Năng lực quản lý của Chủ đầu tư: thực trạng một số đơn vị được giao làm Chủ đầu tưtheo quy định pháp luật không đáp ứng yêu cầu về chuyên môn, năng lực quản lýtrong lĩnh vực đầu tư xây d
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là sản phẩm nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu và thông tin được trình bày trong luận văn được trích dẫn trực tiếp từnhững tài liệu có nguồn gốc rõ ràng, không sao chép gián tiếp từ các nguồn tài liệukhông chính thống Các kết quả mà tác giả công bố là do bản thân tác giả tự nghiêncứu, chưa hề có hoặc trùng lặp nội dung nghiên cứu của tác giả nào khác trước đây
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Mạnh Quyết
Trang 2văn thực sự trở thành một công trình khoa học có chất lượng.
Tác giả xin cảm ơn đến ban lãnh đạo công ty TNHH một thành viên thuỷ lợi Liễn Sơn, ban lãnh đạo xí nghiệp thuỷ lợi Tam Dương đã tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất để tác giả hoàn thành khóa cao học và luận văn cuốikhóa.
Cuối cùng, tác giả xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã ủng hộ, động viên chia sẻ hỗ trợ lúc khó khăn để tác giả hoàn thành chương trình học của mình.
Trang 302 năm
2017
T Á C G I Ả L U Ậ N V Ă N
N g u y ễ n M ạ n h Q u y ế t
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC HÌNH VẼ vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU vii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT viii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài: 1
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài: 1
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
3.1.Đối tượng nghiên cứu: 2
3.2.Phạm vi nghiên cứu: 2
4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 2
4.1 Cách tiếp cận 2
4.2 Phương pháp nghiên cứu 2
5 Dự kiến kết quả đạt được 2
6 Nội dung của luận văn: 2
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH THUỶ LỢI THUỘC CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN THUỶ LỢI LIỄN SƠN – VĨNH PHÚC .4
1.1 Tổng quan về quản lý chất lượng công trình xây dựng tại Việt Nam: 4
1.1.1 Khái niệm về chất lượng: 4
1.1.2 Khái niệm về quản lý chất lượng công trình xây dựng: 4
1.1.3 Hệ thống Luật Pháp về quản lý chất lượng công trình: 5
1.1.4 Những kết quả đạt được về quản lý chất lượng công trình: 5
1.1.5 Những yếu kém trong công tác quản lý chất lượng công trình: 6
1.2 Đặc điểm chung của các công trình thuỷ lợi thuộc công ty TNHH một thành viên thuỷ lợi Liễn Sơn .10
1.3 Những nhân tố cơ bản ảnh hưởng tới chất lượng công trình 10
1.4 Những hư hỏng thường xuyên xảy ra đối với các công trình 13
Trang 51.4.1.Một số nguyên nhân sự cố thường gặp 13 1.5 Những giải pháp chủ yếu trong tu bổ, sửa chữa công trình hiện nay của công ty 18
Trang 61.5.1 Giải pháp đối với công trình bê tông cốt thép, gạch xây .18
1.5.2 Giải pháp đối với công trình đất 19
1.5.3 Giải pháp đối với công trình nạo vét bùn 19
1.6 Những tồn tại về chất lượng trong thời gian qua khi thực hiện tu bổ, sữa chữa các công trình 19
1.6.1 Đối với Chủ đầu tư .20
1.6.2 Đối với Tư vấn xây dựng .20
1.6.3.Công tác quản lý chất lượng của Các doanh nghiệp xây lắp .23
Kết luận Chương 1: 24
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH TU BỔ, SỬA CHỮA THUỘC CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN THUỶ LỢI LIỄN SƠN – VĨNH PHÚC 25
2.1 Cơ sở khoa học trong quản lý chất lượng .25
2.1.1 Các khái niệm liên quan .25
2.1.2 Tổ chức đảm bảo chất lượng xây dựng 29
2.1.3 Kiểm soát chất lượng công trình xây dựng .29
2.1.4 Cơ sở khoa học trong quản lý chất lượng .30
2.2 Những văn bản pháp lý quy định về quản lý chất lượng .38
2.2.1 Hệ thống văn bản Luật trong hoạt động xây dựng .38
2.2.2 Hệ thống văn bản dưới Luật .39
2.3.Các nhân tố ảnh hưởng chất lượng công trình tu bổ, sửa chữa 40
2.3.1 Những nhân tố chủ quan (là những nhân tố doanh nghiệp có thể kiểm soát được và chúng xuất phát từ phía bản thân doanh nghiệp) 40
2.3.2 Những nhân tố khách quan 41
2.4 Các tiêu chí và nguyên tắc đánh giá chất lượng công trình .42
2.4.1 Các tiêu chí đánh giá chất lượng công trình xây dựng 42
2.4.2 Các nguyên tắc đánh giá chất lượng công trình xây dựng .44
Kết luận Chương 2: 44
CHƯƠNG 3: NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÁC CÔNG TRÌNH TU BỔ SỬA CHỮA THUỘC CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN THUỶ LỢI LIỄN SƠN – VĨNH PHÚC .45
Trang 73.1 Giới thiệu chung về Công ty TNHH một thành viên thuỷ lợi Liễn Sơn – Vĩnh
Phúc 45
3.1.1 Giới thiệu tổng quan về hệ thống thủy lợi Liễn Sơn .45
3.2 Thực trạng công tác quản lý chất lượng công trình tại công ty TNHH một thành viên thuỷ lợi Liễn Sơn .58
3.2.1 Về thẩm quyền thẩm tra thiết kế, kiểm tra công tác nghiệm thu công trình .58
3.2.2 Trách nhiệm của các đơn vị QLNN về chất lượng công trình xây dựng tại công ty TNHH một thành viên thuỷ lợi Liễn Sơn: 58
3.2.3 Công tác quản lý về chất lượng công trình xây dựng của công ty TNHH một thành viên thuỷ lợi Liễn Sơn .60
3.2.4 Tình hình chất lượng công trình tu bổ sửa chữa thuộc công ty TNHH một thành viên thuỷ lợi Liễn Sơn thời gian vừa qua .61
3.3 Phân tích các nhân tố chính ảnh hưởng tới chất lượng các công trình tu bổ, sửa chữa 67
3.4 Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng các công trình tu bổ, sửa chữa thuộc công ty trong thời gian sắp tới 71
3.4.1 Hoàn chỉnh bộ máy tổ chức của chủ đầu tư .Error! Bookmark not defined 3.4.2 Nâng cao năng lực thẩm tra thiết kế .71
3.4.3 Chuyển hình thức lựa chọn nhà thầu thi công từ chỉ định thầu sang đấu thầu 73
3.4.4 Kiểm tra hệ thống quản lý chất lượng của nhà thầu thi công xây dựng công trình 73 3.4.5 Nâng cao năng lực giám sát công trình xây dựng của chủ đầu tư .74
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 77
1 Kết quả đạt được: 77
2 Tồn tại của luận văn: 77
3 Kiến nghị và đề xuất hướng nghiên cứu: 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
Trang 8DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 2.1: Các thành tố chính của một dự án xây dựng 25
Hình 2.2.Quan hệ giữa Quy chuẩn và tiêu chuẩn 32
Hình 2.3.Cấu trúc của Quy chuẩn xây dựng Việt Nam 33
Hình2.4.Các hoạt động xây dựng liên quan đến hệ thống văn bản pháp luật 34
Hình 2.5 Mô hình quản lý nhà nước về chất lượng công trình 37
Hình 2.6 Quy trình hổ trợ để tạo ra sản phẩm chất lượng của cơ quan QLNN 38
Hình 3.1: Sơ đồ bộ máy tổ chức của Công ty TNHH Một TVTL Liễn Sơn 52
Hình 3.2 Sạt trượt mái kênh chính tả ngạn Liễn Sơn tại vị trí K11+210(H) 63
Hình 3.3 Sửa chữa sự cố tổ mối bờ kênh chính tả ngạn Liễn Sơn tại K11+00(H) 63
Hình 3.4 Vỡ kênh tưới nội đồng tại xã Đồng Tĩnh, huyện Tam Dương 64
Hình 3.5 Vỡ kênh tưới nội đồng tại xã Hoàng Đan, huyện Tam Dương 65
Hình 3.6 Sửa chữa động cơ trạm bơm điện Cống Cần xã Đồng Tĩnh, huyện Tam Dương 66
Hình 3.7 Ống hút trạm bơm Đuôi Cá bị thủng 66
Trang 9DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1: Bảng tổng hợp lượng mưa năm trong hệ thống thuỷ nông liễn sơn từ năm
1998 đến năm 2013 53Bảng 3.2: Tổng hợp diện tích rà soát bản đồ tưới năm 2012 54
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Sau hơn 20 năm đổi mới và hội nhập, Việt Nam đang không ngừng công nghiệp hóa,hiện đại hóa đất nước, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Cơ cấu nền kinh tế đang có những sự chuyển dịch từ sản xuất nông nghiệp truyềnthống sang nền công nghiệp hiện đại Tuy nhiên, nền Nông nghiệp vẫn đóng một vaitrò vô cùng quan trọng đối với nền kinh tế nước nhà Theo thống kê gần đây nhất, hơn2/3 dân số Việt Nam vẫn đang tham gia sản xuất nông nghiệp Vì vậy, việc phát triểnnông nghiệp luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt từ Đảng và Nhà Nước
Để phát triển nông nghiệp bền vững, nâng cao được hiệu quả và năng suất canh tác,tỉnh Vĩnh Phúc nói chung , Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên thủy lợi LiễnSơn nói riêng đã chủ trương đầu tư xây dựng, tu bổ sửa chữa rất nhiều công trình thủylợi Mặc dù vậy, hiệu quả của các công trình đó mang lại vẫn rất thấp, không hạn chếđược những tổn thất do thiên tai hạn hán, lũ lụt gây ra, ảnh hưởng trực tiếp đến việcsản xuất nông nghiệp Trước thực trạng đó, cần có những phương án đầu tư xây dựng,
tu bổ sữa chữa các công trình hiệu quả hơn, tránh dàn trải, lãng phí Vì vậy việcnghiên cứu để thấy rõ được các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng các công trình đã vàđang được đầu tư tu bổ, sửa chữa nâng cấp của Công ty thủy lợi Liễn Sơn trong thờigian qua, từ đó tìm ra các giải pháp nâng cao chất lượng các công trình đang có chủtrương tu bổ, sửa chữa, nâng cấp trong thời gian sắp tới một cách tập trung có hiệu quả
là rất cần thiết
Để làm được điều đó, tác giả chọn đề tài: “NGHIÊN CỨU NÂNG CAO CHẤTLƯỢNG TU BỔ, SỬA CHỮA CÁC CÔNG TRÌNH THỦY LỢI THUỘC CÔNG TYTRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN THỦY LỢI LIỄN SƠN –TỈNHVĨNH PHÚC
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài:
Xác định được các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng khi tu bổ, sửa chữa từ đó đề ragiải pháp khắc phục nhằm nâng cao chất lượng công trình
Trang 123 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu áp dụng cho đối tượng là những công trình tu bổ, sửa chữa thuộcCông ty TNHH Một thành viên thủy lợi Liễn Sơn Vĩnh Phúc
3.2.Phạm vi nghiên cứu:
Do việc nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng khi tu bổ, sửa chữa cáccông trình là rất rộng, nên phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ tập trung nghiên cứu vềlĩnh vực quản lý chất lượng những công trình tu bổ, sửa chữa thuộc hệ thống thủy lợiLiễn Sơn
4 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Cách tiếp cận
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, tác giả luận văn đã dựa trên cách tiếp cận bằngphương pháp tiếp cận thực tiễn và dựa trên cơ sở khoa học trong công tác quản lý chấtlượng
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu phù hợp với đối tượng và nội dungnghiên cứu trong điều kiện Việt Nam, trong đó phương pháp thống kê, phân tích vàphương pháp lấy ý kiến chuyên gia là hai phương pháp chính
5 Dự kiến kết quả đạt được
- Xác định được các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến chất lượng công trình tu bổ, sửachữa;
- Đề xuất được giải pháp quản lý chất lượng khi tu bổ, sửa chữa
6 Nội dung của luận văn:
Ngoài Phần mở đầu, Phần kết luận và kiến nghị Nội dung luận văn dự kiến gồm 3chương nội dung sau:
Trang 13Chương 1: Tổng quan về công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng thuộc Công
ty TNHH một thành viên thủy lợi Liễn Sơn – Vĩnh Phúc
Chương 2: Cơ sở khoa học và cơ sở pháp lý về quản lý chất lượng công trình tu bổ,sửa chữa thuộc công ty TNHH một thành viên thủy lợi Liễn Sơn – Vĩnh Phúc
Chương 3: Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cáccông trình tu bổ, sửa chữa thuộc Công ty TNHH một thành viên thủy lợi Liễn Sơn –Vĩnh Phúc
Trang 14CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH THUỶ LỢI THUỘC CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN THUỶ LỢI LIỄN SƠN – VĨNH PHÚC.
