1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

chức năng QLNN về KT. Liên hệ ngành tài chính ngân hàng

22 128 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 209,5 KB
File đính kèm Bài tập nhóm QLNN về KT.Nhóm 4.final.rar (38 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhà nước cũng là một chủ thể kinh tế trên thị trường, thực hiện vai trò chủđạo thông qua hoạt động đầu tư vốn, quản lý tài sản công; tách quyền sở hữu vàquyền quản lý, sử dụng; phân cấp

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CÁC CHỨC NĂNG CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ

1 Khái niệm quản lý nhà nước về kinh tế

2 Các chức năng của quản lý nhà nước về kinh tế

2.1 Tạo lập khuôn khổ pháp luật về kinh tế

2.2 Tạo lập môi trường thuận lợi cho các hoạt động kinh tế

2.3 Đảm bảo cơ sở hạ tầng cho phát triển

2.4 Hỗ trợ sự phát triển

2.5 Chức năng khác

3 Ý nghĩa của việc nghiên cứu các chức năng quản lý nhà nước về kinh tế

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VẬN DỤNG CÁC CHỨC NĂNG CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC TRONG LĨNH VỰC TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

1 Khái quát về tình hình tài chính ngân hàng ở nước ta hiện nay

2 Liên hệ vận dụng các chức năng của quản lý nhà nước trong lĩnh vực tài chính ngân hàng ở nước ta hiện nay

2.1 Tạo lập khuôn khổ pháp luật về kinh tế

2.2 Tạo lập môi trường thuận lợi cho các hoạt động kinh tế

2.3 Đảm bảo cơ sở hạ tầng cho phát triển

2.4 Hỗ trợ sự phát triển

2.5 Chức năng khác

3 Tồn tại, hạn chế

CHƯƠNG III: ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ VẬN DỤNG HIỆU QUẢ CHỨC NĂNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ TRONG NGÀNH TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG

KẾT LUẬN

Tài liệu tham khảo

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Quản lý kinh tế là chức năng rất quan trọng trong hệ thống các chức năng củaNhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có tác động đến hầu hết các hoạtđộng của nhà nước và đồng thời ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống kinh tế - xã hội.Trong 30 năm qua, để tạo điều kiện cho sự hình thành và phát triển của kinh tế thịtrường và đáp ứng với yêu cầu, đòi hỏi của sự phát triển đó, vai trò quản lý nhànước về kinh tế cũng từng bước được đổi mới Nhà nước giảm bớt các chỉ tiêu pháplệnh, thu hẹp và từng bước xóa bỏ việc quản lý hoạt động sản xuất – kinh doanhcủa các doanh nghiệp nhà nước bằng kế hoạch tập trung, quan liêu, bao cấp Thayvào đó là Nhà nước quản lý, điều tiết nền kinh tế thông qua pháp luật, chiến lược,quy hoạch, kế hoạch, chính sách, các công cụ kinh tế và lực lượng vật chất cầnthiết Nhà nước cũng là một chủ thể kinh tế trên thị trường, thực hiện vai trò chủđạo thông qua hoạt động đầu tư vốn, quản lý tài sản công; tách quyền sở hữu vàquyền quản lý, sử dụng; phân cấp và điều tiết để phát huy tính chủ động, sáng tạocủa địa phương và cơ sở; xóa bỏ các hình thức bao cấp; hạn chế, kiểm soát và xóa

bỏ độc quyền kinh doanh…

Sau hơn 30 năm đổi mới, nhờ thực hiện tốt các chức năng quản lý, đất nước ta

đã bước ra khỏi khủng hoảng kinh tế – xã hội và tình trạng kém phát triển, đứngvào hàng ngũ các nước đang phát triển có thu nhập trung bình, phát triển theohướng đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế Kinh tế tăngtrưởng khá, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước đượchình thành, phát triển; đời sống nhân dân được cải thiện; nền độc lập, tự chủ củađất nước được giữ vững trong điều kiện hội nhập

