BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM ĐOÀN THỊ LƯƠNG ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG RỆP SÁP GIẢ Paracoccus marginatu
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
ĐOÀN THỊ LƯƠNG
ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC, SINH THÁI
VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG CHỐNG RỆP SÁP GIẢ
Paracoccus marginatus williams and granara de willink
(Homoptera: pseudococcidae) HẠI CÂY ĐU ĐỦ TẠI HÀ NỘI
Chuyên ngành : Bảo vệ thực vật
Mã số : 9.62.01.12
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NÔNG NGHIỆP
HÀ NỘI - 2019
Trang 2Công trình được hoàn thành tại:
Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Nguyễn Hồng Sơn
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Phản biện 3:
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm Luận án cấp
Viện họp tại Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam
Vào hồi …… giờ …… phút ngày …… tháng … năm 201
Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:
1 Thư viện Quốc gia Việt Nam
2 Thư viện Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam
3 Thư viện Viện Bảo vệ thực vật
DANH MỤC CÔNG TRÌNH
ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
1 Đoàn Thị Lương, Phạm Văn Lầm, Lê Thị Tuyết Nhung, Trương
Thị Hương Lan (2018), “Giám định loài rệp sáp giả thuộc
họ Pseudococcidae (Homoptera) gây hại trên cây đu đủ ở
vùng Hà Nội”, Tạp chí Bảo vệ thực vật, (6), tr.10 - 14
2 Đoàn Thị Lương, Lê Thị Tuyết Nhung, Nguyễn Hồng Sơn, Phạm
Văn Lầm (2018), “Đặc điểm sinh vật học và sinh thái học
của rệp sáp giả đu đủ Paracoccus marginatus Williams and
Granara de Willink (Homoptera: Pseudococcidae) ở trong
phòng thí nghiệm”, Tạp chí Bảo vệ thực vật, Số (6), tr.3- 10
3 Đoàn Thị Lương, Khuất Thị Phương, Hồ Thị Thu Giang, Nguyễn
Hồng Sơn, Nguyễn Văn Liêm (2019), “Diễn biến mật độ và
yếu tố ảnh hưởng đến số lượng của rệp sáp giả Paracoccus
marginatus Williams and Granara de Willink (Homoptera:
Pseudococcidae) trên cây đu đủ ở Hà Nội và phụ cận”, Tạp
chí Nông nghiệp & PTNT, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, Số
(354 + 355), tr.310 - 319
Trang 3con/quả);rệp sáp giả P marginatus trong vườn đu đủ trồng độc canh
xuất hiện sớm hơn với mật độ (256,5 con/lá và 4,7 con/quả) luôn cao
hơn so với ở vườn đu đủ trồng luân canh với cây khoai tây (72,1
con/lá và 2,2 con/quả)
1.5 Các biện pháp luân canh, xen canh, tưới nước bằng áp lực
cao trên lá cho đều có hiệu quả hạn chế rệp sáp giả P marginatus Sử
dụng thuốc hoá học Spirotetramat và Pymetrozine (đã được đăng ký
trừ rệp sáp trên cây ăn quả) có hiệu lực cao trên đồng ruộng (tương
ứng đạt 86,42% và 83,8%) Dùng các thuốc sinh học như Rotenone,
Abamectin và dầu khoáng (đã được đăng ký để trừ rệp sáp trên các
cây ăn quả) cho hiệu lực ở ngoài đồng đạt xấp xỉ 72% để luân phiên
với hai thuốc hóa học nêu trên mang lại hiệu quả cao, có thể thay thế
các thuốc hoá học thuộc nhóm độc 2 không được phép sử dụng trên cây
ăn quả mà nông dân đang sử dụng phổ biến trên cây đu đủ hiện nay Sử
dụng các thuốc hoá học và sinh học đạt hiệu quả tối ưu khi phun trừ
rệp sáp non tuổi 1 và tuổi 2 với lượng nước tối thiểu 1000lít/ha và
phun bằng bơm nén áp
II Đề nghị
Rệp sáp giả P marginatus gây hại trên cây đu đủ là đối tượng
khó phòng trừ, do đó cần áp dụng đầy đủ các biện pháp canh tác tổng
hợp theo khuyến cáo tại kết luận 4 và kỹ thuật sử dụng thuốc BVTV
tại kết luận 5 của luận án này Đặc biệt đối với các vùng trồng đu đu
tập trung nên áp dụng biện pháp luân canh hợp lý với các cây trồng
không phải là ký chủ ưa thích của rệp sáp giả P marginatus như ngô,
rau, đậu để giảm sự tích luỹ mật độ rệp sáp giả trên đồng ruộng
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cây đu đủ thường bị nhiều loài côn trùng và nhện nhỏ tấn công gây hại, trong đó có rệp sáp là nhóm côn trùng hại rất khó phòng chống Mặc dù vậy, cho đến nay chưa có một nghiên cứu chuyên sâu nào về sâu hại cây đủ đủ nói chung và rệp sáp hại đu đủ nói riêng được thực hiện ở Việt Nam Những hiểu biết đầy đủ về thành phần loài, đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của các loài rệp sáp chính hại trên cây đu đủ sẽ là cơ sở khoa học để đề xuất biện pháp phòng chống chúng một cách hiệu quả, theo hướng thân thiện với môi
