1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Quản lý nhà nước đối với kinh tế du lịch trên địa bàn thành phố hà nội

151 74 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 151
Dung lượng 2,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những năm qua, ngành kinh tế du lịch Hà Nội đã có nhiều bướcphát triển mạnh và đạt được thành tựu to lớn trên nhiều mặt: hệ thống cơ sở lưutrú du lịch có số lượng và chất lượng dẫn

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

/

BỘ NỘI VỤ /

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

NGUYỄN HỒNG NGỌC

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI KINH TẾ DU LỊCH TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

Chuyên ngành: Quản lý công

Mã số: 60 34 04 03

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN HOÀNG HIỂN

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan bản Luận văn này là công trình nghiên cứu độc lậpcủa cá nhân tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn của Tiến sĩ Nguyễn HoàngHiển Các số liệu trong Luận văn là trung thực, khách quan, dựa trên các tàiliệu đã được công bố

HỌC VIÊN

Nguyễn Hồng Ngọc

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc nhất tới thầy giáo, TS NguyễnHoàng Hiển, người đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu

và hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn tới các thầy giáo, cô giáo của Học việnHành chính Quốc gia đã nhiệt tình giảng dạy, truyền đạt cho tôi kiến thức vềQuản lý công trong suốt thời gian học tập tại Học viện

Tôi xin gửi lời cảm ơn tới Khoa sau Đại học Học viện Hành chínhQuốc gia; Các đồng chí lãnh đạo, các cán bộ, công chức Sở Du lịch Thànhphố Hà Nội; Quý thầy, cô giáo, đồng nghiệp, bạn bè và gia đình đã tạo điềukiện về thời gian, kinh phí, hướng dẫn nội dung dung và cung cấp nhữngthông tin, tài liệu cần thiết để tôi có thể hoàn thành được Luận văn thạc sĩ

Mặc dù đã rất cố gắng nhưng với thời gian và điều kiện nghiên cứucòn nhiều hạn chế nên luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót Tôi rấtmong nhận được sự quan tâm và những ý kiến đóng góp của Quý thầy cô vàcác bạn đồng nghiệp quan tâm đến lĩnh vực Quản lý nhà nước đối với kinh tế

du lịch để luận văn tốt nghiệp hoàn thiện tốt hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn

Tác giả

Nguyễn Hồng Ngọc

Trang 4

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

1 ANMC 21 Mạng lưới các thành phố lớn châu Á thế kỷ 21

Trang 5

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU

1 2.1 Các di tích có giá trị đặc biệt về du lịch 41

2 2.2 Diễn biến lượng khách du lịch đến Hà Nội giai 44

đoạn 2011-2015

3 2.3 Tổng doanh thu du lịch Hà Nội 2011- 2015 47

4 2.4 Số lượng lao động trực tiếp trong ngành kinh tế 51

du lịch Hà Nội

5 2.5 Sơ đồ tổ chức bộ máy QLNN đối với kinh tế du 61

lịch trên địa bàn thành phố Hà Nội hiện nay

Trang 6

MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài luận văn 1

2 Tình hình nghiên cứu của luận văn 2

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 4

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 5

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn 5

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 6

7 Kết cấu của luận văn 6

Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI KINH TẾ DU LỊCH 7

1.1 Tổng quan về kinh tế du lịch 7

1.1.1 Khái niệm về kinh tế du lịch 7

1.1.2 Đặc trưng của ngành kinh tế du lịch 9

1.1.3 Các lĩnh vực kinh doanh trong du lịch 1

2 1.1.4 Vai trò của du lịch trong nền kinh tế thị trường hội nhập quốc tế 1

3 1.1.5 Thách thức của phát triển du lịch trong nền kinh tế thị trường 1

6 1.2 Cơ sở lý luận quản lý nhà nước đối với kinh tế du lịch 18

1.2.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của quản lý nhà nước đối với kinh tế du lịch

18 1.2.2 Mục đích, yêu cầu quản lý nhà nước đối với kinh tế du lịch 23

1.2.3 Nội dung quản lý nhà nước đối với kinh tế du lịch trên địa bàn thành phố Hà Nội 24

1.2.4 Những yếu tố tác động đến hoạt động quản lý nhà nước đối với kinh tế du lịch

29 1.3 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về kinh tế du lịch của một số quốc gia trên thế giới và bài học rút ra cho Hà Nội 33

1.3.1 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về kinh tế du lịch ở Thái Lan 33

1.3.2 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về kinh tế du lịch ở Trung Quốc 35 1.3.3 Một số bài học kinh nghiệm đối với quản lý nhà nước về kinh tế du lịch

Trang 7

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 38 Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI KINH

TẾ DU LỊCH TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI GIAI ĐOẠN 2011- 2015 39

Trang 8

2.1 Điều kiện, tiềm năng và thế mạnh của Hà Nội để phát triển kinh tế dulịch 39

2.1.1 Tài nguyên thiên nhiên

2.2 Thực trạng phát triển kinh tế du lịch Hà Nội giai đoạn 2011- 2015 43

2.2.1 Thực trạng về khách du lịch trên địa bàn thành phố Hà Nội

Trang 9

2.3.4 Thực trạng quản lý nhà nước về các lĩnh vực kinh doanh du lịch ở thủ đô

2.3.6 Công tác xúc tiến, quảng bá du lịch ở thủ đô Hà Nội

2.4.1 Những kết quả đạt được trong công tác quản lý nhà nước đối với kinh

tế du lịch trên địa bàn thành phố Hà Nội

Trang 10

CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI KINH TẾ DU LỊCH

TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 79

3.1 Định hướng phát triển kinh tế du lịch ở thủ đô Hà Nội đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 79

3.1.1 Vị trí, tầm quan trọng của ngành kinh tế du lịch Hà Nội trên bản đồ kinh tế du lịch Việt Nam và tổng thể nền kinh tế- xã hội của Thủ đô 79

3.1.2 Định hướng phát triển kinh tế du lịch ở thủ đô Hà Nội đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 80

3.2 Một số giải pháp hoàn thiện hoạt động quản lý nhà nước đối với kinh tế du lịch trên địa bàn thành phố Hà Nội 84

3.2.1 Nâng cao chất lượng công tác quản lý nhà nước về định hướng, chiến lược phát triển du lịch thông qua công tác quy hoạch và thực hiện quy hoạch84 3.2.2 Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật, chính sách kích thích phát triển kinh tế du lịch ở thủ đô Hà Nội 88

3.2.3 Đẩy mạnh hơn nữa hoạt động cải cách hành chính theo hướng đổi mới tổ chức bộ máy quản lý nhà nước tinh gọn, tránh trùng lặp, tận dụng mọi nguồn lực để phát triển kinh tế du lịch ở Hà Nội 89

3.2.4 Đổi mới cơ chế đầu tư và đầu tư có trọng điểm thúc đẩy kinh tế du lịch Hà Nội phát triển 92

3.2.5 Chú trọng bảo vệ, tôn tạo các điểm du lịch, cảnh quan, môi trường phục vụ phát triển kinh tế du lịch của thủ đô Hà Nội 92

3.2.6 Tăng cường quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh du lịch 94

3.2.7 Nâng cao năng lực quản lý nhà nước đối với thị trường du lịch, khách du lịch và công tác tuyên truyền, quảng bá du lịch Hà Nội 97

3.2.8 Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngành kinh tế du lịch ở thủ đô Hà Nội 98

3.2.9 Đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến giáo dục, pháp luật, chính sách về quản lý nhà nước đối với kinh tế du lịch ở thủ đô Hà Nội 101

3.2.10 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra đối với các lĩnh vực trong họat động kinh doanh du lịch ở thủ đô Hà Nội 102

3.3 Một số kiến nghị 103

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 105

KẾT LUẬN 106 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài luận văn

Thủ đô Hà Nội là trung tâm văn hóa, chính trị, kinh tế quan trọng của ViệtNam, là nơi được thiên nhiên ưu đãi với nhiều danh lam, thắng cảnh nổi tiếng và

là một trong những địa danh thu hút khách du lịch trong và ngoài nước lớn nhấtViệt Nam Trong những năm qua, ngành kinh tế du lịch Hà Nội đã có nhiều bướcphát triển mạnh và đạt được thành tựu to lớn trên nhiều mặt: hệ thống cơ sở lưutrú du lịch có số lượng và chất lượng dẫn đầu cả nước; hoạt động lữ hành pháttriển mạnh; hoạt động xúc tiến quảng bá du lịch với những chương trình dự án cóquy mô lớn, có sự phối hợp với các cơ quan tổ chức đầu ngành,… Nhờ đó, lượtkhách du lịch trên địa bàn thủ đô ngày càng tăng cao và đến hết năm 2015 đã đạthơn 19,79 triệu, tổng thu từ du lịch ước tính đạt 55.539 tỉ đồng, tăng 11,4% sovới các năm trước [7], [16] Đặc biệt, việc thành lập Sở Du Lịch thành phố HàNội trong năm 2015 trên cơ sở tách chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước về dulịch từ Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành phố Hà Nội đã và đang góp phầnnâng cao hiệu quả trong công tác quản lý nhà nước đối với kinh tế du lịch, đẩymạnh phát triển sản phẩm du lịch, xúc tiến theo chiều sâu góp phần khai tháchiệu quả tài nguyên du lịch của Thủ đô Tuy nhiên, du lịch Hà Nội vẫn chưa pháttriển tương xứng với tiềm năng hiện có Trong những năm qua, du lịch Hà Nộivẫn đang tồn tại nhiều hạn chế chưa được giải quyết thỏa đáng như: Nhận thức

về du lịch chưa thực sự đồng bộ giữa các cấp, các ngành; cơ sở vật chất kỹ thuậtphục vụ du lịch chưa đáp ứng được thực tiễn họat động; công tác quản lý nguồnnhân lực du lịch còn bộc lộ nhiều hạn chế;… Tất cả đã cản trở sự phát triển ổnđịnh, bền vững của du lịch Hà Nội nói riêng và du lịch Việt Nam nói chung Đểđảm bảo cho sự phát triển này, hoạt động quản lý nhà nước đối với kinh tế dulịch trên địa bàn thành phố Hà Nội cần phải có sự chuyển biến mạnh mẽ, tíchcực, chú

Trang 12

trọng vào sửa chữa, khắc phục những hạn chế còn tồn tại Tuy nhiên, vấn đềđặt ra trong bối cảnh hiện nay đối với các nhà quản lý và những nhà nghiêncứu là khắc phục và sửa chữa như thế nào, cách thức ra sao vẫn còn là vấn đềthời sự cần phải được nghiên cứu đầy đủ và thấu đáo.

