đích và biện pháp thực hiện cụ thể nhằm đảm bảo an ninhnăng lượng cho quốc gia Đối với các quốc gia láng giềng trong khu vực,trong đó có Việt Nam, chính sách an ninh năng lượng của Trung Quốc cũng ítnhiều tác động đến các hoạt động phát triển kinh tế và an ninh quốc phòng
Trang 23Do đó, trong khuôn khổ bài viết, tác giả đã đề cập các nội dung chủ yếu củachính sách an ninh năng lượng của Trung Quốc nhằm giúp người đọc hiểuthêm nguyên nhân những hành động của Trung Quốc ở khu vực Biển Đông.
+ Bài viết: "Tư duy mới về an ninh quốc gia trong bối cảnh toàn cầu hóa
và hội nhập quốc tế" của Đặng Văn Hiếu đã cho rằng, cần phải đổi mớitư duy về
an ninh quốc gia nhằm đáp ứng yêu cầu của tình hình mới, trong đó đánh giáđúng tính chất phức tạp của ANPTT đối với Việt Nam; trên cơ sở đó, nêu ra một
số nhiệm vụ trọng tâm đối với Đảng, Nhà nước trong giai đoạn hiện nay
+ Hội thảo khoa học: “Ngành công nghiệp dầu khí trong bối cảnh hội nhập quốc tế” tổ chức tại Hà Nội ngày 26/09/2017 Các nhà lãnh đạo, quản
lý, các nhà khoa học đã cùng nhau thảo luận, đưa ra nhiều giải pháp nhằm tậndụng các cơ hội trong quá trình hội nhập quốc tế, giải quyết các thách thức đểngành dầu khí Việt Nam phát triển bền vững, tiếp tục có những đóng góp tolớn đối với sự phát triển của đất nước Trong bối cảnh hiện nay khi giá dầu
mỏ trên thế giới có nhiều biến động mạnh, các nguồn năng lượng mới đượcphát triển thì ngành dầu khí ở Việt Nam đứng trước nhiều khó khăn, tháchthức Do đó, đòi hỏi ngành dầu khí Việt Nam phải tiếp tục đổi mới, thực hiệnđồng bộ nhiều giải pháp khác nhau để nâng cao năng lực cạnh tranh, bắt kịp
xu hướng phát triển của ngành năng lượng trên thế giới, góp phần đảm bảo
an ninh năng lượng quốc gia và hội nhập quốc tế
+ Công trình nghiên cứu của tác giả Phùng Thanh Bình (2011)
“Energy consumption and Economic Growth in Vietnam”, đăng trên
International Journal of Energy Economics and Policy Tác giả đã đi sâu vàophân tích mối quan hệ giữa sử dụng năng lượng và tăng trưởng kinh tế củaViệt Nam bằng việc sử dụng kỹ thuật hồi quy đồng tích hợp và mô hình hiệuchỉnh sai số Qua đó thu được kết quả là xác định được mối quan hệ nhân quảgiữa thu nhập bình quân theo đầu người và mức sử dụng năng lượng tínhtheo đầu người của Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu từ 1976 đến 2010
Trang 24Với xu thế thế giới ngày càng phụ thuộc vào dầu mỏ, nên vấn đề đảmbảo an ninh dầu mỏ luôn được đặt lên hàng đầu và trở thành sự quan tâm củahầu hết các quốc gia An ninh dầu mỏ trở thành mục tiêu quan trọng trongchiến lược phát triển quốc gia, việc tìm ra các giải pháp hoặc đối phó với cácnguy cơ mất an ninh dầu mỏ ngày càng được đặt ra một cách cấp thiết Chính
vì vậy, những nghiên cứu về vấn đề này cần đáp ứng được các yêu cầu cả vềmặt khoa học lẫn thực tiễn cho Việt Nam trong bối cảnh hiện nay Việcnghiên cứu này sẽ góp phần bổ sung vào những khoảng trống trong nghiêncứu về an ninh truyền thống và phi truyền thống của Việt Nam
Nhìn chung, nội dung một số nghiên cứu của các tác giả đi trước đã đềcập đến nhiều khía cạnh khác nhau về quan niệm cũng như hình thức biểuhiện của việc đảm bảo an ninh năng lượng nói chung và an ninh dầu mỏ nóiriêng ở một số nước, đặc biệt các nước có trình độ phát triển tương đồng nhưViệt Nam, tuy vậy cần khảo cứu sâu hơn kinh nghiệm của các quốc gia pháttriển và đang phát triển về đảm bảo an ninh dầu mỏ trong quá trình hội nhậpquốc tế, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm thành công hoặc chưa thànhcông để Việt Nam có thể tham khảo
Đối với Việt Nam, cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu nàophân tích sâu sắc, toàn diện về khía cạnh và nội dung của việc đảm bảo anninh dầu mỏ trong tiến trình hội nhập quốc tế Do vậy, nghiên cứu này sẽphân tích thực trạng và đánh giá kết quả của công tác đảm bảo an ninh dầu mỏtrong quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam giai đoạn từ năm 1995 - 2017,