trường Tiến hành đề tài “Đặc điểm sinh học, sinh thái và biện pháp phòng chống rệp sáp giả Paracoccus marginatus Williams and Granara de Willink (Homoptera: Pseudococidae) hại cây đu đủ tại Hà Nội” là việc cần thiết, có ý nghĩa thời sự
2 Mục đích nghiên cứu
Luận án đi sâu nghiên cứu thành phần loài rệp sáp, đặc điểm
sinh vật học, sinh thái học của rệp sáp giả P marginatus hại cây đu
đủ (trong luận án gọi là rệp sáp giả P marginatus hay rệp sáp giả hại cây đu đủ) và hiệu quả của các biện pháp phòng chống rệp sáp giả P
marginatus Trên cơ sở đó đề xuất biện pháp phòng chống rệp sáp giả
P marginatus đạt hiệu quả cao, đáp ứng yêu cầu kinh tế, thân thiện
với môi trường tại một số vùng trồng đu đủ ở Hà Nội
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1 Ý nghĩa khoa học
Đề tài đã cung cấp các dẫn liệu khoa học về loài rệp sáp hại trên cây đu đủ tại vùng Hà Nội; cung cấp đặc điểm sinh vật học, sinh thái
học cơ bản của loài rệp sáp giả P marginatus và hiệu quả của các biện
pháp phòng chống loài rệp sáp này tại vùng trồng đu đủ ở Hà Nội
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở khoa học để xây dựng qui
trình phòng chống rệp sáp giả P marginatus đạt hiệu quả cao và theo
hướng thân thiện với môi trường
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Rệp sáp giả P marginatus hại cây đu đủ
Trang 44.2 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu thành phần rệp sáp hại cây đu đủ, đặc điểm sinh
vật học (thời gian vòng đời, sức sinh sản, bảng sống, ), đặc điểm
sinh thái (diễn biến số lượng và yếu tố ảnh hưởng đến mật độ quần
thể, ), biện pháp phòng chống loài rệp sáp giả P marginatus hại
cây đu đủ ở Hà Nội
5 Những đóng góp mới của luận án
- Ghi nhận lần đầu loài rệp sáp giả P marginatus Williams and
Granara de Willink (Homoptera: Pseudococcidae) là sâu hại cây đu
đủ ở Việt Nam
- Là công trình nghiên cứu một cách hệ thống về loài rệp sáp
giả P marginatus, cung cấp nhiều dẫn liệu khoa học mới về đặc
điểm sinh vật học, sinh thái học, đặc biệt là những dẫn liệu về bảng
sống, diễn biến mật độ của rệp sáp giả P marginatus trên cây đu đủ
tại vùng nghiên cứu
- Cung cấp dẫn liệu khoa học về hiệu quả của một vài biện pháp
khả thi (biện pháp canh tác,, hóa học và sinh học) để phòng chống rệp
sáp giả P marginatus hại trên cây đu đủ theo hướng thân thiện với môi
trường ở vùng nghiên cứu
6 Cấu trúc luận án
Luận án có 151 trang, gồm phần mở đầu, phần nội dung (3
chương), kết luận và đề nghị với 28 bảng số liệu, 26 hình Tham khảo
107 tài liệu, trong đó có 36 tài liệu tiếng Việt, 71 tài liệu tiếng Anh
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở khoa học
Sự đa dạng về hệ sinh thái và hệ thống canh tác (chuyên canh,
xen canh, luân canh, giống và kỹ thuật canh tác) có tác động rất phức
tạp đến quần xã côn trùng trên cây đu đủ, trong đó có các loài rệp
sáp Do đó, việc xác định thành phần loài rệp sáp, đặc điểm sinh học,
sinh thái và biện pháp phòng chống hiệu quả loài rệp sáp giả P
marginatus là cơ sở khoa học quan trọng để xây dựng biện pháp quản
lý hiệu quả loài sâu hại quan trọng trên cây đu đủ ở Việt Nam
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
I Kết luận
1.1 Lần đầu tiên đã xác định được loài rệp sáp giả P marginatus
Williams and Granara de Willink (Homoptera: Pseudococcidae) hại trên cây đu đủ tại Hà Nội, bổ sung vào danh lục sâu hại đu đủ ở Việt Nam Tại vùng ngoại thành Hà Nội đã ghi nhận được 13 loài thực vật thuộc 11 họ trong hệ sinh thái nông nghiệp là cây thức ăn của rệp sáp
giả P marginatus
1.2 Trong điều kiện ổn định (25oC, 30oC; 80% ẩm độ; chế độ chiếu sáng 16giờ/ngày đêm) và thức ăn là lá cây đu đủ giống Đài
Loan, rệp sáp giả P marginatus biến thái không hoàn toàn ở trưởng