Với những lý do nêu trên, tôi lựa chọn đề tài: “Quản lý nhà nước đối

với kinh tế du lịch trên địa bàn thành phố Hà Nội” làm đề tài luận văn tốt

nghiệp cao học để góp phần lý giải nhiều vấn đề về lý luận và thực tiễn cũngnhư đề xuất các giải pháp để công tác quản lý nhà nước đối với kinh tế du lịch

ở thủ đô Hà Nội đạt hiệu quả hơn

2 Tình hình nghiên cứu của luận văn

Xung quanh vấn đề quản lý nhà nước đối với kinh tế du lịch trên địabàn thành phố Hà Nội đã có nhiều đề tài nghiên cứu ở những góc độ, phạm vikhác nhau với nhiều cách tiếp cận khác nhau và hướng sử dụng kết quảnghiên cứu cũng khác nhau

Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu như:

- Đề tài nghiên cứu năm 2007 của Viện Nghiên cứu phát triển Du lịch

Việt Nam (ITDR): “Nghiên cứu xây dựng sản phẩm du lịch Việt Nam có tính cạnh tranh trong khu vực, quốc tế” Đề tài đã tập trung nghiên cứu cơ sở khoa

học (lý thuyết và thực tiễn) để xây dựng sản phẩm du lịch Việt Nam có tínhcạnh tranh trong khu vực, quốc tế Từ đó, đề xuất định hướng xây dựng sảnphẩm du lịch Việt Nam có tính cạnh tranh trong giai đoạn 2010- 2015

- PGS.TS Hà Văn Hội và Vũ Quang Kết (2010), Báo cáo du lịch Hà Nội: Hướng tới phát triển bền vững, tạp chí Khoa học Đại học Quốc Gia Hà

Nội, Kinh tế và Kinh doanh Tác giả đã khẳng định “Phát triển bền vững” làmối quan tâm hàng đầu của mọi quốc gia, mọi dân tộc trong bối cảnh hiện nay Báo cáo đi sâu vào thực tế hoạt động du lịch tại thủ đô Hà Nội, nêu ra

Trang 13

những mặt tích cực, hạn chế còn tồn tại Từ đó, đề xuất những biện pháp cần thiết thực hiện để phát triển du lịch Hà Nội bền vững.

- Th.S Mai Tiến Dũng (2011), “Phát triển nhân lực ngành du lịch thủ

đô và các địa phương phụ cận”, Báo cáo tham luận Hội thảo quốc gia lần II

“Đào tạo nhân lực du lịch theo nhu cầu xã hội” Trong báo cáo tham luận, tácgiả đã đi sâu vào lĩnh vực quản lý nhà nước trong phát triển nguồn nhân lựcngành du lịch trên địa bàn thủ đô gắn kết với các địa bàn xung quanh Hà Nộinhư một mạng lưới liên kết vùng mà tâm điểm là Hà Nội Theo đó, tác giảđưa ra những nhận định, đánh giá dựa trên sự kết hợp giữa nhãn quang khoahọc và những kinh nghiệm thực tiễn về nhu cầu, thực trạng, xu hướng pháttriển nguồn nhân lực cho ngành kinh tế du lịch của thủ đô và các vùng phụcận, từ đó đưa ra những giải pháp chủ yếu nhằm góp phần từng bước nângcao chất lượng đội ngũ nhân lực này trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngàycàng sâu rộng

- Nguyễn Thị Cẩm Thúy (2012), “Phát triển thị trường du lịch Hà Nội”,

Luận văn Thạc sĩ ngành: Kinh tế chính trị Tác giả đã khái quát một số vấn đề lýluận và thực tiễn về thị trường du lịch Hà Nội; đưa ra một số kinh nghiệm về thịtrường du lịch ở một số tỉnh, thành trong cả nước; phân tích những điều kiện tựnhiên, kinh tế xã hội, những nội lực, ngoại lực để phát triển thị trường du lịch HàNội Trên cơ sở đó, chỉ ra thực trạng du lịch Hà Nội trong những năm gần đây,những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của thị trường du lịch Hà Nội

Từ đó, tác giả kiến nghị các giải pháp và các định hướng cơ bản nhằm phát triểnthị trường du lịch Hà Nội đến năm 2020

- Báo cáo chuyên đề năm 2014 của Viện Nghiên cứu phát triển Du lịch

Việt Nam (ITDR): “Du lịch Việt Nam- Thực trạng và giải pháp phát triển”.

Báo cáo nêu một cách rõ nét nhất thực trạng của du lịch Việt Nam hiện nay

Trang 14

cùng các xu hướng phát triển trong bối cảnh quốc tế và trong nước Các thànhcông và hạn chế được đánh giá cụ thể cùng các nguyên nhân làm nên các kếtquả này Các vấn đề toàn cầu, xu hướng quốc tế và trong nước được đề cập vàchỉ rõ các tác động đối với du lịch Việt Nam Từ những phân tích cụ thể này,báo cáo cũng đã đúc rút ra những giải pháp then chốt mang tính đột phá màgiai đoạn tới du lịch Việt Nam cần hướng tới.

- Một số Luận văn, bài viết liên quan đến quản lý nhà nước về du lịch ởViệt Nam Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu này mới chỉ mang tính chấtkhái quát ở cấp độ quốc gia, chưa đi sâu nghiên cứu một cách có hệ thống, bàibản về đặc thù quản lý nhà nước ở cấp tỉnh về du lịch nói chung và thủ đô HàNội nói riêng Do đó, đề tài này là một đề tài không trùng lặp và mang tínhđặc thù riêng

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

- Mục đích của luận văn

Đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước đối với kinh tế du lịchtrên địa bàn thành phố Hà Nội; làm rõ những thành công và hạn chế; lý giảinguyên nhân của thực trạng đó (trên tổng thể các nội dung định hướng, chiếnlược, quy hoạch và thực hiện quy hoạch;…)

Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nướcđối với kinh tế du lịch với mục tiêu đẩy nhanh tốc độ phát triển du lịch trởthành một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của thủ đô theo định hướngphát triển đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030

- Nhiệm vụ của luận văn

Để thực hiện mục đích nêu trên, luận văn xác định có những nhiệm vụ sau:

Hệ thống hóa cơ sở lý luận về vai trò, chức năng, nội dung quản lý nhànước đối với kinh tế du lịch

Trang 15

Đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước đối với kinh tế du lịch trên địa bàn thành phố Hà Nội chủ yếu trong giai đoạn từ năm 2011 đến 2015.

Đề xuất các giải pháp phù hợp, khả thi nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước đối với kinh tế du lịch trên địa bàn thành phố Hà Nội

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

- Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là quản lý nhà nước đối với kinh tế

du lịch trên địa bàn thành phố Hà Nội từ năm 2011 đến 2015

và phát triển kinh tế du lịch Hà Nội đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

- Phương pháp luận

Luận văn dựa trên phương pháp luận là chủ nghĩa duy vật biện chứng

và chủ nghĩa duy vật lịch sử

- Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp phân tích- tổng hợp, phương pháp thống kê, so sánh, dựbáo, phương pháp chuyên gia, phương pháp điều tra số liệu, thu thập số liệu,

xử lý thông tin,…

Bên cạnh đó, luận văn có tham khảo và kế thừa có chọn lọc kết quảnghiên cứu của một số công trình nghiên cứu đã được công bố liên quan đếnlĩnh vực này

Trang 16

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Góp phần hệ thống hóa và làm sáng tỏ thêm những vấn đề lý luận cơ bản

về quản lý nhà nước đối với kinh tế du lịch trên địa bàn thành phố Hà Nội

Đề xuất những giải pháp cơ bản, có khả năng áp dụng trong thực tiễn,góp phần hoàn thiện công tác quản lý nhà nước đối với kinh tế du lịch trên địabàn thành phố Hà Nội trong thời gian tới

Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan,

cá nhân trong việc nghiên cứu hoạch định chính sách phát triển kinh tế du lịchnói chung và kinh tế du lịch Hà Nội nói riêng

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tàiđược kết cấu thành 03 chương:

Chương 1: Cơ sở khoa học quản lý nhà nước đối với kinh tế du lịch.Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước đối với kinh tế du lịch trên địabàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2011- 2015

Chương 3: Định hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lýnhà nước đối với kinh tế du lịch trên địa bàn thành phố Hà Nội