1.1 Tổng quan về quản lý chất lượng công trình xây dựng tại Việt Nam:
1.1.1 Khái niệm về chất lượng:
Tổ chức Quốc tế về tiêu chuẩn hóa ISO 9000-2000 đưa ra khái niệm:
“Chất lượng là tập hợp các đặc tính của một thực thể, tạo cho thực thể đó khả năngthỏa mãn những nhu cầu đã được công bố hay còn tiềm ẩn Nói cách khác, chất lượng
là mức độ đáp ứng các yêu cầu của một tập hợp các mặc định vốn có”
Theo Quyết định số 17/2000/QĐ-BXD ngày 02 tháng 8 năm 2000 của Bộ xây dựng:
“Chất lượng công trình xây dựng là những yêu cầu tổng hợp đối với các đặc tính về antoàn, bền vững, kỹ thuật và mỹ thuật của công trình phù hợp với quy chuẩn xây dựng,tiêu chuẩn kỹ thuật, phù hợp với hợp đồng kinh tế và pháp luật hiện hành của nhànước”
1.1.2 Khái niệm về quản lý chất lượng công trình xây dựng:
Quản lý chất lượng công trình xây dựng là tập hợp những hoạt động của cơ quan cóchức năng quản lý thông qua các biện pháp như lập kế hoạch kiểm tra, đảm bảo chấtlượng và cải tiến chất lượng công trình
Như vậy cần phải hiểu đầy đủ là các cơ quan có chức năng quản lý ở Trung ương (trựctiếp là Bộ Xây dựng), ở địa phượng như các tỉnh hoặc các thành phố trực thuộc Trungương (trực tiếp là Sở Xây dựng) thực hiện chức năng quản lý nhà nước, còn các chủthể khác (như chủ đầu tư, nhà thầu, tư vấn thiết kế, tư vấn giám sát) phối hợp cùngtham gia quản lý chất lượng
Để đảm bảo chất lượng cho công trình xây dựng, nếu chỉ tập trung quản lý chất lượngtrong giai đoạn thi công thì chưa đủ, mà cần phải quản lý ở nhiều khâu khác,ví dụkhâu khảo sát, thiết kế… Do vậy, cần quản lý chất lượng trong các giai đoạn sau:a) Giai đoạn chuẩn bị đầu tư cần quản lý trong các khâu lập báo cáo đầu tư, lập báocáo kinh tế – kỹ thuật
Trang 15b) Giai đoạn thực hiện đầu tư cần quản lý các khâu như thiết kế công trình, đấu thầuxây lắp, thi công xây dựng, tư vấn giám sát, tư vấn thiết kế.
c) Giai đoạn kết thúc đầu tư cần quản lý công tác bảo hành, bảo trì
1.1.3 Hệ thống Luật Pháp về quản lý chất lượng công trình:
Luật Xây dựng 50/2014/QH13 đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩaViệt Nam khóa 13 thông qua ngày 18 tháng 6 năm 2014
Nghị định số 46/2015/NĐ-CP ngày 12 tháng 5 năm 2015 của Chính phủ về quản lýchất lượng công trình và bảo trì công trình xây dựng
Nghị định số 32/2015/NĐ-CP ngày 25 tháng 3 năm 2015 của Chính phủ về quản lýchi phí đầu tư xây dựng
Ngoài ra, liên quan đến lĩnh vực chất lượng chất lượng xây dựng còn có một số thông
tư khác như: Thông tư số 11/2014/TT-BXD ngày 25 tháng 8 năm 2014 của Bộ xâydựng quy định công khai thông tin về năng lực hoạt động của tổ chức, cá nhân thamgia hoạt động xây dựng
1.1.4 Những kết quả đạt được về quản lý chất lượng công trình:
Hoạt động xây dựng là loại hình hoạt động đặc thù Sản phẩm của hoạt động này phầnlớn là những sản phẩm đơn chiếc và không bao giờ cho phép có phế phẩm Vì vậy chấtlượng, giá thành và thời gian xây dựng luôn là mục tiêu cho ngành xây dựng ở bất kỳquốc gia nào trên thế giới
Sự nghiệp đổi mới của Việt Nam đã tạo nên những thay đổi sâu sắc trong lĩnh vựcquản lý đầu tư và xây dựng Cùng với sự phát triển nền kinh tế quốc dân, quy mô hoạtđộng xây dựng trong những năm qua ngày càng mở rộng, thị trường xây dựng ngàycàng sôi động, tính xã hội của quá trình xây dựng ngày càng cao, địa vị của ngành xâydựng trong phát triển kinh tế và xã hội ngày càng quan trọng Các dự án công trình củangành xây dựng nước ta đã thực sự góp phần tạo nên dáng vóc mới của đất nước nhưcác khu đô thị mới với những tòa cao ốc, với các công trình giao thông hiện đại
Chỉ trong một thời gian ngắn, ngành xây dựng nước ta cũng đạt được sự tăng tốc kháhoàn hảo có khả năng tiếp cận và làm chủ các công nghệ, kỹ thuật xây dựng hiện đại
Trang 16của thế giới, đồng thời tạo sự thay đổi quan trọng trong nhận thức về quản lý trong đó
có công nghệ quản lý chất lượng công trình xây dựng nói riêng, quản lý dự án nóichung
Nhìn nhận về sự đổi mới trong lĩnh vực quản lý đầu tư xây dựng thời gian qua chúng
ta cần nhìn lại sự đổi mới theo hướng pháp chế hoá hoạt động xây dựng ngày mộthoàn thiện theo tiến trình đổi mới nền kinh tế
Trong những năm qua công tác kiểm tra, kiểm soát chất lượng các dự án công trìnhtiếp tục được tăng cường trên phạm vi cả nước, nhất là các dự án sử dụng vốn nhànước Việc thực hiện tiền kiểm thiết kế kỹ thuật và dự toán công trình đã tạo bước độtphá trong phòng chống lãng phí, tham nhũng, phòng ngừa được nhiều sai phạm, rủi rotrước khi triển khai xây dựng công trình Công tác thẩm tra đã đi vào nề nếp, chấtlượng thiết kế đã được nâng lên, đã cắt giảm và tiết kiệm đáng kể cho chi phí ngânsách nhà nước Cho đến năm 2015, chất lượng công trình xây dựng cơ bản là đảm bảo,từng bước được nâng cao và kiểm soát tốt hơn Qua việc kiểm tra nghiệm thu trước khicông trình đưa vào khai thác và sử dụng theo nghị định 46/2015/NĐ-CP ngày 12 tháng
5 năm 2015 thì hầu hết các công trình được nghiệm thu đều đạt kết quả tốt và được hộiđồng nghiệm thu đánh giá cao và đồng ý đưa vào sử dụng, bên cạnh đó còn 1 số ít cáccông trình xây dựng chưa được hội đồng nghiệm thu đồng ý đưa vào sử dụng, hộiđồng nghiệm thu yêu cầu sửa chữa khắc phục 1 vài khiếm khuyết trước khi đưa vào sửdụng
Những năm gần đây, công tác quản lý đầu tư xây dựng nói chung, công tác quản lýchất lượng công trình xây dựng nói riêng ngày càng được nâng cao, phần lớn chấtlượng các công trình về cơ bản đã được kiểm soát chặt chẽ, đảm bảo yêu cầu kỹ thuật,yêu cầu thiết kế để đưa vào vận hành, khai thác sử dụng an toàn, hiệu quả Công tácquản lý năng lực hoạt động xây dựng, công tác thanh tra, kiểm tra chuyên ngành tronghoạt động đầu tư xây dựng được đẩy mạnh
1.1.5 Những yếu kém trong công tác quản lý chất lượng công trình:
Tuy nhiên, trong lĩnh vực quản lý chất lượng công trình xây dựng ở Việt Nam trongnhững năm qua còn tồn tại những vấn đề như sau:
Trang 17Tính đồng bộ của các văn bản: việc thiếu đồng bộ giữa các văn bản, ban hành chưa kịpthời, nội dung chưa nhất quán, là một vấn đề gây rất nhiều khó khăn cho các chủ thểtham gia thực hiện Chính vì thế để quản lý có hiệu quả cao, thuận tiện cho các chủ thểtham gia thực hiện thì việc thống nhất quản lý một cách đồng bộ về mặc định hướngcủa các văn bản là hết sức cần thiết.