thành cái và biến thái không hoàn toàn thừa ở trưởng thành đực Thời
gian vòng đời là 25,56-30,31 ngày Rệp sáp giả P marginatus có thể
sinh sản đơn tính (mặc dù có tới 61,0-61,1% trưởng thành đực trong quần thể) Sức đẻ trứng của trưởng thành cái là 233,53-462,2 trứng/con cái Trưởng thành cái có thể sống được 14,42-21,15 ngày
và trưởng thành đực chỉ sống được 1,77-1,88 ngày
1.3 Ở nhiệt độ 25oC, hệ số nhân của một thế hệ (Ro), tỷ lệ tăng
tự nhiên (rm), giới hạn tăng tự nhiên (λ), thời gian một thế hệ tính theo tuổi mẹ khi đẻ con (Tc) và thời gian tăng gấp đôi số lượng của quần thể (DT) tương ứng đạt 457,87 ♀/♀; 0,188 ♀/♀/ngày; 1,19 lần; 34,71 ngày và 3,93 ngày Ở nhiệt độ 30oC, tùy thuộc vào từng thông số mà giá trị của nó có thể tăng lên hoặc giảm xuống so với ở 25oC và tương ứng là 367,79 ♀/♀; 0,197 ♀/♀/ngày; 1,22 lần; 28,17 ngày và 3,52 ngày Một năm có gần 11 thế hệ trong phòng trong nhà lưới
1.4 Mật độ rệp sáp giả P marginatus trên giống Hồng Phi (mật
độ cao nhất 255,0 -256,5 con/lá và 6,5-7,3 con/quả) cao hơn rõ rệt so với giống đu đủ lùn (28,2 con/lá và 0,48-0,52 con/quả); mật độ trên cây đu đủ 1 năm tuổi (255,0 -256,5 con/lá và 6,5-7,3 con/quả) cao hơn
so với cây 2 năm tuổi (53,1-53,8 con/lá và 14,2-14,5 con/quả); mật độ trên cây đu đủ trồng xen chuối cao hơn trên cây đu đủ trồng thuần (83,5con/lá và 13,2 con/quả so với 53,1 con/lá và 4,26 con/quả); nhưng mật độ trên cây đu đủ trồng xen với cây ngô lại thấp hơn so với trồng thuần (19,1 con/lá và 1,32 con/quả so với 51,3 con/lá và 5,4
Trang 53.4.2.3 Hiệu lực đối với rệp sáp non các tuổi và trưởng thành loài
Paracoccus marginatus hại đu đủ của các thuốc BVTV
Thí nghiệm trong phòng được tiến hành với thuốc Spirotetramat và
Pymetrozine Các thuốc này được phun lên rệp sáp giả P marginatus ở
các tuổi khác nhau Sau phun 7 ngày, cả hai thuốc thí nghiệm đều có
hiệu lực cao đối với rệp sáp non tuổi 1 và tuổi 2; hiệu lực này tương
ứng đạt 80,90-87,64% và 75,28-80,90% Hiệu lực của hai thuốc thí
nghiệm giảm dần đối với rệp sáp non tuổi 3 (71,91-75,28%) và
trưởng thành (63,33-68,89%)
3.4.2.4 Hiệu lực đối với rệp sáp giả Paracoccus marginatus hại đu đủ
của các thuốc bảo vệ thực vật khi phun với các lượng nước khác nhau
Thí nghiệm được tiến hành với các thuốc Abamectin, Rotenone,
Pymetrozine, Spirotetramat với lượng nước phun là 600, 800, 1 000
lít/ha Sau phun 7 ngày, hiệu lực đối với rệp sáp giả P marginatus
của cả 4 loại thuốc được thí nghiệm đều đạt cao nhất (72,78-89,72%)
khi phun với lượng nước 1000 lít/ha Chỉ tiêu này đạt thấp hơn, chỉ
là 49,12-62,98% khi phun với lượng nước 600 lít/ha và là
61,23-83,44% khi phun với lượng nước 800lít/ha
3.4.2.5 Hiệu lực đối với rệp sáp giả Paracoccus marginatus hại đu đủ
của các thuốc BVTV khi phun bằng các dụng cụ phun khác nhau
Thí nghiệm đã tiến hành đánh giá ảnh hưởng của các loại bình
bơm (bơm tay đeo vai, bơm nén áp đeo vai và bơm động) đến hiệu
lực của các hoạt chất Spirotetramat, Abamectin, Pymetrozine và dầu
khoáng Kết quả cho thấy khi phun bằng bơm tay đeo vai cho hiệu lực
đối với rệp sáp giả P marginatus đạt thấp nhất (49,70-62,87%) và đạt
cao nhất (68,88-81,98%) khi phun bằng bơm nén áp Khi phun bằng
bơm động cơ thì hiệu lực đối với rệp sáp giả P marginatus
(65,04-80,24%) đạt cao hơn so với phun bằng bình bơm tay đeo vai, nhưng
thấp hơn so với khi phun bằng bơm nén áp
1.2 Nghiên cứu về rệp sáp giả Paracoccus marginatus trên thế giới 1.2.1 Nghiên cứu về phân loại, phân bố và tác hại của rệp sáp giả Paracoccus marginatus
1.2.1.1 Phân loại rệp sáp giả P marginatus
Loài rệp sáp giả P marginatus được Williams and Granara de
Willink mô tả năm 1992 dựa trên mẫu vật thu từ vùng tân nhiệt đới
Theo Williams và Granara, rệp sáp giả P marginatus có vị trí phân
loại như sau: giới động vật Animalia, ngành chân đốt Arthropoda, lớp côn trùng Insecta, phân lớp côn trùng có cánh Pterygota, bộ cánh đều Homoptera, phân bộ vòi ở ngực Sternorrhyncha, tổng họ rệp sáp
Coccoidea, họ rệp sáp giả Pseudococcidae, giống Paracoccus, loài P
marginatus Williams and Granara de Willink