Trang 17

Chương 1

CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI KINH TẾ DU LỊCH

1.1 Tổng quan về kinh tế du lịch

1.1.1 Khái niệm về kinh tế du lịch

Ngày nay, du lịch đã thực sự trở thành một ngành kinh tế có vai tròquan trọng không chỉ ở các nước phát triển mà còn ở các nước đang phát triểntrong đó có Việt Nam Tuy nhiên, cho đến nay, do quan điểm tiếp cận và góc

độ nghiên cứu khác nhau, có nhiều cách hiểu khác nhau về kinh tế du lịch:

Thuật ngữ du lịch bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp: Tonos nghĩa là “Đi mộtvòng” Thuật ngữ này được đưa vào hệ ngữ Latinh thành Turnur và sau đóthành Le Tour trong tiếng Pháp với nghĩa là “Đi vòng quanh, cuộc dạo chơi”

Ở nước Anh, du lịch xuất phát từ tiếng “To Tour” có nghĩa là cuộc dạo chơi(Tour round the world- cuộc đi vòng quanh thế giới, to go for tour round thetown- cuộc dạo quanh thành phố; tour of inspection- cuộc kinh lý kiểm tra,

…) Theo Robert Langquar (1980), từ Tourism (du lịch) lần đầu tiên được sửdụng trong tiếng Anh vào khoảng năm 1800 và được quốc tế hoá, nhiều nước

đã sử dụng trực tiếp mà không dịch nghĩa Trong tiếng Việt, thuật ngữ du lịch

là một từ gốc Hán- Việt, tạm hiểu là “Đi chơi, trải nghiệm”

Theo nghĩa chung nhất, “Du lịch” được hiểu là việc đi lại của từng cánhân hoặc một nhóm người rời khỏi chỗ ở của mình trong khoảng thời giannhất định đến một nơi nào đó để nghỉ ngơi, giải trí hoặc chữa bệnh

Luật du lịch Việt Nam năm 2005 định nghĩa: “Du lịch là các hoạt động

có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên củamình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu giải trí, nghỉ dưỡng trongmột khoảng thời gian nhất định”

Trang 18

“Hoạt động du lịch là hoạt động của khách du lịch, tổ chức, cá nhânkinh doanh du lịch, cộng đồng dân cư và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liênquan đến du lịch Trong đó, chủ thể quan trọng của hoạt động du lịch là khách

du lịch Đó là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học,làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến”

“Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thỏa mãn nhu cầucủa khách du lịch trong chuyến đi du lịch”

“Dịch vụ du lịch là việc cung cấp các dịch vụ về lữ hành, vận chuyển,lưu trú, ăn uống, vui chơi giải trí, thông tin, hướng dẫn và những dịch vụ khácnhằm đáp ứng nhu cầu cơ bản của khách du lịch gồm: nhu cầu lưu trú, ănuống; nhu cầu vận chuyển đi lại; nhu cầu giải trí, cảm thụ cái đẹp; nhu cầumua sắm và các nhu cầu khác Để thỏa mãn được các nhu cầu đó, ngành dulịch tổ chức cung cấp các dịch vụ du lịch cơ bản và thường được gọi tắt làcung du lịch” Hiện nay có các loại dịch vụ cơ bản về du lịch như: Dịch vụvận chuyển, dịch vụ lưu trú, ăn uống, dịch vụ mua sắm, dịch vụ giải trí

Từ những cách tiếp cận như vậy, định nghĩa về kinh tế du lịch hiện naybao gồm hai thành tố sau:

Thứ nhất, du lịch là một nhu cầu, hiện tượng xã hội: sự di chuyển vàlưu trú tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cưtrú nhằm mục đích phục hồi sức khoẻ, nâng cao hiểu biết, có hoặc không kèmtheo việc tiêu thụ một số giá trị tự nhiên, kinh tế, văn hoá và dịch vụ nào đó

Thứ hai, đó là một ngành kinh tế có tính tổng hợp hay hoạt động kinhdoanh sinh lời, lấy khách du lịch làm đối tượng, cung cấp sản phẩm, dịch vụ dulịch cần thiết cho khách du lịch: Cung cấp các ấn phẩm, dịch vụ nhằm thoả mãnnhu cầu nảy sinh trong quá trình di chuyển và lưu trú tạm thời trong thời gianrảnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú với mục đích phục hồi sứckhoẻ, nâng cao nhận thức về thế giới xung quanh Nói cách khác, du lịch là tậphợp các hoạt động giữa cung du lịch và cầu du lịch tạo nên ngành du lịch

Trang 19

Cách hiểu này đã một phần lý giải tại sao đối với nhiều quốc gia, trongbảng phân ngành của nền kinh tế quốc dân đã xếp kinh tế du lịch là ngànhdịch vụ Hoạt động kinh doanh du lịch chủ yếu là các dịch vụ, nhằm trợ giúpcho con người trong quá trình đi thăm quan, du lịch như dịch vụ vận chuyển,dịch vụ hướng dẫn, dịch vụ làm các thủ tục hải quan liên quan đến quá trình

du lịch, dịch vụ lưu trú, dịch vụ ăn uống, dịch vụ vui chơi giải trí,

1.1.2 Đặc trưng của ngành kinh tế du lịch

Thứ nhất, kinh tế du lịch là tổng hợp của các hoạt động

Du khách trong một chuyến du lịch, bên cạnh các nhu cầu đặc trưng(xuất phát từ mục đích chủ yếu của chuyến đi) là: tham quan, giải trí, nghỉngơi, dưỡng sức, chữa bệnh,… còn có nhiều nhu cầu như ăn, ngủ, đi lại, muasắm hàng hóa, đồ lưu niệm, đổi tiển, gọi điện, gửi thư, tham gia các dịch vụvui chơi giải trí,… Các nhu cầu đó do nhiều hoạt động sản xuất, kinh doanh,giao thông, bưu chính viễn thông,… đem lại Do đó, hoạt động du lịch muốn

có hiệu quả cao phải rất coi trọng, phối hợp, đồng bộ các hoạt động đa dạng,phong phú, liên tục xử lý các quan hệ nảy sinh giữa các bên: Cung cấp dịch

vụ, hàng hóa, khách du lịch và người tổ chức hoạt động du lịch một cáchthông suốt, kịp thời trong không gian và thời gian

Tính chất của các hoạt động phục vụ cho một chuyến du lịch lại rấtkhác nhau Trước hết, du lịch là một ngành kinh tế đang phát triển mạnh mẽ.Các doanh nghiệp kinh doanh du lịch ngày càng nhiều Các sản phẩm du lịchngày càng thêm phong phú và có chất lượng cao hơn

Trong một chuyến du lịch có bao nhiêu mối quan hệ nảy sinh, ít nhấtcũng là quan hệ qua lại của bốn nhóm nhân tố: du khách, nhà cung ứng dịch

vụ du lịch, cư dân sở tại và chính quyền nơi đón khách du lịch Do đó, du lịch

là một hoạt động mang tính xã hội, phát sinh, phát triển các tình cảm giữa conngười với con người và giữa con người với thiên nhiên

Trang 20

Hoạt động du lịch là hoạt động có nội dung văn hóa, với nhu cầu mởrộng không gian văn hóa của du khách, kết hợp tìm hiểu về thiên nhiên, lịch

sử, văn hóa qua các thời đại, của từng dân tộc,…

Thứ hai, du lịch là một ngành kinh tế dịch vụ, sản phẩm của ngành dulịch chủ yếu là dịch vụ, không tồn tại dưới dạng vật thể, không lưu kho lưubãi, không chuyển quyền sở hữu khi sử dụng, tính không thể di chuyển, tínhthời vụ, tính trọn gói, tình không đồng nhất,…

Chất lượng dịch vụ du lịch chính là sự phù hợp với nhu cầu của kháchhàng, được xác định bằng việc so sánh giữa dịch vụ cảm nhận và dịch vụtrông đợi Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng dịch vụ: Sự tin cậy, tinh thần tráchnhiệm, sự bảo đảm, sự đồng cảm và tính hữu hình Trong năm chỉ tiêu trênchỉ có bốn chỉ tiêu mang tính vô hình, một chỉ tiêu mang tính hữu hình (cụ thểbiểu hiện ở điều kiện làm việc, trang thiết bị, con người, phương tiện thôngtin), chỉ tiêu hữu hình là thông điệp gửi tới khách hàng về chất lượng của dịch

vụ du lịch

Thứ ba, sản phẩm du lịch thường gắn bó với yếu tố tài nguyên du lịch.Tài nguyên du lịch bao gồm: đất, nước, những kết hợp của cảnh quan thiênnhiên và thành quả lao động sang tạo của con người có thể được sử dụng chocác hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu du lịch Tài nguyên du lịch có thể trựctiếp hay gián tiếp tạo ra các sản phẩm du lịch Tài nguyên du lịch gồm tàinguyên du lịch đang khai thác, tài nguyên du lịch chưa khai thác Do đó, sảnphẩm du lịch thường không dịch chuyển được, mà khách du lịch phải đến địađiểm có các sản phẩm du lịch để tiêu dùng các sản phẩm đó, thỏa mãn nhucầu của mình Có thể nói, quá trình tạo sản phẩm và tiêu dùng sản phẩm dulịch trùng nhau về thời gian và không gian Điều đó cho thấy việc “thu hútkhách” đến nơi có sản phẩm du lịch là nhiệm vụ quan trọng của các nhà kinh

Trang 21

cư trú quanh vùng có sản phẩm du lịch, đặc biệt trong điều kiện tiêu dùng cácsản phẩm du lịch có tính thời vụ (do tính đa dạng và trải rộng trên nhiều vùngcủa các sản phẩm đó).