từ đó có các đề xuất, giải pháp nhằm giải quyết tốt hơn trong việc đảm bảo anninh dầu mỏ của Việt Nam cho giai đoạn hội nhập quốc tế tiếp theo Luận án
sẽ tiếp thu, kế thừa kết quả của các công trình trước, vận dụng và phát triểncác ý tưởng trong nghiên cứu, phục vụ cho việc làm rõ các vấn đề mà luận áncần tiếp tục giải quyết
Trang 253 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Luận án phân tích thực trạng đảm bảo an ninh dầu mỏ của Việt Namtrong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, cũng nhƣ đƣa ra các giải phápnhằm đảm bảo an ninh dầu mỏ trong giai đoạn hội nhập quốc tế tiếp theo
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ hơn cơ sở lý thuyết và thực tiễn về đảm bảo an ninh dầu mỏ trong quá trình hội nhập quốc tế
- Phân tích vai trò của an ninh dầu mỏ đối với Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế
- Đề xuất giải pháp nhằm đảm bảo an ninh dầu mỏ trong giai đoạn Việt Nam tiếp tục hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận án nghiên cứu vấn đề đảm bảo an ninh dầu mỏ quốc gia trong quátrình hội nhập quốc tế của Việt Nam
4.2 Phạm vi nghiên cứu
An ninh dầu mỏ là một khái niệm có nội hàm rộng, có thể tiếp cận theonhiều cấp độ khác nhau; bảo đảm an ninh dầu mỏ quốc gia cũng chứa đựngnhiều nội dung đa dạng và phức tạp Với giới hạn trong khuôn khổ của mộtluận án tiến sĩ chuyên ngành quan hệ quốc tế và hạn chế về nguồn tài liệutham khảo Do vậy, tác giả tập trung đi sâu nghiên cứu ở một số góc độ sau
Trang 26viên của ASEAN vào ngày 28/07/1995, bình thường hóa quan hệ ngoại giaovới Mỹ tháng 7/1995… Đồng thời, đây cũng là giai đoạn mà nền kinh tế ViệtNam và khu vực có nhiều biến động thăng trầm, trong đó phải kể đến cuộckhủng hoảng tài chính - tiền tệ ở Châu Á năm 1997, điều này đã ảnh hưởngkhông nhỏ đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam, mà còn tác động trực tiếp đếnlĩnh vực thăm dò, khai thác dầu mỏ trong nước, cũng như vấn đề đảm bảo anninh năng lượng quốc gia.
Về nội dung:
An ninh dầu mỏ là một khái niệm tương đối rộng và phức tạp Trongphạm vi nghiên cứu của luận án này, an ninh dầu mỏ được xem xét ở cấp độ
vĩ mô, có ảnh hưởng trực tiếp đến an ninh năng lượng quốc gia
Trong khuôn khổ của luận án này, tác giả tập trung phân tích về vấn đề
an ninh dầu mỏ dưới góc độ về quan hệ quốc tế, làm nổi bật vai trò của việcđảm bảo an ninh dầu mỏ góp phần phát triển kinh tế - xã hội đất nước cũngnhư giữ vững chủ quyền, lãnh thổ quốc gia trên biển trong tiến trình hội nhậpquốc tế ngày càng sâu rộng của Việt Nam hiện nay
Về nội dung đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia, trong đó bao gồmcác lĩnh vực như khí đốt, điện năng, năng lượng tái tạo Nhưng do hạn chế
về dung lượng trong khuôn khổ của luận án, cũng như tài liệu tham khảo tiếpcận được, nên tác giả chỉ lựa chọn phân tích trong giới hạn về khía cạnh đảmbảo an ninh dầu mỏ của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế để phục vụcho luận án nghiên cứu của mình
5 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa Mác Lênin, tưtưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, đồng thờikết hợp cách tiếp cận hệ thống, phương pháp nghiên cứu đa ngành của khoahọc xã hội và nhân văn như lịch sử, chính trị học, quan hệ quốc tế Ngoài ra,
để thực hiện nội dung của luận án, tác giả còn vận dụng một số phương pháp
Trang 27nghiên cứu cụ thể như: Phương pháp lịch sử, phương pháp logic, phươngpháp so sánh, phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp hệ thống,phương pháp dự báo Đặc biệt, tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứutrường hợp (case study) để phân tích những trường hợp tiêu biểu phục vụ chomục đích nghiên cứu của luận án.
