1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu một số giải pháp nâng cao chất lượng quản lý tuyến đê biển tỉnh nam định

88 47 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 3,52 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CÁM ƠNLuận văn "Nghiên cứu một số giải pháp nâng cao chất lượng quản lý tuyến đê biểntỉnh Nam Định" được hoàn thành ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân, tác giả cònđược sự giúp đỡ n

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI

LÊ HUY HOÀNG

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG QUẢN LÝ TUYẾN ĐÊ BIỂN TỈNH NAM ĐỊNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ

HÀ NỘI, NĂM 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI

LÊ HUY HOÀNG

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG QUẢN LÝ TUYẾN ĐÊ BIỂN TỈNH NAM ĐỊNH

Chuyên ngành: Quản lý Xây Dựng

Mã số: 60580302

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC GS.TS Vũ Thanh Te

HÀ NỘI, NĂM 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tác giả xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân tác giả Các kết quảnghiên cứu và các kết luận trong luận văn là trung thực, không sao chép từ bất kỳ mộtnguồn nào và dưới bất kỳ hình thức nào.Việc tham khảo các nguồn tài liệu (nếu có) đãđược thực hiện trích dẫn và ghi nguồn tài liệu tham khảo đúng quy định

Tác giả luận văn

Lê Huy Hoàng

Trang 4

LỜI CÁM ƠN

Luận văn "Nghiên cứu một số giải pháp nâng cao chất lượng quản lý tuyến đê biểntỉnh Nam Định" được hoàn thành ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân, tác giả cònđược sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy, cô, bạn bè đồng nghiệp, cơ quan và gia đình.Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS.TS Vũ Thanh Te và các thầy, cô trong tổmôn Quản lý Xây dựng đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn cũng như cung cấp các tàiliệu thông tin khoa học cần thiết cho luận văn này

Tác giả xin trân trọng cảm ơn các đồng nghiệp tại Phòng Thí nghiệm trọng điểm Quốcgia về động lực học sông biển - Viện Khoa học Thủy Lợi Việt Nam, Chi cục Thủy lợi

- Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Nam Định, Sở Khoa học và Công nghệtỉnh Nam Định đã giúp đỡ tác giả thu thập tài liệu và hướng dẫn tác giả trong quá trìnhlàm luận văn

Hà Nội, ngày 25 tháng 10 năm 2017

Lê Huy Hoàng

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CÁM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH v

DANH MỤC BẢNG BIỂU vi

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vii

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐÊ BIỂN VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐÊ BIỂN4 1.1 Tổng quan đê biển Việt Nam và Nam Định 4

1.1.1 Tổng quan hệ thống đê biển ở Việt Nam 4

1.1.2 Tổng quan hệ thống đê biển tỉnh Nam Định 6

1.2 Những sự cố, hư hỏng của đê biển và ảnh hưởng của nó đến phát triển kinh tế - xã hội 8 1.3 Những yếu tố liên quan đến chất lượng công tác quản lý đê biển 12

1.3.1 Về qui hoạch 12

1.3.2 Về Công tác thiết kế 14

1.3.3 Những vấn đề về thi công 16

1.3.4 Những vấn đề về quản lý 19

1.4 Đề xuất nhiệm vụ nghiên cứu 21

1.5 Kết luận chương 23

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ KHOA HỌC TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ HỆ THỐNG ĐÊ BIỂN 24

2.1 Đặc điểm làm việc của đê biển và những quy định pháp lý liên quan đến quản lý đê biển tỉnh Nam Định 24

2.1.1 Đặc điểm làm việc của đê biển Nam Định 24

2.1.2 Những quy định pháp lý liên quan đến quản lý đê biển tỉnh Nam Định 26

2.2 Tiêu chí đánh giá kết quả quản lý đê biển 27

2.2.1 Sự phối hợp giữa các đơn vị trong quản lý đê 27

2.2.2 Các sự cố đê biển xảy ra trong tần suất thiết kế 27

Trang 6

2.2.3 Chi phí bảo dưỡng vận hành đê biển và các công trình dưới đê 27

2.3 Những nhân tố tác động đến chất lượng đê biển 29

2.3.1 Những nhân tố chủ quan 29

2.3.2 Những nhân tố khách quan 29

2.4 Những tiến bộ về khoa học trong công tác quản lý đê biển 29

2.5 Tồn tại những vấn đề khoa học trong quản lý đê biển 37

2.4 Kết luận chương 38

CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐÊ BIỂN VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG QUẢN LÝ ĐÊ BIỂN TỈNH NAM ĐỊNH 39

3.1 Giới thiệu khái quát về khu vực tỉnh Nam Định 39

3.1.1 Hiện trạng hệ thống đê biển tỉnh Nam Định 43

3.1.2 Thực trạng công tác quản lý đê biển tỉnh Nam Định trong thời gian qua 47 3.1.3 Đánh giá chung về tổ chức và hoạt động của công tác quản lý đê biển tỉnh Nam Định trong thời gian qua 52

3.2 Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng quản lý tuyến đê biển tỉnh Nam Định 53

3.2.1 Định hướng phát triển của tỉnh Nam Định trong thời gian tới 53

3.2.2 Những nguyên tắc trong việc đề xuất giải pháp quản lý hệ thống đê biển 53 3.2.3 Áp dụng phương pháp thống kê đánh giá an toàn tuyến đê biển huyện Giao Thủy tỉnh Nam Định 54

3.2.4 Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng quản lý tuyến đê biển trên địa bàn tỉnh Nam Định 63

3.2.5 Kiến nghị các giải pháp hỗ trợ 72

3.3 Kết luận chương 72

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 73

TÀI LIỆU THAM KHẢO 74

Trang 7

DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH

Hình 1-1 Bão lớn làm vỡ nhiều tuyến đê 9

Hình 1-2 Đê Văn Lý vỡ năm 1990 10

Hình 1-3 Sóng tràn qua đê 12

Hình 3-1 Vị trí địa lý tỉnh Nam Định 39

Hình 3-2 Bản đồ chế độ gió 40

Hình 3-3 Bão đổ bộ vào khu vực Vịnh Bắc Bộ từ năm 1950 ÷ 2000 41

Hình 3-4 Tuyến đê biển Giao Thủy 54

Hình 3-5 Đoạn đê đại diện đoạn K0 - K15,5 đê biển Giao Thủy 56

Hình 3-6 Đoạn đê đại diện K15,5 - K18,5 huyện Giao Thủy 57

Hình 3-7 Cống lấy nước trên tuyến đê biển Giao Thủy 58

Hình 3-8 Quy trình đánh giá ATĐ 71

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2-1 Tiêu chí cho điểm theo loại đất đắp thân đê 32

Bảng 2-2 Tiêu chí cho điểm theo có hoặc không có đê tuyến 2 .32

Bảng 2-3 Tiêu chí cho điểm theo chiều rộng và cao trình bãi phía biển .32

Bảng 2-4 Tiêu chí cho điểm theo loại kè mái đê phía biển 33

Bảng 2-5 Tiêu chí cho điểm theo tình trạng Cống trên đê .33

Bảng 2-6 Tiêu chí cho điểm theo tình trạng đê 34

Bảng 2-7 Căn cứ váo giá trị V, có thể mô tả được tình trạng đê như sau: 35

Bảng 2-8 Tiêu chí cho điểm theo HQSCĐ (C) 35

Bảng 2-9 Thang điểm đánh giá hậu quả 36

Bảng 2-10 Phân cấp an toàn đê theo P 36

Bảng 3-1 Thống kê nhiệt độ trung bình tháng trạm Văn Lý 40

Bảng 3-2 Thống kê hướng và tốc độ gió lớn nhất trạm Văn Lý 40

Bảng 3-3 Bảng tính cấp ATĐ cho đoạn từ K0 đến K15,5 đê biển Giao Thủy 58

Bảng 3-4 Bảng tính cấp ATĐ cho đoạn từ K15,5 đến K18,5 đê biển Giao Thủy 59

Bảng 3-5 Bảng tính cấp ATĐ cho đoạn từ K18,5 đến K20,5 đê biển Giao Thủy 60

Bảng 3-6 Bảng tính cấp ATĐ cho đoạn từ K20,5 đến K25,5 đê biển Giao Thủy 61

Bảng 3-7 Bảng tính cấp ATĐ cho đoạn từ K25,5 đến K31,0 đê biển Giao Thủy 62

Bảng 3-8 Nội dung công tác kiểm tra hiện trường 69

Trang 9

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

(Xếp theo thứ tự A,B,C của chữ cái đầu viết tắt)

ATĐ : An toàn đê BCH :