Thứ tư, có ba yếu tố tham gia vào quá trình cung ứng và tiêu dùng sảnphẩm du lịch: khách du lịch, nhà cung ứng du lịch và phương tiện, cơ sở vậtchất kỹ thuật

Trong ba yếu tố trên thì những quy định về khách hàng là có những hạnchế, bỏ qua nhiều khía cạnh phức tạp, đặc biết là khía cạnh tâm lý của kháchhàng Theo Điều 35 của Luật Du lịch 2005 quy định quyền của khách du lịch:

“Lựa chọn hình thức du lịch lẻ hoặc du lịch theo đoàn; lựa chọn một phầnhoặc toàn bộ chương trình du lịch, dịch vụ du lịch của tổ chức, cá nhân kinhdoanh du lịch”; “Hưởng đầy đủ các dịch vụ du lịch theo hợp đồng giữa khách

du lịch và tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch; được hưởng bảo hiểm du lịch

và các loại bảo hiểm khác theo quy định của pháp luật” Việc quy định rõQuyền của khách du lịch đã giải quyết được cơ bản quyền lợi của khách hàngkhi tham gia du lịch, trên cơ sở đó các tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịchphải đáp ứng được yêu cầu của khách du lịch Tổ chức, cá nhân kinh doanh dulịch phải có trách nhiệm tìm hiểu nhu cầu của khách du lịch (nhu cầu sinh lý,

an toàn, giao tiếp xã hội, nhu cầu được tôn trọng, tự hoàn thiện) để cung ứngcác dịch vụ thỏa mãn sự trông đợi của họ (sự tao nhã, sự sẵn sàng, sự chú ý cánhân, sự đồng cảm, kiến thức, tính kiên định, tính đồng đội, )

Cơ sở vật chất- kỹ thuật du lịch được hiểu trước hết là toàn bộ cơ sở hạtầng xã hội đảm bảo các điều kiện phát triển cho kinh tế du lịch; tiếp đến làphương tiện vật chất kỹ thuật do các tổ chức du lịch tạo ra để khai thác cáctiềm năng kinh tế du lịch, tạo ra các sản phẩm dịch vụ và hàng hóa cung cấpthỏa mãn nhu cầu của du khách Các yếu tố đặc trưng trong hệ thống cơ sở vật

Trang 22

chất kỹ thuật của ngành kinh tế du lịch là: Hệ thống khách sạn, nhà hàng, cáckhu vui chơi giải trí, phương tiện vận chuyển, các công trình kiến trúc bổ trợ.

1.1.3 Các lĩnh vực kinh doanh trong du lịch

Các chủ thể tham gia hoạt động kinh doanh du lịch bao gồm: khách dulịch; tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch; cộng đồng dân cư và cơ quan, tổchức, cá nhân có liên quan đến du lịch

Các chủ thể tham gia hoạt động kinh doanh du lịch có mối quan hệ chặtchẽ, tác động qua lại lẫn nhau, không thể tách rời nhau và là những yếu tố ảnhhưởng quyết định đến sự phát triển kinh tế du lịch của một quốc gia, mộtvùng, một địa phương Muốn hoạt động du lịch phát triển, thì quốc gia đó, địaphương đó phải tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể tham gia cùng pháttriển, không xem nhẹ bên nào Bởi vì, nếu thiếu một trong những bên thamgia thì hoạt động du lịch sẽ không hiệu quả, thậm chí không tồn tại

Theo Chương VI, Mục 1, Điều 38 của Luật Du lịch 2005 đã chỉ ra dulịch và kinh doanh du lịch có các loại hình cơ bản sau:

- Kinh doanh lữ hành: là việc thực hiện các hoạt động nghiên cứu thịtrường, thiết lập các chương trình du lịch trọn gói hay từng phần, quảng cáo vàbán các chương trình này trực tiếp hay gián tiếp qua các trung gian hay vănphòng đại diện, tổ chức thực hiện chương trình và hướng dẫn du lịch Các doanhnghiệp lữ hành đương nhiên được phép tổ chức mạng lưới đại lý lữ hành

- Kinh doanh lưu trú du lịch: là một lĩnh vực hoạt động kinh doanhtrong ngành du lịch, cung cấp các dịch vụ lưu trú, ăn uống và dịch vụ bổ sungnhằm thỏa mãn nhu cầu lưu lại tạm thời của khách du lịch tại điểm đến dulịch là một tỉnh, một vùng hay một quốc gia phát triển du lịch

- Kinh doanh vận chuyển khách du lịch: là việc cung cấp dịch vụ vậnchuyển cho khách du lịch theo tuyến du lịch, theo chương trình du lịch và tạicác khu du lịch, điểm du lịch, đô thị du lịch

Trang 23

- Kinh doanh phát triển khu du lịch, điểm du lịch: bao gồm đầu tư bảotồn, nâng cấp tài nguyên du lịch đã có; đưa các tài nguyên du lịch tiềm năngvào khai thác; phát triển khu du lịch, điểm du lịch mới; kinh doanh xây dựngkết cấu hạ tầng du lịch, cơ sở vật chất - kỹ thuật du lịch.

- Kinh doanh dịch vụ du lịch khác

1.1.4 Vai trò của du lịch trong nền kinh tế thị trường hội nhập quốc tế

Cùng với tiến trình phát triển không ngừng của đời sống vật chất vàtinh thần của xã hội loài người, ngày nay du lịch đã trở thành một dạng hoạtđộng kinh tế- xã hội, một ngành kinh tế tổng hợp có vị trí rất quan trọng

Thứ nhất, du lịch tạo nguồn thu ngân sách và ngoại tệ Ngành du lịchđược các nước trên thế giới coi là ngành công nghiệp không khói, là "con gà

đẻ trứng vàng", tức là ngành thu hồi vốn nhanh, tạo nhiều công ăn việc làm,bán hàng tiếp thị xuất khẩu, tăng nguồn thu ngoại tệ, ngoại giao và các quan

hệ khác Hoạt động du lịch có thể làm thay đổi cán cân thu chi của khu vực vàcủa đất nước Theo Tài liệu “Chỉ số cạnh tranh Du lịch năm 2015” (Travel &Tourism Competitiveness Index - TTCI 2015) do Diễn đàn kinh tế thế giới thìngành du lịch và lữ hành chiếm khoảng 9% GDP toàn cầu Theo Hội đồng Dulịch và Lữ hành Thế giới (WTTC), ngành du lịch và lữ hành được dự báo sẽtăng trưởng ở mức 4% mỗi năm, nhanh hơn so với các dịch vụ tài chính, vậnchuyển và sản xuất [28] Trong năm 2015, doanh thu du lịch đạt 7,2 nghìn tỷUSD cho GDP toàn cầu, tạo ra 7,2 triệu việc làm cho nền kinh tế thế giới [17]

Du lịch có tác dụng điều hòa thu nhập từ vùng kinh tế phát triển sangvùng kém phát triển hơn, kích thích tăng trưởng kinh tế các quốc gia, địaphương còn nghèo Đối với các nước đang phát triển thì ngành du lịch lạicàng có vai trò quan trọng, góp phần tạo nguồn thu ngân sách cho các địaphương từ các khoản trích nộp ngân sách của các cơ sở du lịch trực thuộcquản lý trực tiếp của địa phương và từ các khoản thuế phải nộp của các doanh

Trang 24

nghiệp du lịch kinh doanh trên địa bàn Nhiều nước trong khu vực và trên thếgiới trung bình mỗi năm thu hàng tỷ USD thông qua việc phát triển du lịch.

Giá trị của du lịch còn biểu hiện ở chỗ nó là ngành thu ngoại tệ, làngành xuất khẩu tại chỗ, không chỉ là ngành “xuất khẩu tại chỗ hàng hóa hữuhình” (các sản phẩm nông nghiệp, công nghiệp, vận tải, thủ công mỹ nghệ),

du lịch còn là “ngành xuất khẩu tại chỗ các giá trị phi vật thể” (cảnh quan, khíhậu, ánh nắng mặt trời vùng nhiệt đới, những giá trị di tích lịch sử- văn hóa,tính độc đáo trong truyền thống, phong tục, tập quán) Ở rất nhiều quốc gia,

du lịch là dịch vụ xuất khẩu chủ yếu và trở thành động lực chủ yếu để pháttriển kinh tế Du khách quốc tế mang ngoại tệ vào đất nước mà họ đi du lịch,làm tăng nguồn thu ngoại tệ cho nước đến Thực tiễn cho thấy, khách du lịchtiêu thụ một khối lượng lớn nông sản thực phẩm dưới dạng các món ăn, đồuống, mua sắm hàng hóa, sản phẩm thủ công mỹ nghệ, Nhờ vậy, các địaphương hoặc quốc gia thông qua hoạt động du lịch thu được ngoại tệ tại chỗvới hiệu quả cao Xuất khẩu hàng hóa theo đường du lịch có lợi hơn nhiều sovới con đường ngoại thương Trước hết, một phần lớn đối tượng mua bánhàng hóa và dịch vụ là lưu trú, ăn uống, vận chuyển, dịch vụ bổ sung, do vậyxuất khẩu qua con đường du lịch là xuất khẩu đa dạng dịch vụ, đó là điều màngoại thương không làm được Ngoài ra, đối tượng xuất khẩu của du lịchquốc tế còn là hàng ăn, uống, rau quả, hàng lưu niệm, là những mặt hàng rấtkhó xuất khẩu theo con đường ngoại thương, đồng thời tiết kiệm được các chiphí về lưu kho, bảo quản, bao bì, đóng gói, vận chuyển, hao hụt do xuất khẩu

Thứ hai, du lịch thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển Hoạt độngkinh doanh du lịch đòi hỏi sự hỗ trợ liên ngành để cùng phát triển, chính vìvậy du lịch có quan hệ mật thiết với toàn bộ các hoạt động kinh tế, văn hóa,

xã hội Góp phần vào việc tăng trưởng kinh tế, ổn định giá cả, thăng bằng cáncân thanh toán, phân phối công bằng thu nhập quốc dân Theo Tổng thư ký

Trang 25

Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO), ông Taleb Rifai, du lịch quốc tế trongnăm 2015 đã tiến triển đến một tầm cao mới, thể hiện rõ vai trò của ngànhđang đóng góp vào tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm cho nhiều người ở khắpnơi trên thế giới Xét theo khu vực, trong năm 2015, ngành du lịch ở châu Âu,châu Mỹ và châu Á- Thái Bình Dương đều đạt ngưỡng tăng trưởng 5% Cácđiểm đến ở Trung Đông tăng 3% [23].