Nguồn tài liệu chính được sử dụng trong quá trình nghiên cứu đề tàiđược tham khảo từ các Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm
1986 đến nay, các Nghị quyết của Đảng, Chính phủ về chủ trương hội nhậpquốc tế, cũng như các văn bản về Chiến lược phát triển Ngành Dầu khí ViệtNam trong thời kỳ hội nhập quốc tế và một số báo cáo về các hoạt động đốingoại của Ngành Dầu khí Việt Nam trong những năm gần đây
Ngoài ra, luận án sử dụng tài liệu, bài viết của nhiều tác giả liên quantới lĩnh vực an ninh quốc gia, an ninh năng lượng, an ninh dầu mỏ, chính sáchđối ngoại và hội nhập quốc tế dưới góc độ nghiên cứu về chính trị, quốcphòng, ngoại giao và kinh tế mà đã đăng trên một số tạp chí uy tín trong vàngoài nước, các trang thông tin điện tử của Chính phủ, Bộ ngành và nhiều tổchức năng lượng quốc tế, các công trình, đề án nghiên cứu khoa học đã đượcđánh giá cao trong nước và quốc tế Bên cạnh đó, tác giả còn tham khảo một
số đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ về hội nhập quốc tế, về an ninh nănglượng và an ninh dầu mỏ của một số cơ quan quản lý nhà nước ở Việt Namnhư Bộ Ngoại giao, Bộ Công Thương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Viện Nănglượng, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, Học viện Ngoại giao, Tậpđoàn Dầu khí Việt Nam, Viện Dầu khí Việt Nam Tác giả cũng cố gắng tậndụng khai thác các thông tin trên mạng, chú trọng sử dụng và chắt lọc cácnguồn tài liệu đáng tin cậy từ các trang thông tin chính thức của các Tổ chức,Viện nghiên cứu có uy tín hoặc số liệu được các hãng thông tấn báo chí lớn
đã công bố để phục vụ cho việc nghiên cứu và viết luận án Cuối cùng, tác giả
Trang 28cũng khai thác nguồn thông tin thông qua các buổi trao đổi với các chuyên gia
về lĩnh vực kinh tế, dầu khí, các nhà ngoại giao, các học giả trong nước vàquốc tế tại các buổi hội thảo chuyên ngành
6 Những đóng góp của Luận án
- Luận án bổ sung, làm mới một số khía cạnh lý luận về an ninh dầu mỏ,cũng như việc đảm bảo an ninh dầu mỏ trong tiến trình hội nhập quốc tế ởcấp độ quốc gia và làm rõ những vấn đề liên quan tới an ninh dầu mỏ dướigóc độ nghiên cứu về quan hệ quốc tế và kinh tế quốc tế, cụ thể là:
(i) làm rõ hơn nội hàm của khái niệm an ninh dầu mỏ, chỉ ra mối quan hệ
đan xen giữa lợi ích quốc gia và lợi ích quốc tế trong việc đảm bảo an ninhdầu mỏ trong nước;
(ii) phân tích nội dung, các yếu tố ảnh hưởng tới công tác đảm bảo an
ninh dầu mỏ của Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế
- Luận án phân tích kinh nghiệm công tác đảm bảo an ninh dầu mỏ trongquá trình hội nhập quốc tế của một số quốc gia và rút ra bài học cho ViệtNam, trong đó quan trọng nhất là bài học về xây dựng chiến lược phát triểnngành công nghiệp khai thác dầu mỏ của Việt Nam phù hợp với yêu cầu củahội nhập, ổn định cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế, đồng thời là nềntảng quan trọng trong việc đảm bảo chiến lược an ninh năng lượng quốc gia
- Trên cơ sở phân tích thực trạng việc đảm bảo an ninh dầu mỏ trong quátrình hội nhập quốc tế ở Việt Nam giai đoạn 1995 - 2017, luận án khẳng địnhmột số thành tựu quan trọng của Việt Nam đồng thời chỉ ra những hạn chế vàphân tích rõ để xác định nguyên nhân
- Luận án đã nêu lên một số quan điểm cơ bản của về đảm bảo an ninhdầu mỏ trong tiến trình hội nhập, trong đó nhấn mạnh đảm bảo an ninh dầu
mỏ phải dựa trên cơ sở phát huy tối đa nội lực và khai thác tốt ngoại lực trongbối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng như hiện nay, từ đó đề xuất các
Trang 29nhóm giải pháp cơ bản để duy trì việc đảm bảo an ninh dầu mỏ của Việt Nammột cách ổn định, bền vững, trước mắt trong giai đoạn từ nay đến năm 2030,góp phần vào đảm bảo chiến lược an ninh năng lượng quốc gia.
7 Kết cấu của luận án
Luận án bao gồm phần mở đầu, nội dung, kết luận, danh mục tài liệutham khảo và phụ lục Phần nội dung gồm 3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
Chương 2: Vai trò và thực trạng của an ninh dầu mỏ đối với Việt Nam
trong bối cảnh hội nhập quốc tế
Chương 3: Giải pháp đảm bảo an ninh dầu mỏ của Việt Nam trong tiến
trình hội nhập quốc tế tới năm 2030
Trang 30CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1 Khái niệm về an ninh và an ninh dầu mỏ
Trong tiến trình phát triển của nền kinh tế, các nguồn năng lượng tựnhiên như dầu mỏ, than đá phục vụ sản xuất, đời sống của con người đóngvai trò quan trọng, luôn chiếm tỷ trọng gần như tuyệt đối trong cơ cấu cácnguồn năng lượng được nhân loại sử dụng hiện nay Trước nguy cơ cácnguồn năng lượng hoá thạch có nguy cơ ngày càng cạn kiệt, trong khi đó nhucầu cho phát triển không ngừng tăng lên, vấn đề làm sao đảm bảo được nhucầu năng lượng để phục vụ cho phát triển đối với từng quốc gia nói riêng,cũng như trong tổng thể nền kinh tế thế giới nói chung, khi đó bài toán anninh năng lượng mà ở đây cốt lõi là vấn đề an ninh dầu mỏ sẽ được nhắc đếnnhư một nhu cầu cấp thiết đối với xã hội loài người và cũng không thể thiếuđược trong tiến trình phát triển của mỗi quốc gia
1.1.1 Khái niệm về an ninh
An ninh là một khái niệm cơ bản thường được sử dụng trong ngôn ngữ
và thực tiễn chính trị quốc tế An ninh là nhu cầu đầu tiên, thiết yếu của mỗicon người, mỗi quốc gia và toàn nhân loại Đồng thời, an ninh cũng là điềukiện cơ bản và quan trọng số một để đảm bảo cho sự phát triển của mỗi quốcgia Do sự khác biệt về lịch sử chính trị, văn hóa cũng như cách nhìn, cáchtiếp cận và quan niệm giá trị khác nhau của mỗi nước mà khái niệm an ninhđược hiểu, được định nghĩa theo nhiều khía cạnh khác nhau Tuy nhiên, hiểutheo nghĩa chung nhất của ngôn ngữ chính trị quốc tế, “An ninh” là khái niệm
dùng để chỉ “trạng thái ổn định, an toàn, không có dấu hiệu nguy hiểm đe dọa
sự tồn tại và phát triển bình thường của cá nhân, của từng tổ chức, của từng lĩnh vực hoạt động xã hội hoặc của toàn xã hội” [129; tr.25].
