1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm sinh học, sinh thái và biện pháp phòng chống rệp sáp giả paracoccus marginatus william and granara de willink (homoptera pseudococidae) hại cây đu đủ tại hà nội tt

14 128 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 559,85 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM ĐOÀN THỊ LƯƠNG ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG RỆP SÁP GIẢ Paracoccus marginatu

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

ĐOÀN THỊ LƯƠNG

ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI

VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG RỆP SÁP GIẢ

Paracoccus marginatus williams and granara de willink

(Homoptera: pseudococcidae) HẠI CÂY ĐU ĐỦ TẠI HÀ NỘI

Chuyên ngành : Bảo vệ thực vật

Mã số : 9.62.01.12

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NÔNG NGHIỆP

HÀ NỘI - 2019

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại:

Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam

Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Nguyễn Hồng Sơn

Phản biện 1:

Phản biện 2:

Phản biện 3:

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm Luận án cấp

Viện họp tại Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam

Vào hồi …… giờ …… phút ngày …… tháng … năm 201

Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:

1 Thư viện Quốc gia Việt Nam

2 Thư viện Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam

3 Thư viện Viện Bảo vệ thực vật

DANH MỤC CÔNG TRÌNH

ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

1 Đoàn Thị Lương, Phạm Văn Lầm, Lê Thị Tuyết Nhung, Trương

Thị Hương Lan (2018), “Giám định loài rệp sáp giả thuộc

họ Pseudococcidae (Homoptera) gây hại trên cây đu đủ ở

vùng Hà Nội”, Tạp chí Bảo vệ thực vật, (6), tr.10 - 14

2 Đoàn Thị Lương, Lê Thị Tuyết Nhung, Nguyễn Hồng Sơn, Phạm

Văn Lầm (2018), “Đặc điểm sinh vật học và sinh thái học

của rệp sáp giả đu đủ Paracoccus marginatus Williams and

Granara de Willink (Homoptera: Pseudococcidae) ở trong

phòng thí nghiệm”, Tạp chí Bảo vệ thực vật, Số (6), tr.3- 10

3 Đoàn Thị Lương, Khuất Thị Phương, Hồ Thị Thu Giang, Nguyễn

Hồng Sơn, Nguyễn Văn Liêm (2019), “Diễn biến mật độ và

yếu tố ảnh hưởng đến số lượng của rệp sáp giả Paracoccus

marginatus Williams and Granara de Willink (Homoptera:

Pseudococcidae) trên cây đu đủ ở Hà Nội và phụ cận”, Tạp

chí Nông nghiệp & PTNT, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, Số

(354 + 355), tr.310 - 319

Trang 3

con/quả);rệp sáp giả P marginatus trong vườn đu đủ trồng độc canh

xuất hiện sớm hơn với mật độ (256,5 con/lá và 4,7 con/quả) luôn cao

hơn so với ở vườn đu đủ trồng luân canh với cây khoai tây (72,1

con/lá và 2,2 con/quả)

1.5 Các biện pháp luân canh, xen canh, tưới nước bằng áp lực

cao trên lá cho đều có hiệu quả hạn chế rệp sáp giả P marginatus Sử

dụng thuốc hoá học Spirotetramat và Pymetrozine (đã được đăng ký

trừ rệp sáp trên cây ăn quả) có hiệu lực cao trên đồng ruộng (tương

ứng đạt 86,42% và 83,8%) Dùng các thuốc sinh học như Rotenone,

Abamectin và dầu khoáng (đã được đăng ký để trừ rệp sáp trên các

cây ăn quả) cho hiệu lực ở ngoài đồng đạt xấp xỉ 72% để luân phiên

với hai thuốc hóa học nêu trên mang lại hiệu quả cao, có thể thay thế

các thuốc hoá học thuộc nhóm độc 2 không được phép sử dụng trên cây

ăn quả mà nông dân đang sử dụng phổ biến trên cây đu đủ hiện nay Sử

dụng các thuốc hoá học và sinh học đạt hiệu quả tối ưu khi phun trừ

rệp sáp non tuổi 1 và tuổi 2 với lượng nước tối thiểu 1000lít/ha và

phun bằng bơm nén áp

II Đề nghị

Rệp sáp giả P marginatus gây hại trên cây đu đủ là đối tượng

khó phòng trừ, do đó cần áp dụng đầy đủ các biện pháp canh tác tổng

hợp theo khuyến cáo tại kết luận 4 và kỹ thuật sử dụng thuốc BVTV

tại kết luận 5 của luận án này Đặc biệt đối với các vùng trồng đu đu

tập trung nên áp dụng biện pháp luân canh hợp lý với các cây trồng

không phải là ký chủ ưa thích của rệp sáp giả P marginatus như ngô,

rau, đậu để giảm sự tích luỹ mật độ rệp sáp giả trên đồng ruộng

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Cây đu đủ thường bị nhiều loài côn trùng và nhện nhỏ tấn công gây hại, trong đó có rệp sáp là nhóm côn trùng hại rất khó phòng chống Mặc dù vậy, cho đến nay chưa có một nghiên cứu chuyên sâu nào về sâu hại cây đủ đủ nói chung và rệp sáp hại đu đủ nói riêng được thực hiện ở Việt Nam Những hiểu biết đầy đủ về thành phần loài, đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của các loài rệp sáp chính hại trên cây đu đủ sẽ là cơ sở khoa học để đề xuất biện pháp phòng chống chúng một cách hiệu quả, theo hướng thân thiện với môi

trường Tiến hành đề tài “Đặc điểm sinh học, sinh thái và biện pháp phòng chống rệp sáp giả Paracoccus marginatus Williams and Granara de Willink (Homoptera: Pseudococidae) hại cây đu đủ tại Hà Nội” là việc cần thiết, có ý nghĩa thời sự