PTNT : Phát triển Nông thôn

UBND : Ủy ban nhân dân

WB6 : World Bank 6

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của Đề tài

Tỉnh Nam Định có hơn 72 Km bờ biển kéo dài từ cửa Ba lạt - sông Hồng đến cửa sôngĐáy Để bảo vệ khu vực này hơn 90 km đê đã được xây dựng qua các thời kỳ Tuynhiên do hiện tượng biến đổi khí hậu, các hiện tượng mưa lớn, xoáy giật, lốc, đặc biệt

là các cơn bão lớn ngày càng xuất hiện nhiều và quy luật hoạt động ngày càng bấtthường có sức tàn phá lớn cùng với những hoạt động quản lý chất lượng đê điều chưatốt nên, hệ thống đê biển tỉnh Nam Định liên tục bị xói lở Nhiều đoạn đê đã bị pháhủy và phải lui tuyến hàng trăm mét Hiện tượng xói lở bờ biển đã gây ra những hậuquả nghiêm trọng về kinh tế - xã hội như mất đất ở và đất canh tác, ảnh hưởng đến các

cơ sở sản xuất, đe dọa phá huỷ các công trình đê kè biển, ngoài ra còn gây ra nhữnghậu quả về mặt xã hội đối với nhân dân các xã ven biển đặc biệt là một số xã thuộchuyện Hải Hậu do hậu quả của việc di dời và tái định cư Để hạn chế những hậu quả

do hiện tượng xói lở bờ biển gây nên, chính quyền tỉnh Nam Định và các huyện venbiển đã nỗ lực huy động sức người, sức của cho công tác đắp đê, kè biển phòng chốngxói lở cũng như việc ổn định cuộc sống của nhân dân vùng phải di dời Tuy nhiênnhững nỗ lực, cố gắng đó mới chỉ mang tính chất chống đỡ, cầm cự tạm thời do nguồnkinh phí còn eo hẹp và còn do thiếu một giải pháp tổng thể có tính chiến lược lâu dài

Vì vậy việc nghiên cứu tìm ra giải pháp phù hợp để nâng cao chất lượng quản lý tuyến

đê biển tỉnh Nam Định là rất cần thiết

2 Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác quản lý tuyến

đê biển trên địa bàn tỉnh Nam Định đến năm 2025 và những năm tiếp theo

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

a Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là công tác quản lý tuyến đê biển tỉnh Nam Định;những nhân tố ảnh hưởng và các giải pháp nhằm tăng cường công tác quản lý hệ thống

Trang 12

đê biển trên địa bàn tỉnh Nam Định (Trên tuyến đê biển có công trình đê, kè, cống,nhà quản lý đê nên trong luận văn khi dùng là tuyến đê biển khi dùng hệ thống đêbiển hoặc có khi dùng là đê biển cho phù hợp từng nội dung).

b Phạm vi nghiên cứu:

- Phạm vi nghiên cứu về nội dung: Công tác quản lý đê biển tại luận văn này đề cập

đến công tác quản lý từ khâu lập quy hoạch, kế hoạch xây dựng đê biển, đến quản lýchất lượng trong xây dựng đê biển và các công trình trên đê và công tác quản lý vậnhành, khai thác đê biển để bảo vệ an toàn chống bão, triều cường

Quản lý công tác quy hoạch, kế hoạch là công tác quản lý trong giai đoạn lập quyhoạch xây dựng tuyến đê, lập kế hoạch xây dựng từng hạng mục công trình trên đê và

đề xuất các chính sách phục vụ công tác quản lý chất lượng và công tác quản lý vậnhành hệ thống đê điều

Quản lý chất lượng tuyến đê biển là quản lý xây dựng đê và các công trình trên đêtrong các khâu khảo sát, thiết kế, thi công xây dựng, bảo trì công trình và giải quyết sự

cố công trình

Quản lý vận hành công trình là quản lý khi công trình đã hoàn thành thi công đưa vàovận hành khai thác Quản lý vận hành bao gồm công tác kiểm tra phát hiện sự cố đêđiều, kiểm soát các hoạt động liên quan đến an toàn đê điều, duy tu, bảo dưỡng đêđiều, triển khai các hoạt động ứng phó sự cố đê điều khi xảy ra bão, triều cường

- Phạm vi nghiên cứu về không gian: Hệ thống đê biển tỉnh Nam Định;

- Phạm vi nghiên cứu về thời gian: Luận văn nghiên cứu phân tích các số liệu thu thập

được trong 5 năm qua và đề xuất giải pháp cho tới năm 2025 và những năm tiếp theo

4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thu thập tài liệu

- Phương pháp thu thập và kế thừa nghiên cứu đã có

- Phân tích cơ sở lý luận trong quản lý chất lượng

- Phương pháp chuyên gia: Xin ý kiến

Trang 13

- Phương pháp liên quan khác.

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

a Ý nghĩa khoa học của đề tài:

Những kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận trongviệc nâng cao chất lượng quản lý, xây dựng và bảo vệ đê biển tỉnh Nam Định đáp ứngyêu cầu phòng chống thiên tai bảo vệ dân cư và sản xuất vùng ven biển của tỉnh

b Ý nghĩa thực tiễn của đề tài:

Những giải pháp đề xuất của luận văn là những đóng góp giúp cho chi cục Thủy Lợi,các hạt quản lý đê và các đội quản lý đê nhân dân vùng biển tham khảo nhằm nâng caochất lượng quản lý đê biển của tỉnh

6 Kết quả dự kiến đạt được

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về đê biển và công tác quản lý hệ thống đêbiển, nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý hệ thống đê biển;

- Phân tích đánh giá hiện trạng hệ thống đê biển và thực trạng công tác quản lý hệthống đê biển trên địa bàn tỉnh Nam Định trong 05 năm qua, qua đó đánh giá nhữngkết quả đạt được và những tồn tại cần khắc phục;

- Ứng dụng phương pháp thống kê đánh giá an toàn đê biển huyện Giao Thủy và từ đóxác định các yếu tố cần thiết trong công tác kiểm tra đê biển;

- Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp tăng cường chất lượng công tác quản lý đê biểntrên địa bàn tỉnh Nam Định nhằm đáp ứng yêu cầu phòng chống thiên tai và phát triểnbền vững của tỉnh

7 Nội dung của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, luận văn gồm có 3 chương :

Chương 1: Tổng quan về đê biển và công tác quản lý đê biển

Chương 2: Cơ sở khoa học trong công tác quản lý hệ thống đê biển

Chương 3: Thực trạng công tác quản lý đê biển và đề xuất một số giải pháp nâng cao

chất lượng công tác quản lý tuyến đê biển trên địa bàn tỉnh Nam Định

Trang 14

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐÊ BIỂN VÀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ

ĐÊ BIỂN

1.1 Tổng quan đê biển Việt Nam và Nam Định

1.1.1 Tổng quan hệ thống đê biển ở Việt Nam

Hiện nay, Việt Nam có khoảng trên 2800 km đê biển thuộc 28 tỉnh và thành phố, bảo

vệ khoảng 0,70 triệu ha đất canh tác, khu đô thị, khu Công nghiệp, Cảng với khoảng

5 triệu dân trong đó 85% sống chủ yếu dựa vào Nông nghiệp Từ năm 1410 Việt Nambắt đầu đắp đê biển Việc xây dựng đê biển vừa là biện pháp phòng, chống vừa là biệnpháp thích ứng với bão lụt, nước biển dâng và xâm nhập mặn Tại Ninh Bình, năm

1471 đắp đê Hồng Đức chạy từ bắc Yên Mô đến Phụng Công, nằm sâu trong đất liềncách bờ biển hiện nay khoảng 25 km Đê biển thứ hai được đắp năm 1830 ở Thần Phù

- Điền Hộ cách con đê thứ nhất khoảng 8 km với thời gian lấn biển dài đến 369 năm.Con đê thứ ba tiến ra biển thêm chừng 7,5 km được đắp vào những năm 1830 – 1927(97 năm) Con đê thứ tư đắp vào năm 1959 (32 năm sau) tiến thêm ra biển 8 km nữa

Đê biển Thanh Hoá, Hà Tĩnh và Bình Định (Đê Đông) được hình thành từ những năm

1929 – 1930 Hầu hết đê biển, đê cửa sông các tỉnh Miền Trung và Nam Bộ được đắpkhoảng sau năm 1975 [1]

Đê biển là hệ thống đập, cống, kè, đê (bằng đất, đá, beton cốt thép ) ngăn mặn bảo vệcửa sông, bờ biển, khu dân cư và những hoạt động kinh tế ven biển và đảm bảo anninh quốc phòng Khác với đê sông, đê biển làm việc thường xuyên hàng ngày còn đêsông chỉ làm việc theo mùa lũ

Bờ biển nước ta dài 3354 km, song mới có 1400 km đê trực tiếp với biển và khoảng

1400 km đê cửa sông, chiếm 42,3% Trong đó hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận cóthể coi như chưa có đê biển (Ninh Thuận có 6,23 km, Bình Thuận có 10,71 km đê biểnsong phần lớn là đê cửa sông Cái Phan Rang, Phan Thiết và kè Mũi Né)

Hệ thống đê biển của Việt Nam trong những năm vừa qua đã được quan tâm đầu tưcủng cố và nâng cấp Tuy nhiên những tuyến đê mới được nâng cấp chỉ chống đượcbão tới cấp 9 gặp mực nước triều tần suất 5% Các tuyến đê hiện nay chưa đủ kiên cố