Trong nền kinh tế của mỗi quốc gia, tài chính- ngân hàng đóng vai trò cực kỳquan trọng, là mạch máu lưu thông tiền tệ, điều phối nguồn lực, cung cấp nguồnvốn cho nền kinh tế vận hành và phát triển Do đó, ở bất kỳ quốc gia nào, tài chínhngân hàng luôn là lĩnh vực được nhà nước đặc biệt quan tâm và quản lý chặt chẽ.Mặc dù nhận thức được vai trò quan trọng của ngành tài chính ngân hàng trong nềnkinh tế, tuy nhiên ở nước ta hiện nay, vấn đề quản lý kinh tế về tài chính ngân hàngcòn rất nhiều lỗ hổng, nhà nước chưa thực sự phát huy được hết chức năng củamình trong việc quản lý lĩnh vực này Xuất phát từ nhận thức của bản thân và trước

những yêu cầu, đòi hỏi của lý luận và thực tiễn, Nhóm 4 thực hiện đề tài : “Các chức năng của quản lý Nhà nước về kinh tế Liên hệ vận dụng các chức năng này trong quản lý nhà nước về tài chính ngân hàng ở nước ta hiện nay”

Việc nghiên cứu đề tài nhằm mục đích nhận thức rõ hơn về chức năng quản lýkinh tế của nhà nước trong lĩnh vực tài chính ngân hàng; đánh giá thực trạng, đồngthời đưa ra những phương hướng, giải pháp góp phần hoàn thiện và nâng cao chấtlượng công tác quản lý kinh tế của nhà nước trong lĩnh vực tài chính ngân hàng ởnước ta hiện nay

Trang 3

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CÁC CHỨC NĂNG CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ KINH TẾ

1 Khái niệm về quản lý nhà nước về kinh tế

Quản lý nhà nước về kinh tế là sự tác động có tổ chức, bằng pháp luật vàthông qua hệ thống các chính sách với các công cụ quản lý kinh tế lên nền kinh tếnhằm đạt được mục tiêu phát triển kinh tế đất nước, trên cơ sở sử dụng có hiệu quảcác nguồn lực trong và ngoài nước trong điều kiện mở cửa và hội nhập kinh tế quốctế

Quản lý nhà nước về kinh tế là một dạng quản lý xã hội của Nhà nước, đóngrất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Nhà nước quản

lý toàn bộ nền kinh tế quốc dân trên tất cả các ngành kinh tế, các lãnh thổ kinh tế,các thành phần kinh tế và các chủ thể kinh tế hoạt động trong toàn bộ nền kinh tế

Nhà nước quản lý toàn bộ nền kinh tế quốc dân không chỉ trên phạm vi quốcgia mà còn cả một số hoạt động kinh tế đối ngoại diễn ra ở nước ngoài, như cácdoanh nghiệp có vốn đầu tư ở nước ngoài, các hàng hóa xuất nhập khẩu từ nướcngoài, thẩm định các công nghệ thiết bị nhập khẩu Quản lý nhà nước về kinh tế làquản lý ở tầm vĩ mô, giải quyết những quan hệ vĩ mô có liên quan đến toàn bộ nềnkinh tế quốc dân, trong đó kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo Nhà nước khôngcan thiệp, không giải quyết những vấn đề quản lý sản xuất kinh doanh của các chủthể kinh tế hoạt động trong nền kinh tế thị trường (cá nhân, doanh nghiệp, các tậpđoàn kinh tế )

Trong quản lý nhà nước về kinh tế, Nhà nước sử dụng hệ thống các công cụcần thiết để thực hiện chức năng quản lý của mình như công cụ định hướng (kếhoạch, quy hoạch, chiến lược phát triển kinh tế ), công cụ kinh tế, tài chính tiền tệ(chính sách đầu tư, thuế, chi tiêu ngân sách, hệ thống ngân hàng, lãi suất, tíndụng ), công cụ pháp lý (pháp luật, các văn bản pháp quy ), các công cụ tổ chức