2 Mục đích nghiên cứu

Luận án đi sâu nghiên cứu thành phần loài rệp sáp, đặc điểm

sinh vật học, sinh thái học của rệp sáp giả P marginatus hại cây đu

đủ (trong luận án gọi là rệp sáp giả P marginatus hay rệp sáp giả hại cây đu đủ) và hiệu quả của các biện pháp phòng chống rệp sáp giả P

marginatus Trên cơ sở đó đề xuất biện pháp phòng chống rệp sáp giả

P marginatus đạt hiệu quả cao, đáp ứng yêu cầu kinh tế, thân thiện

với môi trường tại một số vùng trồng đu đủ ở Hà Nội

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

3.1 Ý nghĩa khoa học

Đề tài đã cung cấp các dẫn liệu khoa học về loài rệp sáp hại trên cây đu đủ tại vùng Hà Nội; cung cấp đặc điểm sinh vật học, sinh thái

học cơ bản của loài rệp sáp giả P marginatus và hiệu quả của các biện

pháp phòng chống loài rệp sáp này tại vùng trồng đu đủ ở Hà Nội

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở khoa học để xây dựng qui

trình phòng chống rệp sáp giả P marginatus đạt hiệu quả cao và theo

hướng thân thiện với môi trường

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Rệp sáp giả P marginatus hại cây đu đủ

Trang 4

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu thành phần rệp sáp hại cây đu đủ, đặc điểm sinh

vật học (thời gian vòng đời, sức sinh sản, bảng sống, ), đặc điểm

sinh thái (diễn biến số lượng và yếu tố ảnh hưởng đến mật độ quần

thể, ), biện pháp phòng chống loài rệp sáp giả P marginatus hại

cây đu đủ ở Hà Nội

5 Những đóng góp mới của luận án

- Ghi nhận lần đầu loài rệp sáp giả P marginatus Williams and

Granara de Willink (Homoptera: Pseudococcidae) là sâu hại cây đu

đủ ở Việt Nam

- Là công trình nghiên cứu một cách hệ thống về loài rệp sáp

giả P marginatus, cung cấp nhiều dẫn liệu khoa học mới về đặc

điểm sinh vật học, sinh thái học, đặc biệt là những dẫn liệu về bảng

sống, diễn biến mật độ của rệp sáp giả P marginatus trên cây đu đủ

tại vùng nghiên cứu

- Cung cấp dẫn liệu khoa học về hiệu quả của một vài biện pháp

khả thi (biện pháp canh tác,, hóa học và sinh học) để phòng chống rệp

sáp giả P marginatus hại trên cây đu đủ theo hướng thân thiện với môi

trường ở vùng nghiên cứu

6 Cấu trúc luận án

Luận án có 151 trang, gồm phần mở đầu, phần nội dung (3

chương), kết luận và đề nghị với 28 bảng số liệu, 26 hình Tham khảo

107 tài liệu, trong đó có 36 tài liệu tiếng Việt, 71 tài liệu tiếng Anh

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở khoa học

Sự đa dạng về hệ sinh thái và hệ thống canh tác (chuyên canh,

xen canh, luân canh, giống và kỹ thuật canh tác) có tác động rất phức

tạp đến quần xã côn trùng trên cây đu đủ, trong đó có các loài rệp

sáp Do đó, việc xác định thành phần loài rệp sáp, đặc điểm sinh học,

sinh thái và biện pháp phòng chống hiệu quả loài rệp sáp giả P

marginatus là cơ sở khoa học quan trọng để xây dựng biện pháp quản

lý hiệu quả loài sâu hại quan trọng trên cây đu đủ ở Việt Nam

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

I Kết luận

1.1 Lần đầu tiên đã xác định được loài rệp sáp giả P marginatus

Williams and Granara de Willink (Homoptera: Pseudococcidae) hại trên cây đu đủ tại Hà Nội, bổ sung vào danh lục sâu hại đu đủ ở Việt Nam Tại vùng ngoại thành Hà Nội đã ghi nhận được 13 loài thực vật thuộc 11 họ trong hệ sinh thái nông nghiệp là cây thức ăn của rệp sáp

giả P marginatus

1.2 Trong điều kiện ổn định (25oC, 30oC; 80% ẩm độ; chế độ chiếu sáng 16giờ/ngày đêm) và thức ăn là lá cây đu đủ giống Đài

Loan, rệp sáp giả P marginatus biến thái không hoàn toàn ở trưởng

thành cái và biến thái không hoàn toàn thừa ở trưởng thành đực Thời

gian vòng đời là 25,56-30,31 ngày Rệp sáp giả P marginatus có thể

sinh sản đơn tính (mặc dù có tới 61,0-61,1% trưởng thành đực trong quần thể) Sức đẻ trứng của trưởng thành cái là 233,53-462,2 trứng/con cái Trưởng thành cái có thể sống được 14,42-21,15 ngày

và trưởng thành đực chỉ sống được 1,77-1,88 ngày

1.3 Ở nhiệt độ 25oC, hệ số nhân của một thế hệ (Ro), tỷ lệ tăng

tự nhiên (rm), giới hạn tăng tự nhiên (λ), thời gian một thế hệ tính theo tuổi mẹ khi đẻ con (Tc) và thời gian tăng gấp đôi số lượng của quần thể (DT) tương ứng đạt 457,87 ♀/♀; 0,188 ♀/♀/ngày; 1,19 lần; 34,71 ngày và 3,93 ngày Ở nhiệt độ 30oC, tùy thuộc vào từng thông số mà giá trị của nó có thể tăng lên hoặc giảm xuống so với ở 25oC và tương ứng là 367,79 ♀/♀; 0,197 ♀/♀/ngày; 1,22 lần; 28,17 ngày và 3,52 ngày Một năm có gần 11 thế hệ trong phòng trong nhà lưới