Ở nước ta, ngành kinh tế du lịch phát triển là một động lực thúc đẩyquá trình sản xuất kinh doanh của nhiều ngành khác nhau trong nền kinh tếquốc dân như giao thông vận tải, xây dựng, bưu chính viễn thông, ngân hàng,sản xuất hàng tiêu dùng, thủ công mỹ nghệ, thể thao, văn hóa- giải trí,…Ngoài ra, còn góp phần khôi phục nhiều ngành nghề, lễ hội truyền thống đã vàđang dần bị mai một

Thứ ba, du lịch góp phần tạo việc làm, nâng cao đời sống cho ngườidân Du lịch là một ngành kinh tế góp phần tích cực giải quyết việc làm chongười lao động kể cả khu vực chính thức và phi chính thức của nền kinh tế

Do đặc trưng của ngành kinh tế du lịch là ngành phục vụ, nhiều hoạt độngkhông thể cơ giới hóa được, nên đòi hỏi nhiều lao động sống có kỹ năng,nghiệp vụ Do vậy, phát triển du lịch sẽ tạo thêm nhiều chỗ làm mới và tăngthu nhập cho người dân địa phương

Một số nguồn tài nguyên du lịch nằm ở các vùng xa xôi hẻo lánh, đâycũng là những vùng mà cuộc sống của người dân còn nhiều khó khăn, tỷ lệ hộnghèo cao Việc phát triển du lịch đã và sẽ làm thay đổi bộ mặt kinh tế- xã hội ởnhững vùng đó và đem lại nhiều công ăn việc làm cho người lao động, đem đếnnhiều cơ hội để giao lưu kinh tế, văn hóa, tạo điều kiện để người dân được tiếpcận, học hỏi, nâng cao trình độ tri thức, kĩ năng chuyên môn liên quan đến dulịch, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho người dân nơi đây

Thứ tư, du lịch có vai trò to lớn như là một nhân tố hòa bình, đẩy mạnhcác mối giao lưu quốc tế, mở rộng sự hiểu biết giữa các dân tộc Du lịch quốc

Trang 26

tế làm cho con người sống ở các khu vực khác nhau hiểu biết và xích lại gầnnhau Mỗi năm, Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) đều phát ra những thôngđiệp du lịch như: năm 2013- “Du lịch và nước- Bảo vệ tương lai của chínhchúng ta”, năm 2014- “Du lịch và sự phát triển của cộng đồng”, năm2015-“Một tỷ du khách, một tỷ cơ hội”, các chủ đề này đã kêu gọi người dântoàn cầu quý trọng lịch sử, văn hóa và truyền thống của các quốc gia, giáo dụclòng mến khách và trách nhiệm của chủ nhà đối với khách du lịch, tạo nên sựhiểu biết và tình hữu nghị giữa các dân tộc Hơn thế nữa, nó còn thành côngtrong việc thu hút sự quan tâm của tất cả mọi người đến những vẫn đề nóngcủa toàn thế giới để cùng tìm ra các biện pháp phòng và giải quyết không chỉ

ở chính đất nước mình mà còn trên toàn thế giới,

Ngày nay trong quá trình hội nhập với xu hướng toàn cầu hóa, sự giaolưu giữa các nước, đặc biệt thông qua con đường du lịch ngày càng phát triển,tạo điều kiện cho việc trao đổi hàng hóa cũng như các mối quan hệ đối ngoạiđược củng cố và mở rộng Du lịch còn là chiếc cầu nối hòa bình giữa các dântộc trên thế giới làm tăng thêm sự hiểu biết và xích lại gần nhau hơn

1.1.5 Thách thức của phát triển du lịch trong nền kinh tế thị trường

Bên cạnh những lợi ích to lớn từ việc phát triển du lịch đúng cách, cótính định hướng đúng đắn, thì việc phát triển du lịch không đúng cách có thểgây ra những tác động tiêu cực không mong muốn, thậm chí là mang lạinhững hậu quả khôn lường đối với sự phát triển bền vững của đất nước Một

số những thách thức trong quá trình phát triển du lịch hiện nay:

Thứ nhất, phát triển kinh tế du lịch một cách tự phát, không theo quyhoạch Xu hướng này sẽ dẫn đến tình trạng đầu tư phát triển du lịch dàn trải,tràn lan, “mạnh ai nấy làm, làm ăn chộp giật, cạnh tranh không lành mạnh”,không có trọng tâm, trọng điểm, khiến cho ngành kinh tế du lịch thiếu tínhchuyên nghiệp, hoạt động, kinh doanh kém hiệu quả

Trang 27

Thứ hai, phát triển kinh tế du lịch không đúng cách có thể tạo ra sự laicăng về văn hóa, lối sống, làm lu mờ giá trị, bản sắc văn hóa dân tộc: Pháttriển du lịch đem lại cơ hội giao thoa giữa các nền văn hóa nhưng cũng làmphát sinh xung đột về giá trị, bản sắc văn hóa, truyền thống dân tộc Đôi khi,khách du lịch nước ngoài khi đến nước sở tại họ mang theo nguồn thu nhậpđáng kể và những giá trị đặc sắc của các nền văn hóa trên thế giới nhưng đồngthời cũng mang theo cả những quan niệm, ứng xử, lối sống không phù hợpvới văn hóa nước sở tại cũng như không phù hợp với tiến bộ xã hội, thậm chí

là phản văn hóa

Thứ ba, phát triển kinh tế du lịch không phù hợp và cân đối có thể làmgia tăng sự bất bình đẳng xã hội: Một trong những biểu hiện rõ nhất nguy cơnày trong phát triển kinh tế du lịch ở nước ta trong thời gian qua là việc xâydựng một số dự án, công trình du lịch lớn như sân golf, khu nghỉ dưỡng caocấp… tốn rất nhiều diện tích, buộc chính quyền địa phương phải thu hồi đấtcủa người dân để giao cho dự án, trong đó chủ yếu là đất canh tác Đã cónhiều người dân mất đất, không còn phương tiện để sản xuất và lâm vào tìnhtrạng không có việc làm, bị bần cùng hóa Thực tế đã nảy sinh nhiều vấn đề,nhiều vụ kiện tụng đông người, phức tạp và kéo dài xung quanh vấn đề này

Thứ tư, phát triển kinh tế du lịch không đúng cách và thiếu bền vững sẽtác hại đến môi trường văn hóa và môi trường tự nhiên: Nếu các hoạt độngkinh doanh du lịch chạy theo lợi nhuận, làm ăn chộp giật, chỉ tập trung khaithác mà không chú ý duy tu, tái tạo các công trình, cảnh quan thì sẽ sớm làmsuy kiệt nguồn tài nguyên du lịch, gây ô nhiễm nặng nề môi trường du lịch.Ngay cả trong trường hợp ý thức được điều này nhưng nhận thức và cách làmkhông đúng, cũng dẫn đến việc xâm hại, thậm chí là phá hỏng, hủy hoại hoàntoàn các di tích, danh lam thắng cảnh của đất nước

Trang 28

Thứ năm, phát triển kinh tế du lịch mà thiếu sự kiểm soát, quản lý chặtchẽ của các cơ quan chức năng có liên quan đối với các hoạt động phát triển

du lịch có thể làm phát sinh các tệ nạn xã hội như: ma túy, mại dâm, cá độ, cờbạc, rửa tiền và nhiều loại tội phạm, tệ nạn xã hội khác- những “ngành nghề”

ăn theo sự phát triển của du lịch nếu chúng ta buông lỏng sự quản lý nhà nướctrên lĩnh vực này

1.2 Cơ sở lý luận quản lý nhà nước đối với kinh tế du lịch

1.2.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của quản lý nhà nước đối với kinh tế

du lịch

1.2.1.1 Khái niệm quản lý nhà nước đối với kinh tế du lịch

Theo Giáo trình Kinh tế Du lịch của trường Đại học Kinh tế Quốc dân(2009), Quản lý nhà nước (QLNN) đối với kinh tế du lịch là sự tác động có tổchức và điều chỉnh liên tục bằng quyền lực pháp luật Nhà nước dựa trên cơ sởnền tảng của thể chế chính trị nhất định đối với các quá trình, các hoạt động dulịch nhằm đạt được hiệu quả và mục tiêu kinh tế- xã hội do nhà nước đặt ra

Dưới góc độ hành chính- kinh tế, QLNN đối với kinh tế du lịch đượchiểu là hoạt động, là quá trình chỉ đạo, điều hành, điều chỉnh các mối quan hệ

xã hội phát sinh trong lĩnh vực kinh doanh du lịch bằng việc thông qua hệthống pháp luật, các chủ thể QLNN (các cơ quan có thẩm quyền) tác động tớicác đối tượng quản lý trong quá trình kinh doanh hoạt động du lịch nhằm địnhhướng cho hoạt động du lịch vận động, phát triển theo mục tiêu kinh tế- xãhội do nhà nước đặt ra Như vậy, QLNN đối với kinh tế du lịch có các thành

tố sau đây:

- Chủ thể quản lý: Là các cơ quan đại diện của Nhà nước hoặc đượcNhà nước trao quyền, ủy quyền, đây là các chủ thể duy nhất trong QLNN vềkinh tế du lịch Chủ thể QLNN về kinh tế du lịch là Bộ Văn hóa, Thể thao và

Du lịch (Bộ VHTTDL), các ngành liên quan như Công an, Y tế, Môi trường,

Trang 29

Lao động, Bảo hiểm, và Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch các tỉnh, thành phố trong cả nước (một số tỉnh, thành phố thành lập riêng Sở Du lịch).