và giáo dục

Trước thời kỳ đổi mới ở nước ta, nhà nước ta quản lý nền kinh tế bằng cơchế kế hoạch hóa tập trung mang nặng tính hành chính, quan liêu, bao cấp Cơ chếquản lý kinh tế này dựa vào mệnh lệnh từ trên xuống và dựa vào quan hệ hànhchính tổ chức trực tiếp gắn liền với quan hệ kinh tế cấp phát - giao nộp Quản lýnhà nước về kinh tế được thực hiện bằng phương pháp hành chính đơn thuần thaycho phương pháp kinh tế và giáo dục Nhà nước đã bao cấp mọi hoạt động kinh tếbằng ngân sách của Nhà nước Cơ chế quản lý này đã đưa đến sự thụ động, trôngchờ, không cần tính toán hiệu quả, phục tùng triệt để những quy định xơ cứng củacấp trên, thủ tiêu tính chủ động, sáng tạo của cấp dưới, của các chủ thể kinh tế Đạihội VI Đảng Cộng sản Việt Nam (năm 1986) đã chủ trương phát triển nền kinh tếhàng hóa nhiều thành phần và đổi mới cơ chế quản lý kinh tế dựa trên việc sử dụngphương pháp quản lý bằng kinh tế là chủ yếu Các đại hội tiếp theo của Đảng tiếptục cụ thể hóa đường lối phát triển kinh tế trên, chủ trương phát triển nền kinh tếnước ta theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN.Quản lý nhà nước về kinh tế căn bản được đổi mới về chức năng, nội dung vàphương thức quản lý

Trang 4

Trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2011-2020 (Đại hội Đảng toànquốc lần thứ XI) đã nêu rõ tiếp tục phát huy quyền tự do kinh doanh theo pháp luậtcủa mọi công dân để làm giàu cho bản thân và đóng góp cho xã hội Mọi thànhphần kinh tế, các chủ thể tham gia thị trường đều được coi trọng, cùng phát triểnlâu dài, hợp tác, cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh và văn minh, trong đó kinh tếnhà nước giữ vai trò chủ đạo.

2 Phân tích các chức năng cơ bản quản lý nhà nước về kinh tế

2.1 Tạo lập khuôn khổ pháp luật về kinh tế

Khái niệm: Pháp luật về kinh tế là tổng thể các quy phạm pháp luật do nhànước ban hành hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí của giai cấp công nhân và nhân dânlao động nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội, phát sinh trong quá trình tổ chứcquản lý và sản xuất - kinh doanh giữa các chủ thể kinh tế với nhau và các cơ quanquản lý nhà nước

- Vai trò của pháp luật trong nền kinh tế thị trường:

+ Pháp luật kinh tế xác định vị trí pháp lý cho các tổ chức và đơn vị kinh tế+ Bằng pháp luật kinh tế, nhà nước điều chỉnh hành vi kinh tế trên thịtrường, xác định hành vi nào là hành vi hợp pháp, hành vi nào là hành vi phi pháp.Luật pháp về kinh tế tạo luật chơi cho các chủ thể trên thị trường

+ Luật pháp về kinh tế là công cụ của nhà nước đối với nền kinh tế quốcdân Hệ thống luật pháp phải đáp ứng ba yêu cầu cơ bản: yêu cầu về tính kháchquan, yêu cầu về tính cưỡng chế, yêu cầu về tính hệ thống

Nền kinh tế thị trường là một hệ thống phức tạp và đầy biến động, các hoạtđộng kinh tế đều hướng tới lợi ích cục bộ, vì vậy sự bất ổn, rủi ro và sự xâm phạmlợi ích lẫn nhau có thể xảy ra bất cứ lúc nào nếu không có những quy tắc đủ mạnh

để điều chỉnh Từ nhu cầu khách quan đó mà pháp luật trở thành công cụ không thểthay thế để đảm bảo cho các quan hệ kinh tế diễn ra theo trật tự nhất định Bằngcách gián tiếp, Nhà nước tạo ra khung pháp lý cho các chủ thể tự do hoạt động; quyđịnh tư cách chủ thể; ngăn ngừa các yếu tố tác động xấu đến hoạt động sản xuấtkinh doanh, tạo môi trường để vận hành các quan hệ kinh tế một cách thuận lợi, antoàn, đồng thời định ra các phương thức nhằm duy trì và đảm bảo trật tự kinh tế