Trang 31Theo tác giả, an ninh không phải là một khái niệm tĩnh mà là một kháiniệm động, trải qua nhiều thay đổi về cách hiểu, cũng như cách tiếp cận Từmột ý niệm truyền thống xoay quanh các chủ đề quân sự, chiến tranh và bạolực, khái niệm an ninh với những kết nối mới đã mở ra những chiều hướngxuất phát từ nhiều lĩnh vực khác nhau Từ góc nhìn ban đầu tập trung vào Nhànước với vai trò vừa là chủ thể, vừa là cấp độ phân tích các học giả đang nói
về những hình thái an ninh mới, với sự thay đổi về chủ thể lẫn khách thể,cũng như phạm vi hoạt động và ảnh hưởng của những tác nhân mới này
Trong suốt thế kỷ XX, khái niệm “an ninh” trong chính trị quốc tế thườnggắn liền với bối cảnh các cuộc xung đột vũ trang như chiến tranh thế giới lần thứnhất, thứ hai và chiến tranh lạnh Trong bối cảnh đó, an ninh được hiểu như khảnăng của một quốc gia có thể ngăn chặn được các cuộc xâm lược vũ trang đến
từ bên ngoài Khuynh hướng áp đảo trong lý thuyết quan hệ quốc tế mà chủnghĩa hiện thực là đại diện tiêu biểu nhất, đồng nhất giữa an ninh với sự bảo vệhay đảm bảo chủ quyền của mỗi quốc gia trước sự tấn công hay ảnh hưởng củacác nước khác Nhà nước là người đại diện cao nhất cho đất nước, đóng vai trò
là người duy nhất sở hữu, bảo vệ và duy trì an ninh, thông qua sức mạnh quânđội hay liên minh quân sự với các đồng minh
Bước vào kỷ nguyên toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế với việc xuấthiện nhiều mối đe dọa từ các lĩnh vực đời sống khác, nó đòi hỏi phải có mộtcách tiếp cận khác trong nghiên cứu về an ninh Các học giả chia an ninh rathành hai loại đó là an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thốn g Trongkhi an ninh truyền thống chủ yếu nhấn mạnh về đe doạ quân sự và bảo vệquốc phòng, cùng với những biện pháp đảm bảo an ninh mà Chính phủ cầnlàm để đương đầu trước các nguy cơ đó, thì giá trị cơ bản của an ninh phitruyền thống xoay quanh tất cả vấn đề khác có khả năng trở thành một mối đedọa đối với cuộc sống của một quốc gia hay một cộng đồng Những mối đe
Trang 32doạ này không phải chỉ đến từ bên ngoài mà còn đến từ bên trong, khôngnhững đến từ vũ khí quân sự mà con đến từ kinh tế, văn hóa, xã hội, vấn đềđảm bảo an ninh năng lượng, khủng bố, ô nhiễm môi trường, biển đổi khíhậu, thiên tai, bệnh tật, nghèo đói, di dân…là những vấn đề nhìn nhận trêngóc độ của chủ nghĩa hiện thực và trở thành tiêu điểm chính trong các vấn đề
an ninh phi truyền thống Trong giai đoạn hiện nay, an ninh được chia thànhhai loại đó là “an ninh truyền thống” và “an ninh phi truyền thống”
An ninh truyền thống (ANTT): Là khái niệm đã có từ thời chiến tranh
lạnh, đồng nghĩa với khái niệm an ninh quốc gia, đề cập tới an ninh quốc giacũng chính là an ninh truyền thống Nội dung cơ bản của an ninh quốc gia làbảo vệ lợi ích của đất nước, loại trừ những nguy cơ đe doạ đối với lợi ích cơbản đó Mục tiêu của an ninh quốc gia chính là củng cố nền tảng vững chắcbên trong, phòng ngừa sự xâm nhập, tiến công quân sự từ bên ngoài và bảo vệvững chắc chủ quyền và thể chế chính trị quốc gia Theo các học giả nghiêncứu về quan hệ quốc tế, có một số lý do sau khiến cho khái niệm an ninhtruyền thống không còn đáp ứng với bối cảnh quốc tế hiện nay
Thứ nhất, “an ninh truyền thống” chỉ đưa ra các mối đe doạ về quân sự
mà bỏ qua những nguy cơ khác đang ngày càng gia tăng như thảm họa môitrường, thiếu lương thực, đảm bảo an ninh năng lượng, an ninh dầu mỏ, cạnkiệt nguồn tài nguyên, suy thoái kinh tế… tức là an ninh truyền thống nhấnmạnh an ninh chính trị và quân sự của quốc gia, giá trị cơ bản của an ninh này
là bảo đảm sự sống còn của quốc gia và toàn vẹn về lãnh thổ, chủ quyền, cũngnhư tiếp cận thu được của an ninh chính là liên minh chính trị và ngăn chặnchiến tranh, vũ khí hạt nhân… Chính vì vậy, khái niệm này trở nên “thiếu cânxứng” khi một loạt các thuật ngữ mới xuất hiện trong chương trình nghị sự vềlĩnh vực an ninh của nhiều quốc gia như “an ninh kinh tế”, “an ninh lươngthực”, “an ninh năng lượng”, “an ninh dầu mỏ” và “an ninh môi trường”…
Trang 33Thứ hai, “an ninh truyền thống” được coi là chỉ thiên về bảo vệ lợi ích
