1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đề tài Rèn kỹ năng làm kiểu bài nghị luận xã hội cho học sinh giỏi môn Ngữ văn

52 124 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 52
Dung lượng 689,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghị luận xã hội có vai trò rất quan trọng trong việc làm văn của học sinh nói riêng và trong cuộc sống nói chung nhưng trong thực tế, việc rèn luyện kĩ năng nghị luận xã hội cho học sinh vẫn còn chưa tương xứng với tầm quan trọng của nó. Nhiều giáo viên khi ôn luyện đội tuyển vẫn còn thiên về kiểu bài lí luận văn học bởi kiểu bài này có tỉ lệ điểm cao hơn trong đề và quan niệm học sinh có thể dễ dàng triển khai các bài văn nghị luận xã hội bởi nó dựa trên hiểu biết và kinh nghiệm về cuộc sống của chính các em. Bên cạnh đó, nhiều giáo viên chưa thực sư đầu tư vào kĩ năng và phương pháp giảng dạy, đôi khi vẫn còn đi sâu vào dạy kiến thức lí thuyết, hàn lâm, bởi vậy chưa nâng cao được năng lực làm kiểu bài này ở học sinh. Đề tài Rèn kỹ năng làm kiểu bài nghị luận xã hội cho học sinh giỏi môn Ngữ văn có tầm quan trọng đặc biệt bởi nó không mang nặng tính lí thuyết mà có khả năng ứng dụng cao, liên quan trực tiếp đến thực tiễn quá trình giảng dạy và ôn luyện đội tuyển của giáo viên.

Trang 1

A MỤC ĐÍCH, SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC THỰC HIỆN SÁNG KIẾN

1 Nhà triết học, tâm lí học và cũng là nhà cải cách giáo dục nổi tiếng

người Mỹ John Dewey từng nói: Quá trình giáo dục thực sự nên là quá trình

học cách tư duy thông qua việc thực hành trên những vấn đề thực tế Có thể nói,

giáo dục ngày nay đang ngày càng đề cao vai trò của thực hành, của việc vận

dụng kiến thức lí thuyết vào thực tiễn Đối với bộ môn Ngữ văn, quá trình học

cách tư duy thông qua việc thực hành dễ nhận thấy nhất chính là cho học sinh

viết bài, qua đó bày tỏ hiểu biết, quan niệm, cảm nhận của các em về một tácphẩm hay một vấn đề nào đó đặt ra trong cuộc sống Như vậy, có thể nói, trongdạy học Văn, việc rèn kĩ năng cho học sinh giữ vai trò vô cùng quan trọng Nếuchỉ trang bị kiến thức mà bỏ qua hoạt động rèn kĩ năng thì chẳng khác nào

người cày, cày mãi mà chẳng gieo trồng (Plato) Cho dù học sinh có kiến thức

chắc chắn, sâu rộng đến đâu mà không được rèn giũa về mặt kĩ năng, chắc chắncác em cũng không thể có bài làm tốt Bởi thế, việc rèn kĩ năng cho học sinhđóng vai trò rất quan trọng đối với việc dạy học Ngữ văn của giáo viên nóichung và với công tác ôn luyện học sinh giỏi nói riêng

2 Đưa nghị luận xã hội vào chương trình Ngữ văn chính là một biểu hiện

rõ nét cho thấy Bộ Giáo dục và Đào tạo đang rất chú trọng đổi mới môn Ngữvăn theo hướng thiết thực, bám sát đời sống và các vấn đề thực tế, phát huy nănglực tư duy, sáng tạo của học sinh Từ năm học 2006 – 2007, văn nghị luận xã hội

đã được đưa vào giảng dạy trong chương trình sách giáo khoa mới Cũng từ đó,nghị luận xã hội luôn xuất hiện trong các đề thi tốt nghiệp, tuyển sinh đại học vàthi chọn học sinh giỏi Riêng đề thi học sinh giỏi, câu nghị luận xã hội chiếmmột phần quan trọng, với tỉ lệ 8/20 điểm (40% tỉ lệ toàn bài) Đây là dạng đềmang tính tổng hợp và vận dụng cao, đòi hỏi học sinh vừa phải có kĩ năng lậpluận, tư duy logic lại vừa phải có những hiểu biết sâu rộng về các vấn đề xã hội

Rõ ràng, việc thể hiện, tranh luận, bảo vệ hay bác bỏ một quan niệm là thước đoquan trọng đối với sự trưởng thành của mỗi người Rèn kĩ năng nghị luận xã hộicho học sinh sẽ không chỉ nhằm kiểm tra kiến thức tổng hợp về mọi mặt đờisống của học sinh mà còn nhằm phát triển khả năng tư duy cũng như phẩm chất,

Trang 2

nhân cách con người Bởi vậy, dạng đề này có tác dụng rất lớn trong công táckiểm tra, tuyển chọn và bồi dưỡng học sinh giỏi Rèn luyện kĩ năng làm bài chodạng đề nghị luận xã hội là công việc vô cùng quan trọng đối với người giáoviên ôn luyện.