2.2 Tạo lập môi trường thuận lợi cho các hoạt động kinh tế

Môi trường kinh doanh là tổng thể các yếu tố và điều kiện khách quan, chủquanm có mối liên hệ chặt chẵ với nhau tác động trực tiếp hay gián tiếp đến cácquyết định hoặc hoạt động của các chủ thể kinh tế trên thị trường và quyết địnhhiệu quả kinh tế

+ Nhóm các yếu tố bên ngoài tác động gián tiếp đến các đơn vị kinh doanh:Môi trường văn hóa-xã hội, kinh tế, pháp lý, vật chất, công nghệ

+ Nhóm các yếu tố bên ngoài tác động trực tiếp đến các đơn vị kinh doanh:Khách hàng, nhà cung cấp, đối thủ cạnh tranh, các nhóm quyền lợi trong các cơ sởkinh tế

Trang 5

Các doanh nghiệp và toàn bộ nền kinh tế chỉ có thể hoạt động tốt khi có môitrường thuận lợi Bằng quyền lực và sức mạnh kinh tế của mình, Nhà nước có tráchnhiệm chính trong việc xây dựng và bảo đảm môi trường thuận lợi, bình đẳng chohoạt động sản xuất, kinh doanh, đồng thời bảo đảm môi trường phù hợp cho chính

cơ chế mới đang hình thành, phát triển và phát huy tác dụng Có nhiều loại môitrường, trong đó bao gồm các môi trường chính như:

+ Xây dựng môi trường chính trị ổn định, thật sự phát huy các nguồn lực vàsức sáng tạo của Nhân dân, của các doanh nghiệp Xây dựng hệ thống pháp luật ổnđịnh, thuận lợi, phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế thị trường và hội nhậpquốc tế, thực thi pháp luật phải nghiêm minh, xây dựng môi trường văn hóa phápluật cho mọi công dân, mọi tổ chức

+ Xây dựng và hoàn thiện kết cấu hạ tầng cho kinh tế vận động và phát triểnthuận lợi Hệ thống kết cấu hạ tầng có ý nghĩa sống còn với nền kinh tế, bao gồmnhiều loại như: hệ thống giao thông, đường bộ, đường sắt, đường không, sân bay,bến cảng, điện, nước, kết cấu hạ tầng văn hóa, xã hội, kết cấu hạ tầng thông tin

+ Xây dựng môi trường văn hóa xã hội phù hợp với nền kinh tế thị trường,

xã hội ngày càng tôn trọng và tôn vinh nghề kinh doanh và người kinh doanh

+ Đảm bảo môi trường an ninh trật tự, kỷ luật, kỷ cương, mọi cá nhân và tổ

chức đều phải tuân thủ pháp luật Nhà nước phải bảo vệ những doanh nghiệp vàdoanh nhân hoạt động đúng pháp luật

+ Xây dựng và hoàn thiện môi trường thông tin Nhà nước phải là trung tâm

cung cấp thông tin tin cậy nhất cho các doanh nghiệp một cách thường xuyên, kịpthời và chính xác

Với chức năng này, nhà nước có vai trò như một bà đỡ giúp cho các cơ sởsản xuất kinh doanh phát triển, đồng thời bảo đảm các điều kiện tự do, bình đẳngtrong kinh doanh Nói cách khác, Nhà nước có chức năng tạo ra các dịch vụ công

về môi trường chính trị, pháp lý, an ninh, thủ tục quản lý, điều kiện kinh doanh, antoàn xã hội, Trong cơ chế thị trường, muốn có một môi trường sản xuất kinhdoanh ổn định, tiến bộ, cần phải có bàn tay của Nhà nước từ việc ban hành và bảođảm thi hành pháp luật đến bảo đảm các điều kiện và nguyên tắc cơ bản như quyền

sở hữu, quyền tự do kinh doanh, xử lý tranh chấp theo pháp luật, bảo đảm một xãhội phát triển lành mạnh, có văn hóa