của chính quyền trung ương và tầng lớp có đặc quyền trong xã hội mà bỏ qualợi ích của dân chúng Hay nói cách khác, khái niệm “an ninh truyền thống”được sử dụng nhằm mục đích kiểm soát nhà nước và duy trì cơ cấu kinh tế xãhội ưu đãi đối với các tầng lớp đặc quyền Như vậy thì khái niệm này khôngđảm bảo cho sự thịnh vượng và phát triển của từng cá nhân trong xã hội và do
đó không thể tồn tại trong một thế giới dân chủ
An ninh phi truyền thống (ANPTT): Là một khái niệm mới xuất hiện và được
bàn đến khá nhiều trong thời gian gần đây Đây là mối quan tâm lớn của các quốc gia dân tộc trên thế giới, là một trong những chủ đề quan trọng được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu, được bàn luận trên nhiều diễn đàn quốc tế, cũng như trong nhiều nội dung của các quan hệ song phương và đa phương.
Sau Chiến tranh lạnh, xu thế toàn cầu hóa phát triển mạnh mẽ, thế giớibước vào giai đoạn mà trong đó xu thế hợp tác và phát triển kinh tế là chủyếu, đã và đang mang đến sự phồn thịnh cho nhiều quốc gia, khu vực Tuynhiên, quá trình hợp tác, hội nhập quốc tế này cũng làm nảy sinh nhiều vấn đềmới, đe dọa đến an ninh, chủ quyền của các quốc gia dân tộc và cuộc sốngcủa chính con người Khái niệm an ninh phi truyền thống ra đời trong bốicảnh đó và được sử dụng rộng rãi, phổ biến trên nhiều diễn đàn quốc tế thảoluận về các vấn đề chính trị, an ninh, quốc phòng, kinh tế, xã hội, trong chiếnlược quốc phòng, an ninh của nhiều quốc gia dân tộc, cũng như trong hợp tác
an ninh của nhiều khu vực và thế giới, sau khi diễn ra sự kiện khủng bố ngày11/09/2001 tại thành phố New York, Mỹ
ANPTT là một quan niệm mới về một trạng thái an ninh khác với ANTT,
nó phản ánh sự thay đổi nhận thức của con người về an ninh và sự mở rộng nộihàm khái niệm an ninh quốc gia Nếu ANTT coi an ninh quốc gia là bảo vệ đấtnước trước các mối đe dọa hoặc tấn công bằng chính trị, quân sự từ
Trang 34bên ngoài và bên trong, ANPTT không chỉ bảo vệ chủ quyền quốc gia mà cònbảo vệ con người, bảo vệ cộng đồng, nó mang tính xuyên quốc gia do nhữngmối uy hiếp, đe dọa của các nhân tố bên trong và bên ngoài đối với môitrường sinh tồn, phát triển của cộng đồng xã hội và công dân của mỗi quốcgia trong mối quan hệ chặt chẽ với khu vực và thế giới.
Sự xuất hiện ANPTT không làm phai nhạt và biệt lập với ANTT vì haivấn đề này luôn đan xen nhau và có thể chuyền hóa lẫn nhau trong điều kiệnnhất định Trong thế giới hiện đại, an ninh của mỗi quốc gia vừa bao hàm anninh chính trị, quân sự truyền thống và đang đối mặt với nhiều thách thức phitruyền thống như kinh tế, văn hóa, xã hội, thông tin, môi trường, tài nguyên,năng lượng, an ninh dầu mỏ, chủ nghĩa khủng bố… Từ đó an ninh quốc giađược bổ sung những nội dung mới, tạo ra những thay đổi mang tính lịch sửtrên những bình diện sau:
Thứ nhất, tranh chấp quyền lực, lãnh thổ truyền thống đang từng bước
chuyển hóa thành tranh chấp các nguồn tài nguyên khoáng sản và các nguồnlực phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội, tranh chấp quyền lực cứng vàquyền lực mềm để mở rộng không gian ảnh hưởng phục vụ cho lợi ích quốcgia, dân tộc
Thứ hai, tận dụng ưu thế đi trước, có trình độ khoa học công nghệ cao,
nắm giữ các nguồn lực kinh tế to lớn, các cường quốc phương Tây luôn chủđộng sử dụng các thủ đoạn, cơ hội làm sâu sắc thêm mâu thuẫn, khó khăn đểgia tăng sức ép, tiến tới lật đổ các quốc gia có chế độ chính trị khác nhằm thuhút các quốc gia đó vào khu vực ảnh hưởng của mình
Thứ ba, tiến trình toàn cầu hóa không ngừng gia tăng và sự phát triển
như vũ bão của khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin đã tạo ra
cơ hội phát triển mới của các quốc gia dân tộc, đồng thời cũng xuất hiệnnhững nguy cơ rất dễ đổ vỡ trong xã hội hiện đại Nguy cơ mất an ninh mạng,
an ninh năng lượng, sự phát triển nhanh chóng của các thứ vũ khí thông minh
Trang 35có sức mạnh hủy diệt lớn, ô nhiễm môi trường, sự nóng lên của trái đất, sựkhốc liệt của thiên tai, dịch bệnh hầu như đang tăng lên hàng ngày, sự bănghoại đạo đức hay khủng hoảng niềm tin của giới trẻ về văn hóa hoặc áp lựcquá nặng nề của cuộc sống… đang đẩy nhân loại đến ranh giới ngày càngmỏng manh giữa an toàn và rủi ro.
