Tổng quan tình hình nghiên cứu Trong lịch sử nghiên cứu, đã có nhiều đề tài nghiên cứu liên quan đến quản lý dự án nói chung và quản lý đấu thầu nói riêng, các nghiên cứu hầu hết tập t
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐẤU THẦU TẠI BAN QUẢN LÝ CÁC DỰ ÁN GIÁO
DỤC NGHỀ NGHIỆP VỐN ODA THUỘC TỔNG CỤC GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
TRẦN HOÀNG DIỆU
Hà Nội – 2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
-o0o -LUẬN VĂN THẠC SĨ
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐẤU THẦU TẠI BAN QUẢN LÝ CÁC DỰ ÁN GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP VỐN ODA THUỘC TỔNG CỤC GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP
Ngành: Kinh doanh Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số: 8340101
Họ và tên: Trần Hoàng Diệu Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Tuyết Nhung
Hà Nội - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quảnêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các sốliệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 15 tháng 6 năm 2018
Người viết
Trần Hoàng Diệu
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin được trân trọng gửi lời cảm ơn tới Ban Giám hiệu TrườngĐại học Ngoại thương đã tạo điều kiện về tinh thần và thời gian cho học viên; tớiBan chủ nhiệm Khoa Sau Đại học và toàn bộ đội ngũ cán bộ Khoa Sau Đại học -Trường Đại học Ngoại Thương vì những hỗ trợ, giúp đỡ cần thiết cho học viêntrong thời gian học tập cũng như thực hiện luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn đến Quý thầy cô Trường Đại học Ngoại thương, đãtận tình hướng dẫn, giúp đỡ cho tôi trong quá trình học tập Tôi xin gửi lời biết ơnsâu sắc đến TS Nguyễn Thị Tuyết Nhung đã dành nhiều thời gian và tâm huyếthướng dẫn nghiên cứu và giúp tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Mặc dù tôi đã có nhiều cố gắng nỗ lực, tìm tòi, nghiên cứu để hoàn thiện luậnvăn, tuy nhiên không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được những ýkiến đóng góp từ phía các nhà khoa học, các bạn đọc và những người quan tâm tớiluận văn này./
Hà Nội, ngày 15 tháng 6 năm 2018
Người viết
Trần Hoàng Diệu
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC HÌNH vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT viii
TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN ix
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐẦU THẦU 5
1.1 Lý luận chung về đấu thầu 5
1.1.1 Một số khái niệm 5
1.1.2 Mục tiêu của đấu thầu 9
1.1.3 Vai trò của đấu thầu 9
1.1.4 Các hình thức lựa chọn nhà thầu 10
1.1.5 Các phương thức đấu thầu 12
1.1.6 Tiêu chí đánh giá hoạt động đấu thầu 15
1.1.7 Quản lý nhà nước về đấu thầu 17
1.1.8 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý đấu thầu 19
1.2 Lý luận chung về công tác quản lý đấu thầu các dự án vốn ODA 28
1.2.1 Khái niệm về quản lý đấu thầu 28
1.2.2 Ý nghĩa, vai trò của công tác quản lý đấu thầu các dự án sử dụng vốn ODA 29
1.2.3 Nội dung công tác quản lý đấu thầu tại các dự án sử dụng vốn ODA 29 1.2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý đấu thầu các dự án sử dụng vốn ODA 37
Trang 6CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐẤU THẦU TẠI BANQUẢN LÝ CÁC DỰ ÁN GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP VỐN ODA 40
2.1 Giới thiệu về Tổng Cục Giáo dục nghề nghiệp và Ban Quản lý các dự án giáodục nghề nghiệp vốn ODA 40
2.1.1 Giới thiệu khái quát về Tổng Cục Giáo dục nghề nghiệp 40
2.1.2 Giới thiệu về Ban Quản lý các dự án Giáo dục nghề nghiệp 47
2.2 Thực trạng công tác quản lý đấu thầu các dự án ODA của Ban Quản lý các
dự án giáo dục nghề nghiệp vốn ODA 52
2.2.1 Khái quát các dự án sử dụng vốn ODA đã và đang thực hiện từ năm
2014 – 2017 52
2.2.2 Công tác quản lý đấu thầu các dự án ODA của Ban Quản lý các dự
án giáo dục nghề nghiệp vốn ODA 55
2.3 Đánh giá chung về công tác quản lý đấu thầu tại Ban Quản lý các dự án giáodục nghề nghiệp vốn ODA 66
2.3.1 Những kết quả đạt được 66
2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 70
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐẤU THẦU TẠI BAN QUẢN LÝ CÁC DỰ ÁN GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP VỐN ODA 763.1 Mục tiêu và phương hướng phát triển của Ban Quản lý các dự án giáo dụcnghề nghiệp vốn ODA trong thời gian tới 76
3.2 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý đấu thầu tại Ban Quản lýcác dự án giáo dục nghề nghiệp vốn ODA 77
3.2.1 Giải pháp tăng cường công tác hướng dẫn thực hiện quy chế đấu thầu quacác hội nghị và lớp tập huấn đấu thầu 77
3.2.2 Giải pháp rút ngắn thời gian chuẩn bị, thẩm định và phê duyệt hồ sơ78
Trang 73.2.3 Giải pháp nâng cao năng lực của cán bộ quản lý và thực hiện đấu
thầu 82
3.2.4 Giải pháp tăng cường tính cạnh tranh công bằng, bình đẳng trong đấu thầu 85
3.3 Một số kiến nghị 87
3.3.1 Đối với Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội và các nhà tài trợ 87
3.3.2 Đối với Nhà nước 87
KẾT LUẬN 89
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Tiến trình của công tác quản lý đấu thầu 31Hình 2.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức Ban QLCDA 50
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Bảng thống kê thông tin các dự án thực hiện (2014- 53
2017)Bảng 2.2 Bảng thống kê số lượng Kế hoạch lựa chọn nhà thầu 57
được phê duyệt giai đoạn 2014-2017Bảng 2.3 Bảng tổng hợp số lượng gói thầu theo hình thức đấu 63
thầuBảng 2.4 Bảng tỷ lệ tiết kiệm vốn đầu tư 67
Trang 10DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ADB Ngân hàng phát triển Châu Á
AFD Cơ quan Phát triển Pháp
ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
Ban QLCDA Ban Quản lý các dự án giáo dục nghề nghiệp vốn ODAEDCF Quỹ hợp tác Phát triển Kinh tế Hàn Quốc
HSDT Hồ sơ dự thầu
HSĐX Hồ sơ đề xuất
HSMT Hồ sơ mời thầu
HSYC Hồ sơ yêu cầu
KfW Ngân hàng tái thiết Đức
KHLCNT Kế hoạch lựa chọn nhà thầu
Bộ LĐ-TB&XH Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội
ODA Hỗ trợ phát triển chính thức
TCGDNN Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp
UBND Ủy ban nhân dân
UNCITRAL Ủy ban Liên Hiệp Quốc về Luật Thương mại Quốc tếUSD Đồng đô la Mỹ
Trang 11TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU LUẬN VĂN
Nghiên cứu này nhằm phân tích thực trạng công tác quản lý đấu thầu tại BanQuản lý các dự án giáo dục nghề nghiệp vốn ODA trong giai đoạn 2014-2017 từ đóđưa ra giải pháp giúp hoàn thiện công tác quản lý đấu thầu nói trên
Nghiên cứu đã đưa ra quy trình thực hiện đấu thầu tại Ban QLCDA, phân tíchthực trạng theo từng bước trong quy trình, nêu rõ trách nhiệm của các bên liên quan,đánh giá kết quả thực hiện và chỉ ra những hạn chế trong công tác quản lý đấu thầutại Ban QLCDA Dựa trên kết quả phân tích hạn chế đó, người viết đã đưa ra một số
đề xuất giải pháp để có thể hỗ trợ được Ban QLCDA quản lý công tác đấu thầuđược tốt hơn trong giai đoạn tiếp theo
Trang 12LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong suốt hơn 20 năm qua, nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) đã
hỗ trợ đắc lực cho phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam Nguồn vốn này góp phầnkhông nhỏ vào tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng côngnghiệp hóa, hiện đạo hóa, phát triển xã hội, xóa đói giảm nghèo; rất nhiều các hoạtđộng hỗ trợ nâng cao chất lượng giáo dục nói chung và chất lượng đào tạo nghề nóiriêng đã và đang được triển khai và phát huy tác dụng tích cực Tuy nhiên, việc triểnkhai thực hiện các dự án sử dụng vốn ODA đang gặp nhiều vấn đề như Chính phủtiếp nhận nguồn vốn ODA sau đó vừa phải quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA nàytheo quy định của pháp luật (như: Luật Ngân sách nhà nước, Luật Đầu tư, Luật đấuthầu và các luật khác có liên quan); vừa phải theo quy định của Nhà tài trợ theo điềuước quốc tế được ký kết, đồng thời chịu sự quản lý và giám sát từ cả hai phía
Ban Quản lý các dự án giáo dục nghề nghiệp vốn ODA trực thuộc Tổng cụcGiáo dục nghề nghiệp (Bộ LĐ-TB&XH), được Bộ LĐ-TB&XH giao giúpTCGDNN quản lý các dự án sử dụng nguồn vốn ODA trong lĩnh vực giáo dục vàđào tạo nghề Trong quá trình triển khai các hoạt động quản lý dự án, bước đầu tiên
và quan trọng nhất của Ban QLCDA cần thực hiện đó là thực hiện công tác đấuthầu, quản lý đấu thầu trong đó bao gồm hoạt động xây lắp, mua sắm hàng hóa vàdịch vụ tư vấn Với mức tổng đầu tư hàng chục triệu USD cho các dự án, thời gianthực hiện không quá dài, cùng với đó là các tiêu chuẩn, yêu cầu kỹ thuật cao, đòihỏi công tác quản lý đấu thầu cần nghiêm túc ngay từ bước lập kế hoạch đến bước
tổ chức thực hiện và cuối cùng là kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện Việc lựachọn được nhà thầu có năng lực, kinh nghiệm tốt giúp đảm bảo được chất lượng vàhiệu quả của dự án
Trong quá trình thực hiện chức năng quản lý nhà nước về quản lý đấu thầu,Ban QLCDA đã được tiếp cận nguồn vốn ODA vào Việt Nam dành riêng cho lĩnhvực giáo dục nghề nghiệp, tuy đạt được những kết quả nhất định nhưng vẫn còn tồntại nhiều hạn chế cần được khắc phục, nhiều điểm chưa đáp ứng được các yêu cầu
Trang 13của nhà tài trợ và chủ đầu tư, đặc biệt là công tác đấu thầu cần phải hoàn thiện hơn nữa.