Trang 15

để chống đỡ bão lũ cấp cao hơn Đặc biệt hiện nay nhiều cơn bão mạnh cấp 12 hoặctrên cấp 12 đổ bộ vào nước ta vì thế Việt Nam đã hết sức quan tâm đầu tư các dự ánnhư dự án đầu tư nâng cấp hệ thống đê biển tỉnh Nam Hà - PAM 5325; hai Chươngtrình nâng cấp đê biển các tỉnh ven biển, bao gồm Chương trình nâng cấp đê biển từQuảng Ninh đến Quảng Nam từ năm 2006; Chương trình nâng cấp đê biển từ QuảngNgãi đến Kiên Giang từ năm 2009 đến năm 2020 với tổng mức đầu tư là 19.481 tỷđồng để nâng cấp đê biển đi qua 15 tỉnh, thành từ miền Trung và đồng bằng sông CửuLong, gồm có xây dựng bờ kè, mở rộng trải nhựa mặt đê kết hợp với làm đường giaothông, trồng cây chắn sóng…và hàng năm Chính phủ đầu tư kinh phí thường xuyêncho công tác tu bổ hệ thống đê biển phía Bắc bảo đảm chống được gió bão cấp 9 vớimức triều cường tần suất 5% Nhiều tuyến đê biển chưa được nâng cấp, nhất là cáctuyến do địa phương quản lý mới bảo đảm chống đỡ được gió cấp 8 khi triều ở mứctrung bình Kết quả từ những chương trình đầu tư nâng cấp đê biển kể trên của chínhphủ và sự vào cuộc tích cực của các địa phương với mục tiêu đảm bảo an toàn chongười dân phục vụ phát triển kinh tế,cho đến nay hầu như các tuyến đê biển có khảnăng chống được với tần suất bão thiết kế - bão cấp 10 gặp mực nước triều tần suất5%, và các tuyến đê biển cũng trở thành tuyến giao thông liên huyện, liên xã phục vụphát triển kinh tế biển đảm bảo an ninh quốc phòng Bên cạnh những kết quả đó vẫncòn một số tồn tại cần được quan tâm giải quyết để nâng cao hiệu quả của tuyến đêbiển Việt Nam:

- Nhiều tuyến đê biển chưa bao giờ được đầu tư củng cố, nâng cấp tiếp tục bị xuốngcấp

- Tuyến nhỏ lẻ, manh mún chưa khép kín nên hiệu quả chưa cao

- Xây dựng chưa đồng bộ

- Bãi biển liên tục bị hạ thấp

- Đê được đắp trên nền tự nhiên, mềm yếu

- Nhiều cống dưới đê biển xây dựng đã lâu, cống nhỏ, yếu, chiều dài cống so với đêmới được nâng cấp bị ngắn, mức bảo đảm an toàn thấp

Vì vậy để xây dựng được tuyến đê biển đảm bảo chất lượng, an toàn trong mùa bão thìviệc xây dựng hệ thống chính sách tu bổ, củng cố hệ thống đê biển đóng một vai trò rất

Trang 16

quan trọng góp phần to lớn trong việc phát triển kinh tế xã hội bền vững, đặc biệt làkinh tế biển ở nước ta.

1.1.2 Tổng quan hệ thống đê biển tỉnh Nam Định

Bờ biển Nam Định kéo dài từ cửa sông Hồng đến cửa sông Đáy là một dải bờ biểnphẳng, tương đối đơn giản, thoải dần từ bờ ra khơi Nhìn chung, bãi biển tỉnh NamĐịnh hẹp và thấp không có vật cản che chắn (trừ 2 bãi bồi Cồn Lu, Cồn Ngạn củahuyện Giao Thuỷ; Cồn Xanh, Cồn Mờ của huyện Nghĩa Hưng) Phần lớn bờ biển NamĐịnh thuộc vùng biển lấn, bãi thoái nghiêm trọng, chiều rộng bãi trung bình từ 100 ÷

150 m Nhiều nơi không có bãi, biển tiến sát chân đê như Cổ Vậy, Giao Phong - huyệnGiao Thủy; Hải Lý, Hải Triều, Hải Hòa, Hải Thịnh - huyện Hải Hậu; Nghĩa Phúc -huyện Nghĩa Hưng Cao độ bãi trung bình (0.00 ÷ -0.50), cá biệt có nơi cao trình bãidưới (-1.00)

Tổng chiều dài toàn tuyến đê biển Nam Định dài 91,981 km

Trong đó :

• Tuyến đê huyện Giao Thủy dài 32,333 km (có 15,5 km trực diện với biển)

• Tuyến đê Hải Hậu dài 33,323 km (Có 20,5 km trực diện với biển)

• Tuyến đê Nghĩa Hưng dài 26,325 km (Có 4,8 km trực diện với biển)

Ba tuyến đê này được nối tiếp vào các tuyến đê hữu sông Hồng, đê tả - hữu sông Sò,

đê tả - hữu sông Ninh Cơ và đê tả sông Đáy tạo thành một hệ thống đê khép kín

Tuyến đê biển Nam Định bảo vệ 743.100 người dân, chủ yếu là đồng bào công giáo và71.975 ha canh tác trong đó đê biển Giao Thủy bảo vệ 33.800 ha; Hải Hậu : 27.090 ha

và Nghĩa Hưng : 11.085 ha Nếu để xảy ra vỡ đê việc khắc phục hậu quả do nhiễmmặn từ 5-7 năm Thiệt hại lớn hơn nhiều lần so với đê sông Trong số 91 km đê biểnthuộc 3 huyện: Hải Hậu (33 km), Nghĩa Hưng (26 km), Giao Thuỷ (32 km) có khoảngtrên 50 km đê đi qua khu vực nền cát , đất đắp đê là cát và cát pha Khoảng 45 km đêtrực diện với biển, phía trong đồng là thùng đào, thùng đấu; đê thường xuyên chịu tácđộng gây hại của sóng do triều cường, gió mạnh, áp thấp nhiệt đới và bão [2]

Từ sau 1954 đến nay hàng năm Nhà nước đã phải đầu tư nhiều tỷ đồng để tu bổ, sửachữa, xử lý đột xuất những sự cố sau mỗi trận bão, mỗi đợt gió mùa Đông bắc về.Trong khoảng 50 năm nay nhiều đoạn đê xung yếu đã phải di chuyển tuyến lùi sâu vào

Trang 17

trong khu vực nội đồng đến 2, 3 lần, mỗi lần gây tốn kém hàng chục tỷ đồng, hàngchục vạn ngày công lao động và làm mất hàng trăm ha đất canh tác.

Năm 2000 triển khai thực hiện dự án PAM 5325 do Liên hiệp quốc tài trợ nâng cấptoàn tuyến đê biển Nam Định Đến sau cơn bão số 7 năm 2005 toàn tuyến đê biển NamĐịnh đã được đầu tư nâng cấp kiên cố gần 43 Km (Hải Hậu: 23,2 km; GiaoThuỷ:15,2km; Nghĩa Hưng: 4,4 km) Trong 49 cống qua tuyến đê biển còn gần 10cống xây dựng từ trước những năm 1970, cống ngắn so với mặt cắt đê và đã xuốngcấp cần phải sửa chữa hoặc xây dựng mới như các cống: Hoành Lộ, Cồn Tàu, CôngĐoàn (Giao Thuỷ); số 4, Hạ Trại (Hải Hậu), Thanh Hương, Ngọc Lâm (Nghĩa Hưng).Những đoạn đê đã được củng cố vững chắc sau bão số 7 năm 2005 đảm bảo chốngđược tổ hợp bão cấp 10 gặp mức nước triều tần suất 5% (+2,29m) tại Văn Lý Nhữngđoạn đê biển khác kết hợp với chủ động phương án hộ đê, phương án bảo vệ trọngđiểm chống lụt bão theo phương châm 4 tại chỗ đảm bảo tuyến đê Biển an toàn chốngđược bão cấp 9 trùng với mức nước triều tần suất 5% (+2,29m) tại Văn Lý

- Các đoạn đê ở vùng cửa sông: Đê cửa sông các đoạn đê ở vùng cửa sông (hiện đượctính là đê biển): Có tổng chiều dài 28.648m, thân đê chủ yếu được đắp bằng đất thịt,đất pha cát quy mô nhỏ và thấp phía ngoài sông có bãi bồi nhưng cao trình mặt bãithấp từ ( 0.00 ÷ +0.30 ) Khi thuỷ triều lên hầu hết bãi bị ngập sâu, sóng, dòng chảyvùng cửa sông trực tiếp tác động vào thân đê, khi gặp bão lớn, sóng có thể tràn quamặt đê gây vỡ đê Hiện cao trình đê cửa sông những đoạn chưa được nâng cấp từ(+3,60 ÷ +3,80), chiều rộng mặt đê (3.20 – 4.00m), hệ số mái ms = 1,5 ÷ 2,5, mđ= 1,0

÷ 1,5 Những đoạn đã được nâng cấp cao trình đỉnh đê +4.5, chiều rộng 5m mái phíasông ms= 2.5, mđ= 2