Thứ tư, chủ nghĩa khủng bố, chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, tôn giáo cực
đoan ngày càng phát triển, luôn thực hiện các hoạt động chống phá xã hộibằng các thủ đoạn bạo lực và nhiều thủ đoạn tinh vi khác Đây chính là những
uy hiếp nghiêm trọng đối với anh ninh của mọi quốc gia trên thế giới
Thứ năm, phát triển không bền vững ngày càng gia tăng, nó tác động vào
thiên nhiên với mục đích cải tạo nó, hầu như con người càng dấn sâu vàovòng luẩn quẩn và gánh chịu ngày càng nặng nề bởi sự trả giá của thiên nhiênđúng như Ph.Ăng-ghen đã từng cảnh báo [76] Trên thực tế, con người đangđối mặt những nguy cơ từ chính sự phát triển của mình, đó là sự cạn kiệt tàinguyên, trái đất nóng lên, nước biển dâng, môi trường sống xấu đi, dịch bệnhđối với con người… ngày càng phức tạp và khó lường
Thứ sáu, trong tiến trình toàn cầu hóa, khi “biên giới cứng” giữa các
quốc gia hầu như bị phá vỡ mà “biên giới mềm” chưa thể tạo thành hàng rào
an ninh hiệu quả cao, an ninh của các quốc gia dân tộc trở nên phức tạp khólường do sự tác động của các yếu tố từ bên ngoài và nằm ngoài sự mong đợicũng như vượt qua sự cảnh giác, đề phòng của con người Điều này cũng cónghĩa là áp lực ngày càng lớn, nguy cơ ngày càng cao đối với an ninh quốcgia Đến nay, việc nhận thức và xác định khái niệm, cũng như nội dung vấn
đề ANPTT vẫn chưa có sự thống nhất
Nội hàm của khái niệm an ninh không chỉ giới hạn ở tình trạng như đãnêu, mà còn bao hàm cả những biện pháp để mang lại tình trạng đó, tức làhành động để thực hiện an ninh Cách hiểu về khái niệm an ninh như vậy
Trang 36phản ánh nhu cầu và quan niệm chung của cộng đồng quốc tế đồng thời nóbao hàm đầy đủ nội hàm của khái niệm an ninh trong giai đoạn hiện nay.Tính chất nguy hiểm của các mối đe dọa đối với an ninh phi truyền thốngkhông chỉ biểu hiện ở mức độ hủy hoại, sự tàn phá của nó đối với cuộc sống củacon người, mà còn đặt ra nhiều thách thức đối với sự ổn định xã hội, sự tồn vongcủa cộng đồng, hiệu quả thực tế của hợp tác và hội nhập toàn cầu, thậm chí cònlàm nảy sinh các vấn đề về an ninh quân sự Các thảm họa thiên nhiên, động đất,sóng thần, bão lụt, dịch bệnh, cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên… ngày càngthách thức đối với các thành tựu của khoa học - công nghệ hiện đại, cũng nhưkhả năng, nỗ lực của con người Khủng bố, tội phạm xuyên quốc gia, tội phạmcông nghệ cao, những vấn đề an ninh về tài chính, năng lượng, dầu mỏ, lươngthực… cũng đang thử thách đến năng lực điều hành, đối phó để xử lý các vấn đềđặt ra nói trên đối với các quốc gia trên thế giới.