3 Nghị luận xã hội có vai trò rất quan trọng trong việc làm văn của họcsinh nói riêng và trong cuộc sống nói chung nhưng trong thực tế, việc rèn luyện

kĩ năng nghị luận xã hội cho học sinh vẫn còn chưa tương xứng với tầm quantrọng của nó Nhiều giáo viên khi ôn luyện đội tuyển vẫn còn thiên về kiểu bài líluận văn học bởi kiểu bài này có tỉ lệ điểm cao hơn trong đề và quan niệm học

sinh có thể dễ dàng triển khai các bài văn nghị luận xã hội bởi nó dựa trên hiểu

biết và kinh nghiệm về cuộc sống của chính các em Bên cạnh đó, nhiều giáoviên chưa thực sư đầu tư vào kĩ năng và phương pháp giảng dạy, đôi khi vẫn còn

đi sâu vào dạy kiến thức lí thuyết, hàn lâm, bởi vậy chưa nâng cao được nănglực làm kiểu bài này ở học sinh

Đề tài Rèn kỹ năng làm kiểu bài nghị luận xã hội cho học sinh giỏi môn

Ngữ văn có tầm quan trọng đặc biệt bởi nó không mang nặng tính lí thuyết mà

có khả năng ứng dụng cao, liên quan trực tiếp đến thực tiễn quá trình giảng dạy

và ôn luyện đội tuyển của giáo viên

Bên cạnh đó, thông qua đề tài, các giáo viên ôn luyện có thể trao đổi kinhnghiệm với nhau, từ đó trau dồi, đúc rút kinh nghiệm giảng dạy và bồi dưỡnghọc sinh giỏi cho riêng mình

B PHẠM VI TRIỂN KHAI THỰC HIỆN

1 Phạm vi triển khai

Đề tài thực hiện trên tiết dạy thuộc bộ môn Ngữ văn chương trình THPTdành cho học sinh giỏi

2 Phạm vi nghiên cứu

2.1 Lý luận chung về văn nghị luận, kiểu bài nghị luận xã hội.

2.2 Các giải pháp nhằm rèn kỹ năng làm kiểu bài nghị luận xã hội của học

sinh giỏi môn Ngữ văn

C NỘI DUNG

Trang 3

1 Tình trạng giải pháp

1.1 Tình trạng chung

Văn nghị luận xã hội chiếm một phần quan trọng trong đề thi học sinhgiỏi, với tỉ lệ 8/20 điểm (40% tỉ lệ toàn bài) Vì vậy, việc rèn kĩ năng nghị luận

xã hội cho học sinh giỏi là công việc vô cùng quan trọng đối với người giáo viên

ôn luyện Nhiều thầy cô đã có những cuốn sách, những bài viết chia sẻ kinhnghiệm của bản thân trong quá trình giảng dạy với những phương pháp rènluyện tương đối hiệu quả Có thể nói, đây là nguồn tư liệu quý báu cho chúng tôitrong quá trình thực hiện đề tài

1.2 Tình trạng của nhà trường

Nhận rõ tầm quan trọng của kiểu bài nghị luận xã hội trong đề thi họcsinh giỏi, các thầy cô trong bộ môn Ngữ văn của nhà trường đặc biệt chú ý xâydựng giáo án chi tiết, tỉ mỉ rèn luyện từng kỹ năng nhỏ nhất cho học sinh độituyển Mỗi một kỳ ôn luyện học sinh giỏi với những đối tượng không giốngnhau là thêm một lần những ý tưởng được nảy sinh Vì vậy, với dạng đề tưởngnhư rất quen thuộc vẫn có những vùng đất mới mẻ cần được khai phá

2 Nội dung giải pháp

2.1 Mục đích nghiên cứu

Căn cứ vào dạng đề nghị luận xã hội và nhất là bám sát vào dạng đề thi,chúng tôi đi sâu vào những nhiệm vụ cơ bản sau:

- Một số vấn đề chung về văn nghị luận xã hội

- Rèn kĩ năng nghị luận xã hội cho các dạng đề cụ thể

- Một vài gợi ý về cách rèn kĩ năng nghị luận xã hội cho học sinh giỏi

- Giới thiệu một số dàn ý và bài viết tham khảo

2.2 Nội dung sáng kiến

I MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI

Trang 4

nhưng lại được trình bày bằng một thứ ngôn ngữ trong sáng, hùng hồn, với những lập luận chặt chẽ, mạch lạc, giàu sức thuyết phục…

Theo sách giáo khoa Ngữ văn 11, tập 2, NXB Giáo dục, nghị luận là một

thể loại văn học đặc biệt, dùng lí lẽ, phán đoán, chứng cứ để bàn luận về một vấn đề nào đó (chính trị, xã hội, văn học nghệ thuật, triết học, đạo đức…) Vấn

đề được nêu ra như một câu hỏi cần giải đáp, làm sáng tỏ

Như vậy, văn nghị luận là dạng bài trong đó người viết cần trình bày quanđiểm, chính kiến của mình về một vấn đề nào đó được đem ra bàn bạc, qua đókhiến người đọc, người nghe nhận ra chân lí, đồng tình với mình, chia sẻ quanđiểm và niềm tin của mình Sức mạnh của văn nghị luận là ở sự sâu sắc của tưtưởng, tình cảm, tính mạch lạc, chặt chẽ của suy nghĩ và trình bày, sự thuyếtphục của lập luận Vận dụng các thao tác như giải thích, phân tích, chứng minh,bác bỏ… văn nghị luận tác động vào lí trí, nhận thức và cả tâm hồn người đọc,giúp họ hiểu rõ vấn đề đã nêu ra

Văn nghị luận đã hình thành từ rất xa xưa và ngày nay càng được pháttriển mạnh mẽ Nó xuất hiện trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Nó là vũkhí tư tưởng sắc bén giúp con người nhận thức các vấn đề một cách đúng đắn, từ

đó thúc đẩy sự phát triển xã hội Do vậy, học văn nghị luận có vai trò quan trọngtrong việc dạy học văn trong nhà trường

Văn nghị luận có thể được chia ra làm hai dạng: Nghị luận văn học vànghị luận xã hội