Tính cụ thể và chi tiết của các văn bản: việc ban hành các văn bản thiếu cụ thể, chi tiết,biên độ vận dụng lớn gây ra rất nhiều khó khăn cho các Chủ thể khi thực hiện chứcnăng quản lý của mình Với việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật thiếu tính cụthể và chi tiết tạo ra nhiều kẽ hở dẫn đến tính hiệu lực và hiệu quả của các văn bản làrất hạn chế, gây khó khăn cho người quản lý và người thực hiện
Sự thay đổi thường xuyên của các văn bản: việc điều chỉnh sửa đổi các văn bản nhiềulần và đặc biệt trong thời gian ngắn làm ảnh hưởng đến công tác quản lý của các Chủthể khi tham gia hoạt động xây dựng, công tác quản lý định mức, đơn giá, chi phí…của Chủ đầu tư Bên cạnh đó, khi có biến động giá cả thị trường, việc ban hành cácvăn bản hướng dẫn chưa kịp thời cũng ảnh hưởng rất lớn đến nhà thầu khi tham giaxây dựng tác động đến chất lượng xây dựng
Với đặc điểm của các dự án xây dựng là có tính liên tục, thời gian thực hiện khá dài,giá trị lớn, trong khi đó tính ổn định của các văn bản hướng dẫn thực hiện thấp sẽ cóảnh hưởng xấu đến chất lượng và hiệu quả của các dự án đầu tư xây dựng
Kiểm soát chặt chẽ quá trình xây dựng: mấu chốt quan trọng trong hệ thống văn bảnhiện tại là chưa có quy định cụ thể về việc minh mạch thông tin của nhà thầu xâydựng Thực tế đó làm cho cả cơ quan quản lý Nhà nước về xây dựng cũng như Chủđầu tư đều thiếu thông tin, nên chưa kiểm soát chặt chẽ được năng lực thực tế của cácnhà thầu Đồng thời, chưa kiểm soát chặt chẽ được chất lượng của công trình xâydựng, dẫn tới những sai sót, thất thoát chi phí rất lớn trong lĩnh vực đầu tư xây dựng,gây bức xúc dư luận xã hội trong những năm gần đây
Đầu tư dàn trải, phối hợp thiếu đồng bộ: tình trạng đầu tư dàn trải tràn lan trong nhữngnăm qua đã dẫn đến tình trạng thiếu vốn trầm trọng, nợ đọng xây dựng cơ bản ngàycàng tăng
Trang 18Công tác đền bù giải phóng mặt bằng cũng gặp nhiều khó khăn, một bộ phận ngườidân chưa nhận thức đầy đủ về mục đích, tầm quan trọng của công tác đầu tư xây dựngcông trình Trong khi đó, cấp ủy, chính quyền địa phương thường thiếu sự hợp tác vớicác đơn vị Chủ đầu tư, thiếu sự phối hợp vận động tuyên truyền nâng cao nhận thứctrong nhân dân, dẫn đến một số công trình chậm tiến độ.
Năng lực các nhà tư vấn: do chính sách quy định hoạt động trong lĩnh vực xây dựngkhá thoáng, các đơn vị tư vấn xây dựng và tư vấn thiết kế được đăng ký thành lập ngàycàng nhiều nhưng năng lực chưa được thẩm định, chưa đáp ứng được yêu cầu phầnnào cũng đã ảnh hưởng đến tiến độ chuẩn bị đầu tư dự án, quá trình triển khai thi côngcông trình và quyết toán vốn đầu tư hoàn thành Việc lựa chọn nhà thầu của các Chủđầu tư còn thiếu khách quan, minh bạch đã làm ảnh hưởng đến chất lượng, tiến độcông trình xây dựng cơ bản
Năng lực nhà thầu thi công, nhà cung cấp vật tư, vật liệu: trong những năm gần đây, hệthống văn bản pháp luật trong ngành xây dựng đã cơ bản được hoàn thiện, nhưng vẫncòn nhiều tồn tại liên quan đến công tác đấu thầu, lựa chọn nhà thầu nên việc lựa chọnnhà thầu còn hạn chế Trong thời gian qua nhiều nhà thầu sẵn sàng hạ giá để trúngthầu, nhưng lại thi công kém chất lượng, hoặc kéo dài, chậm tiến độ, thua lỗ dẫn đếnnhiều hệ lụy
Bên cạnh đó, Nhà nước vẫn chưa có cơ chế rõ ràng để ngăn chặn, loại trừ các nhà thầuyếu kém về năng lực Có nhiều trường hợp nhà thầu dù thi công công trình trì trệ,chậm tiến độ hoặc chất lượng có vấn đề tại một dự án này, nhưng ngay sau đó lại được
dự thầu và trúng thầu tại một dự án khác, do đó về năng lực khó có thể đáp ứng cácyêu cầu mà các Chủ đầu tư đề ra Hiện tượng thông thầu, tạo hồ sơ đẹp diễn ra khá phổbiến hiện nay khiến tình hình lựa chọn nhà thi công xây dựng công trình càng gây lolắng hơn trong dư luận xã hội
Giám sát cộng đồng: quy định giám sát cộng đồng tại Nghị định 80/2005/NĐ-CP ngày14/4/2005 của Chính phủ, dân cư sinh sống trên địa bàn tự nguyện theo dõi, đánh giáviệc chấp hành các quy định về quản lý đầu tư của cơ quan có thẩm quyền quyết địnhđầu tư, Chủ đầu tư, các Ban QLDA, các nhà thầu và đơn vị thi công dự án trong quá
Trang 19trình đầu tư; phát hiện, kiến nghị với các cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền vềnhững vi phạm các quy định về quản lý đầu tư để kịp thời ngăn chặn và xử lý các việclàm sai quy định, gây lãng phí, thất thoát vốn và tài sản Nhà nước, xâm hại lợi ích củacộng đồng Trong thực tế hiệu quả giám sát cộng đồng không cao, bởi nhân dân khôngnắm được về mặt kỹ thuật trong ngành xây dựng Bên cạnh đó, chế độ cho giám sátcộng đồng không có nên hoạt động thiếu hăng hái, thiếu nhiệt tình.
Quản lý vốn: công tác quản lý vốn hiện có chưa hiệu quả Chi phí tư vấn, chi phí quản
lý và chi phí khác chiếm tỷ trọng khá lớn trong tổng mức đầu tư dẫn đến tình trạng đầu
tư xây dựng công trình bằng nguồn vốn ngân sách cao hơn dự án có nguồn ngoài ngânsách Hoặc tổng mức đầu tư một số dự án cao hơn dự án cùng quy mô trong khu vựccác nước lân cận nhưng chất lượng chưa cao Mỗi dự án đều xét đến yêu tố cần thiếtđầu tư để mang lại lợi ích kinh tế hoặc lợi ích xã hội nhưng thiếu định hướng phát triểntổng thể, đầu tư dàn trải dẫn đến thiếu vốn, kéo dài tiến độ và ảnh hưởng đến chấtlượng công trình
Năng lực quản lý của Chủ đầu tư: thực trạng một số đơn vị được giao làm Chủ đầu tưtheo quy định pháp luật không đáp ứng yêu cầu về chuyên môn, năng lực quản lýtrong lĩnh vực đầu tư xây dựng, mặc dù có quy định thuê đơn vị, cá nhân tư vấnQLDA nhưng không thường xuyên kiểm tra, kiểm soát dẫn đến buông lỏng công tácQLCL công trình hoặc ủy thác cho nhà thầu tư vấn quản lý, làm cho chất lượng côngtrình không đạt như mong muốn
Một số đơn vị có đủ năng lực chuyên môn như Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựngcông trình nhưng nhân sự trực tiếp theo dõi công trình chưa đủ tầm, thiếu tâm cũng làmột trong những tồn tại trực tiếp ảnh hưởng đến chất lượng và tiến độ thực hiện dự án.Song song là bất cập về chế độ tiền lương cũng là nguyên nhân không thu hút đượcnguồn nhân lực có chất lượng cao
Công tác phối hợp giữa các ngành còn nhiều bất cập, nhất là trong việc phối hợp xácđịnh những tiêu chí phục vụ cho việc lập các dự án đầu tư như việc chậm xác định quy
mô đầu tư, chưa xác định công năng sử dụng ngay từ khi lập hồ sơ Do đó khi triển
Trang 20khai thi công thường xuyên phải thay đổi, chỉnh sửa thiết kế Chưa chủ động phối hợpthường xuyên, để giải quyết cụ thể từng công việc.
1.2 Đặc điểm chung của các công trình thuỷ lợi thuộc công ty TNHH một thành viên thuỷ lợi Liễn Sơn.