2.3 Đảm bảo cơ sở hạ tầng cho phát triển

- Để đảm bảo cho nền kinh tế phát triển thuận lợi, nhà nước tất yếu phải cótrách nhiệm cung cấp các dịch vụ hạ tầng cho xã hội theo hai hướng:

+ Cung cấp trực tiếp thông qua các doanh nghiệp hoặc các cơ quan sự nghiệpcủa nhà nước

+ Nhà nước trực tiếp khuyến khích tư nhân cung cấp các dịch vụ cơ sở hạtầng như trợ cấp các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ hạ tầng, đảm bảo lợi ích chocác doanh nghiệp tham gia cung cấp dịch vụ hạ tầng

Trang 6

- Những dịch vụ cơ sở hạ tầng: Giáo dục, giao thông, thông tin, công nghệ,điện nước…được nhà nước đầu tư và xây dựng Cơ sở hạ tầng ban đầu là nền tảngquan trọng đối với mỗi nền kinh tế Các doanh nghiệp hoặc là không đủ tiềm nănghoặc là không muốn thực hiện các công trình hạ tầng cho xã hội vì vấn đề lợinhuận, do đó bắt buộc nhà nước phải đứng ra để thực hiện Trong nền kinh tế thịtrường, Nhà nước xây dựng Chiến lược phát triển kết cấu hạ tầng và Quy hoạchphát triển kết cấu hạ tầng cho nền kinh tế, trong đó chiến lược phát triển bao gồm

hệ thống những mục tiêu, chính sách và giải pháp cơ bản, có tính chất dài hạn vềphát triển mạng lưới kết cấu hạ tầng; và Quy hoạch phát triển kết cấu hạ tầng là cụthể hóa chiến lược phát triển kết cấu hạ tầng: luận chứng, lựa chọn phương án pháttriển và phân bố mạng lưới kết cấu hạ tầng trên các vùng lãnh thổ, các giải pháp và

tổ chức thực hiện, các công trình đầu tư và thứ tự ưu tiên

2.4 Hỗ trợ sự phát triển

- Hỗ trợ phát triển là chức năng kinh tế của nhà nước

+ Bảo trợ sản xuất là sự can thiệp của nhà nước vào các ngành kinh tế nhằmtạo ra những điều kiện thuận lợi cho những ngành đó trong quá trình phát triển

+ Bảo trợ sản xuất là việc làm cần thiết của nhà nước

Nhà nước bảo trợ sản xuất bằng các chính sách ưu đãi đối với từng ngành,từng vùng, từng lĩnh vực kinh tế Nhà nước thực hiện ưu tiên phát triển kinh tếvùng căn cứ vào nguồn nguyên liệu tại chỗ, điều kiện tự nhiên, nhân lực sẵn có củavùng; phát triển ngành bằng các chính sách ưu đãi về thuế, thuê đất, đơn giản hóathủ tục…Nhà nước thực hiện hỗ trợ doanh nghiệp thông qua các hình thức như: chovay ưu đãi nguồn vốn, cho thuê đất kinh doanh với thời gian dài và chi phí thấp,giảm thuế đối với 1 số mặt hàng, được hỗ trợ về khoa học – kỹ thuật đặc biệt là đốivới các ngành sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp, hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm đầu ra…Bên cạnh việc hỗ trợ cho doanh nghiệp, nhà nước còn thực hiện các chính sách bảo

vệ người tiêu dùng, bảo vệ môi trường kinh doanh lành mạnh và tiến bộ để doanhnghiệp trong và ngoài nước yên tâm đầu tư Tùy vào từng giai đoạn, từng thời kỳ,nhà nước thực hiện hỗ trợ doanh nghiệp phát triển theo đúng định hướng, cơ cấukinh tế đảm bảo mục tiêu phát triển lâu dài, bền vững

Trang 7

tiêu chung của đất nước Nhà nước định hướng và hướng dẫn bằng chiến lược, quyhoạch, chính sách, kế hoạch, thông tin và các nguồn lực của nhà nước.