Chính vì vậy đề tài “Hoàn thiện công tác quản lý đấu thầu tại Ban Quản lý
các dự án Giáo dục nghề nghiệp vốn ODA – Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp”
được người viết chọn làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ của mình
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Trong lịch sử nghiên cứu, đã có nhiều đề tài nghiên cứu liên quan đến quản lý
dự án nói chung và quản lý đấu thầu nói riêng, các nghiên cứu hầu hết tập trungxoay quanh công tác quản lý các dự án đầu tư, quản lý công tác đấu thầu các côngtrình nói chung, tiêu biểu như một số đề tài sau:
- Đề tài “Một số giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động đấu thầu ở Việt Nam”(Nguyễn Thị Xuân Thủy, 2014) phân tích những thực trạng hoạt động đấu thầu tại ViệtNam trong những năm gần đây, luận văn đi sâu phân tích một số giải pháp đề xuất một sốgiải pháp nhằm đẩy mạnh chất lượng hoạt động đấu thầu nói chung tại Việt Nam như: (1)Hoàn thiện các văn bản pháp lý về đấu thầu, (2) Cải tiến kỹ thuât, quy trình đấu thầu đốivới đấu thầu quốc tế, (3) Hỗ trợ của Nhà nước trong đấu thầu, đẩy nhanh cổ phần hóadoanh nghiệp
- Đề tài “Hoàn thiện quản lý nhà nước về đấu thầu các công trình xây dựng cơbản ở Việt Nam” (Hà Thanh Hải, 2009) đưa ra cơ sở lý luận chung về nội dung quản lýnhà nước về đấu thầu, thực trạng công tác quản lý đấu thầu tại Công ty cổ phần Xây dựngcông trình Giao thông 228 và đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý Nhànước về đấu thầu các công trình xây dựng cơ bản ở Việt Nam như: (1) Tăng cường côngtác hướng dẫn thực hiện quy chế đấu thầu, (2) Tổ chức tốt công tác thanh tra kiểm tra,thanh tra về đấu thầu, (3) Tăng cường tính công khai hóa, minh bạch trong công tác đấuthầu, (4) Tăng cường việc chỉ đạo của các cấp có thẩm quyền, (5) Cần theo dõi kiểm tranăng lực các nhà thầu, (6) Hoàn thiện quy chế đấu thầu trong xây dựng ở Việt Nam…
Các luận văn đều tập trung khai thác thực trạng công tác quản lý và thực hiện đấu thầu tại Việt Nam trong thời gian gần đây, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm
Trang 14hoàn thiện hoạt động đấu thầu, đưa ra các kiến nghị đối với các bên liên quan Tuynhiên, chưa có bất cứ một đề tài, nghiên cứu nào chuyên về công tác quản lý đấuthầu Ban Quản lý các dự án Giáo dục nghề nghiệp vốn ODA.
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu: Nhu cầu ngày càng tăng về nguồn lao động chất lượngcao dẫn đến việc nâng cao chất lượng giảng dạy tại các cơ sở giáo dục ngày càngđược chú trọng, đòi hỏi cần có sự đầu tư mạnh mẽ của các cá nhân, tổ chức đặc biệt
là nhà nước Thông qua nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức ODA, rất nhiều các
cơ sở giáo dục nghề nghiệp đã được đầu tư và phát triển Hiện nay, việc sử dụngnguồn vốn ODA cho các dự án giáo dục nghề nghiệp làm thế nào để phát huy hiệuquả tối đa luôn được các nhà tài trợ và xã hội quan tâm Để đạt được điều đó, cáchthức quản lý nguồn vốn ODA thông qua công tác quản lý đấu thầu tại các dự án sửdụng nguồn vốn này cần đảm bảo tính minh bạch, cạnh tranh và hiệu quả Do đó, đềtài mở ra một hướng đi cho việc quản lý đấu thầu tại Ban Quản lý các dự án giáodục nghề nghiệp vốn ODA nhằm hoàn thiện hơn trong những năm tiếp theo
Từ mục tiêu nghiên cứu nói trên đặt ra nhiệm vụ nghiên cứu như sau:
- Hệ thống các cơ sở lý luận chung về quản lý đấu thầu các dự án sử dụng vốnODA bao gồm: các khái niệm, nội dung về công tác quản lý đấu thầu, các nhân tố ảnhhưởng đến công tác quản lý đấu thầu và các quy trình thực hiện công tác đấu thầu
- Thu thập, tổng hợp các nghiên cứu, số liệu để đánh giá thực trạng công quảnlý đấu thầu các dự án có vốn ODA tại Ban Quản lý các dự án giáo dục nghề nghiệp vốnODA giai đoạn 2014-2017
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý đấu thầu tại Ban Quản lý các dự án giáo dục nghề nghiệp vốn ODA
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Trang 15Công tác quản lý đấu thầu các dự án sử dụng vốn ODA tại Ban Quản lý các dự
án giáo dục nghề nghiệp vốn ODA
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Luận văn tập trung nghiên cứu công tác quản lý đấu thầu các
dự án giáo dục nghề nghiệp vốn ODA tại Ban Quản lý các dự án giáo dục nghề nghiệpvốn ODA
- Về thời gian: Luận văn giới hạn việc nghiên cứu công tác quản lý đấu thầu
các dự án giáo dục nghề nghiệp vốn ODA trong giai đoạn 2014 đến 2017
- Về nội dung: Nghiên cứu và đánh giá công tác quản lý đấu thầu các dự án sử
dụng vốn ODAvới các nội dung như: Lập, trình thẩm định và phê duyệt kế hoạch lựachọn nhà thầu, tổ chức lựa chọn nhà thầu; Kiểm tra, giám sát công tác đấu thầu
.5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp thu thập, xử lý và phân tích tài liệu để kết hợpnghiên cứu giữa lý luận và thực tiễn công tác quản lý đấu thầu trong dự án; phươngpháp phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê…nhằm chỉ ra những bất cập giữa thực
tế đấu thầu và những quy định về đấu thầu trong dự án
6 Bố cục của luận văn
Ngoài Lời mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính củaLuận văn được chia làm 03 chương:
Chương 1: Lý luận chung về công tác quản lý đấu thầu
Chương 2: Thực trạng công tác quản lý đấu thầu tại Ban Quản lý các dự án giáo dục nghề nghiệp vốn ODA
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý đấu thầu tại Ban Quản lý các
dự án giáo dục nghề nghiệp vốn ODA
Trang 16CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐẦU THẦU 1.1 Lý luận chung về đấu thầu
1.1.1 Một số khái niệm
1.1.1.1 Khái niệm về đấu thầu
Thuật ngữ “đấu thầu” đã xuất hiện trong thực tế xã hội từ xa xưa Theo Từđiển tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ học, 1998) thì đấu thầu được giải thích là việc: “đọcông khai, ai nhận làm, nhận bán với điều kiện tốt nhất thì được giao cho làm hoặcđược bán hàng (một phương thức giao làm công trình hoặc mua hàng)” Như vậybản chất của đấu thầu đã được xã hội thừa nhận như là một sự ganh đua (cạnhtranh) để được thực hiện một việc nào đó, một yêu cầu nào đó
Trên thực tế đã tồn tại một số định nghĩa về thuật ngữ đấu thầu trong các vănbản khác nhau Tuy nhiên, bản chất của thuật ngữ về đấu thầu dù dưới dạng Quychế hay Luật cũng đều sử dụng một thuật ngữ có xuất xứ từ tiếng Anh là
“Procurement” (nghĩa là mua sắm) Như vậy, Quy chế đấu thầu, Luật Đấu thầuđồng nghĩa với Quy chế Mua sắm (Procurement Regulation) hoặc Luật Mua sắm(Law on Procurement) Trên góc độ khoa học pháp lý, "đấu thầu" có thể hiểu dướicác góc độ sau:
Thứ nhất: đấu thầu là một định chế của pháp luật kinh tế nên được hiểu là toàn
bộ các quy phạm pháp luật do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành, nhằmđiều chỉnh các quan hệ xã hội giữa các chủ thể kinh tế trong quá trình thực hiệnchức năng kinh tế của Nhà nước, chẳng hạn chế định về mời thầu, dự thầu trong đầu
tư và xây dựng cơ bản được quy định tại điều 43 Quy chế Quản lý đầu tư và xâydựng, ban hành kèm theo Nghị định 52/NĐ-CP/1999 ngày 8/7/1999 và được sửađổi bổ sung bởi Nghị định 12/NĐ-CP ngày 5/5/2000 của Chính phủ Theo đó các
dự án sử dụng vốn Nhà nước đều phải tổ chức theo quy chế đấu thầu, trừ các dự án
có tính chất nghiên cứu thử nghiệm, có tính chất cấp bách do thiên tai, địch họa; cótính chất bí mật quốc gia, an ninh quốc phòng và những dự án đặc biệt do Thủtướng Chính phủ quy định hoặc bên mời thầu phải chuẩn bị hồ sơ (Điều 152 LuậtThương mại, 2005)
Trang 17Thứ hai: đấu thầu hay đấu thầu hàng hoá được hiểu là một loại hoạt động đặcbiệt của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền, bởi vì:
Đây loại hoạt động được thực hiện bởi các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền,người có thẩm quyền nhằm thực hiện chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước,trong đó có hoạt động của cán bộ, công chức, viên chức trong hệ thống cơ quanquản lý hành chính, cơ quan quản lý ngành (kinh tế), lĩnh vực của cả nước (Điều 52,
53 Nghị định 88/NĐ-CP về quy chế đấu thầu hàng hoá được sửa đổi, bổ sung tạiNghị định 66/NĐ-CP) Như vậy, theo nghĩa này hoạt động đấu thầu hàng hóa có nộidung rất rộng vì là hoạt động nhằm thu hút nhiều thành phần kinh tế có khả năng,điều kiện tốt tham gia để thực hiện chức năng kinh tế chung của Nhà nước
Đấu thầu còn được hiểu là một thuật ngữ dùng để chỉ các hoạt động của các cơquan Nhà nước có chức năng kinh tế nói riêng, ví dụ như Bộ Kế hoạch và Đầu tư,Chủ tịch UBND cấp tỉnh, Hội đồng quản trị (hoặc người được Hội đồng quản trị uỷquyền) của doanh nghiệp liên doanh, công ty cổ phần, đại diện hợp pháp của cácbên tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh Tuy nhiên quan niệm này cũng có thểhiểu ở phạm vi rộng hẹp khác nhau do các cơ quan, tổ chức này một mặt vừa thựchiện các hoạt động mang tính tổ chức, đầu tư, xây dựng, phân phối tiêu thụ (cả quátrình kinh tế), còn hoạt động đấu thầu chỉ là một bộ phận thuộc chức năng thực hiệnnhiệm vụ kinh tế của Nhà nước
Thứ ba: xét trên góc độ quản lý hành chính Nhà nước thì khái niệm về đấuthầu hàng hóa chỉ là xâu chuỗi các trình tự, thủ tục mà các bên tham gia phải thựchiện trong quá trình đấu thầu
Đấu thầu là một hình thức kinh doanh dựa vào tính chất cạnh tranh công khaicủa thị trường, không có cạnh tranh thì không có đấu thầu và cũng không cần đếnđấu thầu Có thể nói đấu thầu là phương thức giao dich đặc biệt Trong một vụ kinhdoanh mua bán hay xây dựng các công trình dân sự có liên quan đến nhiều người,nhiều bên khác nhau thì người ta thường áp dụng hoặc bắt buộc phải áp dụng hìnhthức đấu thầu cạnh tranh công khai
Trang 18Đấu thầu là một quá trình lựa chọn nhà thầu đáp ứng các yêu cầu về giá cả,điều kiện kinh tế - kỹ thuật do bên mời thầu đặt ra trên cơ sở cạnh tranh giữa cácnhà thầu Như vậy, với hai khái niệm trên, đấu thầu hàng hóa về bản chất thì không
có sự khác biệt, song hình thức thể hiện thực chất đó chỉ là việc các cơ quan Nhànước có thẩm quyền, người có thẩm quyền lựa chọn các chủ đầu tư là các tổ chức,
cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia cạnh tranh trên cơ sở các điều kiện
về vốn, điều kiện về kinh tế, kỹ thuật để cung cấp hàng hóa và thực hiện các côngtrình xây dựng cơ bản nhằm bảo đảm chất lượng cho các dự án đầu tư của bên mờithầu
Trong nghiên cứu này khái niệm đấu thầu được hiểu theo Luật Đấu thầu 2013
đã được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thông qua như sau:
“Đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu để ký kết và thực hiện hợp đồng cung cấpdịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, mua sắm hàng hóa, xây lắp; lựa chọn nhà đầu tư
để ký kết và thực hiện hợp đồng dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư, dự ánđầu tư có sử dụng đất trên cơ sở bảo đảm cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệuquả kinh tế” Định nghĩa này đã nói tới tổng quát các yêu cầu cơ bản của hoạt độngđấu thầu hiện nay ở Việt Nam Đây là một định nghĩa khá chi tiết, khác hẳn vớiđịnh nghĩa tổng quát của UNCITRAL rằng: “đấu thầu là tiến hành mua sắm hànghóa, xây dựng và dịch vụ theo một cách nào đó” (UNCITRAL, 2011)
1.1.1.2 Khái niệm về dự án sử dụng vốn ODA
a Vốn ODA
Vốn ODA, vốn vay ưu đãi là nguồn vốn của nhà tài trợ nước ngoài cung cấpcho Nhà nước hoặc Chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam để hỗ trợ pháttriển, bảo đảm phúc lợi và an sinh xã hội (Nghị định 16/2016/NĐ-CP, 2016)
b Dự án sử dụng vốn ODA là tập hợp các đề xuất sử dụng vốn ODA, vốn vay
ưu đãi, vốn đối ứng của Việt Nam có liên quan đến nhau nhằm đạt được một hoặcmột số mục tiêu nhất định, được thực hiện trên địa bàn cụ thể, trong
Trang 19khoảng thời gian xác định và dựa trên nguồn lực xác định Căn cứ vào tính chất, dự
án được phân loại thành dự án đầu tư và dự án hỗ trợ kỹ thuật (Nghị định 16/2016/NĐ-CP, 2016):
- Dự án đầu tư là dự án tiến hành các hoạt động đầu tư trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định
- Dự án hỗ trợ kỹ thuật là dự án với mục tiêu hỗ trợ công tác nghiên cứu chínhsách, thể chế, chuyên môn, nghiệp vụ, nâng cao năng lực con người hoặc để chuẩn bịthực hiện chương trình, dự án khác thông qua các hoạt động như cung cấp chuyên giatrong nước và quốc tế, đào tạo, hỗ trợ một số trang thiết bị, tư liệu và tài liệu, tham quankhảo sát, hội thảo trong và ngoài nước Dự án hỗ trợ kỹ thuật bao gồm dự án hỗ trợ kỹthuật sử dụng vốn ODA viện trợ không hoàn lại và dự án hỗ trợ kỹ thuật sử dụng vốn vayODA, vốn vay ưu đãi
1.1.1.3 Khái niệm đấu thầu các dự án sử dụng vốn ODA
Căn cứ vào các khái niệm về đấu thầu, dự án sử dụng vốn ODA có thể rút ra,
khái niệm về đấu thầu các dự án sử dụng vốn ODA như sau: Đấu thầu các dự án sử dụng vốn ODA là quá trình lựa chọn nhà thầu để ký kết và thực hiện hợp đồng cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, mua sắm hàng hóa, xây lắp; lựa chọn nhà đầu tư để ký kết và thực hiện hợp đồng dự án sử dụng vốn ODA, vốn vay ưu đãi, vốn đối ứng của Việt Nam theo hình thức đối tác công tư trên cơ sở bảo đảm cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế.