1.2.1.2 Nguồn gốc, phân bố,sự xâm lấn của rệp sáp giả P marginatus
Rệp sáp giả P marginatus có nguồn gốc từ Mexico, Trung Mỹ
và phân bố ở vùng nhiệt đới Châu Mỹ, bắt đầu xâm lấn ra khỏi khu vực phân bố tự nhiên từ năm 1992 và nhanh chóng trở thành loài ngoại lai xâm lấn ở nhiều đảo thuộc vùng Caribê, Trung Mỹ, Nam
Mỹ Đến nay đã ghi nhận được ở 5 vùng địa sinh vật ở trên thế giới là neotropical, nearctic, oceania/Australia, oriental/Indo-Mala và
Afrotropical (Ben-Dov, 2012; Heu et al., 2007; Meyerdirk et al., 2004; Miller et al., 1999; Muniappan et al., 2006, 2008)
1.2.2 Nghiên cứu về đặc điểm hình thái học của rệp sáp giả Paracoccus marginatus
Đặc điểm hình thái trưởng thành, trứng và ấu trùng các tuổi của
rệp sáp giả P marginatus được mô tả trong tài liệu của Al-Helal et
al (2012), Mani Chellappan et al., 2013b, Miller et al (1999),
Sharma et al (2013), Tanwar et al (2010), Walker et al (2003), 1.2.3 Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học và sinh thái học của rệp sáp giả Paracoccus marginatus
Dẫn liệu về đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của rệp sáp giả
P marginatus có thể tìm thấy trong các tài liệu của Amarasekare et
al (2008a, 2008b), Hintenou et al (2015), Mani Chellappan et al
(2013b), Thangamalar et al (2010) và Walker et al (2006)
Trang 61.2.4 Nghiên cứu phòng chống rệp sáp giả Paracoccus marginatus
Đã có các nghiên cứu phòng chống rệp sáp giả P marginatus
gồm kiểm dịch thực vật, biện pháp canh tác, thủ công, biện pháp sinh
học, sử dụng chế phẩm thảo mộc, biện pháp hoá học và IPM (Banu et
al., 2010; Galanihe et al., 2010; Krishnan et al., 2016; Mani et al.,
2012; Muniappan, 2014; Saengyot amd Burikam, 2011; Seni and
Chongtham, 2013; Sharma et al., 2013; Tanwar et al., 2010;…)
1.3 Nghiên cứu rệp sáp giả P marginatus hại đu đủ tại Việt Nam
1.3.1 Hiện trạng phát hiện rệp sáp giả Paracoccus marginatus hại
đu đủ tại Việt Nam
Loài rệp sáp giả P marginatus lần đầu tiên được ghi nhận ở
Việt Nam trên cây sắn (Lê Thị Tuyết Nhung và nnk., 2014, 2015)
Cho đến nay chưa có công bố liên quan tới loài này trên cây đu đủ
1.3.2 Đặc điểm hình thái học của rệp sáp giả Paracoccus
marginatus hại đu đủ
Thành phần loài họ rệp sáp giả Pseudococcidae ở Việt Nam đã
được một số tác giả công bố (Nguyễn Thị Chắt, 2008; Nguyễn Thị
Chắt và nnk., 2005; Phạm Văn Lầm, 2013; Lê Thị Tuyết Nhung và
nnk., 2018; ) nhưng rất ít loài được mô tả đặc điểm hình thái
1.3.3 Đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của rệp sáp giả
Paracoccus marginatus hại đu đủ
Ở Việt Nam, trong những loài rệp sáp giả (Dysmicoccus
brevipes, Planococcus citri, P kraunhiae, ) đã được nghiên cứu đặc
điểm sinh vật học, sinh thái học không có loài rệp sáp giả
P marginatus (Nguyễn Thị Chắt, 2008; Nguyễn Văn Dân và nnk.,
2018; Đỗ Hồng Khanh và nnk., 2018; )
1.3.4 Biện pháp phòng chống rệp sáp giả P marginatus hại đu đủ
Đến nay chưa có nghiên cứu nào chuyên về biện pháp phòng
chống rệp sáp giả P marginatus được tiến hành tại Việt Nam
CHƯƠNG 2 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Địa điểm, thời gian nghiên cứu
- Phòng thí nghiệm, nhà lưới của Viện Bảo vệ thực vật
Spirotetramat và Pymetrozine có hiệu lực khá cao (tương ứng đạt 97,33% và 94,67%)
5 hoạt chất thuốc sinh học/thảo mộc (Abamectin, Azadirachtin, Emamectin benzoate, Matrine, Rotenone) và dầu khoáng đã chọn từ các thuốc phổ biến được đăng ký để trừ rệp sáp trên cây ăn quả được
đánh giá hiệu lực đối với rệp sáp giả P marginatus Sau phun 3 ngày,
các thuốc đều có hiệu lực đối với rệp sáp đu đủ khá cao (đạt
70,67-81,33%) Hoạt Abamectin và dầu khoáng có hiệu lực đạt cao hơn 80%
3.4.2.2 Hiệu lực đối với rệp sáp giả Paracoccus marginatus hại đu
đủ của các thuốc bảo vệ thực vật ngoài đồng
Thí nghiệm trên diện hẹp được thực hiện tại Đan Phượng (Hà Nội) năm 2016 Các hoạt chất được thí nghiệm là những hoạt chất đã được thí nghiệm ở trong phòng Sau 3 ngày phun, hiệu lực trên đồng
ruộng đối với rệp sáp giả P marginatus của các thuốc được thí nghiệm