Để thực hiện chức năng định hướng, hướng dẫn, Nhà nước không can thiệpthô bạo bằng mệnh lệnh hành chính vào nền kinh tế thị trường mà chủ yếu sử dụngcách thức và phương pháp tác động gián tiếp, theo các nguyên tắc của thị trường.Cách thức tác động gián tiếp mang tính chất mềm dẻo, uyển chuyển, vừa bảo đảmtính tự chủ các chủ thể kinh tế, vừa thực hiện mục tiêu chung

- Chức năng tổ chức: Tổ chức sắp xếp lại các đơn vị kinh tế, tái cơ cấu các ngành, các loại hình kinh doanh cho phù hợp với xu thế mới

Nhà nước phải sắp xếp, tổ chức lại các ngành, các lĩnh vực, các vùng kinh tếquan trọng, trong đó có sắp xếp, củng cố lại các tập đoàn, tổng công ty nhà nước,các doanh nghiệp nhà nước, tổ chức các khu công nghiệp, khu chế xuất, các đặckhu hành chính - kinh tế Đây là những công việc nhằm tạo cơ cấu kinh tế hợp lý.Nhà nước phải bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế thị trường như cân đối tổngcung - tổng cầu, cân đối xuất khẩu - nhập khẩu, câu đối thu - chi ngân sách bảođảm ổn định kinh tế vĩ mô của nền kinh tế thị trường Nhà nước phải bảo hộ và bảo

vệ cho các chủ thể kinh doanh đúng pháp luật, can thiệp vào nền kinh tế thị trườngkhi có những biến động lớn như khủng hoảng, suy thoái kinh tế

Nhà nước có trách nhiệm tổ chức, sắp xếp lại các cơ quan quản lý của nhànước về kinh tế từ trung ương đến cơ sở, đổi mới thể chế và thủ tục hành chính, đàotạo và đào tạo lại, sắp xếp đội ngũ cán bộ, công chức quản lý nhà nước và quản lýdoanh nghiệp nhà nước, thiết lập mối quan hệ kinh tế với các nước và các tổ chứcquốc tế

- Chức năng điều tiết

Nhà nước điều tiết hoạt động của nền kinh tế nghĩa là nhà nước sử dụngquyền năng chi phối của mình lên các hành vi kinh tế của các chủ thể trong nềnkinh tế thị trường, ngăn chặn các tác động tiêu cực đến quá trình hoạt động kinh tế,ràng buộc chúng phải tuân thủ các quy tắc hoạt động đã định sẵn nhằm đảm bảo sựphát triển bình thường của nền kinh tế Điều hành nền kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa, nhà nước ta vừa phải tuân thủ và vận dụng các quy luậtkhách quan của nền kinh tế thị trường, phát huy mặt tích cực của cơ chế thị trường,vừa điều tiết chi phối thị trường hoạt động theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đảmbảo cho nền kinh tế phát triển ổn định, công bằng và hiệu quả Nhà nước thực hiệnchức năng điều tiết ở các nội dung chính:

+ Điều tiết các quan hệ sản xuất: nhằm làm cho các quan hệ sản xuất đượcthiết lập một cách tối ưu, đem lại hiệu quả

+ Điều chỉnh quan hệ phân chia lợi ích và quan hệ phân phối thu nhập nhưquan hệ trao đổi hàng hóa, quan hệ phân chia lợi tức, lợi nhuận…

+ Điều tiết các quan hệ phân bổ nguồn lực bằng sự chi tiêu tài chính tậptrung như ngân sách nhà nước hay đóng thuế…

Trang 8

Để điều tiết và hướng dẫn thị trường, nhà nước thường sử dụng các biệnpháp bào gồm các chính sách, đòn bẩy kinh tế, công cụ tài chính, tín dụng…tácđộng trực tiếp vào các chủ thể trong nền kinh tế.