1.1.2 Khái niệm về dầu mỏ và an ninh dầu mỏ
Thế giới đang phải đối mặt với vấn đề mất cân đối an ninh dầu mỏ, tức là
sẽ phải đối phó với khả năng giảm nguồn cung dầu mỏ Theo dự báo, nguồn
dự trữ dầu mỏ còn lại trên thế giới sẽ không thể theo kịp với xu thế tiêu dùngnăng lượng ngày càng gia tăng của xã hội Do vậy, vấn đề an ninh dầu mỏngày nay đang trở thành chương trình nghị sự quan trọng nhất để đưa ra bànthảo của rất nhiều quốc gia và ở các hội nghị quốc tế lớn
Khái niệm cơ bản về dầu mỏ
Dầu mỏ là một loại khoáng sản hữu ích, tồn tại dưới dạng chất lỏng có
độ sánh, nhờn và thường có màu đen (nhưng cũng có thể trong suốt hoặc cónhiều màu khác) Xét trên phương diện hóa học, dầu là hỗn hợp củahydrocarbon với lưu huỳnh, nitơ và các hợp chất khác Mùi của dầu cũng cóthể khác nhau, phụ thuộc vào hàm lượng các hydrocarbon thơm và các hợpchất lưu huỳnh trong thành phần của nó [117]
Trang 37Theo lý thuyết tổng hợp sinh học được nhiều nhà khoa học đồng ý, dầu
mỏ phát sinh từ những xác chết của các sinh vật ở đáy biển, hay từ các thựcvật bị chôn trong đất Khi thiếu khí ôxy, bị đè nén dưới áp suất và ở nhiệt độcao các chất hữu cơ trong các sinh vật này được chuyển hoá thành các hợpchất tạo nên dầu Dầu mỏ tích tụ trong các lớp đá xốp, do nhẹ hơn nước nêndầu đã chuyển dần dần lên trên cho đến khi gặp phải các lớp đá không thẩmthấu thì tích tụ lại ở đấy và tạo thành mỏ dầu Cuối thế kỷ XIX, nhà hoá họcngười Nga Mendeleep đã đưa ra lý thuyết vô cơ giải thích sự hình thành củadầu mỏ Theo lý thuyết này, dầu mỏ phát sinh từ phản ứng hoá học giữacacbua kim loại với nước tại nhiệt độ cao ở sâu trong lòng đất tạo thành cáchiđrôcacbon và sau đó bị đẩy lên trên Các vi sinh vật sống trong lòng đất quahàng tỷ năm đã chuyển chúng thành các hỗn hợp hidrocacbon khác nhau Lýthuyết này là một đề tài gây nhiều tranh cãi trong giới khoa học Dầu mỏ làloại khoáng sản năng lượng, có tính “linh động” cao Sau nữa, chúng có bảnchất sinh thành, di cư và tích tụ gần giống nhau Giống như nhiều loại tàinguyên khoáng sản khác, dầu mỏ được hình thành do kết quả quá trình vậnđộng phức tạp lâu dài hàng triệu năm về vật lý, hoá học, địa chất, sinh học…trong vỏ trái đất Thông thường dầu mỏ sau khi khai thác có thể xử lý, tàngtrữ và xuất khẩu ngay
Theo Luật Dầu khí Việt Nam (1993) “Dầu khí” bao gồm dầu mỏ, khí đốt
và hydrocarbon ở thể khí, lỏng hoặc rắn trong trạng thái tự nhiên nhưngkhông kể than, đá phiến sét, bitum hoặc các khoáng sản khác có thể chiết xuấtđược dầu “Hoạt động dầu mỏ” là hoạt động tìm kiếm thăm dò, phát triển vàkhai thác dầu mỏ, kể cả các hoạt động phục vụ trực tiếp cho các hoạt độngnày Có nhiều cách chia hoạt động dầu mỏ ra thành các lĩnh vực khác nhau Ởđây, hoạt động dầu mỏ được chia thành ba lĩnh vực hoạt động chính:
Trang 38(i) Hoạt động tìm kiếm - thăm dò - khai thác (còn gọi là lĩnh vực thượng nguồn hoặc khâu đầu): Được tính từ khi bắt đầu các hoạt động khảo sát địa
vật lý, xử lý tài liệu địa chấn, khoan thăm dò cho tới khi đưa được dầu hoặckhí lên tới miệng giếng
(ii) Hoạt động vận chuyển - tàng trữ dầu mỏ (còn gọi là lĩnh vực trung nguồn hoặc khâu giữa): Là khâu nối liền khai thác với chế biến và tiêu thụ.
Quá trình phát triển của nó gắn liền với việc khai thác dầu mỏ và khí đốt, baogồm các kho chứa, các hệ thống vận chuyển bằng đường ống và tàu dầu
(iii) Các hoạt động thuộc lĩnh vực chế biến dầu mỏ, kinh doanh phân phối sản phẩm dầu mỏ (còn gọi là lĩnh vực hạ nguồn hoặc khâu sau): Bao
gồm các hoạt động lọc, hoá dầu, chế biến dầu mỏ và khí tự đốt Nó được tính
từ khi nhận dầu (hay khí) từ nơi khai thác đến quá trình lọc, chế biến, hoá dầu
và kinh doanh, phân phối các sản phẩm dầu mỏ, khí đốt đó
Một số khái niệm cơ bản về an ninh dầu mỏ
Dầu mỏ luôn được xem là nguồn năng lượng quý giá, không thể tái tạo,phục vụ cho các hoạt động phát triển kinh tế, đời sống con người, nếu khôngđảm bảo được vấn đề an ninh năng lượng thì sẽ có thể tác động tới những hệquả nghiêm trọng như mất ổn định về kinh tế, đời sống xã hội con người Do
đó, an ninh dầu mỏ được xem là vấn đề then chốt của an ninh năng lượng,đây là nhân tố ảnh hưởng nhiều đến chính trị toàn cầu bởi hầu hết các quốcgia đều phụ thuộc vào nguồn cung dầu mỏ trên thế giới Bởi lẽ đó, an ninhdầu mỏ cần được xem xét dựa trên tổng thể các mối quan hệ giữa chính trị -
an ninh - kinh tế Ngày nay, dầu mỏ đã dần trở thành một loại vũ khí mangtính quyết định trong các cuộc xung đột về chính trị, ngoại giao, cũng như lợiích kinh tế giữa các nước
Trong những thập niên 60 của thế kỷ XX, nhu cầu về năng lượng của cácquốc gia nhìn chung được bảo đảm tương đối ổn định qua thị trường Tuy
Trang 39nhiên, với sự phát triển mạnh mẽ của phong trào độc lập dân tộc, việc khaithác thuộc địa trở nên khó khăn, việc tranh chấp các nguồn tài nguyên ngàycàng quyết liệt Đó cũng là chất xúc tác đẩy đến cuộc khủng hoảng dầu mỏthế giới năm 1973 - 1974 Vào thời kỳ này, "an ninh năng lượng" được hiểutheo nghĩa hẹp - đồng nghĩa với "an ninh dầu mỏ", tức là bảo đảm khả năng tựcung cấp dầu mỏ ở mức cao nhất, đồng thời giảm mức nhập khẩu dầu và kiểmsoát được những nguy cơ đi kèm của việc nhập khẩu.