- Các đoạn đê biển: có tổng chiều dài 63.23 km, thân đê chủ yếu đắp bằng đất thịt phacát, mặt cắt ngang một số đoạn nhỏ, cao trình đỉnh thấp và bị sạt lở Bãi biển ngoài đêthấp và hẹp do bị xói mòn liên tục, khi thuỷ triều xuống bãi rộng trung bình 100 ÷ 150

m nhiều đoạn không còn bãi (Hải Lý, Hải Triều, Hải Chính) Khi thuỷ triều lên bãi bịngập sâu, sóng và dòng chảy ven bờ thường xuyên tác động trực tiếp vào thân đê gâyxói, sạt lở mái, nghiêm trọng nhất là khi có bão hoặc gió mùa Đông Bắc.Toàn tuyến có

Trang 18

khoảng trên 50 km đê đi qua khu vực nền cát , đất đắp đê là cát và cát pha, trong đó cókhoảng 45 km phía trong đồng là thùng đào, thùng đấu địa hình phức tạp Đê thườngxuyên chịu tác động trực tiếp của sóng do triều cường, gió mùa đông bắc mạnh, ápthấp nhiệt đới và bão gây ra Do đặc điểm địa hình đường bờ, đê biển tỉnh Nam Địnhchạy theo 2 hướng chính đê Giao Thủy chạy theo hướng Bắc - Đông Bắc, đê Hải Hậuchạy theo hướng Đông - Đông Bắc vì vậy trong bất kỳ mùa gió nào đông nam hayđông bắc, đều có sự cố hư hỏng đê do sóng gió mùa Đông Bắc hoặc gió mùa ĐôngNam gây ra.

1.2 Những sự cố, hư hỏng của đê biển và ảnh hưởng của nó đến phát triển kinh tế - xã hội

Các trận bão đổ bộ vào vịnh Bắc bộ và ảnh hưởng trực tiếp đến Nam Định đã gâynhững sự cố về đê kè biển ảnh hưởng rất lớn đến phát triển kinh tế của địa phươngdưới đây là những sự cố chính

Năm 1897 (năm Đinh Dậu) vỡ toàn tuyến đê biển Hải Hậu do bão lớn đổ bộ vào địabàn tỉnh gây thiệt hại lớn về người và của cho địa phương

Năm 1903 (năm Qúy Măo), vỡ đê gây thiệt hại nhiều về người và của do bão lớn đổ

Trang 19

Hình 1-1 Bão lớn làm vỡ nhiều đoạn đêNăm 1971, bão lớn làm vỡ nhiều tuyến đê thuộc khu vực Hải Hậu, Giao Thuỷ, NghĩaHưng, dưới đây là một số đoạn đê bị vỡ sau cơn bão:

+ Đê Hải Hoà vỡ vào lúc gần 14 giờ ngày 11/8/1971, lỗ vỡ ban đầu rộng 72m, cộtnước tràn ngập 1m so với cao trình mặt ruộng, gió kết hợp với mưa lớn làm đổ nhiềunhà cửa Khoảng 14giờ 30 phút ngày 11/8/1971 nước tràn vào tới cống Phú Lễ, gâyngập úng 545 ha lúa, hoa màu; trong đó nhiễm mặn nặng 34ha cánh đồng lúa của hợptác Quyết Thắng (nay là Duyên Hải) Hợp tác xã Tân Hùng bị nhiễm mặn nặng 40halúa hầu như không được thu hoạch, trên 300 ha lúa khác của Hải Thịnh thu hoạchkhông đáng kể Đoạn tiếp giáp giữa Hải Hòa và Hạ Trại đê bị sạt lở nghiêm trọng vàotới 2/3 mặt đê phía ngoài

+ Đê Cồn Tṛòn, đoạn đê này được đắp hoàn toàn bằng cát, thấy mức độ nguy hiểmtrước mắt nên chính quyền địa phương đă cho củng cố lại tuyến đê dự pḥòng và tuyến

đê này đã phát huy tác dụng, thiệt hại của khu vực này không đáng kể

+ Đê Hải Triều, sau cơn bão thứ ba đã làm xoá sổ tuyến đê từ Km 12,2 đến Km13,97;thiệt hại do bão gây ra không lớn lắm

Thống kê các đoạn đê bị mất từ năm 1971÷1990

Trang 20

Tính từ năm 1971÷1990, tổng chiều dài đê bị xoá sổ của Hải Hậu là 8,3km; toàn bộcác đê bị vỡ có kết cấu là đất pha cát.

Năm 1975, xoá đê đầu làng Hải Triều từ đê Ba Xã đến gần đường Hoà Bình, tổngchiều dài gần 500m

Năm 1984, xoá đê Đinh Mùi, từ Km 16÷Km 14+200, tổng chiều dài là 1,5km; chiềurộng đê phải lùi vào là 150m

Năm 1985 bỏ đê Kiên Chính từ Km 25+200÷Km 26+900, tổng chiều dài là 2,2km;chiều rộng đê phải lùi vào là 120m

Hình 1-2 Đê Văn Lý vỡ năm 1990Năm 1987, xoá đoạn đê từ Km 25+200÷Km 26+900, tổng chiều dài là 1,8km; chiềurộng đê phải lùi vào là 110m Đê Cồn Tṛòn từ Km 20+300÷Km 21+100 bị xoá, tổngchiều dài đê bị vỡ là 1,5km; đê phải lùi vào 150m

Năm 1990, xoá đê Văn Lý- số 4 từ Km 10+500÷Km 12, tổng chiều dài đê bị vỡ là1,5km; chiều rộng đê phải lui vào là 150m

Thống kê các băi cây bị mất từ năm 1971÷1990

Trang 21

Bãi cây Xương Điền thuộc Hải Lư, từ Km 7+00÷Km 8+00, có chiều dài là 1.100m,chiều rộng là 120m, diện tích là 144.000m2 trên băi trồng cây phi lao, khi cây được 3tuổi thì bị xoá sổ do cơn băo năm 1976.

Bãi cây Hải Triều từ Km 15+600÷Km 16+500, dài 900m, rộng 50m diện tích khoảng45.000m2 bị xoá năm 1985 và 1986

Bãi cây Văn Sâm thuộc xă Hải Đông, có chiều dài là 1.100m, chiều rộng 150m, diệntích khoảng 165.000m2

Bãi cây Hải Hoà 1 từ Km 17+600÷Km 18+00, chiều dài là 400m, chiều rộng là 50m,diện tích 20.000m2 bị xoá sổ do cơn băo số 3 năm 1987

Bãi cây Hải Hoà 2 từ Km 21+300÷Km 22+00, chiều dài là 400m, chiều rộng là 100m,diện tích 70.000m2

Bãi cây Nam Cồn (Hải Thịnh) từ Km 25+00÷Km 25+400 chiều dài là 400m, chiềurộng là 100m, diện tích là 150.000m2, băi phi lao bị xoá từ năm 1971÷1974

Tổng diện tích băi cây bị mất trong 20 năm từ 1971÷1990 là 91ha Tổng giá trị kinhphí ứng với diện tích cây bị mất là 455 triệu đồng

Từ năm 1990 đến năm 2005 các cơn bão và các đợt triều cường đã làm vỡ một số đoạn

đê và tuyến đê nhiều đoạn phải thay đổi tuyến lùi vào phía trong hàng trăm m Đặcbiệt cơn bão số 7 năm 2005 đổ bộ vào Nam Định với sức gió mạnh cấp 11, cấp 12 giậttrên cấp 12 kéo dài nhiều giờ đúng lúc thủy triều dâng cao đã gây hậu quả cực kỳnghiêm trọng, hệ thống đê biển bị vỡ nhiều đoạn, hàng vạn dân vùng ven biển phải đi

sơ tán Thiệt hại do bão số 7 gây ra ước khoảng 1.900 tỷ đồng

Trang 22

Hình 1-3 Sóng tràn qua đê năm 2017

1.3 Những yếu tố liên quan đến chất lượng công tác quản lý đê biển

Trong rất nhiều yếu tố ảnh hưởng quyết định đến chất lượng công tác quản lý đê biểnphải kể đến : Công tác lập quy hoạch tuyến đê, công tác thiết kế xây dựng, thi công tu

bổ đê, công tác giám sát chất lượng các khâu trong quá trình xây dựng đê và công tácquản lý khai thác đê và các công trình lấy nước trên đê

Đặc điểm làm việc của đê biển là hàng ngày chịu tác động liên tục của sóng lên máicông trình, sóng tràn, thoái bãi …với đặc điểm làm việc như vậy để đảm bảo có chấtlượng tốt cần phải làm tốt tất các khâu trên