đều đạt 73,75- 84,69% Vào thời điểm 7 ngày sau phun, hiệu lực của các thuốc đều đạt đạt khá cao và từ 80,27% đến 87,32% Trong đó, hỗn hợp hoạt chất Cypermethrin + Chlorpyrifos Ethyl có hiệu lực cao nhất (87,32%), sau đó đến Carbosulfan (86,5%) Hoạt chất Spirotetramat và Pymetrozine đạt hiệu lực khá cao, lần lượt là 86,42% và 83,8% Các chế phẩm sinh học/thảo mộc và dầu khoáng cho hiệu lực trên đồng ruộng
đối với rệp sáp giả P marginatus thấp hơn so với các hoạt chất hóa
học Sau phun 3 ngày, hiệu lực của chúng chỉ đạt 59,31-74,92% sau phun 7 ngày, hiệu lực của chúng ương đối khá và đạt từ 66,83% đến 78,01% Hoạt chất Abamectin đạt hiệu lực cao nhất (78,01%), sau đó đến dầu khoáng và Rotenone (lần lượt là 72,8% và 72,57%)
Từ thí nghiệm trong phòng và thí nghiệm diện hẹp ngoài đồng đã chọn 05 hoạt chất có hiệu lực khá cao (gồm 2 loại hoạt chất hoá học có
độ độc thấp, 2 hoạt chất sinh học/thảo mộc và dầu khoáng) để đánh giá
hiệu lực đối với rệp sáp giả P marginatus ở thí nghiệm diện rộng ngoài
đồng Sau phun 3 ngày, hiệu lực của các thuốc được thí nghiệm đạt không cao, chỉ là 45,30-63,37% Sau phun 10 ngày,hiệu lực của thuốc Spirotetramat đạt cao nhất là 84,79% và các thuốc khác được thí nghiệm
có hiệu lực khá (67,95% - 76,96%)
Trang 7cáo trồng xen cây chuối trong vườn đu đủ như một số địa phương
đang áp dụng hiện nay mà có thể trồng xen cây ngô
3.4.1.3 Tưới nước lên lá bằng bơm áp lực cao
Tưới nước lên lá bằng bơm áp lực cao là biện pháp đã được một
số nước trên thế giới áp dụng Khi phun nước lên lá (với lượng
2000-3000 lit nước/ha) bằng bơm áp lực cao và phun 2 lần trong 2 ngày
liên tục đã làm giảm đáng kể mật độ rệp sáp giả so với phun nước 1
lần với lượng 1000lit/ha bằng vòi phun Có thể áp dụng biện pháp
này để hạn chế rệp sáp giả hại cây đu đủ khi mật độ còn thấp
3.4.2 Biện pháp sử dụng thuốc bảo vệ thực vật
Theo Danh mục thuốc BVTV được phép sử dụng tại Việt Nam
ban hành kèm theo Thông tư Số 03/2018/TT-BNNPTNTngày 9 tháng
02 năm 2018 của Bộ Nông nghiệp và PTNT hiện không có thuốc
BVTV nào được đăng ký sử dụng để phòng chống rệp sáp giả
P marginatus trên cây đu đủ Trong sản xuất, nông dân đang dùng
các loại thuốc trừ rệp sáp trên cây trồng khác để phòng chống rệp sáp
giả hại cây đu đủ (trong đó có cả thuốc hoá học không được phép sử
dụng trên cây ăn quả vì có độ độc thuộc nhóm 2) Nghiên cứu này đã
đánh giá hiệu lực đối với rệp sáp giả P marginatus của 14 hoại chất
bảo vệ thực vật Trong đó có 8 hoạt chất thuốc BVTV hoá học và 6
hoạt chất thuốc sinh học/thảo mộc
3.4.2.1 Hiệu lực đối với rệp sáp giả Paracoccus marginatus hại đu
đủ của các hoạt chất thuốc bảo vệ thực vật trong phòng thí nghiệm
Đã đánh giá hiệu lực đối với rệp sáp giả P marginatus của 8
hoạt chất hoá học (đơn hoặc hỗn hợp), gồm 6 hoạt chất (đơn hoặc
hỗn hợp) được nông dân đang sử dụng phổ biến trên cây đu đủ (đó là
Cypermethrin + Chlorpyrifos Ethyl, Acetamiprid + Buproferin,
Carbosulfan, Acetamiprid + Chlorpyrifos Ethyl, Pyridaben +
Abamectin, Thiamethoxam) và 2 hoạt chất (Spirotetramat,
Pymetrozine) có độ độc thấp đã lựa chọn từ các thuốc phổ biến được
đăng ký để trừ rệp sáp trên các cây ăn quả Sau xử lý 3 ngày, các hoạt
chất được thí nghiệm trong phòng đều có hiệu lực đạt 94-100%,
trong đó hoạt chất Carbosulfan có hiệu lực đạt cao nhất (100%) và
tiếp theo là hỗn hợp Pyridaben + Abamectin (97,33%) Hoạt chất
- Vùng trồng đu đủ tại ngoại thành Hà Nội: xã Phụng Thượng (Phúc Thọ), xã Đan Phượng (Đan Phượng), xã Dị Nậu (Thạch Thất)
- Thời gian nghiên cứu: từ năm 2015 - 2018
2.2 Nội dung nghiên cứu
- Điều tra thành phần sâu hại cây đu đủ và xác định loài rệp sáp chính hại cây đu đủ ở vùng Hà Nội
- Xác định đặc điểm sinh vật học, sinh thái của loài rệp sáp giả
P marginatus hại trên cây đu đủ
- Diễn biến mật độ và yếu tố ảnh hưởng đến số lượng loài rệp
sáp giả P marginatus hại trên cây đu đủ ở vùng nghiên cứu
- Nghiên cứu biện pháp phòng chống tổng hợp rệp sáp giả P
marginatus hại trên cây đu đủ
2.3 Vật liệu và dụng cụ thiết bị phục vụ nghiên cứu