- Sản phẩm xây dựng là những công trình như cầu, cống, đập, kênh mương, trạmbơm… được xây dựng và sử dụng tại chỗ, đứng cố định tại địa điểm xây dựng và phân
bố tản mạn các nơi trong lãnh thổ khác nhau Sản phẩm xây dựng thủy lợi phụ thuộcchặt chẽ vào điều kiện địa phương, có tính đa dạng và cá biệt cao về công dụng, vềcách cấu tạo và về phương pháp chế tạo Phần lớn các công trình thủy lợi đều nằm trênsông, suối có điều kiện địa hình, địa chất rất phức tạp, điều kiện giao thông khó khăn,hiểm trở Chất lượng sản phẩm chịu ảnh hưởng trực tiếp của điều kiện tự nhiên tại nơixây dựng công trình
- Sản phẩm xây dựng thủy lợi thường có kích thước rất lớn, có tính đơn chiếc riêng lẻ,nhiều chi tiết phức tạp
- Sản phẩm xây dựng thủy lợi có thời gian xây dựng và sử dụng lâu dài Sản phẩm xâydựng với tư cách là công trình xây dựng đã hoàn thành mang tính chất tài sản cố địnhnên nó có thời gian sử dụng lâu dài và tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất, sử dụngnhưng vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu
- Sản phẩm xây dựng liên quan đến nhiều ngành, nhiều đơn vị cung cấp vật tư, máymóc, thiết bị cho các công tác như khảo sát, thiết kế, thi công…và đều có ảnh hưởngđến chất lượng xây dựng công trình
- Sản phẩm xây dựng thủy lợi mang tính chất tổng hợp về kỹ thuật, kinh tế,văn hóa, xãhội, nghệ thuật và quốc phòng
1.3 Những nhân tố cơ bản ảnh hưởng tới chất lượng công trình.
Cũng như các lĩnh vực khác của sản xuất kinh doanh và dịch vụ, chất lượng và côngtác quản lý chất lượng công trình xây dựng có nhiều yếu tố ảnh hưởng Để có thể phânloại, xác định cụ thể các nguyên nhân và biện pháp khắc phục, thì các yếu tố ảnhhưởng được phân nhóm lại với nhau Trong phạm vi quản lý chất lượng, yếu tố ảnh
Trang 21hưởng được phân thành hai nhóm chính: nhóm yếu tố khách quan và nhóm yếu tố chủquan.
a).Nhóm yếu tố khách quan:
Nhóm yếu tố khách quan là những yếu tố tác động vào chủ thể từ bên ngoài, bao gồm
03 yếu tố: yếu tố do sự tác động bởi điều kiện môi trường xung quanh của điều kiệnkhí hậu, thủy văn, quan điểm, thị hiếu của cộng đồng; yếu tố do sự tác động của cơ chếchính sách của Nhà nước hoặc thể thế; yếu tố do sự tác động bởi sự phát triển của khoahọc công nghệ
Thời tiết khắc nghiệt, mưa dài, ảnh hưởng chất lượng, tiến độ công trình, công nhânphải làm việc đôi khi đốt cháy giai đoạn, các khoảng dừng kỹ thuật không được như ýmuốn (cốp pha cần bao nhiêu ngày, đổ trần bao nhiêu ngày) ảnh hưởng tới chất lượng.Địa chất phức tạp,ảnh hưởng tới công tác khảo sát dẫn đến nhà thầu, chủ đầu tư , thiết
kế phải bàn bạc lại, mất thời gian do thay đổi, xử lý các phương án nền móng côngtrình ảnh hưởng đến tiến độ chung của công trình Đối với các công trình yêu cầu tiến
độ thì đây là một đều bất lợi Bởi lẽ công việc xử lý nền móng phải tốn một thời giandài
b).Nhóm các yếu tố chủ quan:
Nhóm các yếu tố chủ quan là những yếu tố do chính sự chủ quan của các Chủ thểtham gia hoạt động xây dựng gây ra Nhóm này bao gồm các yếu tố: năng lực, kinhnghiệm của các cá nhân tham gia trực tiếp, gián tiếp trong hoạt động xây dựng chấtlượng của nguồn vật liệu, vật tư được sử dụng cho công trình xây dựng; chất lượng củathiết bị, công cụ sử dụng để xây dựng công trình; phương pháp, biện pháp tổ chức thựchiện thi công, phương pháp quản lý, quy trình kiểm soát chất lượng xây dựng côngtrình
Đơn vị thi công là chủ thể tham gia trực tiếp để chuyển đổi bản vẽ thiết kế thành sảnphẩm hiện thực Do vậy đơn vị thi công đóng vai trò khá quan trọng, ảnh hưởng tớichất lượng công trình cũng như công tác quản lý chất lượng Do vậy bên cạnh những
kỹ năng nghề nghiệp mà mỗi cá nhân đơn vị có được (kỹ năng chuyên môn), mỗi cá
Trang 22nhân cũng như toàn đội đều phải được bồi dưỡng, đào tạo nhận thức về chất lượng vàtầm quan trọng của công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng để họ có ý thứcthực hiện nghiêm chỉnh Đồng thời hướng mọi hoạt động mà họ thực hiện đều phải vìmục tiêu chất lượng.
Chất lượng nguyên vật liệu là một bộ phận quan trọng, một phần hình thành nên côngtrình, có thể ví như phần da và thịt, xương của công trình nguyên vật liệu là yếu tố rấtquan trọng ảnh hưởng tới chất lượng công trình Vậy nguyên vật liệu với chất lượngnhư thế nào thì được coi là đảm bảo?
Với tình trạng nguyên vật liệu như hiện nay, chẳng hạn như : xi măng, cát, đá, ngoàiloại tốt, luôn luôn có một lượng hàng giả, hàng nhái với chất lượng không đảm bảohay nói đúng hơn là kém chất lượng, nếu có sử dụng loại này sẽ gây ảnh hưởng xấu tớichất lượng công trình xây dựng, thậm chí nặng hơn là ảnh hưởng tới tính mạng conngười (khi công trình đã hoàn công và được đưa vào sử dụng) Do vậy, trong quá trìnhthi công công trình, nếu không được phát hiện kịp thời, sẽ bị một số công nhân ý thứckém, vì mục đích trục lợi trộn lẫn vào trong quá trình thi công Cũng vậy, đối với sắt,thép (phần khung công trình), bên cạnh những hàng tốt, chất lượng cao, có thươnghiệu nổi tiếng, còn trôi nổi, tràn ngập trên thị trường không ít hàng nhái kém chấtlượng
Và một thực trạng nữa, các mẫu thí nghiệm đưa vào công trình, thường là đơn vị thicông giao cho một bộ phận làm, nhưng họ không thí nghiệm mà chứng nhận luôn do
đó không đảm bảo Chẳng hạn như nước trộn trong bê tông cốt thép không đảm bảoảnh hưởng đến công tác trộn đổ bê tông không đảm bảo
Ý thức của công nhân trong công tác xây dựng rất quan trọng Ví dụ như : công nhânkhông có ý thức, chuyên môn kém, trộn tỷ lệ kết phối không đúng tỷ lệ xây dựng sẽdẫn đến những hậu quả không lường Sập vữa trần do xi măng không đủ nên không kếtdính được Biện pháp kỹ thuật thi công, các quy trình phải tuân thủ quy phạm thi công,nếu không sẽ ảnh hưởng tới chất lượng công trình, các cấu kiện chịu lực sẽ khôngđược đảm bảo Ví dụ như các cấu kiện thi công công trình đặc biệt đúng trình tự, nếu
Trang 23thi công khác đi, các cấu kiện sẽ không được đảm bảo dẫn đến công trình có có mộtvài phần chịu lực kém so với thiết kế.
1.4 Những hư hỏng thường xuyên xảy ra đối với các công trình.
Định nghĩa sự cố: Sự cố công trình là những hư hỏng vượt quá giới hạn an toàn chophép làm cho công trình có nguy cơ sập đổ, đã sập đổ một phần, toàn bộ công trìnhhoặc công trình không sử dụng được theo thiết kế [4]
Theo định nghĩa này, sự cố cố thể được phân chi tiết hơn thành các loại sau:
Sự cố sập đổ: bộ phận công trình hoặc toàn bộ công trình bị sập đổ phải dỡ bỏ để làmlại.[2]
Sự cố về biến dạng: Nền, móng bị lún; kết cấu bị nghiêng, vặn, võng…làm cho côngtrình có nguy cơ sập đổ hoặc không thể sử dụng được bình thường phải sửa chữa mớidùng được.[2]
Sự cố sai lệch vị trí: Móng, cọc móng sai lệch vị trí, hướng; sai lệch vị trí quá lớn củakết cấu hoặc chi tiết đặt sẵn… có thể dẫn tới nguy cơ sập đổ hoặc không sử dụng đượcbình thường phải sửa chữa hoặc thay thế.[2]
Sự cố về công năng: công năng không phù hợp theo yêu cầu; chức năng chống thấm,cách âm, cách nhiệt không đạt yêu cầu; thẩm mỹ phản cảm…phải sửa chữa, thay thế
để đáp ứng công năng của công trình.[2]
1.4.1.Một số nguyên nhân sự cố thường gặp
a.Giai đoạn khảo sát xây dựng
Các sai sót trong hoạt động khảo sát xây dựng thường biểu hiện ở các khía cạnh sau:Không phát hiện được hoặc phát hiện không đầy đủ quy luật phân bố không gian (theochiều rộng và theo chiều sâu) các phân vị địa tầng, đặc biệt các đất yếu hoặc các đớiyếu trong khu vực xây dựng và khu vực liên quan khác;
Trang 24Đánh giá không chính xác các đặc trưng tính chất xây dựng của các phân vị địa tầng
có mặt trong khu vực xây dựng; thiếu sự hiểu biết về nền đất hay do công tác khảo sátđịa kỹ thuật sơ sài Đánh giá sai về các chỉ tiêu cơ lý của nền đất
Không phát hiện được sự phát sinh và chiều hướng phát triển của các quá trình
địa kỹ thuật có thể dẫn tới sự mất ổn định của công trình xây dựng
Không điều tra, khảo sát công trình lân cận và các tác động ăn mòn của môi
trường…
Những sai sót trên thường dẫn đến những tốn kém khi phải khảo sát lại (nếu phát hiệntrước thiết kế), thay đổi thiết kế (phát hiện khi chuẩn bị thi công) Còn nếu không pháthiện được thì thiệt hại là không thể kể được khi đã đưa công trình vào sử dụng
b.Giai đoạn thiết kế xây dựng
b1 Thiết kế nền móng
Những sai sót thường gặp:
Không tính hoặc tính không đúng độ lún công trình; Giải pháp nền móng sai; quá tảiđối với đất nền.Quá tải đối với đất nền là trường hợp đối với tiêu chuẩn giới hạn thứnhất (về độ bền) đã không đạt Thường xảy ra đối với các lớp đất yếu hoặc thấu kínhbùn xen kẹp, và một số trường hợp đất đắp tôn nền không được xem là một loại tảitrọng, cùng với tải trọng của công trình truyền lên đất nền bên dưới và gây cho côngtrình những độ lún đáng kể
Độ lún của các móng khác nhau dẫn đến công trình bị lún lệch
Móng đặt trên nền không đồng nhất Móng công trình xây dựng trên sườn dốc
b2 Thiết kế kết cấu công trình
- Sai sót về kích thước
Nguyên nhân của sai sót này là do sự phối hợp giữa các nhóm thiết kế không chặt chẽ, khâu kiểm bản vẽ không được gây nên nhầm lẫn đáng tiếc xẩy ra trong việc tính toán
Trang 25thiết kế kết cấu công trình Cùng với sai sót đó là thiếu sự quan sát tổng thể của ngườithiết kế trong việc kiểm soát chất lượng công trình.