I.2 Văn nghị luận xã hội

Nghị luận xã hội là những bài văn bàn về những vấn đề diễn ra xungquanh đời sống, xã hội Đề tài của dạng bài nghị luận xã hội cũng hết sức rộng

mở Nó gồm tất cả các vấn đề về tư tưởng đạo lí, một lối sống đẹp, một hiệntượng tích cực hoặc tiêu cực trong cuộc sống, một vấn đề về thiên nhiên, môitrường…

Khảo sát đề văn học sinh giỏi các cấp trong những năm gần đây, có thểthấy đề văn nghị luận xã hội có thể cụ thể hóa thành các dạng sau:

1 Nghị luận về một tư tưởng đạo lí

Trang 5

2 Nghị luận về một hiện tượng đời sống

3 Nghị luận về một vấn đề xã hội được đặt ra trong tác phẩm văn học hoặctrong một câu chuyện

4 Nghị luận về một vấn đề xã hội được gợi ra từ một hình ảnh/ bức tranh.Tất nhiên việc phân chia đôi khi chỉ mang tính chất tương đối, vì trongthực tế có những đề không rạch ròi, mang tính đánh lừa người viết Do đó, họcsinh cần hết sức linh hoạt, tỉnh táo để nhận diện chính xác từng dạng, từ đó lựachọn cho mình cách viết phù hợp

II RÈN KĨ NĂNG NGHỊ LUẬN XÃ HỘI CHO HỌC SINH GIỎI VĂN II.1 Rèn kĩ năng tìm hiểu đề

Đây được coi là khâu quan trọng nhất quyết định toàn bộ hướng đi của bàiviết Đi trúng vấn đề hay xa đề, lạc đề là do khả năng tìm hiểu đề của học sinh

Vì vậy, giáo viên cần phải đặc biệt rèn luyện cho học sinh kỹ năng tìm hiểu đề

Bước 1: Xác định vấn đề nghị luận (Viết cái gì?)

Vấn đề nghị luận có thể là vấn đề tường minh hiện rõ trên câu chữ của đề,

có thể là vấn đề hàm ẩn buộc người đọc từ việc phân tích từ ngữ then chốt màrút ra

Đối với vấn đề bị ẩn đi ngoài sự nhanh nhạy trong nhận biết của học sinh,giáo viên cần phải tích cực cho học sinh tiếp cận với những dạng đề khác nhau

và nên có sự phân loại theo chủ đề Việc luyện tập theo chủ đề sẽ giúp học sinhhình thành thói quen, kỹ năng nhận diện đề một cách nhanh chóng

Tuy nhiên, cũng cần lưu ý, việc luyện tập theo chủ đề cũng khiến học sinh

có tâm lý chủ quan, dễ bị quy nhầm vấn đề nếu không suy xét kỹ Vì vậy, việcrèn luyện phải được tiến hành cẩn thận

Bước 2: Xác định thao tác nghị luận (Viết như thế nào?)

Thao tác nghị luận thường được thể hiện ngay ở yêu cầu của đề nhưngcũng có những đề lại không chỉ rõ thao tác lập luận cần sử dụng

Đối với đề yêu cầu rõ cách thức làm bài (bình luận, bình giảng, phân tích,chứng minh ) giáo viên phải giúp học sinh hiểu rõ bản chất từng thao tác, xâydựng hệ thống bài tập luyện tập từ cách viết từng đoạn văn đến bài văn hoàn

Trang 6

chỉnh Tất nhiên, trong quá trình viết bài, học sinh cần có sự kết hợp đa dạng cácthao tác lập luận nhưng phải làm nổi bật được thao tác chính.

Đối với đề không yêu cầu rõ cách thức làm bài, giáo viên cần rèn cho họcsinh khả năng lựa chọn các thao tác lập luận cho phù hợp, thao tác nào là chính,thao tác nào là bổ trợ Nhờ đó, học sinh sẽ có các định hướng đúng đắn trongquá trình viết bài

Bước 3: Xác định phạm vi tư liệu (Viết về đối tượng nào?)

Phạm vi tư liệu được xác định rõ trong đề Tuy nhiên, với học sinh giỏi, tưliệu không chỉ dừng lại ở giới hạn của đề mà cần phải biết mở rộng, khắc sâu đốitượng nghị luận bằng cách liên hệ, so sánh tới những tư liệu khác có liên quan

Xác định tư liệu gắn bó chặt chẽ với việc tìm ý cho bài viết (Triển khainhững ý nào?) Bởi mỗi tư liệu đều phải phục vụ một ý, một luận điểm nhấtđịnh Như vậy, xác định tư liệu không được làm một cách qua loa, đại khái màcần được chú trọng

II.2 Rèn kĩ năng lập dàn ý

1.1 Dạng đề nghị luận về một tư tưởng đạo lí

Là một dạng của nghị luận xã hội, nghị luận về một tư tưởng, đạo lý cónhững đặc điểm riêng về nội dung và hình thức

a Đặc điểm nội dung: đề cập đến

- Những vấn đề liên quan đến nhận thức như lý tưởng sống, mục đích sống,nghề nghiệp, ước mơ

- Những vấn đề liên quan đến đạo đức, tâm hồn, tính cách như trình bày vềlòng yêu nước, lòng nhân ái, đức tính vị tha, bao dung, độ lượng, vị tha - ích kỷ,thói ba hoa,

- Những vấn đề liên quan đến quan hệ gia đình, xã hội như cha mẹ - con cái,thầy cô, bè bạn

b Đặc điểm hình thức: Thường tồn tại dưới hai dạng:

- Dạng trực tiếp: Câu ca dao, tục ngữ, châm ngôn, danh ngôn, hoặc thơ đưatrực tiếp vấn đề

Trang 7

- Dạng gián tiếp: Những mẩu truyện ngắn hoặc những bài thơ ngắn mang ýnghĩa triết lý.