Với khái niệm như vậy, có thể thấy rằng đấu thầu các dự án sử dụng vốn ODA
có sự khác biệt so với đấu thầu sử dụng các nguồn vốn khác chính là ở nguồn vốn
sử dụng Điều này dẫn đến việc đấu thầu các dự án sử dụng vốn ODA không chỉchịu các quy định của pháp luật Việt Nam mà còn phải tuân theo các quy định kháccủa Nhà tài trợ Thông thường khi có sự xung đột giữa các quy định của hai bên thìquy định của Nhà tài trợ sẽ được áp dụng
Trang 201.1.2 Mục tiêu của đấu thầu
- Đảm bảo tính cạnh tranh: Qua tổ chức đấu thầu đòi hỏi các nhà thầu pháthuy hết khả năng của mình về trình độ khoa học kỹ thuật, công nghệ và tiềm năng sẵn có,hoặc liên danh để cạnh tranh với các nhà thầu
- Đảm bảo tính công bằng: Đấu thầu tạo ra được một cơ sở hợp lý để nhà thầu
có điều kiện bình đẳng với nhau Các nhà thầu có đủ điều kiện theo yêu cầu của HSMTđều có thể tham gia, không phân biệt với các thành phần kinh tế hoặc loại hình doanhnghiệp
- Đảm bảo minh bạch: Đấu thầu được tiến hành công khai thể hiện trong suốtquá trình từ mời thầu đến việc mở và xét chọn nhà thầu, ký kết hợp đồng đều được thựchiện có sự kiểm tra, đánh giá của cấp có thẩm quyền theo quy định của quy chế quản lýđầu tư và xây dựng Tránh được sự thiên vị, cảm tính, đặc quyền đặc lợi, móc ngoặcriêng với nhau
- Đảm bảo hiệu quả kinh tế: Đấu thầu tạo cơ hội cho các nhà đầu tư thực hiệnđược dự án của mình với giá thành hạ, đảm bảo được yêu cầu về kỹ thuật và chất lượng
1.1.3 Vai trò của đấu thầu
1.1.3.1 Đối với nhà nước
Đấu thầu mang lại cho nhà nước những đầu tư mới về công nghệ, máy mócthiết bị hiện đại tạo điều kiện cho việc thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa và hiệnđại hóa của đất nước
Là cơ sở để đánh giá đúng, chính xác năng lực thực sự của các đơn vị kinh tế
cơ sở, ngăn chặn những biểu hiện tiêu cực diễn ra, tránh được sự thiên vị của chủđầu tư với các nhà thầu
Mặt tích cực nhất mà phía nhà nước thu được thông qua đấu thầu là tích lũy vàhọc hỏi được kinh nghiệm về biện pháp quản lý nhà nước đối với các dự án đặc biệt
là quản lý tài chính, tăng cường các lợi ích kinh tế xã hội khác
Trang 211.1.3.2 Đối với chủ đầu tư
Chọn lựa được nhà thầu có năng lực đáp ứng được yêu cầu của mình về kỹthuật, chất lượng, đảm bảo tiến độ thi công đồng thời giá thành hợp lý Khắc phụctình trạng độc quyền về giá cả của các nhà thầu
Khắc phục tình trạng độc quyền về giá cả của các nhà thầu Mang lại hiệu quảcủa dự án đầu tư cao nhất
1.1.3.3 Đối với nhà thầu
Đảm bảo tính công bằng đối với các thành phần kinh tế, không phân biệt đối
Nâng cao uy tín và vị trí của mình trên thương trường trong nước và quốctế
1.1.4 Các hình thức lựa chọn nhà thầu
1.1.4.1 Đấu thầu rộng rãi
Đấu thầu rộng rãi là hình thức lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư trong đó khônghạn chế số lượng nhà thầu, nhà đầu tư tham dự (Luật đấu thầu, 2013)
Đấu thầu rộng rãi là hình thức chủ yếu được áp dụng trong đấu thầu Hìnhthức đấu thầu này có ưu điểm nổi bật là tính cạnh tranh trong đấu thầu cao, hạn chếtiêu cực trong đấu thầu, kích thích các nhà thầu phải thường xuyên nâng cao nănglực cạnh tranh, mang lại hiệu quả cao cho dự án
Trang 221.1.4.2 Đấu thầu hạn chế
Đấu thầu hạn chế được áp dụng trong trường hợp gói thầu có yêu cầu cao về
kỹ thuật hoặc kỹ thuật có tính đặc thù mà chỉ có một số nhà thầu đáp ứng yêu cầucủa gói thầu (Luật đấu thầu, 2013)
- Gói thầu dịch vụ phi tư vấn thông dụng, đơn giản;
- Gói thầu mua sắm hàng hóa thông dụng, sẵn có trên thị trường với đặc tính
kỹ thuật được tiêu chuẩn hóa và tương đương nhau về chất lượng;
- Gói thầu xây lắp công trình đơn giản đã có thiết kế bản vẽ thi công được phê duyệt
Chào hàng cạnh tranh được thực hiện khi đáp ứng đủ các điều kiện sau
đây:
- Có kế hoạch lựa chọn nhà thầu được phê duyệt;
- Có dự toán được phê duyệt theo quy định;
- Đã được bố trí vốn theo yêu cầu tiến độ thực hiện gói thầu Mua sắm trựctiếp
Được áp dụng trong trường hợp bổ sung hợp đồng cũ đã thực hiện xong (dướimột năm) hoặc hợp đồng đang thực hiện với điều kiện chủ đầu tư có nhu cầu tăngthêm số lượng hàng hóa hoặc khối lượng công việc mà trước đó đã được tiến hànhđấu thầu, nhưng phải đảm bảo không được vượt mức giá hoặc
Trang 23đơn giá trong hợp đồng đã ký trước đó Trước khi ký hợp đồng, nhà thầu phảichứng minh có đủ năng lực về kỹ thuật và tài chính để thực hiện gói thầ u.
1.1.4.5 Tự thực hiện
Tự thực hiện được áp dụng đối với gói thầu thuộc dự án, dự toán mua sắmtrong trường hợp tổ chức trực tiếp quản lý, sử dụng gói thầu có năng lực kỹ thuật,tài chính và kinh nghiệm đáp ứng yêu cầu của gói thầu (Luật đấu thầu, 2013)
1.1.4.6 Mua sắm trực tiếp
Mua sắm trực tiếp được áp dụng đối với gói thầu mua sắm hàng hóa tương tựthuộc cùng một dự án, dự toán mua sắm hoặc thuộc dự án, dự toán mua sắm khác(Luật đấu thầu, 2013)
Mua sắm trực tiếp được thực hiện khi đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:
a) Nhà thầu đã trúng thầu thông qua đấu thầu rộng rãi hoặc đấu thầu hạn chế
và đã ký hợp đồng thực hiện gói thầu trước đó
b) Gói thầu có nội dung, tính chất tương tự và quy mô nhỏ hơn 130% so với gói thầu đã ký hợp đồng trước đó;
c) Đơn giá của các phần việc thuộc gói thầu áp dụng mua sắm trực tiếp khôngđược vượt đơn giá của các phần việc tương ứng thuộc gói thầu tương tự đã ký hợp đồngtrước đó;
d) Thời hạn từ khi ký hợp đồng của gói thầu trước đó đến ngày phê duyệt kết quả mua sắm trực tiếp không quá 12 tháng
Trường hợp nhà thầu thực hiện hợp đồng trước đó không có khả năng tiếp tụcthực hiện gói thầu mua sắm trực tiếp thì được áp dụng mua sắm trực tiếp đối vớinhà thầu khác nếu đáp ứng các yêu cầu về năng lực, kinh nghiệm, kỹ thuật và giátheo HSMT và kết quả lựa chọn nhà thầu trước đó
1.1.5 Các phương thức đấu thầu
1.1.5.1 Phương thức một giai đoạn một túi hồ sơ
Trang 24a) Phương thức một giai đoạn một túi hồ sơ được áp dụng trong các trường hợp sau đây (Luật đấu thầu, 2013):
- Đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế đối với gói thầu cung cấp dịch vụ phi tư vấn; gói thầu mua sắm hàng hóa, xây lắp, hỗn hợp có quy mô nhỏ;
- Chào hàng cạnh tranh đối với gói thầu cung cấp dịch vụ phi tư vấn, mua sắmhàng hóa, xây lắp;
- Chỉ định thầu đối với gói thầu cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, mua sắm hàng hóa, xây lắp, hỗn hợp;
- Mua sắm trực tiếp đối với gói thầu mua sắm hàng hóa;
- Chỉ định thầu đối với lựa chọn nhà đầu tư
b) Nhà thầu, nhà đầu tư nộp HSDT, HSĐX gồm đề xuất về kỹ thuật và đềxuất về tài chính theo yêu cầu của HSMT, hồ sơ yêu cầu (Luật đấu thầu, 2013)
c) Việc mở thầu được tiến hành một lần đối với toàn bộ HSDT, HSĐX (Luật đấu thầu, 2013)
1.1.5.2 Phương thức một giai đoạn hai túi hồ sơ
a) Phương thức một giai đoạn hai túi hồ sơ được áp dụng trong các trường hợp sau đây (Luật đấu thầu, 2013):
- Đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế đối với gói thầu cung cấp dịch vụ tư vấn,dịch vụ phi tư vấn, mua sắm hàng hóa, xây lắp, hỗn hợp;
- Đấu thầu rộng rãi đối với lựa chọn nhà đầu tư
b) Nhà thầu, nhà đầu tư nộp đồng thời HSĐX về kỹ thuật và HSĐX về tài chính riêng biệt theo yêu cầu của HSMT (Luật đấu thầu, 2013)
c) Việc mở thầu được tiến hành hai lần HSĐX về kỹ thuật sẽ được mở ngaysau thời điểm đóng thầu Nhà thầu, nhà đầu tư đáp ứng yêu cầu về kỹ thuật sẽ được mởHSĐX về tài chính để đánh giá (Luật đấu thầu, 2013)
Trang 251.1.5.3 Phương thức hai giai đoạn một túi hồ sơ
- Phương thức hai giai đoạn một túi hồ sơ được áp dụng trong trường hợp đấuthầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế đối với gói thầu mua sắm hàng hóa, xây lắp, hỗn hợp cóquy mô lớn, phức tạp (Luật đấu thầu, 2013)
- Trong giai đoạn một, nhà thầu nộp đề xuất về kỹ thuật, phương án tài chínhtheo yêu cầu của HSMT nhưng chưa có giá dự thầu Trên cơ sở trao đổi với từng nhàthầu tham gia giai đoạn này sẽ xác định HSMT giai đoạn hai (Luật đấu thầu, 2013)
- Trong giai đoạn hai, nhà thầu đã tham gia giai đoạn một được mời nộpHSDT HSDT bao gồm đề xuất về kỹ thuật và đề xuất về tài chính theo yêu cầu củaHSMT giai đoạn hai, trong đó có giá dự thầu và bảo đảm dự thầu (Luật đấu thầu,2013)
1.1.5.4 Phương thức hai giai đoạn hai túi hồ sơ
- Phương thức hai giai đoạn hai túi hồ sơ được áp dụng trong trường hợp đấuthầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế đối với gói thầu mua sắm hàng hóa, xây lắp, hỗn hợp có
kỹ thuật, công nghệ mới, phức tạp, có tính đặc thù (Luật đấu thầu, 2013)
- Trong giai đoạn một, nhà thầu nộp đồng thời HSĐX về kỹ thuật và HSĐX
về tài chính riêng biệt theo yêu cầu của HSMT HSĐX về kỹ thuật sẽ được mở ngay sauthời điểm đóng thầu Trên cơ sở đánh giá đề xuất về kỹ thuật của các nhà thầu trong giaiđoạn này sẽ xác định các nội dung hiệu chỉnh về kỹ thuật so với HSMT và danh sách nhàthầu đáp ứng yêu cầu được mời tham dự thầu giai đoạn hai HSĐX về tài chính sẽ được
mở ở giai đoạn hai (Luật đấu thầu, 2013)
- Trong giai đoạn hai, các nhà thầu đáp ứng yêu cầu trong giai đoạn một đượcmời nộp HSDT HSDT bao gồm đề xuất về kỹ thuật và đề xuất về tài chính theo yêu cầucủa HSMT giai đoạn hai tương ứng với nội dung hiệu chỉnh về kỹ thuật Trong giai đoạnnày, HSĐX về tài chính đã nộp trong giai đoạn
Trang 26một sẽ được mở đồng thời với HSDT giai đoạn hai để đánh giá (Luật đấu thầu,2013).