- Chức năng kiểm tra, giám sát nhằm thiết lập trật tự, kỷ cương trong hoạt động kinh tế

Nhà nước thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát nhằm thiết lập trật tự, kỷcương trong hoạt động kinh tế, phát hiện và ngăn ngừa các hiện tượng vi phạmpháp luật, vi phạm chính sách, bảo vệ tài sản quốc gia và lợi ích của các chủ thểtrong nền kinh tế, góp phần tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội.Kiểm tra giám sát ở đây được hiểu là kiểm tra toàn diện việc thực hiện các chủtrương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước trong việc thực hiện cácnhiệm vụ kinh tế như: kiểm tra việc sử dụng nguồn vốn, ngân sách nhà nước đạthiệu quả hay gây thất thoát; kiểm tra việc đảm bảo nguồn nguyên liệu, quy trình sảnxuất, chất lượng sản phẩm, dịch vụ của các doanh nghiệp; kiểm tra việc chấp hànhnghĩa vụ đóng thuế và các khoản phí lệ phí hợp lý; kiểm tra công tác bảo vệ môitrường và tài nguyên thiên nhiên…Kiểm tra giám sát đi kèm với răn đe, xử phạt làcông cụ để đảm bảo thực hiện công bằng và cạnh tranh lành mạnh trong nền kinhtế

3 Ý nghĩa của việc nghiên cứu các chức năng của quản lý nhà nước về kinh tế

Nhà nước thực hiện vai trò kinh tế của mình không chỉ bằng việc xây dựng

và quản lý khu vực kinh tế nhà nước mà quan trọng hơn là quản lý toàn bộ nền kinh

tế quốc dân bao gồm cả kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư bản tư nhân,kinh tế cá thể tiểu chủ, kinh tế tư bản nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nướcngoài Để quản lý được nền kinh tế quốc dân Nhà nước phải thực hiện rất nhiều loạcông việc khác nhau Những công việc này hình thành nên khái niệm chức năngquản lý nhà nước về kinh tế

Đại hội XII của Đảng khẳng định: “Nhà nước đóng vai trò định hướng, xây dựng và hoàn hiện thể chế kinh tế, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, minh bạch và lành mạnh; sử dụng các công cụ, chính sách và các nguồn lực của Nhà nước để định hướng và điều tiến nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất kinh doanh và bảo

vệ môi trường; thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước, từng chính sách phát triển” (Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr.103)

Chức năng quản lý nhà nước về kinh tế là hình thức biểu hiện phương hướng

và giai đoạn tác động có chủ đích của Nhà nước tới nền kinh tế quốc dân Là tậphợp những nhiệm vụ khác nhau mà Nhà nước phải tiến hành trong quá trình quản lýnền kinh tế quốc dân Quản lý nhà nước về kinh tế là quản lý một hệ thống lớnphức tạp Đó là tổng thể các nghành kinh tế, các vùng, các địa phương cùng các sởkinh tế của chúng Nhà nước quản lý nền kinh tế quốc dân trên quy mô toàn xã hộiviệc thực hiện hàng loạt chức năng, có sự phân biệt với chức năng quản lý sản xuất– kinh doanh của các sơ sở kinh tế

Trang 9

Như vậy, việc nghiên cứu về chức năng của nhà nước trong quản lý kinh tếgiúp chúng ta hiểu rõ về vai trò, vị trí của nhà nước trong nền kinh tế quốc dân thựchiện tốt nhiệm vụ vừa tạo ra tiền đề, điều kiện cho nền kinh tế thị trường ra đời,phát triển, vừa quản lý, điều tiết, định hướng phát triển nền kinh tế, giữ vững ổnđịnh kinh tế vĩ mô, vừa giữ vững, tăng cường những yếu tố bảo đảm định hướng xãhội chủ nghĩa của kinh tế thị trường.

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG VẬN DỤNG CÁC CHỨC NĂNG CỦA QUẢN

LÝ NHÀ NƯỚC TRONG LĨNH VỰC TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG Ở NƯỚC

cụ thể như: trao đổi tiền tệ, cho vay thương mại, nhận tiền gửi, bảo quản vật có giátrị, cung cấp các dịch vụ ủy thác, cho vay tiêu dùng, tư vấn tài chính, môi giới đầutư…và các dịch vụ khác Ngành tài chính ngân hàng đóng vai trò rất quan trọngtrong sự phát triển của nền kinh tế:

- Thứ nhất, đóng vai trò quan trọng trong việc đẩy lùi và kiềm chế lạm phát,từng bước duy trì sự ổn định giá trị đồng tiền và tỉ giá, góp phần cải thiện kinh tế vĩ

mô, môi trường đầu tư và sản xuất kinh doanh;