1.4 Mật độ rệp sáp giả P marginatus trên giống Hồng Phi (mật

độ cao nhất 255,0 -256,5 con/lá và 6,5-7,3 con/quả) cao hơn rõ rệt so với giống đu đủ lùn (28,2 con/lá và 0,48-0,52 con/quả); mật độ trên cây đu đủ 1 năm tuổi (255,0 -256,5 con/lá và 6,5-7,3 con/quả) cao hơn

so với cây 2 năm tuổi (53,1-53,8 con/lá và 14,2-14,5 con/quả); mật độ trên cây đu đủ trồng xen chuối cao hơn trên cây đu đủ trồng thuần (83,5con/lá và 13,2 con/quả so với 53,1 con/lá và 4,26 con/quả); nhưng mật độ trên cây đu đủ trồng xen với cây ngô lại thấp hơn so với trồng thuần (19,1 con/lá và 1,32 con/quả so với 51,3 con/lá và 5,4

Trang 5

3.4.2.3 Hiệu lực đối với rệp sáp non các tuổi và trưởng thành loài

Paracoccus marginatus hại đu đủ của các thuốc BVTV

Thí nghiệm trong phòng được tiến hành với thuốc Spirotetramat và

Pymetrozine Các thuốc này được phun lên rệp sáp giả P marginatus ở

các tuổi khác nhau Sau phun 7 ngày, cả hai thuốc thí nghiệm đều có

hiệu lực cao đối với rệp sáp non tuổi 1 và tuổi 2; hiệu lực này tương

ứng đạt 80,90-87,64% và 75,28-80,90% Hiệu lực của hai thuốc thí

nghiệm giảm dần đối với rệp sáp non tuổi 3 (71,91-75,28%) và

trưởng thành (63,33-68,89%)

3.4.2.4 Hiệu lực đối với rệp sáp giả Paracoccus marginatus hại đu đủ

của các thuốc bảo vệ thực vật khi phun với các lượng nước khác nhau

Thí nghiệm được tiến hành với các thuốc Abamectin, Rotenone,

Pymetrozine, Spirotetramat với lượng nước phun là 600, 800, 1 000

lít/ha Sau phun 7 ngày, hiệu lực đối với rệp sáp giả P marginatus

của cả 4 loại thuốc được thí nghiệm đều đạt cao nhất (72,78-89,72%)

khi phun với lượng nước 1000 lít/ha Chỉ tiêu này đạt thấp hơn, chỉ

là 49,12-62,98% khi phun với lượng nước 600 lít/ha và là

61,23-83,44% khi phun với lượng nước 800lít/ha

3.4.2.5 Hiệu lực đối với rệp sáp giả Paracoccus marginatus hại đu đủ

của các thuốc BVTV khi phun bằng các dụng cụ phun khác nhau

Thí nghiệm đã tiến hành đánh giá ảnh hưởng của các loại bình

bơm (bơm tay đeo vai, bơm nén áp đeo vai và bơm động) đến hiệu

lực của các hoạt chất Spirotetramat, Abamectin, Pymetrozine và dầu

khoáng Kết quả cho thấy khi phun bằng bơm tay đeo vai cho hiệu lực

đối với rệp sáp giả P marginatus đạt thấp nhất (49,70-62,87%) và đạt

cao nhất (68,88-81,98%) khi phun bằng bơm nén áp Khi phun bằng

bơm động cơ thì hiệu lực đối với rệp sáp giả P marginatus

(65,04-80,24%) đạt cao hơn so với phun bằng bình bơm tay đeo vai, nhưng

thấp hơn so với khi phun bằng bơm nén áp

1.2 Nghiên cứu về rệp sáp giả Paracoccus marginatus trên thế giới 1.2.1 Nghiên cứu về phân loại, phân bố và tác hại của rệp sáp giả Paracoccus marginatus

1.2.1.1 Phân loại rệp sáp giả P marginatus

Loài rệp sáp giả P marginatus được Williams and Granara de

Willink mô tả năm 1992 dựa trên mẫu vật thu từ vùng tân nhiệt đới

Theo Williams và Granara, rệp sáp giả P marginatus có vị trí phân

loại như sau: giới động vật Animalia, ngành chân đốt Arthropoda, lớp côn trùng Insecta, phân lớp côn trùng có cánh Pterygota, bộ cánh đều Homoptera, phân bộ vòi ở ngực Sternorrhyncha, tổng họ rệp sáp

Coccoidea, họ rệp sáp giả Pseudococcidae, giống Paracoccus, loài P

marginatus Williams and Granara de Willink

1.2.1.2 Nguồn gốc, phân bố,sự xâm lấn của rệp sáp giả P marginatus

Rệp sáp giả P marginatus có nguồn gốc từ Mexico, Trung Mỹ

và phân bố ở vùng nhiệt đới Châu Mỹ, bắt đầu xâm lấn ra khỏi khu vực phân bố tự nhiên từ năm 1992 và nhanh chóng trở thành loài ngoại lai xâm lấn ở nhiều đảo thuộc vùng Caribê, Trung Mỹ, Nam

Mỹ Đến nay đã ghi nhận được ở 5 vùng địa sinh vật ở trên thế giới là neotropical, nearctic, oceania/Australia, oriental/Indo-Mala và

Afrotropical (Ben-Dov, 2012; Heu et al., 2007; Meyerdirk et al., 2004; Miller et al., 1999; Muniappan et al., 2006, 2008)