1.1.6 Tiêu chí đánh giá hoạt động đấu thầu
Trước hết cần khẳng định mặt tích cực mang tính bản chất của đấu thầu là tạocho các Nhà thầu một sân chơi có tính cạnh tranh cao, công bằng và minh bạch,nhằm giúp Chủ đầu tư lựa chọn được Nhà thầu có đủ năng lực để thực hiện gói thầuvới những yêu cầu về chất lượng, giá cả và tiến độ
Vậy việc đánh giá hiệu quả công tác tổ chức đấu thầu thì phải xem xét đượcmức giá của gói thầu theo kế hoạch đấu thầu đã được duyệt so với giá ký kết hợpđồng với Nhà thầu, chất lượng công trình như thế nào và tiến độ thi công có đảmbảo hay không?
Trong thành công của mỗi phần dự án hay cả dự án thì vai trò của công tácđấu thầu có ý nghĩa quan trọng Nếu công tác đấu thầu được tổ chức và thực hiệntốt sẽ chọn được Nhà thầu tốt, chất lượng công trình sẽ được đảm bảo và tiết kiệmvốn đầu tư, rút ngắn thời gian thi công công trình và ngược lại
Chất lượng công tác đấu thầu các dự án nói chung và các dự án ODA nóiriêng được đánh giá theo các tiêu chí sau:
1.1.6.1 Tuân thủ cơ sở pháp lý
Quy trình tổ chức đấu thầu tuân theo qui chế và qui định của Nhà nước và cácnhà tài trợ ODA về đấu thầu:
- Trong quá trình đấu thầu, các Ban QLCDA có tuân thủ nghiêm ngặt luậtpháp, các qui chế và qui định của Nhà nước và nhà tài trợ về nội dung, trình tự đấu thầuhay không? Công tác đấu thầu chỉ được thực hiện khi có đủ các điều kiện đầu thầu theocác Nghị định và thông tư về đấu thầu mà Chính phủ và các Bộ ngành đã ban hành như:Nghị định 52, 88, 66, 63… và Hướng dẫn đấu thầu của các nhà tài trợ như Hướng dẫn vềmua sắm (Procurement Guidelines) của Ngân hàng Phát triển châu Á, Hướng dẫn sửdụng Tư vấn đối với Ngân hàng Phát triển châu Á và các bên vay vốn, hay văn bản quyđịnh về thực hiện dự án
Trang 27nguồn vốn ODA giữa Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Ngân hàng Phát triển châu Á nhưCẩm nang hướng dẫn chuẩn bị và thực hiện dự án nguồn vốn ODA do ADB tài trợtại Việt Nam.
- Trong quá trình đấu thầu, Ban QLCDA có tiến hành theo đúng nội dung củaquyết định đầu tư dự án hay không? Nếu có phát sinh từ phía Ban QLCDA
hay Nhà thầu thì Ban QLCDA phải tiến hành các hành động phê duyệt hoặc thông báo kịp thời đến phía đối tác
- Ban QLCDA cần cập nhật các thông tin liên quan về đấu thầu và thực hiệncác hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, tăng cường năng lực cho các cán bộ thực hiện công tácđấu thầu trong việc nắm vững và tuân thủ các quy định của Nhà nước và nhà tài trợ vềđấu thầu
1.1.6.2 Tính hiệu quả
- Tiết kiệm vốn đầu tư:
Như đã nêu trên, hiệu quả công tác đấu thầu cũng được thể hiện ở mức tiếtkiệm chi phí đầu tư Mức tiết kiệm trong đấu thầu được thể hiện thông qu a 2 tiêuchí sau:
Mức tiết kiệm = Giá gói thầu – Giá trúng thầu
Tỷ lệ tiết kiệm: (Mức tiết kiệm / Tổng giá trị gói thầu kế hoạch) x 100%
- Chất lượng và tiến độ:
+ Công tác đấu thầu phải đảm bảo thực hiện đúng theo tiến độ kế hoạch đãthống nhất giữa nhà tài trợ và đơn vị quản lý vốn ODA phía chính phủ Việt Nam đề ra,đúng theo các quyết định phê duyệt kế hoạch đấu thầu của cấp có thẩm quyền (Ở trungương là chính phủ, địa phương là UBND các tỉnh, huyện)
+ Công tác đấu thầu cũng cần đảm bảo: (1) Chất lượng: lựa chọn được nhàthầu có chất lượng phù hợp yêu cầu về chất lượng gói thầu; (2) Công khai, minh bạch vàcạnh tranh: Thông tin về mời thầu, kết quả đánh giá cần công khai đăng tải rộng rãi trêncác kênh truyền thông theo quy định của cả nhà tài trợ và chính phủ Việt Nam, nhưngcũng phải đảm bảo các thông tin không cần
Trang 28thiết về quá trình đánh giá, đánh giá HSDT, giá thầu… không có cá nhân, tổ
chức nào biết trong quá trình đánh giá HSDT
1.1.6.3 Công khai, minh bạch trong quá trình thực hiện
Một mục tiêu được coi là cơ bản trong quy định về đấu thầu là làm sao chốngđược sự thất thoát vốn của Nhà nước thông qua các hoạt động lựa chọn Nhà thầu.Đây là một thách thức cho bất kỳ một tổ chức, một quốc gia nào
Trong quá trình thực hiện đấu thầu, Ban QLCDA cần công khai dự án, đảmbảo tính đúng đắn, minh bạch cho dự án, tránh các biểu hiện tiêu cực, bảo vệ quyềnlợi các bên tham gia, không liên kết với nhà thầu để thông thầu,vv Kết quả đấu thầucần được thông báo rộng rãi tới các Nhà thầu, kể cả nhà thầu trúng thầu và khôngtrúng thầu và có lý do giải thích đầy đủ, rõ ràng, đồng thời, được đăng trên cáctrang thông tin đấu thầu chính thức do Chính phủ và Nhà tài trợ quy định
1.1.6.4 Môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng giữa các nhà thầu
Vấn đề cạnh tranh là nội dung cơ bản nhất để đảm bảo công tác đấu thầu thực
sự có hiệu quả Một gói thầu mà nhiều Nhà thầu tham dự thì sẽ có sự cạnh tranh gaygắt Các nhà thầu tham dự đều mong muốn trúng thầu, vì thế họ phải phát huy tối đanăng lực Từ đó, Chủ đầu tư có thể chọn ra được một nhà thầu có khả năng nhất,đảm bảo công trình, thiết bị, dịch vụ tư vấn thực hiện có hiệu quả
Ban QLCDA cần có các biện pháp để kích thích sự cạnh tranh lành mạnh giữacác Nhà thầu tham gia Tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh chính là tiền đề choquá trình thực hiện dự án có hiệu quả về mọi mặt
1.1.7 Quản lý nhà nước về đấu thầu
1.1.7.1 Nội dung quản lý nhà nước về hoạt động đấu thầu
- Ban hành, phổ biến, tuyên truyền, hướng dẫn và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật và chính sách về đấu thầu
- Cấp chứng chỉ hành nghề hoạt động đấu thầu
Trang 29- Quản lý công tác đào tạo, bồi dưỡng về đấu thầu.