Nguồn rệp sáp giả P marginatus dùng trong nghiên cứu được
thu tại các vườn trồng đu đủ của Hà Nội
Giống đu đủ Hồng Phi - Đài Loan được dùng làm thức ăn nuôi
rệp sáp giả P marginatus trong các thí nghiệm trong phòng
Các giống đu đủ Hồng Phi (Đài Loan), đu đủ cao sản lùn (Thái Lan) được sử dụng trong nghiên cứu trên đồng ruộng
* Các dụng cụ, thiết bị: Kính lúp soi nổi Carl Zeizz Stemi
2000-C, kính hiển vi Carl Zeizz Promostar với độ phóng đại tối đa là 1000 lần, tủ sinh thái côn trùng DAEYANGETS model GC-101B (nhãn hiệu RGX-400E) có điều chỉnh nhiệt độ, ẩm độ, ánh sáng Các dụng cụ khác: hộp nhựa nuôi côn trùng, hộp Petri, ống nghiệm, kim côn trùng, lame, lamen, chậu nhựa, lồng lưới nuôi côn trùng, nhà lưới, bút lông, giấy thấm, lọ đựng mẫu, túi ni-lông,
* Hóa chất: Cồn 96%, dung dịch KOH, axít fuchsin, axít alcohol, dầu đinh hương, keo dán ca-na-đa, một số loại thuốc BVTV trừ rệp sáp giả,
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp điều tra thành phần sâu hại cây đu đủ và xác định loài sâu chính hại cây đu đủ ở vùng Hà Nội
2.4.1.1 Phương pháp điều tra sâu hại trên cây đu đủ
Theo phương pháp điều tra thành phần sinh vật hại của Viện Bảo vệ thực vật (1997), Quy chuẩn QCVN 01- 38: 2010/BNNPTNT
Trang 8về phương pháp điều tra phát hiện dịch hại cây trồng Điều tra
định kỳ 14 ngày/lần vào ngày cố định trong tháng
2.4.1.2 Giám định tên sâu hại cây đu đủ
Đối với rệp sáp, làm mẫu tiêu bản trên lame theo phương
pháp của Waston (2007) và giám định tên theo tài liệu của
Williams và Willink (1992), Williams và Watson (1988, 1990)
Mẫu tiêu bản sau giám định được TS Natalia von Ellenrieder (ở
Trung tâm Giám định sinh vật hại thuộc Cục Nông nghiệp và
Thực phẩm bang California) thẩm định
Tên khoa học của các loài sâu hại khác trên cây đu đủ được
các chuyên gia phân loại trong nước giám định
2.4.2 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm hình thái, sinh vật học,
sinh thái học của rệp sáp giả Paracoccus marginatus hại đu đủ
trong phòng thí nghiệm
2.4.2.1 Nghiên cứu đặc điểm hình thái học
Mô tả hình dáng, màu sắc, cấu tạo ngoài và đo chiều dài, chiều
rộng, chụp ảnh các pha trứng, rệp sáp non, trưởng thành dưới kính
lúp soi nổi (số mẫu quan sát cho mỗi pha/giai đoạn phát triển n = 30)
2.4.2.2 Nghiên cứu đặc điểm sinh vật học, sinh thái học
Theo phương pháp của Amarasekare et al (2008a) có sự cải
tiến cho phù hợp với điều kiện phòng thí nghiệm Rệp sáp giả P
marginatus được nuôi cá thể trong tủ sinh thái (nhãn hiệu
RGX-400E) ở nhiệt độ 25ºC, 30ºC với cùng 80% ẩm độ, chiếu sáng 16
giờ/ngày đêm Theo dõi thời gian phát triển các pha, thời gian vòng
đời,… Các chỉ tiêu tăng trưởng quần thể (rm), Ro, Tc, λ, DT) được tính
theo Birch (1948) và Kakde và nnk (2014)
2.4.3 Phương pháp nghiên cứu diễn biến mật độ và yếu tố ảnh hưởng
đến số lượng loài rệp sáp giả Paracoccus marginatus hại đu đủ
Tiến hành trên 2 giống đu đủ Hồng Phi (Đài Loan) và Cao sản
lùn (Thái Lan) ở các điều kiện khác nhau như tuổi cây (1 và 2 năm
tuổi), hình thức canh tác (trồng thuần, trồng xen), trồng luân canh
(với khoai tây) Thực hiện theo phương pháp điều tra cơ bản côn
trùng của Viện Bảo vệ thực vật (1997)
3.3.4 Ảnh hưởng của luân canh đến mật độ rệp sáp giả Paracoccus marginatus hại đu đủ
Tại Thạch Thất, nông dân thường trồng đu đủ độc canh hoặc trồng cây đu đủ 1 năm tuổi luân canh với vụ khoai tây, ớt, rau thập
tự… Trong vườn trồng đu đủ độc canh, rệp sáp giả P marginatus
bắt đầu xuất hiện trên lá từ ngày 5/3/2017 với mật độ thấp (0,80 con/lá) Sau đó, mật độ gia tăng, đặc biệt gia tăng nhanh từ giữa tháng 4 và hình thảnh 2 đỉnh cao: đỉnh cao 1 từ ngày 29/6/2017 đến 6/7/2017 (với 39,30 - 39,80 con/lá; 4,80 - 6,30 con/quả) và đỉnh cao 1 vào ngày 19/10/2017 (với 256,50 con/lá; 4,70 con/quả) Tại vườn
trồng đu đủ luân canh với cây khoai tây, rệp sáp giả P marginatus
bắt đầu xuất hiện trên lá đu đủ muộn hơn (từ ngày 12/3/2017) với
mật độ thấp hơn (0,30 con/lá) Mật độ rệp sáp giả P marginatus gia