Về tính chất, những vấn đề mà tư tưởng, đạo lý đề cập đến là những vấn đề

có tính muôn thuở, vấn đề chung về con người, cuộc sống, cách sống mà conngười sẽ luôn quan tâm, trăn trở Những vấn đề này thường trừu tượng, kháiquát

Đều là kiểu bài nghị luận chính trị - xã hội, nhưng nghị luận về hiện tượngđời sống xuất phát từ thực tế đời sống mà nêu ra tư tưởng, bày tỏ thái độ Trongkhi đó, nghị luận về một tư tưởng, đạo lý xuất phát từ tư tưởng, đạo lý sau đódùng lập luận giải thích, phân tích, vận dụng các sự thực cuộc sống để chứngminh nhằm thuyết phục mọi người nhận thức đúng tư tưởng, đạo lý đó

Từ việc lĩnh hội tri thức, kỹ năng trong chủ đề, học sinh sẽ có nền tảng cơbản để làm bài văn nghị luận về một tư tưởng, đạo lý

* Cách làm một bài văn về tư tưởng, đạo lý

Đây là dạng bài không còn xa lạ với học sinh, đặc biệt là học sinh giỏi, vì vậy, ở đây người viết chỉ đưa ra những gợi ý, nhấn mạnh vào kỹ năng đặt câu hỏi nhằm xây dựng cho học sinh tư duy khoa học, mạch lạc, toàn diện, sâu sắc trong quá trình giải quyết vấn đề.

Trang 8

+ Giải thích từ là cách để giải thích nghĩa của

cả câu nói

- Như thế nào?: Nêu biểu hiện của vấn đề

(trong chiến đấu, trong lao động, trong đời

sống hàng ngày )

* Phân tích, chứng minh: Trả lời các câu hỏi:

- Tại sao vấn đề đó đúng?

- Vấn đề đúng thì đem lại kết quả gì?

- Dẫn chứng nào chứng tỏ điều ấy?

* Bình luận vấn đề: Trả lời cho câu hỏi:

- Vấn đề có đúng hoàn toàn trong mọi hoàn

cảnh không?

- Thực tế, có phải ai cũng thực hiện đúng như

tư tưởng, đạo lý đó không?

- Nếu không thực hiện theo thì sẽ phải gánh

chịu những hậu quả gì?

- Dẫn chứng nào chứng tỏ điều ấy?

* Mở rộng vấn đề: Trả lời cho câu hỏi:

- Làm thế nào để có được điều ấy?

- Nếu con người chỉ có điều ấy thì đã đủ

- Liên hệ bản thân (xuất phát từ những trải

nghiệm từ chính bản thân người viết)

c Kết bài

- Khẳng định lại ý nghĩa chung của vấn đề

được đặt ra

3 Bình luận, phân tích, chứngminh những mặt đúng của vấn đề

4 Mở rộng bác bỏ những luậnđiệu sai lệch có liên quan đến vấn

đề bàn luận

5 Nêu ý nghĩa, rút ra bài họcnhận thức và hành động về tưtưởng, đạo lí

Trang 9

- Kêu gọi được mọi người làm theo phương

diện đúng đắn của tư tưởng, nhắc nhở tránh

những phương diện hạn chế

* Kỹ năng phân loại theo chủ đề

Những tư tưởng, đạo lý bàn luận về nhiều vấn đề trong cuộc sống mang ýnghĩa muôn thủa, là những vấn đề chung về con người, cuộc sống, cách sống

mà con người sẽ luôn quan tâm, trăn trở Đây là những vấn đề thường trừutượng, khái quát nhưng ta có thể sắp xếp, phân loại những tư tưởng này theonhững chủ đề nhất định Việc phân loại không chỉ giúp ta nhận dạng được đúngvấn đề mà tư tưởng đó muốn hướng tới mà còn tạo điều kiện thuận lợi trong quátrình làm những dạng bài tương tự nhau

Chủ đề trong bài văn nghị luận về tư tưởng, đạo lý rất đa dạng Và trongmỗi chủ đề lại có những biểu hiện rất phong phú Vì vậy, chúng tôi chỉ xin nêu

ra một số những chủ đề nhất định, trong quá trình giảng dạy, giáo viên có thể lựachọn những chủ đề nhất định

Việc làm này không chỉ có ý nghĩa trong quá trình làm bài mà còn có tácdụng định hướng quan trọng trong quá trình thu thập, phân loại dẫn chứng phục

vụ cho bài viết

Trang 10

+ Quan điểm đó phải được thể hiện bằng lập luận chặt chẽ, với các lý lẽ vàdẫn chứng phù hợp.

+ Trong quá trình bàn luận, người viết cần đặt vấn đề trong bối cảnh cuộcsống hiện nay để làm rõ ý nghĩa thực tiễn của nó

Kết bài: Khái quát lại vấn đề

* Chủ đề về vấn đề đạo đức, tâm hồn, tính cách (tình thương, lòng nhân ái )

Đề bài: Đứng thẳng vươn cao trong cuộc đời hay cúi xuống giúp đỡ người

khác, anh/chị chọn lối sống nào?