- Tổng kết, đánh giá, báo cáo tình hình thực hiện hoạt động đấu thầu
- Quản lý hệ thống thông tin và các cơ sở dữ liệu về đấu thầu trên phạm vi cả nước
Theo dõi, giám sát, kiểm tra, thanh tra, giải quyết kiến nghị, khiếu nại, tố cáotrong đấu thầu và xử lý vi phạm pháp luật về đấu thầu theo quy định của Luật này
và quy định khác của pháp luật có liên quan
- Hợp tác quốc tế về đấu thầu
1.1.7.2 Bộ máy Quản lý
- Chủ thể quản lý đấu thầu: Tổ chức, cá nhân trưc tiếp hoặc gián tiếp thực hiệncông tác quản lý nhà nước về đấu thầu
- Đối tượng: Công tác đấu thầu trong các dự án đầu tư: Bao gồm các gói thầu xây lắp công trình, các gói thầu dịch vụ tư vấn và phi tư vấn
- Bộ máy quản lý:
Bộ máy quản lý đấu thầu trực tiếp là bộ phận đấu thầu trong các Ban Quản lý
dự án - Đội công tác được thành lập và giao phó trách nhiệm điều hành và quản lýcác hoạt động của dự án Có những mô hình Ban Quản lý khác nhau: Mô hình BanQuản lý dự án không chuyên trách (Chủ đầu tư thành lập ra ban quản lý dự án gồncác thành viên làm việc kiêm nhiệm, chịu trách nhiệm tổ chức và thực hiện mộtphần hoặc toàn bộ các công việc của dự án) và mô hình Ban Quản lý dự án chuyêntrách (Chủ đầu tư thành lập ra ban quản lý dự án chuyên trách, chịu trách nhiệm tổchức thực hiện toàn bộ các công việc của dự án) Ban Quản lý dự án chuyên trách
sẽ gồm Trưởng Ban, (các) Phó Trưởng Ban và các bộ phận chức năng, trong đó, bộphận quản lý đấu thầu sẽ chuyên trách thực hiện công tác quản lý đấu thầu trongtoàn bộ quá trình, từ khi bắt đầu lập Hồ sơ mời thầu/ Hồ sơ mời nộp đề xuất đến khitrao thầu và phối hợp với các phòng chức năng trong công tác quản lý Hợp đồng
Trang 301.1.8 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý đấu thầu
1.1.8.1 Nhân tố khách quan
a Môi trường pháp lý về quản lý đấu thầu
Đây là nhân tố quan trọng hàng đầu đảm bảo cho hoạt động đấu thầu đi vào nềnếp Những quy định pháp luật về đầu tư xây dựng và đấu thầu được thiết lập tạohành lang pháp lý để giải quyết các tranh chấp thường xảy ra trong quá trình đấuthầu Thể chế luật pháp, chính sách, quy định của Nhà nước là cơ sở pháp lý, là kimchỉ nam cho việc thực hiện các hoạt động đấu thầu
Chủ đầu tư càng hiểu rõ về các thể chế chính sách, quy định của Nhà nước thìtiến trình chuẩn bị, tổ chức thực hiện hoạt động này càng mang tính khoa học vàluôn đảm bảo chất lượng cao Cùng với những văn bản pháp lý về đầu tư như: Nghịđịnh số 42/NĐ-CP, số 92/NĐ-CP và số 52/NĐ-CP quản lý đầu tư và xây dựng kèmtheo các thông tư hướng dẫn lập và thẩm định dự án đầu tư, những văn bản phápluật về đấu thầu thường được ban hành dưới các hình thức sau:
- Luật đấu thầu: Đây là hình thức cao nhất trong các văn bản pháp luật về đấuthầu được sử dụng ở những nước có hệ thống pháp lý đấu thầu đầy đủ Ở nước ta, chỉ cóQuốc hội mới có đủ thẩm quyền ban hành Luật đấu thầu Trải qua một quá trình thửnghiệm và hoàn thiện hơn 15 năm qua, đến nay Việt Nam đã có văn bản Luật đấu thầuđầu tiên: Luật Đấu thầu 61/2005/QH11 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005 có hiệulực từ ngày 1 tháng 4 năm 2006 Luật Đấu thầu số 43/2014/QH13 thông qua ngày 26tháng 11 năm 2013 có hiệu lực từ ngày 1/7/2014
- Pháp lệnh đấu thầu: Pháp lệnh đấu thầu là loại hình văn bản pháp luật có tínhkhái quát và pháp lý thấp hơn Luật đấu thầu, nhưng cao hơn Nghị định đấu thầu Pháplệnh đấu thầu do Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ban hành
- Nghị định đi kèm hướng dẫn thực hiện Quy chế đấu thầu: Đây là loại vănbản mà nội dung quy định có tính chất cụ thể, chi tiết hơn hai loại văn bản trên và dễđược điều chỉnh, bổ sung hoặc thay đổi khi cần thiết Nghị định do
Trang 31Thủ tướng Chính phủ ban hành Sau nhiều lần sửa đổi, chỉnh lý bổ sung, ngày12/6/2003 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 66/CP về việc sửa đổi, bổ sung một
số điều của Quy chế đấu thầu ban hành kèm theo Nghị định 88/1999/NĐ-CP ngày01/9/1999, Nghị định 14/2000/NĐ-CP của Chính phủ và Nghị định 63/2014/NĐ-CPngày 26/6/2014, gồm 15 Chương với 130 điều quy định chi tiết thi hành một số điềucủa Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà thầu thực hiện các gói thầu thuộc phạm vi điềuchỉnh quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều 1 của Luật Đấu thầu Đó là các vănkiện pháp lý được ban hành dưới hình thức này ở nước ta thời gian qua Có thể nóiđây là một bộ luật quan trọng giúp cho các bên tham gia đấu thầu có cơ hội, có điềukiện để thực hiện tốt nhất quyền và nghĩa vụ của mình; là cơ sở để các cơ quan phápluật xử lý khi có các trường hợp sai phạm xảy ra
Hệ thống văn bản pháp luật ra đời để quy định và ràng buộc các hành vi liênquan đến nhà thầu Tuy nhiên, do Nhà nước nhiều lần thay đổi các quy chế đấu thầunên quá trình quản lý đầu tư và tổ chức đấu thầu những năm qua vẫn còn một sốnhân tố ảnh hưởng đến hoạt động quản lý và tổ chức đấu thầu
b Chất lượng các nhà thầu
Nhân tố không kém phần quan trọng góp phần đóng góp vào sự thành côngcủa hoạt động đấu thầu chính là các nhà thầu Tất cả các côn g ty, doanh nghiệp, cáctập đoàn, công ty tư vấn xây dựng tham gia vào tổ chức thực hiện các gói thầu cóảnh hưởng rất lớn đến chất lượng đấu thầu Việc hiểu biết luật pháp, việc lãnh đạotham gia một cách nghiêm túc các cuộc thầu, chất lượng chuẩn bị và chất lượng hồ
sơ tham dự thầu của họ là nhân tố quyết định đến chất lượng đấu thầu
Việc tham dự với nhiều HSDT do nhiều đơn vị khác nhau trong một tổ chứcthống nhất, việc chủ trương hoặc làm ngơ trước các hoạt động móc ngoặc vớinhững người có trách nhiệm thuộc bên mời thầu để thắng thầu như mua chuộc cácthành viên trong Tổ chuyên gia đấu thầu, thống nhất tỷ lệ ăn chia giữa nhà thầu vớicác đại diện bên mời thầu Việc chủ động dàn xếp phân chia
Trang 32phần thắng các gói thầu trong một nhóm các nhà thầu với nhau như hiện tượng dàndựng quân xanh, quân đỏ là những hiện tượng làm suy giảm chất lượng hoạt độngđấu thầu.
Việc bố trí lựa chọn các chuyên gia có đủ trình độ, việc tăng cường bảo mậtthông tin về chuẩn bị HSDT, việc chú trọng đúng mức đến vấn đề nghiên cứu khảosát kỹ lưỡng trước khi xây dựng phương án xây dựng, việc đầu tư công sức chokhâu chuẩn bị HSDT là những biện pháp tăng cường khả năng thắng thầu của cácnhà thầu
1.1.8.2 Nhân tố chủ quan
a Nguồn lực con người của Ban quản lý dự án:
Trước hết đó là số lượng về cán bộ trong ban quản lý Một ban quản lý cầnphải có đủ các phòng ban chức năng, cán bộ cần thiết cũng như là số lượng nhân sựphục vụ quá trình đánh giá từng gói thầu nói riêng và thực hiện các phần công việckhác của ban quản lý dự án
Thông thường của các Ban quản lý dự án có cơ cấu tổ chức bao gồm:
- Giám đốc Ban quản lý dự án: Phụ trách chung, chịu trách nhiệm trước cáccấp có thẩm quyền, về toàn bộ các hoạt động của Ban quản lý dự án theo nhiệm vụ,quyền hạn được giao
- Phó Giám đốc Ban quản lý dự án: Mỗi ban quản lý thường có từ 2 đến 3 Phógiám đốc giúp việc cho Giám đốc
- Ban QLCDA được tổ chức các phòng nghiệp vụ gồm: Phòng Kế hoạch –Đấu thầu, Phòng Kỹ thuật – Nghiệp vụ, Phòng Tài chính – Giải ngân, Phòng Hành chính– Phiên dịch
Yếu tố tiếp theo là về trình độ của đội ngũ cán bộ trong ban quản lý: Nhân sựcủa ban quản lý để có thể đánh giá hồ sơ thầu chính xác, khách quan, đúng các quyđịnh của nhà tài trợ cũng như luật pháp của nhà nước Việt Nam cần đảm bảo rấtnhiều yếu tố:
Trang 33- Có chuyên ngành phù hợp: Các nhân sự của Ban quản lý để có thể tham giađánh giá HSDT của các nhà thầu cần có chuyên ngành xây dựng cơ bản liên
quan
- Ngoại ngữ: Các gói thầu sử dụng vốn ODA có rất nhiều gói có tính chấtphức tạp đòi hỏi sự tham gia của các tổ chức nước ngoài, hay việc báo cáo lại phía nhàtài trợ về nội dung đánh giá thầu sẽ yêu cầu người cán bộ thực hiện của Ban quản lý dự
án có khả năng ngoại ngữ tốt (thường là tiếng anh)
- Đã thực hiện những gói thầu tương tự nhưng với tư cách là nhà thầu thamgia dự thầu tại các ban quản lý dự án khác: Yếu tố này ở nước ta lại đặc biệt cần thiết vì
có rất nhiều đơn vị tham gia thầu năng lực kém nhưng trên hồ sơ lại viết rất tốt Việc đãthực hiện nhiều gói thầu tương tự với tư cá ch tham
gia đấu thầu là nhà thầu sẽ giúp người cán bộ của ban quản lý đưa ra những quyếtđịnh chính xác, khách quan hơn
Một nhân tố quan trọng nữa là năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý tài chính.Nếu như đội ngũ này có trình độ chuyên môn cao, xử lý kịp thời các vấn đề liênquan thì có thể góp phần tiết kiệm thời gian cũng như nâng cao được chất lượngcông tác đánh giá HSDT thông qua việc phối hợp đánh giá năng lực tài chính cácnhà thầu tham dự
Nếu nguồn nhân lực của Ban quản lý dự án có ưu thế về kinh nghiệm và sựnăng động của đội ngũ cán bộ trẻ được đào tạo thì sẽ là một ban quản lý dự án cósức cạnh tranh cao đối với các ban quản lý dự án khác, được trung ương cũng nhưđịa phương tin tưởng giao những dự án quan trọng, quy mô lớn
Tuy nhiên một ban quản lý dự án muốn phát triển mạnh hơn nữa thì cán bộlãnh đạo chủ chốt cần phải đoàn kết nhiệt tình và phải đưa ra được các chính sách,nội quy cụ thể khuyến khích học tập, làm việc để những thành viên trong ban quảnlý đạt được kết quả cao hơn nhằm tạo thành một ê kíp năng động, hiệu quả và tựchủ trong mọi tình huống
b Khả năng tổ chức quản lý hiệu quả, linh hoạt của ban quản lý dự án:
Trang 34Một cơ cấu tổ chức quản lý hợp lý sẽ giúp ban quản lý dự án nâng cao đượchiệu quả của mọi hoạt động Nhờ đó tạo ra sự linh hoạt khi xử lý các thay đổi củacác nhân tố bên ngoài cũng như bên trong của ban quản lý làm giảm những thiệt hạikhông đáng có.