tăng nhanh từ cuối tháng 4 và hình thảnh 2 đỉnh cao: đỉnh cao 1 từ ngày 29/6/2017 đến 6/7/2017 (với 21,3 - 22,50 con/lá; 2,90 - 3,50 con/quả) và đỉnh cao 2 vào ngày 19/10/2017 (với 72,10 con/lá; 2,20 con/quả) Như vậy, trên cây đu đủ ở vườn trồng độc canh có rệp sáp giả
P marginatus xuất hiện sớm hơn với mật độ luôn cao hơn so với trên cây
đu đủ ở vườn trồng luân canh với cây khoai tây
3.4 Biện pháp phòng chống rệp sáp giả P marginatus hại đu đủ 3.4.1 Biện pháp canh tác
3.4.1.1 Sử dụng giống ít nhiễm rệp sáp giả P marginatus hại đu đủ
Kết quả nghiên cứu mật độ rệp sáp giả trên 2 giống đu đủ chủ lực đang trồng tại vùng Hà Nội là giống đu đủ Hồng Phi và đu đủ lùn (mục 3.3.1) cho thấy mật độ rệp sáp giả trên giống đu đủ lùn luôn thấp hơn rõ rệt so với trên giống đu đủ Hồng Phi Như vậy, để hạn chế rệp
sáp giả P marginatus có thể hạn chế sử dụng giống đu đủ Hồng Phi,
tăng cường quy mô sử dụng giống đu đủ lùn
3.4.1.2 Trồng xen canh
Trong vườn đu đủ trồng xen cây ngô có mật độ rệp sáp giả P
marginatus thấp hơn so với trong vườn đu đủ trồng thuần Ngược lại,
trong vườn đu đủ trồng xen cây chuối lại có mật độ rệp sáp giả P
marginatus đạt cao hơn so với trong vườn đu đủ trồng thuần ( mục 3.3.3 ) Như vậy, để hạn chế rệp sáp giả P marginatus không khuyến
Trang 9khi đó, trên cây đu đủ 2 năm tuổi rệp sáp giả P marginatus có mặt
quanh năm, mật độ trên lá hình thành 2 đỉnh cao vào cuối tháng 6 và
giữa tháng 10 đến đầu tháng 11) Mật độ ở đỉnh cao thứ nhất đều cao
gấp nhiều lần so với ở đỉnh cao thứ hai Mật độ rệp sáp giả P
marginatus trên cây đu đủ 1 năm tuổi luôn cao hơn so với mật độ rệp
sáp giả P marginatus trên cây đu đủ 2 năm tuổi
3.3.3 Diễn biến mật độ rệp sáp giả Paracoccus marginatus hại đu
đủ trong vườn trồng thuần và trồng xen
Tại Phúc Thọ, trên cây đu đủ ở vườn trồng xen cây chuối có mật
độ rệp sáp giả P marginatus đạt thấp từ tháng 1 đến tháng 3; sau đó
mật độ bắt đầu gia tăng từ đầu tháng 4 và hình thành hai đỉnh cao:
đỉnh cao 1 vào ngày 29/6/2017 (với 49,10 con/lá; 6,22 con/quả) và
đỉnh cao 2 vào ngày 9/11/2017 (với 83,40 con/lá; 13,20 con/quả)
Trong khi đó, trên cây đu đủ ở vườn đu đủ trồng thuần có mật độ rệp
sáp giả P marginatus đạt thấp từ tháng 1 đến tháng 5 ; sau đó mật độ
bắt đầu gia tăng và hình thành hai đỉnh cao: đỉnh cao 1 vào ngày
29/6/2017 (với 16,2 con/lá; 1,6 con/quả) và đỉnh cao 2 vào ngày
2/11/2017 (với 53,10 con/lá; 4,26 con/quả)
Tại Thạch Thất, trong vườn trồng xen ngô có mật độ rệp sáp giả
P marginatus đạt thấp từ tháng 1 đến giữa tháng 5 (2,20 - 5,50 con/lá
và 0,10 - 1,30 con/quả); sau đó, mật độ bắt đầu gia tăng, hình thảnh
đỉnh cao 1 từ ngày 22 đến 29/6/2017 (với 8,70 - 9,50 con/lá; 0,80 -
1,96 con/quả) và đỉnh cao 2 vào ngày 9/11/2017 (với 19,10 con/lá;
1,32 con/quả) Trong khi đó, trên cây đu đủ ở vườn đu đủ trồng thuần
có mật độ rệp sáp giả P marginatus từ tháng 1 đến tháng 3 đạt cao
hơn (5,80 - 8,70 con/lá và 0,53 - 1,80 con/quả); sau đó, mật độ bắt
đầu gia tăng, hình thảnh đỉnh cao 1 từ ngày 22 đến 29/6/2017 (với
16,10 - 16,20 con/lá; 8,70 - 9,50 con/quả) và đỉnh cao 2 vào ngày
2/11/2017 (với 51,30 con/lá; 5,40 con/quả)
Như vậy, Trong vườn trồng xen cây chuối rệp sáp giả P
marginatus có mật độ luôn cao hơn và gia tăng sớm hơn so với trong
vườn trồng thuần Ngược lại, trong vườn trồng xen cây ngô rệp sáp
giả P marginatus có mật độ luôn thấp hơn và gia tăng muộn hơn so
với trong vườn trồng thuần
2.4.4 Phương pháp nghiên cứu biện pháp phòng chống tổng hợp rệp sáp giả Paracoccus marginatus trên cây đu đủ
2.4.4.1 Phương pháp nghiên cứu phòng chống bằng biện pháp canh tác
Dựa vào kết quả điều tra diễn biến mật độ rệp sáp giả
P marginatus trên đồng ruộng (mục 2.4.3) để xác định tác động hạn
chế mật độ rệp sáp giả P marginatus của các điều kiện canh tác khác
nhau Trên cơ sở đó khuến cáo áp dụng những biện pháp canh tác có
tác động hạn chế mật độ rệp sáp giả P marginatus
2.4.4.2 Phương pháp nghiên cứu phòng chống bằng biện pháp thủ công
Thí nghiệm tưới nước bằng bơm áp lực cao để rửa trôi rệp sáp