- Đối tượng (khách thể) quản lý: là các hoạt động, quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực kinh tế du lịch

- Mục đích QLNN đối với kinh tế du lịch: Đảm bảo ngành kinh tế dulịch phát triển theo một trật tự chung, nhằm bảo đảm lợi ích của mọi cá nhân,

tổ chức cũng như lợi ích chung của toàn xã hội

- Công cụ quản lý: Các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền thực hiện quản

lý đối với kinh tế du lịch bằng hê thống các quy định của pháp luật và cáccông cụ quản lý khác như chính sách, chiến lược, kế hoạch phát triển dulịch,

1.2.1.2 Đặc điểm của quản lý nhà nước đối với kinh tế du lịch

Thứ nhất, Nhà nước là người tổ chức và quản lý các hoạt động du lịchdiễn ra trong nền kinh tế thị trường

Xuất phát từ đặc trưng của nền kinh tế thị trường là tính phức tạp, năngđộng và nhạy cảm Vì vậy, ngành kinh tế du lịch đòi hỏi phải có một chủ thể

có tiềm lực về mọi mặt để đứng ra tổ chức và điều hành, chủ thể ấy không aikhác chính là Nhà nước- vừa là người quản lý, vừa là người tổ chức hoạt động

du lịch Để hoàn thành trách nhiệm của mình, Nhà nước phải đề ra pháp luật,chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển, Sử dụng các công cụnày để tổ chức và QLNN đối với kinh tế du lịch

Thứ hai, hệ thống công cụ như pháp luật, chính sách, chiến lược, quyhoạch, kế hoạch phát triển kinh tế du lịch là cơ sở, là những công cụ để Nhànước tổ chức và quản lý hoạt động kinh doanh du lịch

Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động du lịch diễn ra hết sức phức tạpvới sự đa dạng về chủ thể, hình thức tổ chức và quy mô hoạt động, Dù phứctạp thế nào đi chăng nữa, sự quản lý của Nhà nước cũng phải bảo đảm cho

Trang 30

hoạt động của ngành kinh tế du lịch có tính tổ chức cao, ổn định, công bằng

và có tính định hướng rõ rệt Do đó, Nhà nước phải ban hành pháp luật, đề racác chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển du lịch và dùngcác công cụ này tác động vào lĩnh vực kinh tế du lịch

Thứ ba, QLNN đối với kinh tế du lịch đòi hỏi phải có một bộ máy Nhànước mạnh, có hiệu lực, hiệu quả và một đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước cótrình độ, năng lực thật sự

QLNN đối với kinh tế du lịch phải tạo được những cân đối chung, điềutiết được thị trường, ngăn ngừa và xử lý những đột biến xấu, tạo môi trườngpháp lý thuận lợi cho mọi hoạt động kinh tế du lịch phát triển Để thực hiệntốt điều này đòi hỏi tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ QLNN phải ngày càngđược tổ chức thống nhất, đồng bộ, có hiệu quả từ trung ương đến địa phương

Thứ tư, QLNN đối với kinh tế du lịch còn xuất phát từ chính nhu cầukhách quan của sự gia tăng vai trò của các chính sách, pháp luật liên quan đếnhoạt động quản lý kinh tế du lịch trong nền kinh tế thị trường với tư cách lànhững công cụ quản lý

Hoạt động của nền kinh tế du lịch với những quan hệ kinh tế rất đadạng và năng động đòi hỏi có một sân chơi an toàn và bình đẳng, đặc biệt khilượng khách du lịch tăng cao Trong bối cảnh đó, cần thiết phải có một hệthống chính sách, pháp luật hoàn chỉnh, phù hợp không chỉ với điều kiện ởtrong nước mà còn với thông lệ và luật pháp quốc tế

1.2.1.3 Vai trò của quản lý nhà nước đối với kinh tế du lịch

Thứ nhất, Nhà nước thực hiện chức năng hoạch định để định hướnghoạt động du lịch: bao gồm các nội dung cơ bản là hoạch định chiến lược, kếhoạch phát triển du lịch, phân tích và xây dựng các chính sách du lịch, quyhoạch và định hướng chiến lược phát triển thị trường, xây dựng hệ thống luật

Trang 31

pháp có liên quan tới du lịch Xác lập các chương trình, dự án cụ thể hóachiến lược, đặc biệt là các lộ trình hội nhập khu vực và quốc tế.

Thiết lập khuôn khổ pháp lý thông qua việc ban hành và tổ chức thựchiện các văn bản quy phạm pháp luật về du lịch, tạo ra môi trường pháp lýcho hoạt động du lịch

Chức năng hoạch định của Nhà nước giúp cho các doanh nghiệp du lịch

có phương hướng hình thành phương án chiến lược, kế hoạch kinh doanh Nóvừa giúp tạo lập môi trường kinh doanh, vừa cho phép Nhà nước có thể kiểmsoát hoạt động của các doanh nghiệp và các chủ thể kinh doanh du lịch trênthị trường

Thứ hai, Nhà nước bằng việc tạo lập các cơ quan và hệ thống tổ chứcquản lý về du lịch, sử dụng bộ máy này để hoạch định các chiến lược, quyhoạch, chính sách, các văn bản quy phạm pháp luật, đồng thời sử dụng sứcmạnh của bộ máy tổ chức để thực hiện những vấn đề thuộc về QLNN, nhằmđưa chính sách phù hợp về du lịch vào thực tiễn, biến quy hoạch, kế hoạchthành hiện thực, tạo điều kiện cho du lịch phát triển

Hình thành cơ chế phối hợp hữu hiệu giữa cơ quan QLNN đối với kinh

tế du lịch với các cấp trong hệ thống tổ chức quản lý kinh tế du lịch của trungương, tỉnh (thành phố), và quận (huyện, thị xã)

Trong lĩnh vực du lịch quốc tế, chức năng tổ chức và phối hợp được thểhiện ở sự phối hợp giữa các quốc gia có quan hệ song phương hoặc trongcùng một khối kinh tế, thương mại du lịch trong nỗ lực nhằm đa dạng hóa đaphương thức quan hệ hợp tác quốc tế trong du lịch, đạt tới các mục tiêu vàđảm bảo thực hiện các cam kết đã ký kết

Tổ chức và quản lý công tác đào tạo, bồi dưỡng và phát triển nguồnnhân lực du lịch, nghiên cứu ứng dụng khoa học, công nghệ, bảo vệ tàinguyên du lịch, môi trường, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa, thuần phong

Trang 32

Thứ ba, Nhà nước đảm bảo thực hiện chức năng điều tiết các hoạt động

du lịch và can thiệp thị trường

Nhà nước là người bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các chủ thể kinhdoanh nói chung và kinh doanh du lịch nói riêng, khuyến khích và đảm bảobằng pháp luật cạnh tranh bình đẳng, chống độc quyền Để thực hiện chứcnăng này, một mặt, Nhà nước hướng dẫn, kích thích các doanh nghiệp du lịchhoạt động theo định hướng đã vạch ra Mặt khác, Nhà nước phải can thiệp,điều tiết thị trường khi cần thiết để đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô Trong hoạtđộng kinh doanh du lịch ở nước ta hiện nay, cạnh tranh chưa bình đẳng,không lành mạnh là một trong những vấn đề gây trở ngại lớn cho quá trìnhphát triển ngành Do vậy, Nhà nước phải có vai trò điều tiết mạnh

Nhà nước có thể sử dụng nhiều công cụ, biện pháp khác nhau để điềutiết hoạt động kinh doanh du lịch, xử lý đúng đắn mâu thuẫn của các quan hệ

Thứ tư, Nhà nước có vai trò giám sát hoạt động của mọi chủ thể kinhdoanh du lịch cũng như chế độ quản lý của các chủ thể đó (về các mặt đăng

ký kinh doanh, phương án sản phẩm, chất lượng và tiêu chuẩn sản phẩm, môitrường ô nhiễm, cơ chế quản lý kinh doanh, nghĩa vụ nộp thuế, ), cấp và thuhồi giấy phép, giấy hoạt động trong hoạt động kinh doanh du lịch

Kịp thời phát hiện những lệch lạc, nguy cơ chệch hướng hoặc vi phạmpháp luật và các quy định của Nhà nước, từ đó đưa ra các quyết định điềuchỉnh thích hợp nhằm tăng cường hiệu quả của công tác QLNN đối với cáchọat động kinh doanh du lịch

Nhà nước cũng phải kiểm tra, đánh giá hệ thống tổ chức quản lý du lịchcủa Nhà nước cũng như năng lực của đội ngũ cán bộ công chức QLNN đốivới kinh tế du lịch

Tổ chức và quản lý công tác đào tạo, bồi dưỡng và phát triển nguồnnhân lực kinh tế du lịch, nghiên cứu ứng dụng khoa học, công nghệ, việc bảo

Trang 33

vệ tài nguyên du lịch, môi trường, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa, thuầnphong mỹ tục của dân tộc trong nền kinh tế du lịch.