Mở bài: Giới thiệu vấn đề cần nghị luận

Thân bài:

- Giải thích

+ Đứng thẳng vươn cao: sống mạnh mẽ bằng lí trí để thành đạt trong cuộc sống + Cúi xuống giúp đỡ người khác: sống nhân văn, sống vì người khác bằng lòng

vị tha, nhân ái, bao dung

-> Khuyên con người sống cần yêu thương, giúp đỡ người khác bằng tấm lòng

vị tha, nhân ái, bao dung

- Phân tích, chứng minh

+ Trong cuộc sống cần mạnh mẽ,đứng thẳng vươn cao, ý chí để thành đạt, phảibiết phấn đấu vì lí tưởng đạt được mục tiêu và khẳng định mình về danh vọng vàđịa vị Tuy nhiên, tư thế của con người phụ thuộc vào tấm lòng, thái độ của họ.Nếu quá lí trí tỉnh táo để thực hiện lí tưởng thì con người dễ trở thành ích kỉ, thờ

ơ với đồng loại

+ Cúi xuống giúp đỡ người khác là lối sống nhân văn, làm cho con người luônthanh thản nhẹ nhõm

Trang 11

+ Dẫn chứng về những con người vừa thành đạt trong cuộc sống vừa có tấmlòng nhân ái.

- Bình luận, mở rộng

+ Nhưng con người không thể chỉ giúp đỡ người khác bằng tấm lòng, bằng lòngthương hại đơn thuần được nên cực đoan một lối sống sẽ là không hợp lí vànâng đỡ người khác cũng không có nghĩa là ban ơn, làm thay, làm hộ mà phảibiết giúp người khác đứng vững trên đôi chân của mình

+ Phê phán những lối sống cực đoan

- Bài học : Vừa biết khẳng định bản thân vươn cao, đàng hoàng trong cuộc sốngvừa phải biết giúp đỡ người khác đứng thẳng trong cuộc đời

Kết bài: Khái quát lại vấn đề

* Chủ đề về quan hệ xã hội

Quan hệ giữa cá nhân – cộng đồng

Đề bài: Cá nhân và tập thể như giọt nước và biển cả Anh (chị) nghĩ thế nào

về mối quan hệ đó (Đề thi Trường THPT Chuyên Bến Tre – Bến Tre)

Mở bài: Giới thiệu vấn đề cần nghị luận

Thân bài:

- Giải thích

+ Cá nhân và tập thể như giọt nước và biển cả: cách so sánh giữa cái nhỏ bé –giọt nước và cái lớn lao – biển cả trong mối tương quan không thể tách rời đặt ravấn đề về mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa cá nhân và tập thể nói khác hơn làquan hệ giữa cá nhân và cộng đồng xã hội

+ Cá nhân và tập thể có mối quan hệ tương tác qua lại với nhau trong thể thốngnhất, hài hòa, hình thành nên một cộng đồng xã hội: cá nhân góp phần xây dựngtập thể và tập thể phát huy vai trò, năng lực cá nhân; cá nhân sẽ trở thành vônghĩa nếu tách rời tập thể, nhưng nếu không có cá nhân thì cũng không thể cótập thể

- Bình luận, chứng minh

+ Cá nhân và tập thể có mối quan hệ gắn bó mật thiết, không thể tách rời nhưnước trong biển cả

Trang 12

Con người là sự tổng hòa các mối quan hệ xã hội, mỗi cá nhân mang trongmình bản chất và sức mạnh của tập thể (dẫn chứng).

Hàng triệu giọt nước làm nên biển cả cũng như mỗi cá nhân đều có một vai trònhất định trong sự tồn tại, phát triển của một tập thể Một giọt nước thì khônglàm được gì nhưng biển cả thì có thể làm đắm một con thuyền, nước hòa vàonhau làm nên sức mạnh lớn lao vĩ đại của biển cũng như cá nhân sẽ phát huyđược năng lực và tìm được ý nghĩa cuộc sống của mình trong tập thể (Dẫnchứng)

+ Giọt nước nếu tách mình ra khỏi biển cả sẽ bị diệt vong cũng như con người

cá nhân không thể tồn tại nếu tách ra khỏi cộng đồng xã hội (Dẫn chứng)

- Mở rộng

+ Phê phán những hiện tượng xã hội đi ngược với quy luật đời sống: lối sống lập

dị, chủ nghĩa cá nhân, đầu cơ trục lợi (Dẫn chứng)

+ Mỗi cá nhân tuy có quan hệ gắn bó mật thiết với xã hội, tập thể nhưng đều cónhững nét riêng biệt về cá tính, phẩm chất, vai trò không thể thay thế trong mộtgiới hạn nào đó; đặc biệt là vị trí, vai trò của những anh hùng, vĩ nhân (Dẫnchứng)

+ Mỗi con người cần xây dựng cho mình lý tưởng sống cao đẹp, phù hợp với xãhội và thời đại, luôn có ý thức tự khẳng định mình trong sự cống hiến cho sựnghiệp xây dựng và phát triển đất nước

Kết bài: Khái quát lại vấn đề

1.2 Dạng đề nghị luận về một hiện tượng đời sống

Nghị luận về một hiện tượng đời sống là bàn về một hiện tượng đang diễn

ra trong thực tế đời sống xã hội, mang tính chất thời sự, thu hút sự quan tâm củanhiều người Đó có thể là hiện tượng tốt hoặc xấu, đáng khen hoặc đáng chê

Với dạng đề này, người ta thường chia thành các kiểu phổ biến như sau:

MB: Nêu vấn đề

TB:

a Giải thích (nếu có)

MB: Nêu vấn đề TB:

a Giải thích (nếu có)

Trang 13

Đề bài: Hãy sử dụng thông minh những thiết bị thông minh Quan điểm của anh (chị) về vấn đề trên.