- Sai sót sơ đồ tính toán
Trong tính toán kết cấu, do khả năng ứng dụng mạnh mẽ của các phần mềm phân tíchkết cấu, về cơ bản, sơ đồ tính toán kết cấu thường được người thiết kế lập giống côngtrình thực cả về hình dáng, kích thước và vật liệu sử dụng cho kết cấu Tuy nhiên, việcquá phụ thuộc vào phần mềm kết cấu cũng có thể gây ra những sai lầm đáng tiếc trongtính toán thiết kế
- Bỏ qua kiểm tra điều kiện ổn định của kết cấu
Khi tính toán thiết kế, đối với những thiết kế thông thường, các kỹ sư thiết kế thườngtính toán kiểm tra kết cấu theo trạng thái giới hạn thứ nhất Tuy nhiên, trong trạng tháigiới hạn thứ nhất, chỉ tính toán kiểm tra đối với điều kiện đảm bảo khả năng chịu lực,
bỏ qua kiểm tra điều kiện ổn định của kết cấu Đối với những công trình có quy mônhỏ, kích thước cấu kiện kết cấu không lớn, thì việc kiểm tra theo điều kiện ổn định cóthể bỏ qua Tuy nhiên, đối với các các công trình có quy mô không nhỏ, kích thướccấu kiện lớn thì việc kiểm tra theo điều kiện ổn định là rất cần thiết
- Sai sót về tải trọng
Việc tính toán tải trọng tác dụng lên kết cấu cũng thường gây ra những sai sót, trong
đó sai sót tập trung chủ yếu ở việc lựa chọn giá trị tải trọng, lấy hệ số tổ hợp của tảitrọng
- Bố trí cốt thép không hợp lý
Trong kết cấu BTCT, cốt thép được bố trí để khắc phục nhược điểm của bê tông làchịu kéo kém Việc bố trí cốt thép không đúng sẽ dẫn đến bê tông không chịu đượcứng suất và kết cấu bị nứt
- Giảm kích thước của cấu kiện BTCT
Trong cấu kiện BTCT, bê tông chịu lực cắt là chủ yếu, vì lý do nào đó tiết diện bê tôngtại những vùng có lực cắt lớn phải giảm bớt tiết diện, sẽ làm giảm khả năng chịu lực
Trang 26cắt của cấu kiện Khi giảm bớt tiết diện của bê tông, nhà thiết kế không kiểm tra đãdẫn đến cấu kiện bị nứt và xẩy ra sự cố công trình.
- Thiết kế sửa chữa và cải tạo công trình cũ
Các công trình xây dựng thường có tuổi thọ từ hàng chục năm đến trăm năm Trongquá trình sử dụng và khai thác công trình, thì mục đích sử dụng nhiều khi có nhữngthay đổi so với thiết kế ban đầu, để đáp ứng nhu cầu sử dụng, phải sửa chữa, cải tạo,nâng cấp công trình hiện có để thay đổi tính năng, quy mô đáp ứng được chức năngmới mà sử dụng yêu cầu Trong quá trình thiết kế, nhiều khi các nhà thiết kế đã khôngxác định tuổi thọ còn lại của công trình cần cải tạo, tuổi thọ của phần công trình được
để lại của công trình cải tạo, xem tuổi thọ của chúng còn tương đương với tuổi củaphần công trình được nâng cấp cải tạo hay không dẫn đến tình trạng tuổi thọ của từngphần của công trình được cải tạo không đồng đều và tuổi thọ của toàn bộ công trình bịgiảm
Đồng thời nhà thiết kế chưa quan tâm đến sơ đồ chịu lực của công trình cũ và sơ đồchịu lực của công trình sau khi cải tạo Sự khác biệt quá xa của sơ đồ kết cấu mới saukhi cải tạo và sơ đồ kết cấu của công trình cũ, đã dẫn đến sự can thiệp quá sâu vào kếtcấu của công trình cũ và dẫn đến sự cố của công trình xây dựng
- Những nguyên nhân về thiết kế liên quan đến môi trường
Một trong những vấn đề nóng cần bàn tới trong mối quan hệ giữa chất lượng côngtrình và an toàn môi trường là những can thiệp “thô bạo” của các đồ án thiết kế gây ranhững bất ổn cho sự làm việc an toàn của công trình trong suốt tuổi thọ của nó Vốn dĩ
vỏ trái đất này đã tồn tại ổn định hàng triệu triệu năm Người thiết kế đã vô tình vàphần lớn là cố ý vì những mục đích hẹp hòi đã tạo cho một phần của vỏ trái đất bị biếndạng gây mất ổn định cục bộ Sự mất ổn định này sẽ làm xuất hiện một xu thế đi tìm
sự cân bằng mới Quá trình này đôi khi thực sự “khốc liệt” và sẽ không có điểm dừngmột khi trạng thái cân bằng mới không được tái lập Vì vậy, trong các dự án xây dựng
có ảnh hưởng tới môi trường thường được xem xét rất chi tiết vấn đề an toàn môitrường Song, do những nhận thức còn hạn hẹp về vai trò của an toàn môi trườngtrong sự bền vững của công trình xây dựng và thực trạng chỉ coi trọng lợi ích
Trang 27trướcmắt, công trình xây dựng đã, đang và sẽ bị thiên nhiên tác động phá hoại và làm hao tổn tuổi thọ.
- Những nguyên nhân về thiết kế liên quan đến môi trường ăn mòn
Những sai sót của người thiết kế dẫn đến công trình xây dựng bị sự cố do tácđộng ănmòn của môi trường như:
+ Quy định sai về chiều dày lớp bảo vệ
Sử dụng mác bê tông thấp không đảm bảo hàm lượng xi măng tối thiểu
Không sử dụng các biện pháp cần thiết để tăng khả năng chống ăn mòn chokết cấu.+Các trường hợp khác
Khi tính toán tác giả có một số quan niệm không thích hợp với điều kiện thực tế thicông, nhưng không chú thích rõ ràng đầy đủ trong bản vẽ chi tiết, để người thi côngthực hiện
Không có biện pháp cấu tạo, để công trình chịu sự thay đổi của nhiệt độ, khi nhiệt độthay đổi làm kết cấu bị co giãn, công trình bị nứt ở kết cấu chịu tác động của nhiệt, tạođiều kiện cho các tác nhân khác ăn mòn kết cấu dẫn đến kết cấu bị hư hỏng
c Giai đoạn thi công xây dựng
Trong thi công, nhà thầu không thực hiện đúng các quy trình quy phạm kỹthuật đã dẫnđến sự cố công trình xây dựng:
Không kiểm tra chất lượng, quy cách vật liệu trước khi thi công Không thực hiệnđúng trình tự các bước thi công
Vi phạm các quy định về tổ chức, quản lý, kỹ thuật thi công Cụ thể:
- Khối lượng và chất lượng vật liệu:
Vi phạm phổ biến của các nhà thầu là hạ cấp chất lượng vật liệu Đặc biệt, việc hạ cấpchất lượng vật liệu thực sự là khó kiểm soát khi không có các mô hình giám sát quản
lý chất lượng hiệu quả
Trang 28Trong cuộc đấu thầu gần đây có nhiều công trình có giá trúng thầu rất thấp so với giá
dự toán được duyệt Thậm chí có những nhà thầu bỏ thầu thấp hơn rất nhiều so với chiphí cần thiết Do không có giám định về giá cả vật liệu nên các nhà thầu có thể đưa racác chỉ tiêu chất lượng cao và giá thấp để trúng thầu Song khi thực hiện thi công xâylắp các nhà thầu đã giảm mức chất lượng, chủng loại, xuất xứ, đưa các thiết bị, vậtliệu chất lượng kém vào trong công trình và tìm cách bớt xén các nguyên vật liệu để
bù chi phí và có một phần lợi nhuận
- Chất lượng biện pháp thi công:
Trong hồ sơ đấu thầu xây lắp, hầu hết các nhà thầu đều đưa ra được phần thuyết minhbiện pháp thi công hoàn hảo với một lực lượng lao động hùng hậu, thực tế lại khôngnhư vậy Lực lượng công nhân phổ biến ở các công trường hiện nay hầu hết là thợ
“nông nhàn” Việc sử dụng lực lượng lao động này là một điều rất đáng lo ngại, khôngnhững ảnh hưởng tới chất lượng công trình mà còn có nguy cơ để xảy ra tai nạn laođộng nhiều Bên cạnh đó, đội ngũ cán bộ quản lý kỹ thuật cũng được sử dụng khôngđúng với chuyên môn Nhiều các kỹ sư vật liệu trẻ mới ra trường không có việc làm lạiđược thuê làm kỹ thuật giám sát kiểm tra thi công cọc khoan nhồi mà khi hỏi các kỹ sưnày không hiểu cọc khoan nhồi là gì? Chính vì sử dụng những lực lượng lao động nhưvậy đã làm cho công trình không đảm bảo chất lượng
Biện pháp thi công không phù hợp luôn chứa đựng yếu tố rủi ro về chất lượng; có khicòn gây ra những sự cố lớn không lường vi phạm khá phổ biến trong giai đoạn thicông là sự tuỳ tiện trong việc lập biện pháp và qui trình thi công Những sai phạm nàyphần lớn gây đổ vỡ ngay trong quá trình thi công và nhiều sự cố gây thương vong chocon người cũng như sự thiệt hại lớn về vật chất
1.5 Những giải pháp chủ yếu trong tu bổ, sửa chữa công trình hiện nay của công ty
1.5.1 Giải pháp đối với công trình bê tông cốt thép, gạch xây.
Công trình thuỷ lợi bằng bê tông cốt thép,gạch xây chủ yếu là các công trình phục vụtướicho nông nghiệp như trạm bơm, kênh tưới, cầu, cống…v.v vì là các công trìnhphục vụ tưới cho nông nghiệp nên khi thực hiện tu bổ, sửa chữa thường phải kết hợp
Trang 29với công tác điều nước phục vụ cho nông nghiệp Giải pháp chủ yếu là bốc dỡ bỏ phầncông trình bị đổ vỡ, hư hỏng và xây lại phần công trình đó.