1.2.2 Mục đích, yêu cầu quản lý nhà nước đối với kinh tế du lịch

1.2.2.1 Mục đích quản lý nhà nước đối với kinh tế du lịch

QLNN đối với kinh tế du lịch là sự tác động có tổ chức và điều chỉnhliên tục bằng quyền lực pháp luật nhà nước dựa trên cơ sở nền tảng của thểchế chính trị nhất định đối với các quá trình, các hoạt động kinh tế du lịch củacon người để duy trì và phát triển ngày càng cao các hoạt động du lịch trongnước và du lịch quốc tế nhằm đạt được các hiệu quả kinh tế- xã hội do nhànước đặt ra

QLNN đối với kinh tế du lịch là phương thức chỉ đạo, điều hành, điềuchỉnh các mối quan hệ thông qua hệ thống pháp luật, các chủ thể quản lý (cơquan quản lý được Nhà nước ủy quyền) tác động tới các đối tượng bị quản lýtham gia trong quá trình kinh doanh nhằm định hướng cho hoạt động du lịchtheo sự vận động, phát triển có mục đích

Mục đích tổng quát nhất của công tác QLNN đối với kinh tế du lịch làphát triển du lịch bền vững, góp phần quan trọng vào giá trị tổng sản phẩm xãhội, tạo việc làm và thực hiện các mục tiêu về phát triển kinh tế- xã hội củaquốc gia và địa phương

1.2.2.2 Yêu cầu quản lý nhà nước đối với kinh tế du lịch

Xuất phát từ tính chất của các loại hình hoạt động kinh doanh du lịch,công tác QLNN đối với kinh tế du lịch trên địa bàn thành phố Hà Nội cần đápứng những yêu cầu sau:

- Đảm bảo ổn định và phát triển thị trường du lịch theo hướng khai tháctối ưu các nguồn lực quốc gia và địa phương

- Quản lý và hướng các hoạt động kinh doanh du lịch theo đúng phápluật, cạnh tranh lành mạnh, có hiệu quả

Trang 34

- Bảo đảm ổn định chính trị, trật tự xã hội trên địa bàn, giữ gìn cảnh quan, môi trường, các di tích, điểm du lịch.

- Phát triển các ngành phụ trợ một cách cân đối và đáp ứng các tiêu chuẩn hiện đại

- Hướng các hoạt động kinh doanh du lịch vào việc thực hiện các mục tiêu quốc gia và địa phương

1.2.3 Nội dung quản lý nhà nước đối với kinh tế du lịch trên địa bàn thành phố Hà Nội

1.2.3.1 Quản lý nhà nước về định hướng, xây dựng và tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành kinh tế du lịch trên địa bàn thành phố Hà Nội

Nội dung này bao gồm việc xây dựng và đề ra các quy hoạch phát triển;xây dựng các kế hoạch và chương trình phát triển; xây dựng các chính sáchphát triển Các công tác này liên quan chặt chẽ với nhau, mỗi một công tácđều có vị trí nhất định trong nhiệm vụ định hướng phát triển của ngành Trong

đó việc xây dựng chiến lược và chính sách là những bộ phận quan trọng nhất

và năng động nhất

Xây dựng và công khai các quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế dulịch là một trong những nội dung QLNN có tính quyết định đối với sự pháttriển ngành kinh tế du lịch Nó giúp cho các cá nhân, tổ chức (nhà đầu tư) antâm khi quyết định đầu tư kinh doanh vào lĩnh vực du lịch

Trong hoạt động kinh doanh du lịch, mục tiêu cuối cùng của các đơn vịkinh doanh là lợi nhuận Do đó, nếu không được định hướng phát triển đúng

sẽ gây ra lãng phí, kém hiệu quả do không phù hợp với nhu cầu thị trường vàthực tế phát triển của từng địa phương, nhất là các hoạt động đầu tư xây dựngphát triển kết cấu hạ tầng các khu, điểm du lịch, hoặc đầu tư xây dựng cơ sởvật chất- kỹ thuật như các nhà hàng, khách sạn, nhà nghỉ, Vì thế, việc xâydựng chính xác, hợp lý và công khai kịp thời các chiến lược, quy hoạch, kế

Trang 35

hoạch phát triển kinh tế du lịch là một trong những yêu cầu bắt buộc của côngtác QLNN đối với kinh tế du lịch.

Các mục tiêu, chỉ tiêu trong quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế dulịch của từng địa phương phải phù hợp với chiến lược, quy hoạch, kế hoạchphát triển chung của cả nước, đáp ứng những yêu cầu của quá trình hội nhậpngày càng sâu, rộng vào nền kinh tế thế giới gắn với tiến trình đẩy mạnh thựchiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Có như vậy, mỗi đơn vị hoạtđộng kinh doanh trong lĩnh vực kinh tế du lịch mới có thể xây dựng chiếnlược, kế hoạch phát triển riêng phù hợp với chiến lược, quy hoạch và kếhoạch phát triển chung của địa phương và của cả nước

1.2.3.2 Xây dựng và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, chính sách phát triển kinh tế du lịch Hà Nội trên cơ sở hệ thống pháp luật, chính sách chung quản lý nhà nước về kinh tế du lịch

Bản thân chính sách, pháp luật đối với nền kinh tế của một đất nước nóichung và trong lĩnh vực kinh tế du lịch nói riêng mới chỉ là những quy địnhcủa Nhà nước, là ý chí của Nhà nước đòi hỏi mọi chủ thể khác (bao gồmchính bản thân nhà nước) phải thực hiện Vì vậy, để chính sách, pháp luật đivào cuộc sống, các cơ quan nhà nước nói chung, cơ quan QLNN về kinh tế dulịch ở Hà Nội nói riêng phải tổ chức thực hiện nghiêm chỉnh Chính quyền địaphương phải tổ chức tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về du lịchcho cán bộ, công nhân viên chức và nhân dân trên địa bàn giúp họ nhận thứcđúng đắn, từ đó có hành động đúng trong hoạt động thực tiễn; đảm bảo sựtuân thủ, thi hành chính sách, pháp luật về du lịch một cách nghiêm túc Mặtkhác, Hà Nội phải tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện chínhsách, pháp luật du lịch trên địa bàn thành phố, xử lý nghiêm mọi hành

vi vi phạm pháp luật Không tùy tiện thay đổi các chính sách của mình, nhanhchóng xóa bỏ các văn bản cũ trái với các văn bản mới ban hành, giảm tối đa

sự trùng lặp, gây khó khăn cho hoạt động du lịch

Trang 36

Bên cạnh đó, để phát triển kinh tế du lịch trên cơ sở khai thác tiềm năng

và lợi thế so sánh của các địa phương, cơ quan chức năng phải tích cực cảithiện môi trường pháp lý, môi trường đầu tư và kinh doanh thông qua việc cụthể hóa và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật chung của Nhà nước vềphát triển kinh tế du lịch phù hợp với điều kiện cụ thể của từng vùng, khuvực Đồng thời, nghiên cứu và ban hành các cơ chế, chính sách thuộc thẩmquyền mang tính đặc thù ở địa phương như chính sách khuyến khích đầu tư,chính sách ưu đãi tiền thuê đất, thời hạn thuê đất, chính sách ưu đãi tíndụng, nhằm tạo điều kiện thuận lợi, tạo sự an tâm, tin tưởng cho các tổchức, cá nhân (kể cả trong nước và ngoài nước) khi bỏ vốn đầu tư kinh doanh

du lịch Tuy nhiên, việc ban hành các cơ chế, chính sách vừa phải bảo đảmtheo đúng các quy định của pháp luật và quy định của cơ quan Nhà nước cấptrên, vừa phải thông thoáng trên cơ sở sử dụng nguồn lực của thành phố đểkhuyến khích phát triển, đồng thời cũng phải đảm bảo tính ổn định và bìnhđẳng, tính nghiêm minh trong quá trình thực thi Bên cạnh đó, cơ quan chứcnăng cần tiếp tục thực hiện cải cách hành chính trên toàn bộ phương diện hoạtđộng theo hướng chuyên nghiệp và hiệu quả Tiếp tục thực hiện mô hình mộtcửa trong đăng ký đầu tư, đăng ký kinh doanh, Thực hiện chuẩn hóa các thủtục hành chính theo tinh thần triệt để tuân thủ pháp luật, công khai, minhbạch, thuận tiện