1.2.2 Nghiên cứu về đặc điểm hình thái học của rệp sáp giả Paracoccus marginatus

Đặc điểm hình thái trưởng thành, trứng và ấu trùng các tuổi của

rệp sáp giả P marginatus được mô tả trong tài liệu của Al-Helal et

al (2012), Mani Chellappan et al., 2013b, Miller et al (1999),

Sharma et al (2013), Tanwar et al (2010), Walker et al (2003), 1.2.3 Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học và sinh thái học của rệp sáp giả Paracoccus marginatus

Dẫn liệu về đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của rệp sáp giả

P marginatus có thể tìm thấy trong các tài liệu của Amarasekare et

al (2008a, 2008b), Hintenou et al (2015), Mani Chellappan et al

(2013b), Thangamalar et al (2010) và Walker et al (2006)

Trang 6

1.2.4 Nghiên cứu phòng chống rệp sáp giả Paracoccus marginatus

Đã có các nghiên cứu phòng chống rệp sáp giả P marginatus

gồm kiểm dịch thực vật, biện pháp canh tác, thủ công, biện pháp sinh

học, sử dụng chế phẩm thảo mộc, biện pháp hoá học và IPM (Banu et

al., 2010; Galanihe et al., 2010; Krishnan et al., 2016; Mani et al.,

2012; Muniappan, 2014; Saengyot amd Burikam, 2011; Seni and

Chongtham, 2013; Sharma et al., 2013; Tanwar et al., 2010;…)

1.3 Nghiên cứu rệp sáp giả P marginatus hại đu đủ tại Việt Nam

1.3.1 Hiện trạng phát hiện rệp sáp giả Paracoccus marginatus hại

đu đủ tại Việt Nam

Loài rệp sáp giả P marginatus lần đầu tiên được ghi nhận ở

Việt Nam trên cây sắn (Lê Thị Tuyết Nhung và nnk., 2014, 2015)

Cho đến nay chưa có công bố liên quan tới loài này trên cây đu đủ

1.3.2 Đặc điểm hình thái học của rệp sáp giả Paracoccus

marginatus hại đu đủ

Thành phần loài họ rệp sáp giả Pseudococcidae ở Việt Nam đã

được một số tác giả công bố (Nguyễn Thị Chắt, 2008; Nguyễn Thị

Chắt và nnk., 2005; Phạm Văn Lầm, 2013; Lê Thị Tuyết Nhung và

nnk., 2018; ) nhưng rất ít loài được mô tả đặc điểm hình thái

1.3.3 Đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của rệp sáp giả

Paracoccus marginatus hại đu đủ

Ở Việt Nam, trong những loài rệp sáp giả (Dysmicoccus

brevipes, Planococcus citri, P kraunhiae, ) đã được nghiên cứu đặc

điểm sinh vật học, sinh thái học không có loài rệp sáp giả

P marginatus (Nguyễn Thị Chắt, 2008; Nguyễn Văn Dân và nnk.,

2018; Đỗ Hồng Khanh và nnk., 2018; )

1.3.4 Biện pháp phòng chống rệp sáp giả P marginatus hại đu đủ

Đến nay chưa có nghiên cứu nào chuyên về biện pháp phòng

chống rệp sáp giả P marginatus được tiến hành tại Việt Nam

CHƯƠNG 2 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Địa điểm, thời gian nghiên cứu

- Phòng thí nghiệm, nhà lưới của Viện Bảo vệ thực vật

Spirotetramat và Pymetrozine có hiệu lực khá cao (tương ứng đạt 97,33% và 94,67%)

5 hoạt chất thuốc sinh học/thảo mộc (Abamectin, Azadirachtin, Emamectin benzoate, Matrine, Rotenone) và dầu khoáng đã chọn từ các thuốc phổ biến được đăng ký để trừ rệp sáp trên cây ăn quả được

đánh giá hiệu lực đối với rệp sáp giả P marginatus Sau phun 3 ngày,

các thuốc đều có hiệu lực đối với rệp sáp đu đủ khá cao (đạt

70,67-81,33%) Hoạt Abamectin và dầu khoáng có hiệu lực đạt cao hơn 80%

3.4.2.2 Hiệu lực đối với rệp sáp giả Paracoccus marginatus hại đu

đủ của các thuốc bảo vệ thực vật ngoài đồng

Thí nghiệm trên diện hẹp được thực hiện tại Đan Phượng (Hà Nội) năm 2016 Các hoạt chất được thí nghiệm là những hoạt chất đã được thí nghiệm ở trong phòng Sau 3 ngày phun, hiệu lực trên đồng

ruộng đối với rệp sáp giả P marginatus của các thuốc được thí nghiệm

đều đạt 73,75- 84,69% Vào thời điểm 7 ngày sau phun, hiệu lực của các thuốc đều đạt đạt khá cao và từ 80,27% đến 87,32% Trong đó, hỗn hợp hoạt chất Cypermethrin + Chlorpyrifos Ethyl có hiệu lực cao nhất (87,32%), sau đó đến Carbosulfan (86,5%) Hoạt chất Spirotetramat và Pymetrozine đạt hiệu lực khá cao, lần lượt là 86,42% và 83,8% Các chế phẩm sinh học/thảo mộc và dầu khoáng cho hiệu lực trên đồng ruộng

đối với rệp sáp giả P marginatus thấp hơn so với các hoạt chất hóa

học Sau phun 3 ngày, hiệu lực của chúng chỉ đạt 59,31-74,92% sau phun 7 ngày, hiệu lực của chúng ương đối khá và đạt từ 66,83% đến 78,01% Hoạt chất Abamectin đạt hiệu lực cao nhất (78,01%), sau đó đến dầu khoáng và Rotenone (lần lượt là 72,8% và 72,57%)