1.5.2 Giải pháp đối với công trình đất.
Các công trình đất chủ yếu là công trình phục vụ tưới tiêu như kênh tưới, kênh tiêu,đập,…v.v Giải pháp sửa chữa đối với các sự cố về công trình đất thường là bóc bỏ lớpđất yếu bị sạt lở, đóng cọc tre gia cố nền, đào đất đánh cấp mái, dùng bao tải đất đểđắp bờ gia cố hoặc dùng máy múc đắp bờ đất và dùng máy đầm nén
1.5.3 Giải pháp đối với công trình nạo vét bùn.
Các công trình kênh tưới, kênh tiêu, hồ đập sử dụng lâu ngày bị bồi lắng bùn đất phảinạo vét để đảm bảo công tác điều nước phục vụ tưới tiêu cho nông nghiệp
Giải pháp chủ yếu trong nạo vét là dùng máy và nhân công nạo vét bùn đưa lên xe ô tôtrở đến bãi đổ
1.6 Những tồn tại về chất lượng trong thời gian qua khi thực hiện tu bổ, sữa chữa các công trình.
Hiệu quả của các công trình thuỷ lợi mang lại vẫn chưa làm hài lòng các nhà quản lý,các chủ đầu tư, chưa tương xứng với năng lực công trình mà nhà nước và nhân dân đãđầu tư xây dựng Nguyên nhân chủ yếu là do sự bất cập về mô hình quản lý chất lượngcông trình xây dựng và cơ chế quản lý Quản lý công trình thuỷ lợi vẫn còn theo cơchế bao cấp,“ xin cho “ đã không huy động được các tổ chức, cá nhân , các thànhphần kinh tế và người được hưởng lợi tham gia đầu tư xây dựng và quản lý công trình.Qua kiểm tra thực tế cho thấy còn nhiều công trình thuỷ lợi chưa đảm bảo chất lượng
để xảy ra những tồn tại về kỹ thuật mà nguyên nhân chính là do có nhiều hạn chế,thiếu sót ở các bước: Khảo sát, thiết kế, thẩm tra hồ sơ, thi công xây dựng, giám sát thicông Các chủ thể tham gia hoạt động xây dựng không tuân thủ đúng các quy địnhpháp luật hiện hành về quản lý chất lượng công trình xây dựng Quy trình kỹ thuậttrong thi công xây dựng chưa tuân thủ nghiêm túc, nhất là sử dụng chưa đúng cấp phốivật liệu trong thi công Tình trạng bớt xén vật liệu trong xây dựng; quy trình quy phạm
kỹ thuật thi công xây dựng quản lý chưa chặt chẽ Công tác giám sát của chủ đầu tư,của nhà thầu tư vấn giám sát chưa chặt chẽ, thiếu trách nhiệm, chưa thường xuyên liêntục việc lập các hồ sơ tài liệu về chất lượng nhất là việc kiểm định, thí nghiệm chất
Trang 30lượng còn buông lỏng Năng lực của chủ đầu tư, Ban quản lý dự án, các đơn vị tư vấn,nhà thầu thi công xây dựng còn nhiều hạn chế, chưa được quan tâm củng cố kiện toàn.Công tác nắm bắt về tình hình chất lượng, báo cáo chất lượng của chủ đầu tư, các Banquản lý dự án còn chưa kịp thời, chưa đảm bảo theo đúng yêu cầu quy định Cụ thểnhư sau:
1.6.1 Đối với Chủ đầu tư.
Hầu hết các chủ đầu tư thành lập các Ban QLDA khi có công trình thì đều giao hoàntoàn trách nhiệm cho Ban QLDA, đôí với các công trình nhỏ không thành lậpBQLDA thì giao hết cho nhà thầu giám sát thi công Nhiều Ban QLDA, nhà thầu giámsát không có chuyên môn nghiệp vụ về lĩnh vực xây dựng, sự hiểu biết về xây dựngcũng như công tác quản lý chất lượng xây dựng còn nhiều hạn chế.Khi lựa chọn nhàthầu các chủ đầu tư chưa kiểm tra, kiểm soát đầy đủ thông tin về năng lực, kinhnghiệm của các nhà thầu đủ năng lực thực sự và có kinh nghiệm tham gia thực hiện dự
án Phương thức lựa chọn nhà thầu chưa phù hợp, việc lựa chọn đơn vị trúng thầu chủyếu căn cứ vào giá dự thầu thấp nhất mà chưa tính một cách đầy đủ đến yếu tố đảmbảo chất lượng, đến hiệu quả đầu tư của Dự án.Một số công trình việc tổ chức đấu thầuchỉ mang tính chất hình thức, thủ tục
1.6.2.Đối với Tư vấn xây dựng.
Trong những năm gần đây, các doanh nghiệp tư vấn xây dựng ra đời và phát triển rấtnhanh về số lượng Nhưng những đơn vị thực sự có năng lực không nhiều, phần lớncác doanh nghiệp năng lực hoạt động chuyên môn hạn chế, thiết bị, công nghệ của cácđơn vị tư vấn chậm đổi mới, dẫn đến chất lượng hồ sơ khảo sát, hồ sơ thiết kế, côngtác giám sát, chất lượng chưa cao, còn nhiều sai sót Đánh giá về hoạt động và chấtlượng một số lĩnh vực Tư vấn xây dựng, còn một số tồn tại cụ thể như sau:
- Về công tác khảo sát: Hiện tượng không lập nhiệm vụ khảo sát diễn ra khá phổ biến
ở công trình tuyến huyện, tuyến xã, hồ sơ khảo sát của nhiều công trình không có Nhật
ký khảo sát, không có nhiệm vụ và phương án khảo sát được chủ đầu tư phê duyệt.Một số công trình khảo sát địa chất chưa phù hợp về vị trí hố khoan, số lượng hốkhoan và chiều sâu khoan Các số liệu thí nghiệm, phân tích chỉ tiêu cơ lý một số côngtrình không do phòng thí nghiệm hợp chuẩn thực hiện, số liệu khảo sát chưa phù hợp
Trang 31với thực tế, chủ trì khảo sát chưa đảm bảo điều kiện năng lực theo quy định của nghịđịnh 46/2015/NĐ-CP.
- Về công tác thiết kế: Hầu hết các công trình có quy mô nhỏ: Phần thuyết minh tínhtoán kết cấu mang tính hình thức (không tính toán nội lực, không khảo sát đánh giá lưulượng xe và tải trọng xe khi thiết kế đường, cầu; Thực hiện không đúng hoặc không
đủ các điều kiện địa chất thủy văn khi thiết kế các công trình cầu, tràn, đê, đập) Cáccầu, cống thiết kế định hình mà không thiết kế theo tình hìnhthực tế Hồ sơ không chỉđịnh rõ cường độ cốt thép sử dụng và không chỉ định rõ cốt liệu đá trong bê tông Cábiệt, một số công trình, số liệu khảo sát trong hồ sơ không đúng với hiện trạng thực tế
Hồ sơ thiết kế không có nhiệm vụ thiết kế được chủ đầu tư phê duyệt Hầu hết các hồ
sơ thiết kế chưa lập quy trình bảo trì cho công trình, đơn vị thiết kế không thực hiệngiám sát tác giả theo quy định Một số hồ sơ thiết kế Chủ trì thiết kế chưa đảm bảođiều kiện năng lực theo quy định của NĐ 46/2015/NĐ-CP
- Về công tác thẩm tra thiết kế, dự toán: Theo Nghị định 46/2015/NĐ-CP, Công tácthẩm tra thiết kế dự toán là do các doanh nghiệp Tư vấn thực hiện, nhưng trách nhiệmthực hiện của tư vấn thẩm tra chưa thực hiện nghiêm túc theo quy định của Pháp luậtxây dựng Những sai sót trong thiết kế tư vấn thẩm tra không phá thiện được Nhiềucông trình tư vấn thẩm tra ký kết hợp đồng với chủ đầu tư thẩm tra toàn bộ từ khâuthiết kế bản vẽ thi công đến dự toán công trình, nhưng thực tế chỉ thẩm tra phần dựtoán, không có hoặc nêu không đẩy đủ các nội dung thẩm tra thiết kế bản vẽ thi công.Một số công trình chủ đầu tư không lưu hồ sơ năng lực về tư vấn thẩm tra Chủ trìthẩm tra không đảm bảo điều kiện năng lực theo quy định Nhiều công trình thực hiệncông tác thẩm tra chỉ mang tính thủ tục,hình thức, chưa chú trọng đến chất lượng thẩmtra, các Chủ đầu tư chưa kiểm tra chặt chẽ điều kiện năng lực của đơn vị tư vấn thẩmtra Công tác kiểm tra, kiểm soát về lĩnh vực này đối với cơ quan quản lý chưa đượcquan tâm đúng mức
- Về công tác tư vấn giám sát: Sau khi đấu thầu, công trình triển khai thi công Nhưvậy,chất lượng xây lắp công trình được quyết định một phần chủ yếu ở khâu giám sátthi công, tư vấn giám sát giúp các Chủ đầu tư giám sát và quản lý thực hiện dựán vớinhiệm vụ: Kiểm soát chất lượng công trình; Kiểm soát khối lượng; Kiểm soát tiến độ,
Trang 32giúp Chủ đầu tư trong việc phát hiện những bất hợp lý trongthiết kế, dự toán, trong tổchức thi công, giúp Chủ đầu tư nghiệm thu, thanh quyết toán đưa công trình vào sửdụng.