Từ đó, theo nghiên cứu của riêng mình, tác giả mạnh dạn đưa ra khái
niệm về an ninh dầu mỏ như sau: “Đó là quá trình đảm bảo khả năng cung ứng dầu mỏ ở mức cao nhất với một mức giá hợp lý theo phương thức bền vững Mức giá hợp lý trong định nghĩa này có hàm ý phải dựa vào chức năng
cơ bản của thị trường (do thị trường xác định giá) có tính đến nhu cầu không thể thay thế và nguồn cung của các nước khác nhau trong mối liên hệ với những vấn đề như quan hệ giữa nhà nước và xã hội, giữa chi phí môi trường
và điều tiết thị trường”.
Tuy nhiên, định nghĩa này không đơn thuần chỉ giới hạn ở chỗ đảm bảokhả năng cung ứng dầu mỏ, mà còn bao hàm cả việc đáp ứng nhu cầu dầu mỏtheo một phương thức bền vững, ổn định Do vậy, an ninh dầu mỏ chỉ có thểđạt được nếu các quốc gia có sự hợp tác chặt chẽ, đồng thuận với nhau Điềunày đòi hỏi mỗi quốc gia phải xây dựng được chính sách về an ninh nănglượng của mình, trong đó dầu mỏ đóng vai trò chủ đạo, phù hợp với tình hìnhthực tế, kết hợp với mục đích nâng cao hiệu quả, sử dụng các nguồn nănglượng một cách hợp lý
Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, thế giới khi nói đến an ninh nănglượng, mọi người thường gắn liền với vấn đề an ninh dầu mỏ Trên thực tế đãchứng minh, từ sau thập niên 50 của thế kỉ XX, dầu mỏ đã chiếm 61% các nguồnnăng lượng mà con người sử dụng [84] Do vậy, thuật ngữ an ninh năng
Trang 40lượng hiện nay không đơn thuần là chỉ các nguồn cung năng lượng (chủ yếu
là dầu mỏ) được đảm bảo như những thập kỉ trước đây, mà còn được hiểumột cách toàn diện, bao quát hơn đó là phải công tác bảo vệ môi trường, giá
cả hợp lý, khả năng ứng phó với các tình huống khẩn cấp phát sinh từ nhữngnhân tố chính trị, an ninh, kinh tế, xã hội… ở nội tại bên trong hoặc bên ngoàicủa một quốc gia
1.2 Tình hình an ninh dầu mỏ thế giới trước thập kỷ 1990
Vào những năm của thập niên 70 và 80 của thế kỷ trước, nhu cầu vềnăng lượng của các quốc gia nhìn chung được bảo đảm tương đối ổn địnhthông qua thị trường Song có một thực tế là các sản phẩm công nghiệp chếbiến luôn có giá so sánh cao hơn giá nguyên nhiên liệu trên thị trường, vì vậycác nước phát triển luôn có lợi thế và giành được nguồn lợi từ chính tìnhtrạng này Với sự phát triển mạnh mẽ của phong trào độc lập dân tộc, việckhai thác thuộc địa trở nên khó khăn, việc tranh chấp các nguồn tài nguyênngày càng quyết liệt Đó cũng là những chất xúc tác dẫn đến cuộc khủnghoảng dầu mỏ năm 1973 - 1974 Tình trạng ngắt quãng hoặc không ổn địnhtrong cung cấp dầu mỏ đã tác động mạnh đến nền kinh tế thế giới, đẩy nềnkinh tế toàn cầu lâm vào tình trạng khủng hoảng kép, khủng hoảng cơ cấu điliền khủng hoảng chu kỳ Trong thời kỳ này, an ninh năng lượng được hiểutheo nghĩa hẹp đồng nghĩa với an ninh dầu mỏ, tức là phải bảo đảm khả năng
tự cung cấp nguốn dầu mỏ ở mức cao nhất
Sau cuộc khủng hoảng nói ở trên, nhiều quốc gia đã có chuyển đổitrong cơ cấu tiêu dùng năng lượng, giảm bớt phụ thuộc vào dầu mỏ, đầu tưcho việc phát triển các nguồn năng lượng mới Đặc biệt từ cuối thế kỷ XX,đầu thế kỷ XXI với sự phát triển vượt bậc của khoa học công nghệ, quá trìnhliên kết, hội nhập quốc tế được thúc đẩy, toàn cầu hóa kinh tế trở thành xu thếtrong nền kinh tế thế giới hiện đại Bối cảnh này đã làm cho quan niệm về an