Từ thí nghiệm trong phòng và thí nghiệm diện hẹp ngoài đồng đã chọn 05 hoạt chất có hiệu lực khá cao (gồm 2 loại hoạt chất hoá học có

độ độc thấp, 2 hoạt chất sinh học/thảo mộc và dầu khoáng) để đánh giá

hiệu lực đối với rệp sáp giả P marginatus ở thí nghiệm diện rộng ngoài

đồng Sau phun 3 ngày, hiệu lực của các thuốc được thí nghiệm đạt không cao, chỉ là 45,30-63,37% Sau phun 10 ngày,hiệu lực của thuốc Spirotetramat đạt cao nhất là 84,79% và các thuốc khác được thí nghiệm

có hiệu lực khá (67,95% - 76,96%)

Trang 7

cáo trồng xen cây chuối trong vườn đu đủ như một số địa phương

đang áp dụng hiện nay mà có thể trồng xen cây ngô

3.4.1.3 Tưới nước lên lá bằng bơm áp lực cao

Tưới nước lên lá bằng bơm áp lực cao là biện pháp đã được một

số nước trên thế giới áp dụng Khi phun nước lên lá (với lượng

2000-3000 lit nước/ha) bằng bơm áp lực cao và phun 2 lần trong 2 ngày

liên tục đã làm giảm đáng kể mật độ rệp sáp giả so với phun nước 1

lần với lượng 1000lit/ha bằng vòi phun Có thể áp dụng biện pháp

này để hạn chế rệp sáp giả hại cây đu đủ khi mật độ còn thấp

3.4.2 Biện pháp sử dụng thuốc bảo vệ thực vật

Theo Danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng tại Việt Nam

ban hành kèm theo Thông tư Số 03/2018/TT-BNNPTNTngày 9 tháng

02 năm 2018 của Bộ Nông nghiệp và PTNT hiện không có thuốc

BVTV nào được đăng ký sử dụng để phòng chống rệp sáp giả

P marginatus trên cây đu đủ Trong sản xuất, nông dân đang dùng

các loại thuốc trừ rệp sáp trên cây trồng khác để phòng chống rệp sáp

giả hại cây đu đủ (trong đó có cả thuốc hoá học không được phép sử

dụng trên cây ăn quả vì có độ độc thuộc nhóm 2) Nghiên cứu này đã

đánh giá hiệu lực đối với rệp sáp giả P marginatus của 14 hoại chất

bảo vệ thực vật Trong đó có 8 hoạt chất thuốc BVTV hoá học và 6

hoạt chất thuốc sinh học/thảo mộc

3.4.2.1 Hiệu lực đối với rệp sáp giả Paracoccus marginatus hại đu

đủ của các hoạt chất thuốc bảo vệ thực vật trong phòng thí nghiệm

Đã đánh giá hiệu lực đối với rệp sáp giả P marginatus của 8

hoạt chất hoá học (đơn hoặc hỗn hợp), gồm 6 hoạt chất (đơn hoặc

hỗn hợp) được nông dân đang sử dụng phổ biến trên cây đu đủ (đó là

Cypermethrin + Chlorpyrifos Ethyl, Acetamiprid + Buproferin,

Carbosulfan, Acetamiprid + Chlorpyrifos Ethyl, Pyridaben +

Abamectin, Thiamethoxam) và 2 hoạt chất (Spirotetramat,

Pymetrozine) có độ độc thấp đã lựa chọn từ các thuốc phổ biến được

đăng ký để trừ rệp sáp trên các cây ăn quả Sau xử lý 3 ngày, các hoạt

chất được thí nghiệm trong phòng đều có hiệu lực đạt 94-100%,

trong đó hoạt chất Carbosulfan có hiệu lực đạt cao nhất (100%) và

tiếp theo là hỗn hợp Pyridaben + Abamectin (97,33%) Hoạt chất

- Vùng trồng đu đủ tại ngoại thành Hà Nội: xã Phụng Thượng (Phúc Thọ), xã Đan Phượng (Đan Phượng), xã Dị Nậu (Thạch Thất)

- Thời gian nghiên cứu: từ năm 2015 - 2018

2.2 Nội dung nghiên cứu

- Điều tra thành phần sâu hại cây đu đủ và xác định loài rệp sáp chính hại cây đu đủ ở vùng Hà Nội

- Xác định đặc điểm sinh vật học, sinh thái của loài rệp sáp giả

P marginatus hại trên cây đu đủ

- Diễn biến mật độ và yếu tố ảnh hưởng đến số lượng loài rệp

sáp giả P marginatus hại trên cây đu đủ ở vùng nghiên cứu

- Nghiên cứu biện pháp phòng chống tổng hợp rệp sáp giả P

marginatus hại trên cây đu đủ

2.3 Vật liệu và dụng cụ thiết bị phục vụ nghiên cứu

Nguồn rệp sáp giả P marginatus dùng trong nghiên cứu được

thu tại các vườn trồng đu đủ của Hà Nội

Giống đu đủ Hồng Phi - Đài Loan được dùng làm thức ăn nuôi

rệp sáp giả P marginatus trong các thí nghiệm trong phòng

Các giống đu đủ Hồng Phi (Đài Loan), đu đủ cao sản lùn (Thái Lan) được sử dụng trong nghiên cứu trên đồng ruộng