* Mở bài: Giới thiệu khái quát vấn đề cần nghị luận

* Thân bài:

- Giải thích ý kiến

+ Từ thông minh trong cụm từ thiết bị thông minh muốn nói tới những tính

năng đặc biệt, tiên tiến của các thiết bị mà con người tạo ra nhằm nâng cao chấtlượng cuộc sống của chính mình Mọi vật dụng mà chúng ta cần đến đều đượcchế tạo hướng đến sự “thông minh”, có thể làm hộ con người được rất nhiềuviệc Chúng ta có nhà thông minh, tấm lợp thông minh, vô vàn thiết bị điện vàđiện tử thông minh Chiếc điện thoại quen thuộc cũng là điện thoại thông minh,ngoài các tính năng thông thường còn có những tính năng của một laptop, có thểdùng để thực hiện nhiều công việc, dù ta đang ở nơi nào

+ Sử dụng thông minh các thiết bị thông minh là sử dụng hợp lí, chủ động để

vừa khai thác được những chức năng ưu việt mà thiết bị thông minh mang lạivừa không bị nó điều khiển, chi phối

- Thực trạng:

Chính vì các thiết bị thông minh có những chức năng ưu việt nên conngười ngày càng say mê nó, phụ thuộc vào nó Các sản phẩm thông minh được

Trang 14

chúng ta tạo ra, nhưng đến lượt mình, các thiết bị thông minh cũng đang nhàonặn lại chúng ta, bắt chúng ta phải thích ứng với nó, thậm chí lệ thuộc vào nó + Nhiều người quá ỷ lại vào thiết bị, ít vận động, động não trong hoạt động thựctiễn

+ Nhiều bạn trẻ mắc chứng nghiện điện thoại, chỉ mải mê “giao tiếp” với điệnthoại mà quên giao tiếp thực với cuộc đời xung quanh ‘

+ Nhiều người có lối sống ảo, chìm đắm, mải mê trong thế giới ảo mà dườngnhư quên mất thực sự mình là ai, làm gì, ở đâu

+ Thói quen chỉ trích thậm chí lăng mạ, chửi bới thiếu văn hóa của một bộ phận

+ Mối quan hệ giữa người với người dần trở nên rời rạc, xa cách Con ngườicàng ngày càng trở nên vô cảm

- Giải pháp: Sử dụng thông minh không có nghĩa là không sử dụng hay là từchối các tiện nghi, từ chối những tiện ích của đồ dùng mà phải là xây dựng chođược thái độ chủ động trong việc sử dụng những phương tiện, tiện nghi làmviệc Chúng ta là ông chủ chứ không phải là nô lệ của những đồ dùng, thiết bị dochúng ta tạo ra

- Rút ra bài học nhận thức và hành động

* Kết bài: Khái quát lại vấn đề

(Đề và đáp án tham khảo trong cuốn “Bộ đề môn Ngữ văn chuẩn bị cho kì thi THPT Quốc gia”, Nguyễn Duy Kha chủ biên, NXB Giáo dục, 2015)

Những hiểu biết về các hiện tượng đời sống giúp học sinh có cái nhìn sâusắc, toàn diện hơn cũng như góp phần xây dựng thế giới quan, rèn luyện cáchđánh giá, cách nhìn nhận các vấn đề đặt ra từ cuộc sống

Trang 15

Có thể thấy, dù là kiểu bài nghị luận về hiện tượng xấu hay hiện tượng tốt,điều quan trọng khi hướng dẫn học sinh làm bài nghị luận về hiện tượng đờisống giáo viên cần rèn tư duy tranh biện cho người học Học sinh luôn phải biếtđặt ra các câu hỏi khi đứng trước hiện tượng xấu - “giải pháp nào có ý nghĩa vàthiết thực nhất để giải quyết ?”; hiện tượng tốt - “làm thế nào để phát huy?” Học sinh không chỉ tranh biện về vấn đề mà còn biết tranh luận với chính mình

để tìm ra những thiếu sót trong bài viết từ đó có sự điều chỉnh kịp thời

1.3 Dạng đề nghị luận về một vấn đề xã hội được đặt ra trong tác phẩm văn học

Nghị luận về một vấn đề xã hội đặt ra trong tác phẩm văn học là dạng bàikhó Đặc điểm của dạng đề này là dựa vào một vấn đề xã hội có ý nghĩa sâu sắcnào đó đặt ra trong tác phẩm văn học, yêu cầu người viết phát biểu, bàn bạc về ýnghĩa của vấn đề đó

Vấn đề xã hội có ý nghĩa có thể lấy từ hai nguồn:

- Tác phẩm văn học đã học trong chương trình

Ví dụ:

Đề 1: Từ truyện ngắn Đời thừa của nhà văn Nam Cao, anh (chị) hãy trình

bày quan điểm của mình về tình trạng sống thừa của con người trong xã hội

Đề 2: Trong tác phẩm Hồn Trương Ba, da hàng thịt, Lưu Quang Vũ đã để cho nhân vật Trương Ba bộc bạch suy nghĩ của mình: Không thể bên trong một

đằng, bên ngoài một nẻo được Tôi muốn được là tôi toàn vẹn.

Suy nghĩ của anh (chị) về vấn đề này

- Một câu chuyện nhỏ, một văn bản văn học ngắn gọn mà học sinh chưađược học

Ví dụ:

Đề 1: Đọc câu chuyện sau và trả lời câu hỏi:

NIỀM TỰ HÀO CỦA SỐ 0

Nhờ rất nhiều số 0 đi theo mà số 1 trở thành khổng lồ.