giả P marginatus trên lá đu đủ Thí nghiệm được thực hiện tại Dị
Nậu (Thạch Thất, Hà Nội) trên vườn đu đủ 2 năm tuổi Thí nghiệm diện rộng, không nhắc lại, diện tích mỗi công thức là 300 m2 Công thức thí nghiệm gồm: phun rửa trôi bằng nước với lượng 1000, 2000,
3000 lít/ha (tương đương và cao gấp 2, 3 lần so với lượng nước khuyến cáo khi phun thuốc BVTV trên cây ăn quả) và đối chứng (không phun nước) Dụng cụ phun thí nghiệm: vòi phun và bơm nén
áp công suất lớn Phun rửa trôi 2 lần cách nhau 1 ngày Phun đều
nước ở cả mặt trên và mặt dưới của lá vào 15-18 giờ chiều
Điều tra mật độ rệp sáp giả trước và sau phun nước 7 ngày Tính
hiệu lực theo công thức Henderson-Tilton
2.4.4.3 Phương pháp nghiên cứu phòng chống bằng biện pháp sử dụng thuốc bảo vệ thực vật
Tiến hành đánh giá hiệu lực đối với rệp sáp giả P marginatus
của các hoạt chất thuốc BVTV ở trong phòng thí nghiệm và thí nghiệm diện hẹp trên đồng ruộng Nghiên cứu xác định lượng dùng,
thời điểm phun, lượng nước phun, công cụ phun phù hợp
Hiệu lực đối với rệp sáp giả tính theo công thức Abbot (thí nghiệm trong phòng) và công thức Henderson-Tilton (thí nghiệm ở đồng ruộng)
2.5 Phương pháp xử lý số liệu
Các số liệu đồng ruộng được xử lý bằng phần mềm Excel và phần mềm xử lý thống kê Statistix window
Trang 10CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 Thành phần sâu hại cây đu đủ ở vùng Hà Nội
3.1.1 Thành phần loài côn trùng và nhện nhỏ hại cây đu đủ
Đã thu thập và xác định được 8 loài sâu hại trên cây đu đủ thuộc
8 họ khác nhau của 6 bộ côn trùng và bộ ve bét, gần tương tự với số
loài côn trùng/nhện nhỏ hại trên cây đu đủ đã ghi nhận được ở Việt
Nam cho đến năm 2013 (Phạm Văn Lầm, 2013) Phần lớn số loài (6
loài) côn trùng hại trong nghiên cứu này không trùng với các loài đã
ghi nhận được trên cây đu đủ trước năm 2013
3.1.2 Giám định tên loài rệp sáp giả hại cây đu đủ đã thu thập
Sử dụng khóa phân loại đến giống của Williams (2004), Williams
và Watson (1988) cho thấy loài rệp sáp giả thu thập trên cây đu đủ tại Hà
Nội thuộc giống Paracoccus Ezzat & McConnell Theo khóa phân loại
đến loài của Williams và Willink (1992), những đặc điểm hình thái
quan sát được trên mẫu lam đều trùng với đặc điểm phân loại của loài
rệp sáp giả P marginatus Williams and Granara de Willink (hình 3.1)
Sau khi giám định, mẫu lam của loài rệp sáp giả hại cây đu đủ được gửi
tới Trung tâm Giám định sinh vật hại thuộc Cục Nông nghiệp và Thực
phẩm bang California để thẩm định TS Natalia von Ellenrieder cũng
khẳng định loài rệp sáp giả hại cây đu đủ là loài P marginatus Williams
and Granara de Willink
(Nguồn: Đoàn Thị Lương)
(Nguồn: Williams, Willink, 1992)
Hình 3.1 Hình mẫu lam của rệp sáp giả P marginatus thu thập ở
Hà Nội
Hồng Phi tại cả hai địa điểm nghiên cứu Trên cả hai giống đu đủ,
mật độ rệp sáp giả P marginatus trên lá luôn cao hơn rõ rệt so với
mật độ trên quả và mật độ đều đạt cao nhất từ cuối tháng 10 đến đầu tháng 11 khi nhiệt độ chưa xuống thấp, ít mưa lớn và đạt thấp nhất vào tháng 8 khi có mưa lớn kéo dài Điều này gần tương tự như kết
quả nghiên cứu của Walker et al (2003) Theo các tác giả này, lượng mưa lớn làm giảm nghiêm trọng mật độ quần thể của rệp sáp giả P
Marginatus (hình 3.13; 3.14; 3.15 và 3.16)
Hình 3.13 Diễn biến mật độ của
rệp sáp giả đu đủ P marginatus
trên lá các giống đu đủ khác nhau tại Phúc Thọ, Hà Nội năm 2017
Hình 3.14 Diễn biến mật độ của
rệp sáp giả P marginatus trên lá
các giống đu đủ khác nhau tại Thạch Thất, Hà Nội năm 2017
Hình 3.15 Diễn biến mật độ của
rệp sáp giả đu đủ P marginatus
trên quả các giống đu đủ khác nhau tại Phúc Thọ, Hà Nội năm 2017
Hình 3.16 Diễn biến mật độ của
rệp sáp giả P marginatus trên quả
các giống đu đủ khác nhau tại Thạch Thất, Hà Nội năm 2017
3.3.2 Diễn biến mật độ rệp sáp giả Paracoccus marginatus trên cây
đu đủ ở các độ tuổi khác nhau
Trên cây đu đủ 1 năm tuổi rệp sáp giả P marginatus xuất hiện
trên lá từ đầu tháng 3 và trên quả từ đầu tháng 5, hình thành 2 đỉnh cao mật độ vào cuối tháng 6 đến đầu tháng 7 và giữa tháng 10 Trong