* Các dụng cụ, thiết bị: Kính lúp soi nổi Carl Zeizz Stemi

2000-C, kính hiển vi Carl Zeizz Promostar với độ phóng đại tối đa là 1000 lần, tủ sinh thái côn trùng DAEYANGETS model GC-101B (nhãn hiệu RGX-400E) có điều chỉnh nhiệt độ, ẩm độ, ánh sáng Các dụng cụ khác: hộp nhựa nuôi côn trùng, hộp Petri, ống nghiệm, kim côn trùng, lame, lamen, chậu nhựa, lồng lưới nuôi côn trùng, nhà lưới, bút lông, giấy thấm, lọ đựng mẫu, túi ni-lông,

* Hóa chất: Cồn 96%, dung dịch KOH, axít fuchsin, axít alcohol, dầu đinh hương, keo dán ca-na-đa, một số loại thuốc BVTV trừ rệp sáp giả,

2.4 Phương pháp nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp điều tra thành phần sâu hại cây đu đủ và xác định loài sâu chính hại cây đu đủ ở vùng Hà Nội

2.4.1.1 Phương pháp điều tra sâu hại trên cây đu đủ

Theo phương pháp điều tra thành phần sinh vật hại của Viện Bảo vệ thực vật (1997), Quy chuẩn QCVN 01- 38: 2010/BNNPTNT

Trang 8

về phương pháp điều tra phát hiện dịch hại cây trồng Điều tra

định kỳ 14 ngày/lần vào ngày cố định trong tháng

2.4.1.2 Giám định tên sâu hại cây đu đủ

Đối với rệp sáp, làm mẫu tiêu bản trên lame theo phương

pháp của Waston (2007) và giám định tên theo tài liệu của

Williams và Willink (1992), Williams và Watson (1988, 1990)

Mẫu tiêu bản sau giám định được TS Natalia von Ellenrieder (ở

Trung tâm Giám định sinh vật hại thuộc Cục Nông nghiệp và

Thực phẩm bang California) thẩm định

Tên khoa học của các loài sâu hại khác trên cây đu đủ được

các chuyên gia phân loại trong nước giám định

2.4.2 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh vật học,

sinh thái học của rệp sáp giả Paracoccus marginatus hại đu đủ

trong phòng thí nghiệm

2.4.2.1 Nghiên cứu đặc điểm hình thái học

Mô tả hình dáng, màu sắc, cấu tạo ngoài và đo chiều dài, chiều

rộng, chụp ảnh các pha trứng, rệp sáp non, trưởng thành dưới kính

lúp soi nổi (số mẫu quan sát cho mỗi pha/giai đoạn phát triển n = 30)

2.4.2.2 Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học, sinh thái học

Theo phương pháp của Amarasekare et al (2008a) có sự cải

tiến cho phù hợp với điều kiện phòng thí nghiệm Rệp sáp giả P

marginatus được nuôi cá thể trong tủ sinh thái (nhãn hiệu

RGX-400E) ở nhiệt độ 25ºC, 30ºC với cùng 80% ẩm độ, chiếu sáng 16

giờ/ngày đêm Theo dõi thời gian phát triển các pha, thời gian vòng

đời,… Các chỉ tiêu tăng trưởng quần thể (rm), Ro, Tc, λ, DT) được tính

theo Birch (1948) và Kakde và nnk (2014)

2.4.3 Phương pháp nghiên cứu diễn biến mật độ và yếu tố ảnh hưởng

đến số lượng loài rệp sáp giả Paracoccus marginatus hại đu đủ

Tiến hành trên 2 giống đu đủ Hồng Phi (Đài Loan) và Cao sản

lùn (Thái Lan) ở các điều kiện khác nhau như tuổi cây (1 và 2 năm

tuổi), hình thức canh tác (trồng thuần, trồng xen), trồng luân canh

(với khoai tây) Thực hiện theo phương pháp điều tra cơ bản côn

trùng của Viện Bảo vệ thực vật (1997)

3.3.4 Ảnh hưởng của luân canh đến mật độ rệp sáp giả Paracoccus marginatus hại đu đủ

Tại Thạch Thất, nông dân thường trồng đu đủ độc canh hoặc trồng cây đu đủ 1 năm tuổi luân canh với vụ khoai tây, ớt, rau thập

tự… Trong vườn trồng đu đủ độc canh, rệp sáp giả P marginatus

bắt đầu xuất hiện trên lá từ ngày 5/3/2017 với mật độ thấp (0,80 con/lá) Sau đó, mật độ gia tăng, đặc biệt gia tăng nhanh từ giữa tháng 4 và hình thảnh 2 đỉnh cao: đỉnh cao 1 từ ngày 29/6/2017 đến 6/7/2017 (với 39,30 - 39,80 con/lá; 4,80 - 6,30 con/quả) và đỉnh cao 1 vào ngày 19/10/2017 (với 256,50 con/lá; 4,70 con/quả) Tại vườn

trồng đu đủ luân canh với cây khoai tây, rệp sáp giả P marginatus

bắt đầu xuất hiện trên lá đu đủ muộn hơn (từ ngày 12/3/2017) với

mật độ thấp hơn (0,30 con/lá) Mật độ rệp sáp giả P marginatus gia

tăng nhanh từ cuối tháng 4 và hình thảnh 2 đỉnh cao: đỉnh cao 1 từ ngày 29/6/2017 đến 6/7/2017 (với 21,3 - 22,50 con/lá; 2,90 - 3,50 con/quả) và đỉnh cao 2 vào ngày 19/10/2017 (với 72,10 con/lá; 2,20 con/quả) Như vậy, trên cây đu đủ ở vườn trồng độc canh có rệp sáp giả