Tính hiệu quả: Cơ cấu tổ chức phải đảm bảo thực hiện những mục tiêu củaBan quản lý với chi phí thấp nhất; cơ cấu tổ chức có đầy đủ các bộ phận và conngười (không thừa mà cũng không thiếu) để thực hiện các hoạt động cần thiết Giữacác bộ phận và cấp tổ chức đều thiết lập được những mối quan hệ hợp lý với số cấpnhỏ nhất Hiệu quả và hiệu lực luôn là mục đích và mục tiêu tiến tới của bất kỳ tổchức nào Mỗi tổ chức luôn đặt ra cho mình những mục tiêu nhất định để đạt tới Vìthế tổ chức bộ máy của ban quản lý phải:
- Tăng cường sự lãnh đạo tập trung thống nhất ở cấp cao nhất, phát huy đượctính tích cực của các cơ quan quản lý ở các cấp, khiến cho họ tận tâm tận lực với côngviệc và phối hợp chặt chẽ với nhau trong công việc Dựa trên nguyên tắc nâng cao hiệuquả quản lý để xác định biên chế tổ chức và chế độ quản lý Đảm bảo phối hợp giữa cáccấp một cách tốt nhất ,phải lựa chọn phương thức truyền tin, trao đổi nghiệp vụ trongdoanh nghiệp một cách nhanh nhất và phân công hợp lý để mỗi bộ phận ,mỗi công việcđều có người phụ trách
- Gắn các cấp quản lý thành một dây xích, trách nhiệm, quyền hạn giữa các bộphận, các cấp rõ ràng, gắn bó với nhau Mỗi cấp chỉ có một người ra lệnh, tránh mâuthuẫn và làm tổn hao công sức và phải tăng cường sự hợp tác trong ban quản lý Việc gắntrách nhiệm, quyền hạn của từng bộ phận, cá nhân với công việc, gói thầu cụ thể trong dự
án giúp ban quản lý đánh giá đúng năng lực của các bộ phận, cá nhân đó để đưa ra cácquyết định điều chỉnh phù hợp, ngoài ra gắn trách nhiệm cụ thể cùng với chế tài khenthưởng kỷ luật rõ ràng cũng hạn chế các tiêu cực nảy sinh trong quá trình đánh giáHSDT, làm việc giữa các cá nhân trong ban quản lý với nhà thầu
Trang 35- Gọn nhẹ phải có số lượng rõ ràng, tổ chức công việc và biện pháp kiểm tra liên tục.
- Tính linh hoạt: Đặc điểm nổi bật trong tổ chức, quản lý của các Ban quản lý
là sự thay đổi nhanh chóng qua từng hạng mục, gói thầu trúng thầu Vì thế sự hợp lý vàlinh hoạt trong tổ chức của các Ban quản lý là một yêu cầu rất quan trọng, đánh giá vềtrình độ tổ chức của cán bộ cấp trên đối với các bộ phận cấp dưới
Theo nguyên tắc này thì tổ chức bộ máy quản lý không được bảo thủ, trì trệ,quan liêu mà luôn phải linh hoạt ,thích ứng với những thay đổi hay biến động củacác yếu tố tác động Tuy nhiên cần phải hiểu đúng sự thay đổi ở đây không phải làthay đổi toàn bộ mà đó chỉ là những biến đổi nhỏ trong cơ cấu để thích nghi với môitrường mới ,để không bị môi trường đào thải Sự linh hoạt được thể hiện trong việcthiết kế các bộ phận phù hợp với ít đầu mối trung gian ,số lượng cấp quản lý phùhợp và đảm bảo cho mỗi bộ phận một mức độ tự do sáng tạo để đạt được hiệu quảcao nhất và phát triển được tài năng của cán bộ ,công nhân viên chức trong từng bộphận
Nói như vậy không có nghĩa là cơ cấu tổ chức chịu sự chi phối của môi trường
mà trong một chừng mực của sự thay đổi nó tác động vào môi trường theo nhữnghướng nhất định phù hợp với mục đích của mình
Như thế sự hợp lý và linh hoạt đem lại lợi thế trong quá trình đánh giá HSDT.Tuy nhiên, tổ chức quản lý trong Ban quản lý còn phải tạo ra được bầu không khítâm lý xã hội và trong nội bộ thật yên ổn tránh gây chấn động cho mọi người Bêncạnh đó, phải tăng cường các mối quan hệ phi chính thức trong Ban quản lý và sựthống nhất giữa lãnh đạo, các cán bộ nhân viên thuộc các phòng ban chức năng vàcán bộ kỹ thuật trong ban quản lý Cần phải có các hệ thống thông tin lành mạnhtrong Ban quản lý tạo sự hiểu biết và rút ra được các kinh nghiệm trong cuộc sống
và trong công việc cho tất cả các thành viên
c Khả năng lập dự toán chính xác giá gói thầu
Trang 36Tùy từng dự án từng gói thầu cụ thể, theo quy định của nhà nước, các cấp cóthẩm quyền sẽ phân trách nhiệm, quyền hạn phê duyệt dự toán các dự án, gói thầucho các chủ đầu tư hay cấp cao hơn Nhưng nếu được giao trách nhiệm này thì banquản lý cần làm rất tốt phần công việc này vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến tiêu chíđánh giá hiệu quả của dự án, mức tiết kiệm của dự án, gói thầu.
Điểm a Khoản 2 Điều 35 của Luật Đấu thầu 2013 quy định giá gói thầu ghitrong kế hoạch lựa chọn nhà thầu được xác định trên cơ sở tổng mức đầu tư hoặc dựtoán (nếu có) đối với dự án Giá gói thầu được tính đúng, tính đủ toàn bộ chi phí đểthực hiện gói thầu, kể cả chi phí dự phòng, phí, lệ phí và thuế Giá gói thầu đượccập nhật trong thời hạn 28 ngày trước ngày mở thầu nếu cần thiết
Giá gói thầu ghi trong KHLCNT là khoản kinh phí mà người có thẩm quyềnphê duyệt để chủ đầu tư thực hiện hoàn thành gói thầu trong điều kiện bình thường.Trường hợp trong quá trình lựa chọn nhà thầu và thực hiện gói thầu nếu xảy ra bấtkhả kháng hoặc phát sinh các yếu tố khách quan làm tăng chi phí thực hiện hoànthành gói thầu thì chủ đầu tư phải báo cáo người có thẩm quyền để xem xét, quyếtđịnh
Như vậy một trong những điều kiện để xét duyệt trúng thầu là có giá đề nghịtrúng thầu không vượt giá gói thầu được phê duyệt, và cũng dựa trên yếu tố này mà
dự toán thường bị đẩy lên quá cao so với thực tế giá các thiết bị, vật tư, giá nhâncông đầu vào của các công trình xây lắp; các cá nhân người ra quyết định thường có
xu hướng không làm sai quy định của nhà nước tức chọn một mức giá an toàn caohơn thực tế nhiều để khi phê duyệt giá trị trúng thầu luôn thấp hơn giá trị dự toánhay giá ở kế hoạch đấu thầu
Để có được một giá dự toán gói thầu chính xác ban quản lý dự án cần:
- Tự lập hoặc thuê một đơn vị tư vấn có đủ năng lực lập dự toán, phù hợp vớinội dung, tính chất, mức độ phức tạp của gói thầu Năng lực của cá nhân hay đơn vị lập
dự toán là yếu tố quyết định đến mức độ chính xác của giá dự
Trang 37toán, thông thường Ban quản lý thường tuyển chọn các đơn vị tư vấn lớn có uy tín,
cơ sở dữ liệu lớn, làm việc chuyên nghiệp, trừ trường hợp gói thầu là đơn giảnkhông đòi hỏi nhiều yếu tố kỹ thuật
- Không để các thông tin về dự toán, quy mô gói thầu, dự án, đơn vị tư vấnthực hiện trong quá trình lập dự toán lọt ra bên ngoài trong quá trình lập và phê duyệt dựtoán, các thông tin khi được các nhà thầu, đơn vị xây lắp nắm được sẽ có thể gây ranhững tiêu cực như việc tác động lại đơn vị lập dự toán nâng giá trị gói thầu lên làm lợicho 1 số cá nhân
- Người có thẩm quyền ra quyết định duyệt dự toán của chủ đầu tư cần cóchuyên môn về dự toán công trình, bản lĩnh trước những tiêu cực có thể đưa ra bởi cácnhà thầu các đơn vị liên quan
d Uy tín, kinh nghiệm của chủ đầu tư, ban quản lý dự án trong công tác quảnlý đấu thầu:
Uy tín của chủ đầu tư, ban quản lý dự án thể hiện qua các mối quan hệ với cáccấp có thẩm quyền, các đơn vị ban ngành có liên quan, sự tin tưởng của các bộngành ở trung ương khi giao cho quản lý các dự án quy mô lớn Với thủ tục hànhchính rườm rà như hiện nay thì yếu tố này là rất quan trọng, ảnh hưởng rất lớn đếntiến độ thực hiện của dự án, của gói thầu xây lắp
Trong đề tài này, khái niệm chủ đầu tư chính là đơn vị được giao nhiệm vụthay mặt cơ quan có thẩm quyền làm chủ đầu tư các dự án từ khi hình thành chođến khi kết thúc xây dựng đưa vào vận hành khai thác