Trang 23

Nhiều đoạn đê ở vùng biển thoái tuyến đê đi sâu vào trong khu dân cư, hoặc có đoạnlại đi sát biển tạo đường bờ cong không thuận qui luật ổn định tự nhiên Bên cạnh đótuyến đê hiện trạng chưa chú trọng đến điều chỉnh đê biển kết hợp với các tuyếnđường giao thông ven biển, đường cứu nạn cứu hộ để nâng cao hiệu quả đầu tư Từ bấtcập về tuyến dẫn đến qui mô đầu tư nâng cấp cho từng đoạn chưa hợp lý gây lãng phícho ngân sách Nhiều đoạn đê nằm xa bờ biển hoặc được rừng ngập mặn có chiều dày

từ 500 m đến 1000m bảo vệ phía ngoài mà mặt cắt thiết kế đê vẫn tương tự như mặtcắt thiết kế đoạn đê trực diện với biển Lại có những đoạn đê trực diện với biển nhưngtrước đê là vùng bãi ổn định lại được xử dụng biện pháp tổng thể hộ đê giữ bãi trongkhi có đoạn đê trực diện với biển ở vùng biển tiến bãi thoái đường bờ biến động mạnhnhưng chưa được đầu tư biện pháp tổng thể hộ đê giữ bãi Do chưa qui hoạch kết hợp

đê với đường giao thông nên, kích thước mặt đê không thống nhất, mặt đê gia cố chưaliên tục hoặc tuyến đê chưa chú ý vi chỉnh, cắt cong theo tiêu chuẩn thiết kế đườnggiao thông nên đê còn nhiều khúc cua gấp khúc, chưa đạt được độ trơn thuận làm hạnchế tốc độ của các phương tiện giao thông, mặt đê được gia cố chủ yếu phục vụ côngtác kiểm tra, ứng cứu, hộ đê kết hợp giao thông đi lại của nhân dân nên tải trọng củacác phương tiện giao thông còn bị hạn chế… các yếu tố đó đã không đáp ứng đượcnhu cầu hiện nay, chưa hoàn toàn phù hợp với thực tế khai thác tiềm năng và phát triểnkinh tế - xã hội của địa phương

- Chưa có một quy hoạch về các vùng bãi có thể trồng được rừng cây chắn sóng thốngnhất nên diện tích trồng cây chắn sóng, rừng ngập mặn đạt được rất thấp Mặt khác cácđịa phương không gắn được việc bảo vệ, phát triển rừng ngập mặn ven biển vớichuyển đổi cơ cấu sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội, nên diện tích rừng ngập mặnven biển nhiều nơi bị suy giảm nghiêm trọng

- Quy hoạch đê biển chưa có sự thống nhất với các ngành và sử dụng đa mục tiêu nêndiện tích trồng cây chắn sóng bảo vệ đê trong những năm qua đạt hiệu quả thấp Mặtkhác các xã ven biển của tỉnh không gắn được việc bảo vệ, phát triển cây ngập mặnchắn sóng với chuyển đổi cơ cấu sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội, phát triển nguồnlợi thủy sản, cải thiện môi trường ven biển gắn với phát triển du lịch sinh thái nên

Trang 24

diện tích cây trồng bảo vệ đê biển nhiều nơi không những không phát triển mà còn bịsuy giảm nghiêm trọng theo thời gian.

1.3.2 Về Công tác thiết kế

- Công tác thiết kế xây dựng, tu bổ, củng cố và nâng cấp đê biển trong giai đoạn vừaqua là vừa làm vừa thử nghiệm chủ yếu theo Tiêu chuẩn 14TCN 130-2002 “ Hướngdẫn thiết kế đê biển”, các cơ sở khoa học từ các đề tài nghiên cứu chưa áp dụng đượcngay vào thực tế phục vụ công tác thiết kế, đến đầu năm 2014 mới có “TCN 9901-

2014 Tiêu chuẩn kỹ thuật thiết kế đê biển” nhưng cũng chưa cập nhật hết các kết quảnghiên cứu của các đề tài đã hoàn thành hoặc còn những kẽ hở khó áp dụng hướng dẫnthiết đê biển mới này

- Chưa có sự thống nhất và chuẩn hóa việc sử dụng các cấu kiện bảo vệ mái đê phíabiển, kết cấu chân đê cả về hình thức và kích thước cơ bản, dẫn đến việc nhiều côngtrình xây dựng trước năm 2010 áp dụng các loại cấu kiện bảo vệ mái, kết cấu bảo vệchân đê khác nhau và chưa phù hợp với thực tế từng đoạn bờ biển nên hiệu quả cònthấp

- Việc đầu tư các công trình giảm sóng gây bồi tạo bãi tại một số trọng điểm mặc dùchưa có những nghiên cứu chi tiết nhưng cũng đã triển khai thử nghiệm ở một số nơinhư Hải Hòa, Hải Thịnh - Hải Hậu; Nghĩa Phúc - Nghĩa Hưng; Cổ vậy - Giao Thủy.Kết quả là một số công trình bị hư hỏng, tác dụng hạn chế

- Công tác củng cố và nâng cấp đê biển trong giai đoạn vừa qua chưa tính đến yếu tốbiến đổi khí hậu, mực nước biển dâng ảnh hưởng trực tiếp tới tính toán kết cấu hệthống đê về cao trình cũng như kết cấu của từng đoạn đê được rừng ngập mặn bảo vệ,chưa chuẩn hóa được cấu kiện bảo vệ mái đê phía biển cả về hình thức và kích thước

cơ bản, dẫn đến việc các địa phương áp dụng nhiều loại cấu kiện khác nhau Chưanghiên cứu chi tiết khi đầu tư các công trình chống sóng gây bồi (Theo công bố của

Bộ tài nguyên và Môi trường, đến năm 2050 thì mực nước biển dâng do biến đổi khíhậu có thể dâng cao là 0.33m và trong điều kiện BĐKH toàn cầu và mực nước biểndâng, bão có xu thế ngày càng gia tăng cả về tần suất lẫn cường độ)

- Hiện nay lớp bảo vệ mái kè biển được thiết kế hoặc là đá hộc lát khan gồm các viên

đá rời nhau có đường kính từ 15 cm – 25 cm và trọng lượng từ 15 đến 30 kg hoặc đá

Trang 25

hộc liên kết với nhau bằng bê tông có cường độ từ 100 – 150 Có một số nơi dùng cấukiện liên kết hoặc rời rạc có trọng lượng thay đổi nhưng không vượt quá 100 kg Mỗihình thức tấm lát có điều kiện làm việc khác nhau, chẳng hạn tấm liên kết dạng ngoàmcho phép làm tăng độ ổn định nếu nền và thân đê không lún gây bẻ gãy các liên kết.Tuy nhiên do công nghệ đúc và chất lượng của vật liệu, phần lớn các tấm kiểu liên kết

bị phá hỏng sau một thời gian ngắn làm việc gây phá hoại mái đê và cũng rất khó khithay thế, bảo dưỡng Nếu tấm là độc lập thì trong lượng của mỗi tấm/viên lại quá nhẹkhông đảm bảo ổn định trên mái đê Xu hướng giải quyết hiện nay là sử dụng các khốiđộc lập có kích thước ngẫu nhiên được liên kết với nhau nhưng tiết diện bề mặt nhỏ lại

và tăng bề dày của cấu kiện Sử dụng hình thức này mái đê kè sẽ ổn định hơn rấtnhiều

Vỡ đê kè biển Hải Hậu – Nam Định Vỡ đê kè biển Nghĩa Hưng – Nam Định

- Các dạng kết cấu bảo vệ chân kè phía biển thường bao gồm: (i) Lăng thể đá đổ trướcchân công trình với dạng móng nông; (ii) Ống bi đúc xi măng đường kính d = 1.0 -1.2m, L= 1.2m - 1.5m xếp 1 lớp hoặc 2 lớp, lõi đổ đá tại chân kè, phía ngoài đổ đá cóchiều rộng khoảng 2m; (iii) Cừ bê tông hoặc cừ thép với khoảng cách từ 1 – 2 m/cọc,phần giữa là các tấm chắn bằng bê tông Phần lớn đê biển hiện nay chân công trìnhđược lựa chọn là dạng lăng thể đá đối với đê thấp như đê các tỉnh miền trung và ống bi

bê tông lõi đá đổ đối với đê biển bắc bộ Chân phía trong được bảo vệ đơn giản hơnbằng lăng thể đá với quan niệm không có nước tràn.Vấn đề cần bàn ở đây là việc lựachọn kết cấu phù hợp trong mỗi trường hợp, chẳng hạn với bãi bị hạ thấp với cường độlớn thì nên lựa chọn dạng móng sâu theo kiểu cọc và có thêm giải pháp hỗ trợ từ phíangoài làm giảm hoặc ngăn chặn hoàn toàn quá trình xói bãi phía trong, hoặc với bãiluôn được bồi thì không nên cứ phải dùng kiểu ống bi mà có thể dùng lăng thể đá –

Trang 26

một dạng móng nông đơn giản dễ thi công mà vẫn đảm bảo an toàn.Khoảng cách bảo

vệ bên ngoài thường không được tính toán mà lấy cố định 2 -3m phía ngoài chân, tuynhiên một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng độ rộng cần bảo vệ phải lấy 8-10 lần chiều caosóng trước chân công trình thì mới đảm bảo an toàn cho chân công trình