- Thực trạng hiện nay tư vấn giám sát yếu về năng lực, hiểu biết về Pháp luật xây dựngcòn hạn chế, đặc biệt là nhận thức được tầm quan trọng của công tác Quản lý chấtlượng công trình xây dựng;
- Tư vấn giám sát chưa bám vào nhiệm vụ giám sát và hợp đồng giám sát để thực hiệncông tác giám sát thi công Chưa giúp Chủ đầu tư kiểm tra điều kiện năng lực của cácnhà thầu so với Hồ sơ trúng thầu (Bộ máy chỉ đạo thi công, nhân lực, máy móc, thiết
bị thi công, biện pháp thi công công trình, an toàn lao động, chất lượng vật tư, vật liệuđưa vào xây dựng ) Chưa kiểm tra, kiểm soát được Hồ sơ quản lý chất lượng: Ghichép Nhật ký giám sát chưa thể hiện được đầy đủ công tác quản lý chất lượng của chủđầu tư; Không nhận xét hoặc không thường xuyên đánh giá chất lượng sau mỗi ngàyhoặc mỗi ca làm việc trong nhật ký công trình; không kiểm tra kiểm soát các tài liệulàm căn cứ nghiệm thu dẫn đến các Biên bản nghiệm thu không đảm bảo quy địnhhiện hành Hầu hết các công trình Biên bản nghiệm thu công việc, giai đoạn thiếu cáccăn cứ nghiệm thu, và các thông số kỹ thuật thi công thực tế của đối tượng nghiệm thu,
cá biệt còn có những công trình áp dụng sai tiêu chuẩn kỹ thuật Hồ sơ quản lý chấtlượng chưa được quan tâm, chưa thể hiện được chất lượng thi công công trình Côngtác lập hồ sơ quản lý chất lượng chỉ mang tính hình thức, chưa phản ánh được cácthông số kỹ thuật thực tế của công trình
Các doanh nghiệp Tư vấn khi thực hiện nhiệm vụ giám sát không kiểm tra, kiểm soát
và theo dõi chặt chẽ, hoạt động của cán bộ được cử làm công tác này, việc lưu trữ hồ
sơ quản lý chất lượng (Nhật ký giám sát, các báo cáo chất lượng, các văn bản đề xuất,kiến nghị, các thay đổi bổ sung, các biên bản nghiệm thu) hầu hết chưa được các đơn
vị tư vấn giám sát quan tâm
Một số đơn vị tư vấn giám sát bố trí cán bộ giám sát không đúng chuyên ngành phùhợp, chưa có chứng chỉ hành nghề giám sát, bố trí một tư vấn giám sát đồng thời trong
Trang 33cùng một thời điểm, giám sát nhiều công trình, cán bộ giám sát không phải là hợpđồng lao động dài hạn của đơn vị.
Việc không tuân thủ qui định về điều kiện và năng lực hoạt động của Tư vấn giám sáttheo nghị định 46/2015/NĐ-CP dẫn đến chất lượng công tác giám sát chưacao, giámsát chưa làm hết trách nhiệm, chất lượng công trình vẫn chưa được kiểm soát theo hồ
sơ thiết kế được duyệt một cách đầy đủ
- Về lĩnh vực thí nghiệm: Hầu hết các phòng thí nghiệm được kiểm tra chưa thực hiệnnghiêm túc công tác quản lý theo quy định như: Chưa áp dụng kịp thời các Tiêu chuẩn
kỹ thuật về thí nghiệm vật liệu xây dựng Một số phòng thí nghiệm không tổ chức lấymẫu thí nghiệm tại hiện trường,không có mẫu lưu tại phòng thí nghiệm Bố trí cán bộthí nghiệm chưa qua các lớp đào tạo thí nghiệm viên, cá biệt còn có đơn vị Trưởngphòng thí nghiệm chưa được đào tạo qua lớp quản lý phòng thí nghiệm
1.6.3.Công tác quản lý chất lượng của Các doanh nghiệp xây lắp.
- Trong hầu hết các doanh nghiệp xây lắp trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc một số doanhnghiệp lớn đã có cố gắng nhiều trong việc tổ chức bộ máy cán bộ và đầu tư trang thiết
bị phục vụ sản xuất, còn phần lớn các doanh nghiệp năng lực hoạt động của cán bộ thicông còn hạn chế, công nhân kỹ thuật hầu hết là hợp đồng thời vụ,chưa được đào tạobài bản, máy móc thiết bị thi công chưa đảm bảo được so với Hồ sơ Dự thầu
- Hệ thống quản lý chất lượng ở các doanh nghiệp có qui mô lớn thực hiện tốt, cácdoanh nghiệp nhỏ không thành lập hệ thống quản lý chất lượng hoặc có thành lập cũngchỉ là hình thức, chất lượng chưa cao.Nhiều doanh nghiệp bố trí chỉ huy trưởng côngtrình và cán bộ kỹ thuật, thiết bị thi công chưa đúng với hồ sơ dự thầu, chưa thực hiệnnghiêm túc các cam kết trong hợp đồng xây lắp Việc lập hồ sơ quản lý chất lượng cònmang tính đối phó như: Ghi chép nhật ký công trình chưa đảm bảo quy định Công tácnghiệm thu nội bộ còn mang tính hình thức Công tác thí nghiệm vật tư, vật liệu, cấukiện bán thành phẩm để xác định chất lượng còn mang tính đối phó Không lập bản vẽhoàn công hoặc lập bản vẽ hoàn công không đúng quy định
- Chất lượng thi công: thi công một số công việc chưa đảm bảo Hồ sơ thiết kế đượcduyệt như:
Trang 34+ Đối với công trình Thủy lợi: Thi công các khớp nối của các công trình đập, tràn, cáckhe lún, các lớp đá dăm đệm phần kè mái, độ dốc mái chưa đảm bảo yêu cầu thiết kế;Quy trình thi công các lớp đất đắp chưa đảm bảo yêu cầu kỹ thuật Các công trìnhkênh,mương hầu hết thi công bằng gạch rỗng chưa đảm bảo Tiêu chuẩn kỹ thuật hiệnhành Thi công công tác đắp đất không đảm bảo trình tự kỹ thuật (chiều dày lớp đắp,máy móc đầm nén và phương pháp đầm…) Đặc biệt là các vị trí mái taluy.
- Công tác thí nghiệm vật tư, vật liệu, cấu kiện bán thành phẩm để xác định chất lượngmột số công trình thực hiện chưa nghiêm túc, còn mang tính đối phó
Kết luận Chương 1:
Nội dung chương 1 đã nêu rõ những khái niệm cơ bản về chất lượng và quản lý chấtlượng sản phẩm nói chung và sản phẩm xây dựng nói riêng, làm rõ được mức độ quantrọng cũng như vai trò công tác quản lý chất lượng hiện nay Đã có rất nhiều sự cốcông trình đã xảy ra có liên quan trực tiếp đến công tác quản lý chất lượng công trìnhxây dựng và thường để lại các hậu quả nghiêm trọng về người, tài sản cho xã hội vàđặc biệt là các công trình thủy lợi Do đó, chất lượng các công trình xây dựng hiện nayđang ngày càng được quản lý thật chặt chẽ để đảm bảo mọi dự án khi hình thành luônđạt được hiệu quả về kinh tế, xã hội cao nhất Các cơ sở khoa học và cơ sở pháp lý vềquản lý chất lượng công trình xây dựng sẽ được tác giả đưa ra ở chương 2
Trang 35i Th
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CÔNG TRÌNH TU BỔ, SỬA CHỮA THUỘC CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN THUỶ LỢI LIỄN SƠN – VĨNH PHÚC.
2.1 Cơ sở khoa học trong quản lý chất lượng.
2.1.1 Các khái niệm liên quan.
a Dự án đầu tư xây dựng công trình: là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc sửdụng vốn để tiến hành hoạt động xây dựng để xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo côngtrình xây dựng nhằm phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sảnphẩm, dịch vụ trong thời hạn và chi phí xác định Ở giai đoạn chuẩn bị dự án đầu tưxây dựng, dự án được thể hiện thông qua Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đầu tư xâydựng, Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật đầu
tư xây dựng
b QLDA đầu tư xây dựng công trình là một trong những công tác của lĩnh vực hoạtđộng xây dựng, đó là việc cân đối giữa các yếu tố: Quy mô, tiến độ, chi phí và nguồnlực Nói một cách tổng quát, điều này có nghĩa là lập kế hoạch, tổ chức và kiểm soátcác công việc của dự án, xác định và lên lịch cho các nguồn lực thực hiện công việcnày, tập hợp các công việc để thực hiện mục tiêu của dự án
Quy mô
Chất lượng Chấtlượng
Chất lượng
Hình 2.1: Các thành tố chính của một dự án xây dựng
c Chất lượng và quản lý chất lượng công trình xây dựng
c1 Chất lượng công trình xây dựng
Quan niệm hiện đại về chất lượng công trình xây dựng: Thông thường xét từ góc độbản thân sản phẩm xây dựng, chất lượng công trình được đánh giá bởi các đặc tính cơ
Trang 36bản như: công năng, độ tiện dụng; tuân thủ các tiêu chuẩn kỹ thuật, độ bền vững, tincậy, tính thẩm mỹ, an toàn trong khai thác sử dụng, tính kinh tế và đặc biệt đảm bảo vềtính thời gian (thời gian phục vụ của công trình).