Thành khổng lồ, những số không vinh dự và tự hào lắm, đi đâu cũng kể

lể, vỗ ngực rằng: “Ta là khổng lồ”

Trang 16

(Theo Ngụ ngôn chọn lọc, NXB Thanh niên, 2003)

Suy nghĩ của anh (chị) về ý nghĩa gợi ra từ câu chuyện trên

Đề 2:

Một niềm vui một nỗi buồn

Nếu phải giữ một mình suốt đời Bạn có thể chết vì nó

Một điều hiểu một ý nghĩ

Nếu phải giữ một mình suốt đời

Có thể làm bạn điên Cái gánh nặng

Nhìn - nghĩ - yêu thương

Mối hy vọng Mỗi tâm hồn cần có tâm hồn khác

(Một niềm vui một nỗi buồn - Tuyển tập thơ Nguyễn Đình Thi

- NXB Văn học 1994, tr.175)

Suy nghĩ của anh/chị về vấn đề đặt ra trong bài thơ trên

Cần tránh nhầm dạng đề này với nghị luận văn học vì thấy trong đề cóxuất hiện các tác phẩm văn học Đúng là dạng đề này có liên quan đến tác phẩmvăn học nhưng mục đích chính của nó không phải là yêu cầu người đọc phântích, bình luận về cái hay, cái đẹp của tác phẩm văn học mà là yêu cầu ngườiviết bàn bạc, nghị luận về một vấn đề xã hội, đạo lí, tư tưởng, nhân sinh… Tác

phẩm văn học khi đó chỉ là cái cớ, người viết chỉ dừng ở việc khai thác giá trị

nội dung tư tưởng, rút ra ý nghĩa xã hội khái quát của tác phẩm ấy

Việc lập dàn ý cho bài văn nghị luận về vấn đề xã hội trong một tác phẩmvăn học được thực hiện cụ thể ở từng dạng đề, tùy thuộc vào vấn đề đặt ra làhiện tượng xã hội hay vấn đề tư tưởng đạo lí Dưới đây, người viết xin đưa radàn ý khái quát cho từng dạng đề:

1.3.1 Dạng đề nghị luận về tư tưởng đạo lí rút ra từ tác phẩm văn học

Trang 17

- Giới thiệu, tóm tắt nội dung văn bản/ tác phẩm văn học

- Phân tích ngắn gọn tác phẩm để rút ra vấn đề tư tưởng đạo lí cần nghị luận

* Bước 2: Nghị luận về vấn đề tư tưởng đạo lí được nêu ra từ tác phẩm văn học

ở đề bài (phần trọng tâm)

- Giải thích vấn đề (nếu cần) Các vấn đề xã hội có thể được diễn đạt bằng cáchình ảnh, ngôn ngữ ẩn dụ, biểu tượng hoặc đa nghĩa, bởi vậy, người viết cần chú

ý cắt nghĩa, giải thích trước khi tiến hành bàn luận vấn đề

- Phân tích, chứng minh, bình luận các khía cạnh của vấn đề ; bác bỏ, phê phánnhững sai lệch (nếu có)

- Rút ra bài học nhận thức và hành động từ vấn đề tư tưởng đạo lí đặt ra trongtác phẩm

c Kết bài: Khái quát lại vấn đề cần bàn luận.

Ví dụ minh họa:

LỪA VÀ NGỰA

Có chú lừa đi cùng một con ngựa trông sang trọng bảnh bao lắm Trên lưng ngựa chỉ có bộ yên thồ hàng, còn trên lưng lừa lại chồng chất hàng hóa nặng đến mức nó không chịu nổi Lừa cầu xin ngựa chia sẻ giúp nó một chút gánh nặng nếu không nó sẽ chết gục trước khi tới được thành phố Nó nói:

- Cầu xin anh giúp tôi vơi một nửa gánh nặng này, đối với anh cũng chỉ như trò đùa thôi.

Ngựa ta nghe xong từ chối thẳng thừng, thậm chí còn phì một tràng hơi vào mặt anh bạn đồng hành.

Lừa không chịu thêm được gánh nặng trên vai, nó đã gục ngã Sau đó, con ngựa đã phải chở toàn bộ số hàng, và còn thêm cả bộ da lừa nữa.

Trang 18

( Ngụ ngôn Laphôngten)Suy nghĩ của anh (chị) từ ý nghĩa của câu chuyện trên?

+ Lời từ chối của ngựa: sự ích kỉ, lạnh lùng tàn nhẫn, không quan tâm đến annguy, sống còn của nguời khác, chỉ bo bo cho hạnh phúc và lợi ích cá nhân

→ Ý nghĩa: Con người không nên ích kỉ, chỉ biết đến lợi ích của bản thân, từchối chia sẻ với người khác gánh nặng trên hành trình cuộc đời Sống cần phảibiết chan hòa, yêu thương chia sẻ

Trang 19

+ Những người sống ích kỉ sẽ phải chịu hậu quả thích đáng là sự xa lánh củangười khác, khi gặp khó khăn không ai ra tay cứu giúp thậm chí phải chịu gánhnặng của cả mình và người khác để lại và phải sống trong day dứt khổ đau Khicon người không biết quan tâm, chia sẻ, họ sẽ trở nên vô cảm, tàn nhẫn.