Kè bị hư hỏng Khung bê tông không có tác dụng

1.3.3 Những vấn đề về thi công

a Cấu kiện gia cố

- Các cấu kiện gia cố mái chế tạo tại hiện trường khó kiểm soát chất lượng;

- Thi công lát mái trên nền đất đắp chưa ổn định

- Một số công trình đang xây dựng vải ĐKT phơi nắng ngoài trời trong nhiều ngày làrất dễ hư hỏng, vữa bê tông vương vãi trên mặt vải làm mất chức năng lọc và nguyhiểm cho công trình

Khối âm dương đúc tại chỗ, chất lượng kém

Trang 27

Lát mái trên nền đất đắp chưa ổn định Vải lọc bị phơi nắng lâu ngày, vữa

bêtông bịt kín gây mất chức năng lọc

Trang 28

Chân kè Bảo

N i n h ,

g â y

m o i

s ụ t

t o à n

b ộ

m á i b

Chân kè Cống

T h a n

h N iê

n b

ị p h

á h ỏ n g, g â

y s ụ

t m á i

Trang 29

c Công trình ngăn cắt giảm sóng

+ Phần lớn công trình đều có bệ đá rời bị sạt sệ, điều này hoặc là do lỗi thiết

kế, hoặc là do lỗi thi công

+ Thi công thường tiến hành theo phương pháp lấn từ bờ ra, phần mũi luôn bị xói sâu, làm cho khối lượng vật liệu, cấu kiện tăng lên

Trang 30

Mỏ hàn bằng khối Tetrapod đê biển

Nghĩa Phúc -(Nam Định) Mỏ hàn chử T đê biển Hải Hậu - Nam Định

d Các yếu tố khác

Thi công là một tham số quan trọng quyết định chất lượng công trình đê biển Như đã trình bày ở các phần trên, đê biển thường phải chịu các tác động khách quan sau:

- Đặt trên nền đất yếu

- Chịu ảnh hưởng có tính chu kỳ của mực nước triều

- Chịu ảnh hưởng thường xuyên của sóng biển

- Hệ thống giao thông không thuận lợi để vận chuyển vật tư và thiết bị máy móc đến nơi thi công

Bên cạnh đó, nguyên nhân chủ quan bao gồm các vấn đề sau:

- Qui trình thi công: Chẳng hạn qui trình đắp một con đê bao gồm (i) Làm mặt bằng,(ii) Làm nền, (iii) đắp thân đê, (iv) làm lớp bảo vệ mái Ở mỗi công đoạn cần có nhữngqui định kỹ thuật nghiêm ngặt, nhưng nếu không tuân thủ sẽ là tiềm ẩn của sự phá hoại

Trang 31

con đê Nội dung chi tiết của các công đoạn kỹ thuật nêu trên sẽ được trình bày trongcác chuyên đề khác Tuy nhiên xin được đưa ra một ví dụ về qui trình đắp đất thân đê.

- Chọn vật liệu có thể là đất rời vận chuyển từ nơi khác đến, lõi cát, đất hỗn hợp hoặcđất khối nguyên dạng lấy ở các mỏ đất tại chỗ Tuy nhiên, mọi loại đất trên phải đảmbảo độ ẩm không được vượt quá độ ẩm hóa lỏng và không thấp hơn độ ẩm gây nứt nẻ

- Chiều dày mỗi lớp đắp không được lớn hơn chiều dày cho phép và sau mỗi lần đắpphải đầm nện và lấy mẫu thí nghiệm xác định độ chặt Nếu lớp đắp có độ chặt đạt tiêuchuẩn mới được phép tiếp tục đắp lớp mới

- Với đất đắp là khối nguyên dạng thì qui trình đắp cũng rất chặt chẽ, chẳng hạn quiđịnh về độ ẩm khi xếp các khối, cách sắp xếp các khối và thời gian giãn cách giữa cáclần đắp

- Chất lượng vật liệu: Đây là yếu tố có ý nghĩa quyết định đến chất lượng công trình.Nếu vật liệu có độ đồng đều cao, ít trộn lẫn các vật chất hữu cơ, được xử lý độ ẩm đật

độ ẩm đất đắp thì thân đê sẽ ổn định hơn

- Công nghệ thi công: Hiện nay, việc thi công đê biển thường sử dụng các phươngpháp thi công sau:

+ Thi công thủ công: Sử dụng lao động tại chỗ với các công cụ thô sơ như cuốc xẻng,quang gánh để vận chuyển vật liệu, đắp, đầm nện v.v Thông thường thi công thủcông nếu không được giám sát kỹ càng, đặc biệt lại sử dụng vật liệu địa phương thìchất lượng sẽ rất thấp

+ Thi công bán cơ giới: Sử dụng kết hợp lao động chân tay với việc sử dụng máy mócđẩy nhanh quá trình thi công và có điều kiện tăng cường chất lượng công trình

+ Thi công cơ giới: Phần lớn các công đoạn trong quá trình thi công được thực hiệnvới sự trợ giúp của của thiết bị máy móc

1.3.4 Những vấn đề về quản lý

a Cấu kiện gia cố

Trang 32

- Việc để cho các phương tiện vận tải lớn hoạt động thường xuyên trên "cơ phản áp"phía đồng là nguy hiểm cho đê.

- Để cho đơn vị thi công tập kết phế thải tạo thành dạng mỏ hàn không chuẩn tắc cóthể gây bất lợi cho bãi biển và công trình bảo vệ bờ

b Công trình ngăn cắt giảm sóng

+ Không duy tu kịp thời những hư hỏng của MHB là tình trạng phổ biến

Bảo dưỡng tuyến đê bao gồm bảo dưỡng thường xuyên và nâng cấp định kỳ chẳng hạnmặt đê có các hố trũng đọng nuớc, cỏ mái sau bị chết từng đám nhỏ; tầm bảo vệ máiphía trước bị bỏng hoặc có hiện tượng bong cần được sửa chữa ngay, tránh để cáckhiếm khuyết nhỏ lan rộng thành các mảng lớn gây phá hoại con đê

Các qui định về khai thác cát, sỏi bãi ngoài biển và trồng cây ngập mặn, các qui địnhkhuyến khích người dân trồng và bảo vệ rừng ngập mặn, chăn thả trâu bò trên mặt đê,bảo dưỡng và trồng cỏ những nơi bị chết v.v cần được thực hiện thường xuyên Mộtcách tổng quát, khi lưu lượng tràn càng lớn thì khả năng phá hoại càng cao Mức độphá hoại còn phụ thuộc vào kỹ thuật xây dựng thông qua hệ số đầm chặt, loại đất đá,

độ ẩm ban đầu của đất lõi đê và chiều cao của đê

Trang 33

Khi sóng tràn không chỉ mái đê trong mà cả mái đê ngoài cũng có thể bị sạt trượt.Hiện tượng phá mái có thể bắt đầu từ đỉnh nếu chất lượng đắp đê tương đối tốt, nhưngcũng có trượt cả khối khi toàn bộ mái bão hoà nước.

Cơ chế phá hoại do sóng tràn là cơ chế trội nhất xảy ra đối với đê biển của Nam Định

do phần lớn đê bị tràn trong các trận bão, lũ thậm chí trong các đợt gió mùa kéo dàinhiều ngày

Tại các khu vực mặt bãi bị hạ thấp, khi chiều sâu nước trước công trình tăng thì chiềucao sóng, khi có gió bão triều cường và nước dâng cao, sóng tràn qua mặt đê với lưulượng lớn Do thân đê chủ yếu là đất cát được bọc 1 lớp đất thịt dày 0,5m thậm chínhiều chỗ bị mưa gió bào mòn chỉ còn 0,3m nên dưới tác động của sóng tràn qua thân

đê lớp đất thịt quá mỏng nhanh chóng bị trôi đi, sau đó cát trong thân đê cũng bị lôikhỏi thân đê làm mái đê phía đồng bị phá hủy và đê bị vỡ từ trong vỡ ra

Trong trường hợp sóng không tràn qua đỉnh nhưng vẫn cao, thấm mạnh vào thân đê dothi công đắp đê không đảm bảo đúng kỹ thuật, đầm nện không kỹ sẽ tạo thành cácdòng thấm lớn mang theo các hạt đất cát nhỏ ra mái phía đồng Khi dòng thấm lớn dầncác hạt lớn hơn cũng bị cuốn theo và đê sẽ bị phá huỷ ở mái phía đồng

1.4 Đề xuất nhiệm vụ nghiên cứu

Tỉnh Nam Định có hơn 72 Km bờ biển kéo dài từ cửa Ba lạt - sông Hồng đến cửa sôngĐáy Để bảo vệ khu vực này, xấp xỉ 92 km đê đã được xây dựng qua các thời kỳ Tuynhiên do hiện tượng biến đổi khí hậu, các hiện tượng mưa lớn, xoáy giật, lốc, đặc biệt

là các cơn bão lớn ngày càng xuất hiện nhiều và quy luật hoạt động ngày càng bấtthường có sức tàn phá lớn cùng với những hoạt động quản lý chất lượng đê điều chưatốt nên, hệ thống đê biển tỉnh Nam Định liên tục bị xói lở Nhiều đoạn đê đã bị pháhủy và phải lui tuyến hàng trăm mét Hiện tượng xói lở bờ biển đã gây ra những hậuquả nghiêm trọng về kinh tế - xã hội như mất đất ở và đất canh tác, ảnh hưởng đến các

cơ sở sản xuất, đe dọa phá huỷ các công trình đê kè biển, ngoài ra còn gây ra nhữnghậu quả về mặt xã hội đối với nhân dân các xã ven biển đặc biệt là một số xã thuộchuyện Hải Hậu do hậu quả của việc di dời và tái định cư