Rộng hơn, chất lượng công trình xây dựng còn có thể và cần được hiểu không chỉ từgóc độ bản thân sản phẩm xây dựng và người hưởng thụ sản phẩm xây dựng mà còn cảtrong quá trình hình thành sản phẩm xây dựng đó với các vấn đề liên quan khác Một
số vấn đề cơ bản đó là:
Chất lượng công trình xây dựng cần được quan tâm ngay từ khi hình thành ý tưởng vềxây dựng công trình, từ khâu quy hoạch, lập dự án, đến khảo sát thiết kế, thi công cho đến giai đoạn khai thác, sử dụng và dỡ bỏ công trình sau khi đã hết thời hạn phục
vụ Chất lượng công trình xây dựng thể hiện ở chất lượng quy hoạch xây dựng, chấtlượng dự án đầu tư xây dựng công trình, chất lượng khảo sát, chất lượng các bản vẽthiết kế
Chất lượng công trình tổng thể phải được hình thành từ chất lượng của nguyên vậtliệu, cấu kiện, chất lượng của công việc xây dựng riêng lẻ, của các bộ phận, hạng mụccông trình
Các tiêu chuẩn kỹ thuật không chỉ thể hiện ở các kết quả thí nghiệm, kiểm địnhnguyên vật liệu, cấu kiện, máy móc thiết bị mà còn ở quá trình hình thành và thực hiệncác bước công nghệ thi công, chất lượng các công việc của đội ngũ kỹ sư, công nhânlao động trong quá trình thực hiện các hoạt động xây dựng
Vấn đề an toàn không chỉ là trong khâu khai thác sử dụng đối với người thụ hưởngcông trình mà còn cả trong giai đoạn thi công xây dựng đối với đội ngũ kỹ sư, côngnhân xây dựng
Tính thời gian không chỉ thể hiện ở thời hạn công trình đã xây dựng có thể phục vụ màcòn ở thời hạn phải xây dựng và hoàn thành, đưa công trình vào khai thác sử dụng.Tính kinh tế không chỉ thể hiện ở số tiền quyết toán công trình chủ đầu tư phải chi trả
mà còn thể hiện ở góc độ đảm bảo lợi nhuận cho cho các nhà đầu tư thực hiện các hoạtđộng và dịch vụ xây dựng như lập dự án, khảo sát thiết kế, thi công xây dựng
Trang 37Vấn đề môi trường cần chú ý ở đây không chỉ từ góc độ tác động của dự án tới các yếu
tố môi trường mà cả tác động theo chiều ngược lại, tức là tác động của các yếu tố môitrường tới quá trình hình thành dự án
c2 Quản lý chất lượng công trình xây dựng
Quản lý chất lượng công trình xây dựng là tập hợp các hoạt động từ đó đề ra các yêucầu, quy định và thực hiện các yêu cầu và quy định đó bằng các biện pháp như kiểmsoát chất lượng, đảm bảo chất lượng, cải tiến chất lượng trong khuôn khổ một hệthống Hoạt động quản lý chất lượng công trình xây dựng chủ yếu là công tác giám sát
và tự giám sát của chủ đầu tư và các chủ thể khác
c3 Vai trò của quản lý chất lượng công trình xây dựng
Công tác quản lý chất lượng các công trình xây dựng có vai trò to lớn đối với nhà thầu,chủ đầu tư và các doanh nghiệp xây dựng nói chung, vai trò đó được thể hiện cụ thể là:Đối với nhà thầu, việc đảm bảo và nâng cao chất lượng công trình xây dựng sẽ tiếtkiệm nguyên vật liệu, nhân công, máy móc thiết bị, tăng năng suất lao động Nâng caochất lượng công trình xây dựng là tư liệu sản xuất có ý nghĩa quan trọng tới tăng năngsuất lao động, thực hiện tiến bộ khoa học công nghệ đối với nhà thầu
Đối với chủ đầu tư, đảm bảo và nâng cao chất lượng sẽ thoả mãn được các yêu cầu củachủ đầu tư, tiết kiệm được vốn và góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống Đảm bảo
và nâng cao chất lượng tạo lòng tin, sự ủng hộ của chủ đầu tư với nhà thầu, góp phầnphát triển mối quan hệ hợp tác lâu dài
Quản lý chất lượng công trình xây dựng là yếu tố quan trọng, quyết định sức cạnhtranh của các doanh nghiệp xây dựng
Hàng năm, vốn đầu tư dành cho xây dựng rất lớn, chiếm từ 20-25% GDP Vì vậy quản
lý chất lượng công trình xây dựng rất cần được quan tâm Thời gian qua, còn có nhữngcông trình chất lượng kém, bị bớt xén, rút ruột khiến dư luận bất bình Do vậy, vấn đềcần thiết đặt ra đó là làm sao để công tác quản lý chất lượng công trình xây dựng cóhiệu quả
Trang 38d Nội dung hoạt động quản lý chất lượng công trình xây dựng theo các giai đoạn của
Theo Nghị định 46/2015/NĐ-CP ngày 12/5/2015 của chính phủ về quản lý chất lượng
và bảo trì công trình xây dựng thì QLCL phải xuyên suốt tất cả các giai đoạn từ khâukhảo sát, thiết kế đến thi công và khai thác sử dụng công trình xây dựng
Hoạt động quản lý chất lượng công trình xây dựng chủ yếu là công tác giám sát củachủ đầu tư và các chủ thể khác Có thể gọi chung công tác giám sát là giám sát xâydựng, nội dung công tác giám sát và tự giám sát của các chủ thể có thể thay đổi tuỳtheo nội dung của hoạt động xây dựng mà nó phục vụ
Trong giai đoạn khảo sát ngoài sự giám sát của chủ đầu tư, nhà thầu khảo sát xây dựngphải có bộ phận chuyên trách tự giám sát công tác khảo sát
Trong quá trình thiết kế, nhà thầu thiết kế xây dựng công trình chịu trách nhiệm trướcchủ đầu tư và pháp luật về chất lượng thiết kế xây dựng công trình Chủ đầu tư ngiệmthu sản phẩm thiết kế và chịu trách nhiệm về các bản vẽ thiết kế giao cho nhà thầu thicông
Trong giai đoạn thi công xây dựng công trình có các hoạt động quản lý chất lượng và
tự giám sát của nhà thầu thi công xây dựng; giám sát thi công xây dựng công trình vànghiệm thu công trình xây dựng của chủ đầu tư; giám sát tác giả của nhà thầu thiết kếxây dựng công trình
Trong giai đoạn bảo hành, chủ đầu tư, chủ sở hữu hoặc chủ quản lý sử dụng công trình
có trách nhiệm kiểm tra tình trạng công trình xây dựng, phát hiện hư hỏng để yêu cầusửa chữa, thay thế, giám sát và nghiệm thu công việc khắc phục sửa chữa đó Ngoài racòn có giám sát của nhân dân về chất lượng công trình xây dựng
Trang 39Có thể nói quản lý chất lượng cần được coi trọng trong tất cả các giai đoạn từ giaiđoạn khảo sát, thiết kế, thi công cho đến giai đoạn bảo hành của công trình xây dựng.
e Hiệu quả quản lý chất lượng công trình
Thông qua việc thẩm tra thiết kế, dự toán của các cơ quan chuyên môn về xây dựng,Nghị định 46 đã góp phần tích cực phòng chống thất thoát, lãng phí, khắc phục các saisót về thiết kế Bên cạnh đó, việc kiểm tra công tác nghiệm thu cũng đã giúp khắcphục được các khiếm khuyết về chất lượng trước khi đưa công trình vào khai thác, sửdụng
Cùng với đó là công tác quản lý năng lực hoạt động xây dựng, công tác thanh tra, kiểmtra chuyên ngành trong hoạt động đầu tư xây dựng Tiếp tục tăng cường công tác quản
lý, kiểm tra, giám sát trong đầu tư xây dựng theo quy định của Luật Xây dựng năm
2014 và các luật có liên quan đến hoạt động đầu tư xây dựng
2.1.2 Tổ chức đảm bảo chất lượng xây dựng.
Tổ chức đảm bảo chất lượng sản phẩm xây dựng là nhiệm vụ quan trọng trong sảnxuất xây dựng Tổ chức quản lý chất lượng sản phẩm xây dựng bao gồm việc xâydựng tiêu chí của sản phẩm xây dựng, biện pháp tổ chức sản xuất xây lắp nhằm đạt cáctiêu chí, kiểm tra nhằm thực hiện đầy đủ quy trình và từng khâu phải kiểm tra chấtlượng công trình
ISO 9000 định nghĩa “ Đảm bảo chất lượng là tạo sự tin tưởng cho khách hàng, rằngmột tổ chức sẽ luôn luôn thỏa mãn được mọi yêu cầu của chất lượng thông qua việctiến hành các hoạt động trong hệ thống chất lượng, theo kế hoạch và có hệ thống Khiđược yêu cầu, những hoạt động này hoàn toàn có thể được trình bày, chứng minh bằngcác văn bản và hồ sơ ghi chép các hoạt động của quá trình”
2.1.3 Kiểm soát chất lượng công trình xây dựng.
Kiểm soát là thiết lập một hệ thống đo lường, theo dõi và dự báo những biến động của
dự án về quy mô, kinh phí và thời gian Mục đích của chức năng này là xác định và dựphòng những biến động của dự án để kịp thời thực hiện những hành động điều chỉnh.Quá trình theo dõi dự án đòi hỏi phải được báo cáo liên tục và đúng lúc để nhà quản lý
có thể đáp ứng kịp thời trong quá trình thực hiện dự án chứ không phải là sau đó
Trang 40Kiểm soát thường là nhiệm vụ khó khăn nhất trong quản lý chất lượng công trình xâydựng.
Kiểm soát chất lượng là những hoạt động và kỹ thuật có tính tác nghiệp nhằm theo dõiquá trình triển khai thi công xây dựng, đồng thời loại trừ những nguyên nhân làm hoạtđộng trong quá trình triển khai thực hiện ở mọi giai đoạn để đạt hiệu quả kinh tế nhất.Đây là một bước tiến bộ của quản lý chất lượng nhằm kiểm soát mọi yếu tố ảnh hưởngđến chất lượng như con người, vật liệu, máy móc…, đồng thời kiểm soát cả quá trình
và phòng ngừa rủi ro Nội dung kiểm soát các yếu tố này nhằm đảm bảo chất lượng,phải thường xuyên kiểm soát đồng bộ tất cả các yếu tố và duy trì ở cùng một mức chấtlượng Vì chỉ cần một yếu tố kém chất lượng sẽ ảnh hưởng tới chất lượng của toàn bộ
- Công cụ và kỹ thuật: sơ đồ nguyên nhân và hậu quả, biểu mẫu kiểm tra, các loại biểu
đồ tần suất, phân tích xu hướng, lấy mẫu xác xuất, thanh tra, soát xét sửa chữa khiếmkhuyết
- Đầu ra: các biện pháp kiểm soát chất lượng, các khuyết tật và đánh giá sửa chữakhuyết tật
2.1.4 Cơ sở khoa học trong quản lý chất lượng.
Cơ sở khoa học là những quy định hay dữ liệu đã kiểm chứng thông qua quá trìnhnghiên cứu, khảo sát thực nghiệm hoặc chứng cứ đo lường được, tuân thủ theo nhữngnguyên tắc lý luận cụ thể
Cơ sở khoa học trong QLCL công trình xây dựng là những dữ liệu đã kiểm chứngthông qua quá trình nghiên cứu, khảo sát thực nghiệm hoặc chứng cứ đo lường đượctrong những hoạt động liên quan đến xây dựng