Mặt khác, hệ thống kết cấu hạ tầng và cơ sở vật chất- kỹ thuật du lịch làmột trong những điều kiện quan trọng để phát triển kinh tế du lịch Vì vậy, đòihỏi Hà Nội cần căn cứ vào tình hình thực tế của mình để đưa ra những chínhsách ưu tiên, hỗ trợ cho đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng du lịch tại các khu,điểm du lịch như: mở đường giao thông, xây dựng hệ thống điện, cung cấpnước sạch, phát triển hệ thống thông tin liên lạc, hỗ trợ trong việc tôn tạo các

di tích văn hóa, lịch sử, các công trình kiến trúc, cảnh quan du lịch,

Trang 37

Ngoài ra, để đảm bảo bình ổn giá cả tiêu dùng và thị trường du lịch, cóchính sách điều tiết thu nhập hợp lý và hướng các doanh nghiệp kinh doanh

du lịch tham gia thực hiện các chính sách xã hội, các cơ quan địa phương cóliên quan phải sử dụng linh hoạt các công cụ quản lý nhằm hạn chế tình trạngnâng giá, độc quyền trong hoạt động kinh doanh du lịch ở địa phương

Kinh tế du lịch là khâu đột phá kích thích sự phát triển của nhiều ngành,lĩnh vực và cũng là lĩnh vực tạo ra lợi nhuận cao Vì vậy, phải có chính sáchhợp lý để hướng các doanh nghiệp sử dụng nguồn lợi nhuận thu được tiếp tụcđầu tư cho sự phát triển lâu dài và bền vững, khai thác hợp lý tiềm năng dulịch sẵn có của địa phương, nhất là ở các xã vùng sâu, vùng xa có tiềm năngphát triển kinh tế du lịch để góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thầncho người dân

1.2.3.3 Tổ chức thực hiện hoạt động quản lý nhà nước đối với kinh tế du lịch trên địa bàn thành phố Hà Nội

Theo Thông tư liên tịch số 43/2008/TTLT-BVHTTDL-BNV của BộVHTTDL, Bộ Nội vụ, ngày 06 tháng 06 năm 2008 về hướng dẫn chức năng,nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở VHTTDL thuộc Uỷ ban Nhândân (UBND) cấp tỉnh, Phòng Văn hoá và Thông tin thuộc UBND cấp huyện,các Sở VHTTDL các tỉnh, thành phố trong cả nước (một số tỉnh, thành phốthành lập riêng Sở Du lịch) có trách nhiệm tổ chức thực hiện hoạt độngQLNN đối với kinh tế du lịch ở địa phương như sau:

- Tổ chức công bố quy hoạch sau khi được phê duyệt

- Tổ chức thực hiện điều tra, đánh giá, phân loại, xây dựng cơ sở dữliệu tài nguyên du lịch của tỉnh theo Quy chế của Bộ VHTTDL

- Thực hiện các biện pháp để bảo vệ, tôn tạo, khai thác, sử dụng hợp lý

và phát triển tài nguyên du lịch, môi trường du lịch, khu du lịch, điểm du lịchcủa tỉnh

Trang 38

- Tổ chức lập hồ sơ đề nghị công nhận khu du lịch địa phương, điểm

du lịch địa phương, tuyến du lịch địa phương; công bố sau khi có quyết địnhcông nhận

- Cấp, sửa đổi, bổ sung, cấp lại, gia hạn, thu hồi Giấy phép thành lậpvăn phòng đại diện của doanh nghiệp du lịch nước ngoài đặt trên địa bàn tỉnh theo quy định của pháp luật và theo phân cấp, uỷ quyền của UBND cấp tỉnh;

- Thẩm định hồ sơ đề nghị cấp có thẩm quyền cấp giấy phép kinh doanh lữ hành quốc tế của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh theo quy định của pháp luật.

- Quyết định xếp hạng 1 sao, hạng 2 sao cho khách sạn, làng du lịch,hạng đạt tiêu chuẩn kinh doanh biệt thự, căn hộ du lịch; hạng đạt tiêu chuẩnkinh doanh lưu trú du lịch đối với bãi cắm trại, nhà nghỉ du lịch, nhà ở cóphòng cho khách du lịch thuê, cơ sở lưu trú du lịch khác

- Thẩm định và cấp biển hiệu đạt tiêu chuẩn phục vụ khách du lịch cho

cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch trong khu du lịch, điểm du lịch, đô thị dulịch

- Tổ chức cấp, cấp lại, đổi, thu hồi thẻ hướng dẫn viên du lịch; cấp, thu hồi giấy chứng nhận thuyết minh viên theo quy định của Bộ VHTTDL

- Xây dựng kế hoạch, chương trình xúc tiến du lịch và tổ chức thựchiện chương trình xúc tiến du lịch, sự kiện, hội chợ, hội thảo, triển lãm du lịchcủa địa phương sau khi được phê duyệt

1.2.3.4 Thực hiện công tác kiểm tra, thanh tra các hoạt động kinh doanh du lịch và xử lý vi phạm trong lĩnh vực du lịch

Sự phát triển nhanh của kinh tế du lịch sẽ làm phát sinh các hành vi tiêucực như khai thác quá mức các công trình, khu, điểm du lịch, làm ô nhiễmmôi trường sinh thái, những hoạt động kinh doanh du lịch trái với bản sắc vănhóa của đất nước, của địa phương Do đó, cơ quan QLNN về kinh tế du lịchphải tiếp tục chỉ đạo thực hiện thường xuyên công tác kiểm

Trang 39

tra, thanh tra và giám sát đối với hoạt động du lịch để phòng ngừa hoặc ngănchặn kịp thời những hành vi tiêu cực có thể xảy ra.

Để thực hiện tốt nội dung này, các cơ quan quản lý du lịch cần làm tốtcông tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và những quy định của địaphương về đầu tư khai thác các khu, điểm du lịch trên địa bàn; thực hiện việcđăng ký và hoạt động theo đăng ký kinh doanh, nhất là những hoạt động kinhdoanh có điều kiện như: kinh doanh lưu trú, kinh doanh lữ hành, ; đồng thờicần xử lý nghiêm mọi hành vi vi phạm pháp luật về du lịch trên địa bàn

1.2.3.5 Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực hoạt động du lịch

Cũng như trong các lĩnh vực, ngành nghề khác, chất lượng nguồn nhânlực trong hoạt động du lịch cũng ảnh hưởng quyết định đến sự phát triển củalĩnh vực này Từ cạnh tranh toàn cầu, cạnh tranh giữa các quốc gia, các ngành,các doanh nghiệp cho đến cạnh tranh từng sản phẩm đều là sự cạnh tranhbằng trí tuệ của nhà quản lý và chất lượng của nguồn nhân lực Để đảm bảocho hoạt động của tòan ngành kinh tế du lịch có được sự phát triển ổn định,bền vững thì việc tổ chức đào tạo, bồi dưỡng và hỗ trợ đào tạo bồi dưỡngnguồn nhân lực cho hoạt động du lịch cần được quan tâm thực hiện thườngxuyên, đòi hỏi phải có sự xây dựng và tổ chức thực hiện nghiêm túc các chiếnlược, kế hoạch phát triển, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Có như vậymới khai thác có hiệu quả tiềm năng du lịch góp phần thúc đẩy nhanh sự pháttriển kinh tế- xã hội của từng địa phương

1.2.4 Những yếu tố tác động đến hoạt động quản lý nhà nước đối với kinh

tế du lịch

Du lịch là một ngành kinh tế rất nhạy cảm, chịu sự tác động và chi phốibởi rất nhiều yếu tố khác nhau, từ điều kiện tự nhiên, khí hậu, môi trường,dịch bệnh cho đến kinh tế- xã hội, an ninh- chính trị, chính sách, pháp luật của

Trang 40

Đảng và Nhà nước Để có thể đưa ra những định hướng, chiến lược và giảipháp đúng đắn, hiệu quả nhằm phát triển ngành kinh tế du lịch trở thành mộtngành kinh tế mũi nhọn, cần thiết phải có sự tìm hiểu và đánh giá chính xácvai trò của những yếu tố tác động đến sự quản lý và phát triển đối với kinh tế

du lịch trên địa bàn các tỉnh, thành phố trong cả nước Về cơ bản, có hai nhómyếu tố tác động đến sự quản lý và phát triển kinh tế du lịch:

1.2.4.1 Nhóm yếu tố khách quan

Thứ nhất, các yếu tố tự nhiên

- Điều kiện về tài nguyên du lịch: Những quốc gia, địa danh có nguồntài nguyên thiên nhiên ưu đãi cho phát triển du lịch như rừng, núi, sông, biểnhoặc các danh lam thắng cảnh phong phú sẽ là điều kiện tốt để tăng cường sựphát triển ngành kinh tế du lịch

- Thời tiết- khí hậu: Thời tiết- khí hậu là yếu tố có ý nghĩa quan trọngtrong việc hình thành tính thời vụ du lịch Nó tác động mạnh lên cả cung vàcầu du lịch trên địa bàn Thời tiết- khí hậu có khả năng ảnh hưởng lớn đến cácđịa phương vì ngành kinh tế du lịch ở một số địa phương phải dựa nhiều vào yếu tố tài nguyên thiên nhiên như nghỉ mát, tắm biển, nghỉ núi,…

Thứ hai, các yếu tố về kinh tế- xã hội, văn hóa- tâm lý

- Thu nhập: Đây là yếu tố quan trọng có ảnh hưởng quyết định tới nhucầu đi du lịch, có thu nhập thì mới có điều kiện hưởng thụ cuộc sống bằng cácchuyến đi du lịch Thu nhập của người dân càng cao thì nhu cầu

Ngày đăng: 09/10/2019, 09:18

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w