Trang 34

Hơn nữa trong nhưng năm gần đây do tác động của các hồ chứa thượng nguồn, sự khaithác quá mức nguồn tài nguyên nước làm thay đổi qui luật tự nhiên của dòng chảy vàphù sa từ sông ra biển Sự thay đổi quá trình tương tác sông biển này đã làm thay đổicân bằng bồi tụ - xói lở trên dải ven biển Chính vì vậy dọc tuyến bờ biển Nam Địnhnhiều đoạn bị xói lở nay mức độ xói lở nghiêm trọng hơn, lấn sâu vào đất liền Hiệntượng xói lở bờ biển gây ra mất đất ở, đất Nông nghiệp, hư hỏng nhà cửa, công trìnhdân sinh kinh tế, đe doạ an toàn tính mạng và tài sản của cư dân ven biển thậm chí pháhủy các công trình đê, kè biển dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng về kinh tế xã hội.Đặc biệt năm 2005 vùng ven biển tỉnh Nam Định chịu ảnh hưởng trực tiếp của nhiềucơn bão mạnh vượt mức thiết kế, trong đó đặc biệt là bão số 2, số 6, số 7 với sức giómạnh cấp 11, cấp 12, giật trên cấp 12 lại đổ bộ vào đúng thời điểm mực nước triềucao, thời gian bão kéo dài gây sóng leo tràn qua mặt đê gây sạt lở mái đê phía đồng vàphía biển và vỡ một số đoạn thuộc các tuyến đê biển Hải Hậu, Giao Thuỷ với tổngchiều dài 1.465m, gây thiệt hại nghiêm trọng về hoa màu, thủy sản, làm nhiễm mặnhàng trăm ha đất Nông nghiệp Trước thực tế đó các cấp chính quyền từ trung ươngđến địa phương đặc biệt là nhân dân các Huyện, Xã có tuyến đê biển đi qua đã tậptrung nguồn nhân lực và tài chính để nâng cấp, tu bổ đê kè biển phòng chống xói lở bờbãi Tuy nhiên những nỗ lực đó chỉ có tính chống đỡ, cầm cự do điều kiện kinh phí eohẹp, chưa có giải pháp lâu dài, chưa có qui hoạch tổng thể nên việc đầu tư chưa đượctập trung, thiếu đồng bộ, mang nặng tính chắp vá, chưa kiên cố, chủ yếu tập trung vàoviệc đắp tôn cao, áp trúc thân đê bằng đất khai thác tại chỗ; các hạng mục kết cấu bảo

vệ đê và kết hợp đa mục tiêu chưa được đầu tư đúng mức dẫn đến đê biển mới chỉ đảmbảo an toàn ở mức độ nhất định, hiệu quả đầu tư chưa cao Mặt khác các giải pháp phicông trình chưa được quan tâm đúng mức, đặc biệt là giải pháp tạo lập đai cây phòng

hộ, bảo vệ đê (những đoạn đê có các đai cây phòng hộ vừa giảm được rất nhiều chi phíxây dựng đê vừa bảo vệ đê an toàn) Hệ thống đê biển hiện nay chỉ mới có thể đảmbảo an toàn ở mức độ nhất định tuỳ theo tầm quan trọng về dân sinh, kinh tế từng khuvực được bảo vệ có thể chống với gió bão cấp 10 mực nước triều tần suất 5%, nhiềutuyến chưa được tu bổ, nâng cấp chỉ có thể đảm bảo an toàn với gió bão cấp 8

Để hạn chế những hậu quả do hiện tượng xói lở bờ biển gây nên, chúng ta phải nắmvững hiện trạng hệ thống đê biển của tỉnh và thực trạng công tác quản lý đê biển từ đó

Trang 35

nghiên cứu đề xuất các giải pháp để nâng cao chất lượng công tác quản lý tuyến đêbiển phù hợp và có tính chiến lược lâu dài là rất cần thiết.

1.5 Kết luận chương

Có 05 yếu tố chính ảnh hưởng đến công tác quản lý chất lượng đê biển đó là : Côngtác quy hoạch tuyến đê, công tác thiết kế xây dựng, thi công tu bổ đê, công tác giámsát chất lượng các khâu trong quá trình xây dựng đê và công tác quản lý khai thác đê

và các công trình lấy nước trên đê Để đảm bảo an toàn đê biển thì cần phải thực hiệntốt tất cả 05 yếu tố trên Vì vậy cần thiết phải nắm rõ hiện trạng tuyến đê biển và các

sự cố gây hư hại đê trong lịch sử cũng như hiện tại đồng thời nắm được thực trạngcông tác quản lý đê biển từ đó đề ra các giải pháp củng cố, tôn tạo, nâng cấp hệ thống

đê và khắc phục những tồn tại trong công tác quản lý đê nhằm phát huy hiệu quả tối đacủa công tác quản lý đê biển, tránh gây lãng phí tiền bạc và thời gian

Trang 36

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ KHOA HỌC TRONG CÔNG TÁC QUẢN LÝ

HỆ THỐNG ĐÊ BIỂN

2.1 Đặc điểm làm việc của đê biển và những quy định pháp lý liên quan đến quản lý đê biển tỉnh Nam Định

2.1.1 Đặc điểm làm việc của đê biển Nam Định

Bờ biển tỉnh Nam Định là vùng có năng lượng sóng lớn nên bãi biển dễ sinh xói lở,hiện tượng biển tiến, bãi thoái xảy ra nhanh, thường xuyên Do vị trí địa lý nằm ở vùngtrung tâm bờ biển Vịnh Bắc Bộ có đặc điểm địa hình tương đối thẳng (hai đầu tuyếnnhô ra bởi các bãi bồi Cồn Lu, Cồn Ngạn, Cồn Xanh - Cồn Mở) đoạn giữa tuyến bịlõm vào (Đê Giao Thuỷ), bãi biển thấp, thoáng không có vật che chắn (đảo) nên vềmùa hè chịu ảnh hưởng trực tiếp của các cơn bão vào Vịnh Bắc Bộ; Về mùa khô chịuảnh hưởng của các cơn bão muộn đổ vào vùng biển phía Nam và các đợt nước lớn(nước rươi), gió mùa Đông Bắc Như vậy hầu hết các tháng trong năm tác động củasóng biển đều có trị số khá lớn và thường xuyên gây sạt lở cho tuyến đê biển NamĐịnh

Các vùng trọng điểm biển tiến, bãi thoái đường bờ biến đổi mạnh đe dọa đến an toàn

đê kè, như vùng bãi biển Giao Thủy, Hải Hậu, Nghĩa Hưng thuộc tỉnh Nam Địnhnhưng chưa có một bộ số liệu đồng bộ về biến đổi địa hình, thủy hải văn, chế độ độnglực ven bờ trong nhiều năm để phục vụ công tác nghiên cứu tính toán

đê còn rất hẹp luôn là trọng điểm xung yếu hàng năm như đoạn Đông Tây cống Thanh

Trang 37

Niên (đê Giao Thủy), khu vực Hải Lý – Hải Hòa, Kiên Chính, Cồn Tròn (đê Hải Hậu),khu vực Nghĩa Thắng – Nghĩa Phúc (đê Nghĩa Hưng)…

Có thể nói tuyến đê biển Nam Định hiện nay đã được định hình qua nhiều thời kỳ, saunhiều sự cố nhưng lại không được qui hoạch mà chủ yếu điều chỉnh trên cơ sở tuyến

cũ, lùi tuyến định tính để khắc phục khẩn cấp sự cố vỡ đê như năm 2005, không tuântheo qui hoạch tổng thể phát triển toàn vùng và cũng chưa có qui hoạch đê để tuântheo; không có điều kiện lựa chọn nền đất tốt để bố trí vì toàn dải ven biển Nam Định

có địa chất yếu; có xét đến yếu tố địa hình nhưng là cục bộ, ứng phó tình huống khẩncấp là chính; qui mô công trình không thống nhất nên bị vỡ đê nhiều lần dẫn đến hưhỏng nhiều công trình văn hóa, lịch sử (như các nhà thờ ở Hải Hòa- Hải Lý bị hư hỏnghiện đã nằm ngoài đê); chưa xét đến giao thông ven biển và thích ứng với biến đổi khíhậu