- Thứ hai, góp phần thúc đẩy hoạt động đầu tư, phát triển sản xuất kinhdoanh và hoạt động xuất nhập khẩu Đây là kết quả tác động nhiều mặt của đổi mớihoạt động ngân hàng, nhất là những cố gắng của ngành ngân hàng trong việc huyđộng các nguồn vốn trong nước cho đầu tư phát triển, trong việc đổi mới chính sáchcho vay và cơ cấu tín dụng theo hướng căn cứ chủ yếu vào tính khả thi và hiệu quảcủa từng dự án, từng lĩnh vực ngành nghề để quyết định cho vay Dịch vụ ngânhàng cũng phát triển cả về chất lượng và chủng loại, góp phần thúc đẩy sản xuấtkinh doanh;

- Thứ ba, tín dụng ngân hàng đã đóng góp tích cực cho việc duy trì sự tăngtrưởng kinh tế với nhịp độ cao trong nhiều năm liên tục Với dư nợ cho vay nềnkinh tế chiếm khoảng 35-37% GDP, mỗi năm hệ thống ngân hàng đóng góp trên10% tổng mức tăng trưởng kinh tế của cả nước;

- Thứ tư, đã hỗ trợ có hiệu quả trong việc tạo việc làm mới và thu hút laođộng, góp phần cải thiện thu nhập và giảm nghèo bền vững Thông qua nguồn vốntín dụng cho các chương trình và dự án phát triển sản xuất kinh doanh, hàng năm hệthống ngân hàng đã góp phần tạo thêm được nhiều việc làm mới, nhất là tại cácvùng nông thôn Việc sử dụng nguồn vốn ngân hàng cho mục đích này ngày càng

có tính chuyên nghiệp, minh bạch và hiệu quả, nhất là từ khi tín dụng chính sáchđược tách bạch với tín dụng thương mại và giao cho Ngân hàng Chính sách xã hộiđảm nhiệm;

Trang 10

- Thứ năm, góp phần tích cực vào việc bảo vệ môi trường sinh thái, đảmbảo phát triển bền vững Đóng góp này được thể hiện qua công tác thẩm định dự

án, quyết định cho vay vốn ngân hàng cho các dự án và giám sát thực hiện một cáchchặt chẽ sau khi cho vay, các tổ chức tín dụng luôn chú trọng yêu cầu các kháchhàng đảm bảo an toàn và hiệu quả trong việc sử dụng vốn vay, tuân thủ các cam kếtquốc tế và các qui định về bảo vệ môi trường

Ngành Tài chính ngân hàng ở Việt Nam tuy hình thành và phát triển muộn hơn các nước trong khu vực nhưng được đánh giá là tiềm năng và có tốc độ phát triển nhanh so với các nước trong khu vực.

Bảng 1 Số liệu tình hình vốn và tăng trưởng các tổ chức tín dụng

(Số liệu đến 30/4/2019, tốc độ tăng trưởng so với thời điểm cuối năm trước liền kề)

Tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn

Số tuyệt đối

Tốc độ tăng trưởng

Số tuyệt đối

Tốc độ tăng trưởng

Số tuyệt đối

Tốc độ tăng trưởng

NHTM

Nhà nước 4.929.765 1,37 282.199 5,06 149.001 0,75 9,61 30,99Ngân hàng

Trang 11

Ghi chú: Nguồn số liệu dựa trên Báo cáo cân đối tài khoản kế toán, báo cáo thống

kê tháng 4/2019 của Ngân hàng nhà nước

Bảng 2 Số liệu chỉ số ROA, ROE của nhóm các tổ chức tín dụng

(Số liệu tính trong quý III/2018)

từ mức 0,56% năm 2011 tăng lên 1% năm 2018, ROE bình quân từ 6% năm 2011lên 14% năm 2018 Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã kiên quyết khống chế tốc độtăng trưởng tín dụng ở mức 14% trong năm qua Điều này chứng tỏ Chính phủ đã

Ngày đăng: 08/10/2019, 17:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w