Theo Luật đấu thầu “Chủ đầu tư là người sở hữu vốn hoặc được giao tráchnhiệm thay mặt chủ sở hữu, người vay vốn trực tiếp quản lý và thực hiện dự án.Như vậy, chủ đầu tư là người tổ chức và chịu trách nhiệm toàn diện về tất cả cácmặt có liên quan đến dự án, tổ chức hoạt động đấu thầu thực hiện các phần dự ánhoặc toàn bộ dự án Chủ đầu tư tổ chức đấu thầu hoặc thuê các tổ chức tư vấn thựchiện công việc đấu thầu Tổ chức tư vấn được thuê chịu trách nhiệm giúp chủ đầu tưthực hiện các công việc: chuẩn bị các tài liệu pháp lý, xây dựng kế hoạch đấu thầucác gói thầu, xây dựng tiêu chuẩn đánh giá HSDT, soạn thảo
Trang 38HSMT, tiếp nhận và quản lý HSDT, giúp đỡ chủ đầu tư xem xét, đánh giá, xếp hạngcác HSDT, lập báo cáo đánh giá HSDT trình người có thẩm quyền phê duyệt
Các ảnh hưởng từ phía chủ đầu tư đến quá trình đấu thầu có thể tóm gọn nhưsau:
- Giai đoạn lập dự án và tổ chức đấu thầu: Chủ đầu tư là đơn vị mời thầu, nếukhông có chủ đầu tư thì không có đấu thầu Chủ đầu tư làm việc với trác h
nhiệm cao và đảm bảo sự công tâm sẽ tiết kiệm được tiền của cho Nhà nước thôngqua việc lựa chọn được quy mô đầu tư và phương án thiết kế kỹ thuật hợp lý quaviệc tổ chức đấu thầu công khai, minh bạch
- Trong giai đoạn xây dựng, chủ đầu tư đã thay mặt Nhà nước quản lý dự ánmột cách tốt nhất do vị trí độc lập quyền lợi với nhà thầu, với các tổ chức tư vấn lập dự
án, thiết kế kỹ thuật, danh mục thiết bị mua sắm Thông qua tổ chức tư vấn giám sát, chủđầu tư đã quản lý và hạn chế mọi tiêu cực phát sinh từ phía nhà thầu như chậm tiến độ,chất lượng công trình kém, gian lận trong khối lượng thi công và thanh toán Chủ đầu tư
có nhiều sáng kiến và giải pháp xử lý hiện trường, vai trò của chủ đầu tư hết sức quantrọng, họ đã góp phần rất lớn vào sự thành công của dự án, đặc biệt là những dự án có kỹthuật phức tạp đòi hỏi trình độ và kinh nghiệm cao của các Ban quản lý dự án
- Giai đoạn kết thúc dự án, chủ đầu tư là đơn vị chịu trách nhiệm quyết toáncông trình, trực tiếp làm việc với các tổ chức thanh tra, kiểm toán và phê duyệt quyếttoán để khẳng định toàn bộ sự đúng đắn cũng như giá trị cuối cùng được quyết toán vớinhà nước Số liệu đầu tư dự án chính là đầu ra sản phẩm xây dựng của các nhà thầu, làgiá thành của sản phẩm xây dựng
Để chủ đầu tư phát huy hết vai trò trách nhiệm của mình, góp phần làm giàucho xã hội, chúng ta cần xây dựng các chủ đầu tư đạt được đầy đủ các tiêu chí:Chuyên nghiệp hoá, bộ máy lãnh đạo phải là những người đủ đức đủ tài; hoạt độngtrong cơ chế giám sát chặt chẽ của nhà nước
Trang 39Như vậy với tư cách là bên mời thầu và quản lý hợp đồng, chủ đầu tư đóng vaitrò quan trọng trong sự thành công của các cuộc đấu thầu nói riêng và trong quản lýcác dự án nói chung.
e Các nhân tố khác:
Các ban quản lý dự án cần có đầy đủ các yếu tố của các tổ chức nhà nước khác
để có thể thực hiện tốt công tác quản lý dự án cũng như đấu thầu như Tài sản cốđịnh; cơ sở vật chất, máy móc thiết bị; năng lực tài chính… Vẫn có những đơn vị,
cơ quan máy móc thiết bị, cơ sở vật chất xuống cấp trầm trọng nhưng do cơ chế nhànước không quan tâm đúng mức
Tóm lại, tất cả các nhân tố trên đều ảnh hưởng tới khả năng đấu thầu của cácban quản lý dự án Tuy nhiên mỗi nhân tố có sự ảnh hưởng ở từng mức độ vàphương diện khác nhau, nhưng nhân tố nào cũng có tính hai mặt: tích cực và tiêucực Do đó, khi thực hiện công tác đấu thầu các Ban quản lý cần phải phát huy cácthế mạnh của từng nhân tố, tạo mối quan hệ mật thiết với nhau, hỗ trợ nhau, nhân tốnày làm cơ sở cho nhân tố kia phát triển để đạt được mục đích của Ban quản lý đề
ra, đó là khả năng tiết kiệm được chi phí, nâng cao chất lượng lựa chọn nhà thầu,tiết kiệm thời gian thực hiện cho từng gói thầu
1.2 Lý luận chung về công tác quản lý đấu thầu các dự án vốn ODA
1.2.1 Khái niệm về quản lý đấu thầu
Quản lý ra đời gắn liền với cuộc sống và hoạt động chung của con người trong
xã hội Theo cách hiểu về học thuật thì quản lý là khái niệm rộng về phạm vi vàphức tạp về nội hàm Ví dụ theo Stoner “Quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức,lãnh đạo và kiểm tra công việc của các thành viên trong tổ chức sử dụng các nguồnlực để đạt được các mục tiêu của tổ chức”, hay các trường phái quản lý học cũng cónhững nhìn nhận các giác độ khác nhau về quản lý, theo H Fayol “Quản lý là mộthoạt động mà mọi tổ chức trong đó gia đình doanh nghiệp chính phủ đều có, gồmyếu tố cấu thành là kế hoạch tổ chức chỉ đạo điều chỉnh và kiểm soát Quản lý chính
là thực hiện kế hoạch tổ chức chỉ đạo điều chỉnh và kiểm soát (Viện lãnh đạo vàquản lý, 2015) Và thêm một khái niệm khác mang tính thực tiễn hơn “Quản lý là sựtác động có tổ chức có
Trang 40mục đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý và khách thể quản lý nhằm sửdụng có hiệu quả các nguồn lực các thời cơ của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ratrong điều kiện môi trường luôn biến động” (Phan Huy Đường,
2015) Như vậy có thể thấy rằng quản lý là một tiến trình bao gồm các bước: lập kếhoạch; tổ chức; phân công điều khiển; phối hợp và kiểm tra giám sát nhằm đạt đượcmục tiêu đề ra
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, quản lý đầu thầu được hiểu là một tiếntrình bao gồm các bước: (i) lập, trình thẩm định và phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhàthầu; (ii) tổ chức lựa chọn nhà thầu; (iii) kiểm tra, giám sát và đánh giá công tác lựachọn nhà thầu
1.2.2 Ý nghĩa, vai trò của công tác quản lý đấu thầu các dự án sử dụng vốn ODA
Vai trò của công tác quản lý đấu thầu các dự án sử dụng vốn ODA là đảm bảobốn nội dung sau: hiệu quả - cạnh tranh – công bằng - minh bạch Thông qua đấuthầu các hoạt động kinh tế đều được kích thích phát triển Đấu thầu không nhữngđem lại lợi ích cho các bên tham gia mà có còn tác động thúc đẩy sự phát triển kinh
tế Hiệu quả có thể về mặt tài chính, thời gian hay một tiêu chí nào khác tùy thuộcvào mục tiêu của từng dự án cụ thể Để đảm bảo sự hiệu quả cho dự án cần tạo điềukiện cho nhà thầu cạnh tranh công khai ở phạm vi rộng nhất có thể nhằm tạo ra sựcông bằng, đảm bảo lợi ích cho các bên liên quan
Với các dự án có tổng đầu tư lớn và giá trị về mặt kinh tế hoặc xã hội thì côngtác quản lý đấu thầu là một khâu quan trọng không thể thiếu, quản lý đấu thầu phảituân thủ theo quy định của nhà nước nhà tài trợ hoặc tổ chức tài chính cho vay vốn.Quản lý đấu thầu các dự án sử dụng vốn ODA mang lại lợi ích to lớn đối với khôngchỉ chủ đầu tư, nhà thầu mà còn cả xã hội nói chung
1.2.3 Nội dung công tác quản lý đấu thầu tại các dự án sử dụng vốn ODAĐối với các dự án sử dụng vốn ODA ngoài việc tuân thủ các quy định về đấuthầu của pháp luật Việt Nam còn phải tuân thủ các quy định của nhà tài trợ Các dự
án sử dụng nguồn vốn này cần phải có hiệu quả tối đa trong việc quản lý dự án,quản lý đấu thầu quản lý tài chính Để đạt được các mục tiêu mà yêu cầu của dự ánđặt ra đòi hỏi người quản lý phải nhạy bén am hiểu các quy định