P marginatus xuất hiện sớm hơn với mật độ luôn cao hơn so với trên cây

đu đủ ở vườn trồng luân canh với cây khoai tây

3.4 Biện pháp phòng chống rệp sáp giả P marginatus hại đu đủ 3.4.1 Biện pháp canh tác

3.4.1.1 Sử dụng giống ít nhiễm rệp sáp giả P marginatus hại đu đủ

Kết quả nghiên cứu mật độ rệp sáp giả trên 2 giống đu đủ chủ lực đang trồng tại vùng Hà Nội là giống đu đủ Hồng Phi và đu đủ lùn (mục 3.3.1) cho thấy mật độ rệp sáp giả trên giống đu đủ lùn luôn thấp hơn rõ rệt so với trên giống đu đủ Hồng Phi Như vậy, để hạn chế rệp

sáp giả P marginatus có thể hạn chế sử dụng giống đu đủ Hồng Phi,

tăng cường quy mô sử dụng giống đu đủ lùn

3.4.1.2 Trồng xen canh

Trong vườn đu đủ trồng xen cây ngô có mật độ rệp sáp giả P

marginatus thấp hơn so với trong vườn đu đủ trồng thuần Ngược lại,

trong vườn đu đủ trồng xen cây chuối lại có mật độ rệp sáp giả P

marginatus đạt cao hơn so với trong vườn đu đủ trồng thuần ( mục 3.3.3 ) Như vậy, để hạn chế rệp sáp giả P marginatus không khuyến

Trang 9

khi đó, trên cây đu đủ 2 năm tuổi rệp sáp giả P marginatus có mặt

quanh năm, mật độ trên lá hình thành 2 đỉnh cao vào cuối tháng 6 và

giữa tháng 10 đến đầu tháng 11) Mật độ ở đỉnh cao thứ nhất đều cao

gấp nhiều lần so với ở đỉnh cao thứ hai Mật độ rệp sáp giả P

marginatus trên cây đu đủ 1 năm tuổi luôn cao hơn so với mật độ rệp

sáp giả P marginatus trên cây đu đủ 2 năm tuổi

3.3.3 Diễn biến mật độ rệp sáp giả Paracoccus marginatus hại đu

đủ trong vườn trồng thuần và trồng xen

Tại Phúc Thọ, trên cây đu đủ ở vườn trồng xen cây chuối có mật

độ rệp sáp giả P marginatus đạt thấp từ tháng 1 đến tháng 3; sau đó

mật độ bắt đầu gia tăng từ đầu tháng 4 và hình thành hai đỉnh cao:

đỉnh cao 1 vào ngày 29/6/2017 (với 49,10 con/lá; 6,22 con/quả) và

đỉnh cao 2 vào ngày 9/11/2017 (với 83,40 con/lá; 13,20 con/quả)

Trong khi đó, trên cây đu đủ ở vườn đu đủ trồng thuần có mật độ rệp

sáp giả P marginatus đạt thấp từ tháng 1 đến tháng 5 ; sau đó mật độ

bắt đầu gia tăng và hình thành hai đỉnh cao: đỉnh cao 1 vào ngày

29/6/2017 (với 16,2 con/lá; 1,6 con/quả) và đỉnh cao 2 vào ngày

2/11/2017 (với 53,10 con/lá; 4,26 con/quả)

Tại Thạch Thất, trong vườn trồng xen ngô có mật độ rệp sáp giả

P marginatus đạt thấp từ tháng 1 đến giữa tháng 5 (2,20 - 5,50 con/lá

và 0,10 - 1,30 con/quả); sau đó, mật độ bắt đầu gia tăng, hình thảnh

đỉnh cao 1 từ ngày 22 đến 29/6/2017 (với 8,70 - 9,50 con/lá; 0,80 -

1,96 con/quả) và đỉnh cao 2 vào ngày 9/11/2017 (với 19,10 con/lá;

1,32 con/quả) Trong khi đó, trên cây đu đủ ở vườn đu đủ trồng thuần

có mật độ rệp sáp giả P marginatus từ tháng 1 đến tháng 3 đạt cao

hơn (5,80 - 8,70 con/lá và 0,53 - 1,80 con/quả); sau đó, mật độ bắt

đầu gia tăng, hình thảnh đỉnh cao 1 từ ngày 22 đến 29/6/2017 (với

16,10 - 16,20 con/lá; 8,70 - 9,50 con/quả) và đỉnh cao 2 vào ngày

2/11/2017 (với 51,30 con/lá; 5,40 con/quả)

Như vậy, Trong vườn trồng xen cây chuối rệp sáp giả P

marginatus có mật độ luôn cao hơn và gia tăng sớm hơn so với trong

vườn trồng thuần Ngược lại, trong vườn trồng xen cây ngô rệp sáp

giả P marginatus có mật độ luôn thấp hơn và gia tăng muộn hơn so

với trong vườn trồng thuần

2.4.4 Phương pháp nghiên cứu biện pháp phòng chống tổng hợp rệp sáp giả Paracoccus marginatus trên cây đu đủ

2.4.4.1 Phương pháp nghiên cứu phòng chống bằng biện pháp canh tác

Dựa vào kết quả điều tra diễn biến mật độ rệp sáp giả

P marginatus trên đồng ruộng (mục 2.4.3) để xác định tác động hạn

chế mật độ rệp sáp giả P marginatus của các điều kiện canh tác khác

nhau Trên cơ sở đó khuến cáo áp dụng những biện pháp canh tác có

tác động hạn chế mật độ rệp sáp giả P marginatus

2.4.4.2 Phương pháp nghiên cứu phòng chống bằng biện pháp thủ công

Thí nghiệm tưới nước bằng bơm áp lực cao để rửa trôi rệp sáp

giả P marginatus trên lá đu đủ Thí nghiệm được thực hiện tại Dị

Nậu (Thạch Thất, Hà Nội) trên vườn đu đủ 2 năm tuổi Thí nghiệm diện rộng, không nhắc lại, diện tích mỗi công thức là 300 m2 Công thức thí nghiệm gồm: phun rửa trôi bằng nước với lượng 1000, 2000,