Mặc dù thân đê đã được tu bổ, nâng cấp, thậm chí có những đoạn xung yếu đã đượcxây dựng hệ thống công trình ngăn cát, giảm sóng trước chân đê nhưng cho đến naychưa có một nghiên cứu khoa học nào về tính hợp lý, bất hợp lý của tuyến đê, thực tế

từ sau năm 2005 cũng chưa có cơn bão lớn nào tương xứng để thử thách, làm cơ sởđánh giá tính hợp lý của tuyến đê cũng như sự ổn định của bản thân công trình

2.1.1.2 Đê dự phòng

Do đây là khu vực biển lấn chiếm phần lớn, điều kiện kinh tế - kỹ thuật không chophép qui mô đê an toàn vĩnh cửu do đó việc chuẩn bị các điều kiện để đối phó vớitrường hợp bất lợi, vượt cấp thiết kế dẫn đến vỡ đê như từng xảy ra trong lịch sử vàgần đây nhất là các cơn bão năm 2005 là rất cần thiết Trong đó yêu cầu có đê tuyến 2

ở những đoạn xung yếu có thể xem là bắt buộc đối với đê biển Nam Định nhằm hạnchế những thiệt hại do vỡ đê chính gây ra Thực tế trong cơn bão số 7 năm 2005, một

số đê tuyến 2 có sẵn đã làm tốt nhiệm vụ này Tuy nhiên các đê tuyến 2 trên đê biểnNam Định phần lớn được hình thành từ lâu nhưng cũng không theo qui hoạch, khôngđược tu bổ, nâng cấp kịp thời, tương xứng với đê chính nên còn nhiều hạn chế Hiệnchưa có văn bản pháp lý nào hướng dẫn việc xác định các thông số kỹ thuật về tuyến,qui mô đê tuyến 2

Trang 38

2.1.1.3 Đê quai lấn biển

Do có các bãi bồi lớn thuận lợi cho việc quai đê lấn biển mở rộng diện tích đất phục vụphát triển kinh tế nên tỉnh Nam Định đã đầu tư 2 tuyến đê quai ở 2 vùng cửa sông BaLạt và Lạch Giang Tuy nhiên các tuyến đê này chủ yếu dựa vào các tuyến bờ bao cũnâng cấp lên, không có qui hoạch

Như vậy nếu đối chiếu với các tiêu chí xác định tuyến đê ở trên, tuyến đê biển NamĐịnh hiện nay còn nhiều điểm bất hợp lý

2.1.2 Những quy định pháp lý liên quan đến quản lý đê biển tỉnh Nam Định

Chất lượng quản lý đê biển được đánh giá thông qua chất lượng công tác lập quyhoạch, công tác thiết kế và thi công tuyến đê biển, công tác bảo trì và công tác quản lýtrong quá trình tác động của sóng, gió Các hoạt động trên được đều đã được quy địnhtrong một số văn bản chính liên quan đến quản lý chất lượng công trình dưới đây [3]

- Nghị định số 46/2015/NĐ-CP ngày 12/5/2015 của Chính phủ về quản lý chất lượng

và bảo trì công trình xây dựng;

- Nghị định số 59/2015/NĐ-CP ngày 18/6/2015 của Chính phủ về quản lý dự án đầu tưxây dựng;

- Quyết định số 631/QĐ-BNN-TCTL của Bộ Nông nghiệp và PTNT ngày 02/3/2016ban hành tiêu chí "Hạt quản lý đê điển hình" và "Tuyến đê kiểu mẫu"

- Thông tư số 26/2016/TT-BXD quy định chi tiết một số nội dung về quản lý chấtlượng và bảo trì công trình xây dựng;

- Chỉ thị số 14/CT-UBND ngày 25/6/2014 của UBND tỉnh Nam Định về việc tăngcường xử lý vi phạm pháp luật về đê điều, Thủy lợi trên địa bàn tỉnh;

- Quyết định số 2313/QĐ-UBND ngày 14/10/2009 của UBND tỉnh Nam Định về việcthành lập lực lượng quản lý đê nhân dân trong đó quy định nhiệm vụ của lực lượngquản lý đê nhân dân trong việc kiểm tra, tuần tra, canh gác bảo vệ và xử lý sự cố đêđiều

Trang 39

2.2 Tiêu chí đánh giá kết quả quản lý đê biển

2.2.1 Tiêu chí chất lượng xây dựng đê biển và các công trình trên đê

Trước hết phải quản lý tốt khâu lập quy hoạch, kế hoạch, công tác thiết kế, thi công đêbiển và các công trình trên Tiêu chí đánh giá chất lượng đê biển và các công trình trên

đê là hệ thống các TCVN đối với khâu thiết kế, thi công Tuy nhiên hiện nay còn thiếunhiều tiêu chuẩn cho các loại công trình khác nhau và các tiêu chuẩn đưa ra chủ yếuphục vụ cho việc nghiệm thu chưa đánh giá được mức độ chất lượng như tốt, khá,đạt vì vậy hiện nay việc đánh giá chất lượng các công trình xây dựng cần đánh giáchặt chẽ việc tuân thủ nghị định 46/2015/NĐ-CP ngày 12/05/2015 về quản lý chấtlượng và bảo trì công trình xây dựng và thông tư số 26/2016/TT-BXD ngày26/10/2016 quy định chi tiết một số nội dung về quản lý chất lượng và bảo trì côngtrình xây dựng

2.2.2 Tiêu chí về hạt quản lý đê

Ngày 02/3/2016, bộ Nông nghiệp và PTNT đã có quyết định số 631/QĐ-BNN-TCTLban hành tiêu chí "Hạt quản lý đê điển hình" trong đó nêu ra các tiêu chí về hạ tầng(Điều kiện làm việc và sinh hoạt cho cán bộ; trang thiết bị, công cụ, tài liệu phục vụcông tác ), tiêu chí về trình độ cán bộ, tiêu chí về kết quả thực hiện nhiệm vụ của hạtquản lý đê (Công tác phối hợp với các cấp chính quyền, đội quản lý đê nhân dân, côngtác xử lý vi phạm, công tác quản lý các hoạt động liên quan đến đê điều ) Chỉ có cáchạt quản lý đê tốt thì chất lượng công tác quản lý đê mới được nâng lên

2.2.3 Tiêu chí về Duy du bảo dưỡng và chuẩn bị các phương án hộ đê

Chí phí cho công tác tu bổ, duy tu bảo dưỡng đê hàng năm như các sự cố sụt lún kè,sập kè, nứt đê, vỡ đê xảy ra trong điều kiện bình thường không phải là vượt tần suấtthiết kế; công tác chuẩn bị các phương án bảo vệ an toàn đê trong mùa bão theophương châm 04 tại chỗ (Chỉ huy tại chỗ, vật tư tại chỗ, nhân lực tại chỗ, hậu cần tạichỗ) là tiêu chí đánh giá về hiệu quả quản lý đê

Nguồn kinh phí xây dựng, bảo dưỡng đê điều hiện nay được lấy từ 3 nguồn chủ yếu :

Trang 40

a) Ngân sách trung ương bảo đảm kinh phí xây dựng mới các cống dưới đê, xây dựngcác kè kết cầu bê tông và các mỏ kè ngăn cát, giảm sóng và nhưng tu sửa lớn; Hỗ trợsửa chữa đột xuất khắc phục sự cố tuyến đê biển trực diện với biển.

Nguồn kinh phí trung ương dùng cho các công việc như:

- Xây dựng các công trình trên đê, xây dựng, tu bổ thường xuyên, đột xuất tuyến đêtrực diện với biển;

- Bổ sung, bảo dưỡng, thu gom vật tư dự trữ phòng;

- Chi xử lý cấp bách sự cố đê điều tuyến trực diện với biển;

- Chi khảo sát địa hình, địa chất, khảo sát mặt cắt cố định ngang đê biển định kỳ, đođạc diễn biến bãi biển trước đê; bổ sung cơ sở dữ liệu về đê biển phục vụ công tácquản lý đê - phòng chống bão;

- Các công việc khác có liên quan trực tiếp tới công tác duy tu, bảo dưỡng đê biển (nếucó)

b) Ngân sách địa phương bảo đảm kinh phí duy tu, bảo dưỡng đê điều đối với đê dựphòng tuyến 2; Tham gia bảo đảm duy tu, bảo dưỡng tuyến đê biển trực diện với biển

và xây dựng đê quai lấn biển

Nguồn kinh phí địa phương dùng cho các công việc như:

- Chi sửa chữa, cải tạo, gia cố mặt đê dự phòng tuyến 2;

- Trồng dặm cây chắn sóng;

- Chi kiểm tra đánh giá chất lượng cống dưới đê; xử lý các hư hỏng nhỏ; nạo vétthượng, hạ lưu của cống dưới đê biển;

- Chi phí kiểm tra hiện trạng kè bảo vệ đê; chi tu sửa các hư hỏng nhỏ của kè;

- Bổ sung, sửa chữa các công trình phục vụ việc quản lý, bảo vệ đê điều: Cột mốc trênđê; cột chỉ giới, biển báo đê; trạm và thiết bị quan trắc; kho, bãi chứa vật tư dự phòngchống bão; điếm canh đê

Ngày đăng: 09/10/2019, 00:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w