3000 lít/ha (tương đương và cao gấp 2, 3 lần so với lượng nước khuyến cáo khi phun thuốc BVTV trên cây ăn quả) và đối chứng (không phun nước) Dụng cụ phun thí nghiệm: vòi phun và bơm nén

áp công suất lớn Phun rửa trôi 2 lần cách nhau 1 ngày Phun đều

nước ở cả mặt trên và mặt dưới của lá vào 15-18 giờ chiều

Điều tra mật độ rệp sáp giả trước và sau phun nước 7 ngày Tính

hiệu lực theo công thức Henderson-Tilton

2.4.4.3 Phương pháp nghiên cứu phòng chống bằng biện pháp sử dụng thuốc bảo vệ thực vật

Tiến hành đánh giá hiệu lực đối với rệp sáp giả P marginatus

của các hoạt chất thuốc BVTV ở trong phòng thí nghiệm và thí nghiệm diện hẹp trên đồng ruộng Nghiên cứu xác định lượng dùng,

thời điểm phun, lượng nước phun, công cụ phun phù hợp

Hiệu lực đối với rệp sáp giả tính theo công thức Abbot (thí nghiệm trong phòng) và công thức Henderson-Tilton (thí nghiệm ở đồng ruộng)

2.5 Phương pháp xử lý số liệu

Các số liệu đồng ruộng được xử lý bằng phần mềm Excel và phần mềm xử lý thống kê Statistix window

Trang 10

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 Thành phần sâu hại cây đu đủ ở vùng Hà Nội

3.1.1 Thành phần loài côn trùng và nhện nhỏ hại cây đu đủ

Đã thu thập và xác định được 8 loài sâu hại trên cây đu đủ thuộc

8 họ khác nhau của 6 bộ côn trùng và bộ ve bét, gần tương tự với số

loài côn trùng/nhện nhỏ hại trên cây đu đủ đã ghi nhận được ở Việt

Nam cho đến năm 2013 (Phạm Văn Lầm, 2013) Phần lớn số loài (6

loài) côn trùng hại trong nghiên cứu này không trùng với các loài đã

ghi nhận được trên cây đu đủ trước năm 2013

3.1.2 Giám định tên loài rệp sáp giả hại cây đu đủ đã thu thập

Sử dụng khóa phân loại đến giống của Williams (2004), Williams

và Watson (1988) cho thấy loài rệp sáp giả thu thập trên cây đu đủ tại Hà

Nội thuộc giống Paracoccus Ezzat & McConnell Theo khóa phân loại

đến loài của Williams và Willink (1992), những đặc điểm hình thái

quan sát được trên mẫu lam đều trùng với đặc điểm phân loại của loài

rệp sáp giả P marginatus Williams and Granara de Willink (hình 3.1)

Sau khi giám định, mẫu lam của loài rệp sáp giả hại cây đu đủ được gửi

tới Trung tâm Giám định sinh vật hại thuộc Cục Nông nghiệp và Thực

phẩm bang California để thẩm định TS Natalia von Ellenrieder cũng

khẳng định loài rệp sáp giả hại cây đu đủ là loài P marginatus Williams

and Granara de Willink

(Nguồn: Đoàn Thị Lương)

(Nguồn: Williams, Willink, 1992)

Hình 3.1 Hình mẫu lam của rệp sáp giả P marginatus thu thập ở

Hà Nội

Hồng Phi tại cả hai địa điểm nghiên cứu Trên cả hai giống đu đủ,

mật độ rệp sáp giả P marginatus trên lá luôn cao hơn rõ rệt so với

mật độ trên quả và mật độ đều đạt cao nhất từ cuối tháng 10 đến đầu tháng 11 khi nhiệt độ chưa xuống thấp, ít mưa lớn và đạt thấp nhất vào tháng 8 khi có mưa lớn kéo dài Điều này gần tương tự như kết

quả nghiên cứu của Walker et al (2003) Theo các tác giả này, lượng mưa lớn làm giảm nghiêm trọng mật độ quần thể của rệp sáp giả P

Marginatus (hình 3.13; 3.14; 3.15 và 3.16)

Hình 3.13 Diễn biến mật độ của

rệp sáp giả đu đủ P marginatus

trên lá các giống đu đủ khác nhau tại Phúc Thọ, Hà Nội năm 2017

Hình 3.14 Diễn biến mật độ của

rệp sáp giả P marginatus trên lá

các giống đu đủ khác nhau tại Thạch Thất, Hà Nội năm 2017

Hình 3.15 Diễn biến mật độ của

rệp sáp giả đu đủ P marginatus

trên quả các giống đu đủ khác nhau tại Phúc Thọ, Hà Nội năm 2017

Hình 3.16 Diễn biến mật độ của

rệp sáp giả P marginatus trên quả

các giống đu đủ khác nhau tại Thạch Thất, Hà Nội năm 2017

3.3.2 Diễn biến mật độ rệp sáp giả Paracoccus marginatus trên cây

đu đủ ở các độ tuổi khác nhau

Trên cây đu đủ 1 năm tuổi rệp sáp giả P marginatus xuất hiện

trên lá từ đầu tháng 3 và trên quả từ đầu tháng 5, hình thành 2 đỉnh cao mật độ vào cuối tháng 6 đến đầu tháng 7 và giữa tháng 10 Trong

Ngày đăng: 09/10/2019, 04:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w