+ Khi con người biết quan tâm, chia sẻ cùng nhau, cuộc sống sẽ trở nên nhẹnhàng và tốt đẹp hơn

- Bàn luận, mở rộng vấn đề

+ Mở rộng: Con người không nên để cái tôi của mình quá lớn, phải luôn luôn cólòng thương người và tinh thần trách nhiệm Ngược lại, cũng không nên camchịu đến mức gục ngã một mình trước những gánh nặng cuộc đời

+ Phê phán: Sự ích kỉ, thiếu tinh thành trách nhiệm trong gánh vác công việcchung

- Liên hệ bản thân, rút ra bài học nhận thức và hành động

* Kết bài: Khái quát lại vấn đề cần bàn luận

(Đề và đáp án tham khảo của giáo viên Đinh Thị Ngọc Vân, trường Chuyên Nguyễn Trãi, tỉnh Hải Dương)

1.3.2 Dạng đề nghị luận về hiện tượng đời sống rút ra từ tác phẩm văn học

a Mở bài:

- Dẫn dắt vấn đề, giới thiệu câu chuyện/ tác phẩm trong đề bài

- Nêu vấn đề cần nghị luận

b Thân bài:

* Bước 1: Phân tích văn bản văn học để rút ra hiện tượng đời sống cần bàn luận

- Giới thiệu, tóm tắt nội dung văn bản/ tác phẩm văn học

- Phân tích ngắn gọn tác phẩm để rút ra hiện tượng đời sống cần nghị luận

* Bước 2: Nghị luận về hiện tượng đời sống được nêu ra từ tác phẩm văn học ở

đề bài (phần trọng tâm)

- Nêu và mô tả hiện tượng (Hiện tượng gì? Diễn ra như thế nào? Xảy ra ở đâu?Trong thời gian nào?)

- Bàn luận về hiện tượng:

+ Nêu các biểu hiện của hiện tượng

Trang 20

+ Giải thích nguyên nhân vì sao lại có hiện tượng đó

+ Đánh giá tác động của hiện tượng đối với cá nhân và cộng đồng xã hội: Đây làhiện tượng tích cực hay tiêu cực? Hiện tượng ấy có ý nghĩa như thế nào hay đểlại hậu quả ra sao?

- Rút ra bài học nhận thức và hành động từ hiện tượng đặt ra trong tác phẩm

c Kết bài: Khái quát lại vấn đề cần bàn luận.

a Phân tích ngắn gọn bài thơ Ông đồ và Chân quê

→ Cả hai bài thơ đều khiến người đọc trăn trở về hiện tượng những giá trị vănhóa truyền thống đang ngày càng bị mai một Con người trong cuộc sống hiệnđại đang dần đánh mất những vẻ đẹp ngàn xưa của dân tộc

b Nghị luận về hiện tượng văn hóa truyền thống đang bị mai một:

- Mô tả hiện tượng:

+ Văn hóa truyền thống là những nét đẹp văn hóa của dân tộc được tích lũy kếthừa từ nhiều thế hệ Văn hóa truyền thống góp phần định hình bản sắc văn hóadân tộc, tạo nên những chuẩn mực xã hội, hoàn thiện vẻ đẹp nhân cách của mỗi

cá nhân

+ Hiện nay, trong nhịp sống hiện đại, những giá trị văn hóa truyền thống đang

có nguy cơ mất dần Hiện tượng này biểu hiện trong nhiều lĩnh vực của đờisống:

+ Giới trẻ quay lưng lại với các hình thức văn hóa nghệ thuật cổ truyền: chèo,tuồng, cải lương, múa rối…

+ Các chuẩn mực đạo đức truyền thống trong nói năng, ăn mặc, ứng xử… củaông cha bị mai một, thay thế vào đó là những hiện tượng thiếu văn hóa: ăn mặc

lố lăng, nói năng thiếu lễ phép, thô tục…

Trang 21

- Bàn luận:

+ Nguyên nhân: Sự phát triển mau lẹ của đời sống kinh tế xã hội, con ngườichạy theo cái mới, bỏ quên những giá trị truyền thống; sự xuất hiện của cácluồng văn hóa lai căng lan tràn và phổ biến; xu hướng đám đông và sự xuốngcấp về đạo đức và ý thức con người

+ Đánh giá: Đây là hiện tượng đáng lo ngại Hiện tượng gây ra những hậu quảnghiêm trọng:

Đánh mất dần những giá trị văn hóa nền tảng của dân tộc

Ảnh hưởng đến sự hình thành nhân cách của giới trẻ

Giữ gìn truyền thống văn hóa là nền tảng tạo lập tương lai

- Bài học:

+ Có ý thức giữ gìn những giá trị văn hóa cổ truyền tốt đẹp

+ Tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa văn hóa thế giới để làm phong phú chovăn hóa dân tộc

* Kết bài: Khái quát lại vấn đề

(Đề và đáp án tham khảo của trường chuyên Trần Phú – Hải Phòng)

1.4 Dạng đề nghị luận về một vấn đề xã hội được gợi ra từ một hình ảnh/ bức tranh.

Nghị luận về một vấn đề xã hội được gợi ra từ một hình ảnh/ bức tranh làdạng đề mới xuất hiện trong đề thi học sinh giỏi các cấp trong một số năm gầnđây Dạng đề này khi xuất hiện trong các đề thi thường gây ra các cuộc tranhluận sôi nổi trên các trang mạng xã hội về tính mới mẻ, sáng tạo của nó Điểmkhác biệt của đề đó là thay bằng những văn bản ngôn từ, vấn đề cần bàn luận lạiđược gợi lên thông qua một hình ảnh, bức tranh, sơ đồ, bảng biểu…

Người viết có thể đưa ra rất nhiều những phán đoán, cảm nhận theo nhiềuhướng khác nhau về bức tranh/ hình ảnh và đáp án cũng không hề có nhữngkhuôn mẫu cứng nhắc hay khiên cưỡng Miễn là học sinh đưa ra được nhữngluận giải hợp lí, tích cực

Trang 22

Do đặc trưng của dạng đề này là khơi gợi những suy luận nhiều chiềucũng như sự phong phú trong cách làm bài của học sinh cho nên trong chuyên

đề này, người viết chỉ xin đưa ra dàn ý một cách khái quát như sau:

* Mở bài: Giới thiệu vấn đề

Căn cứ vào vấn đề được gợi ra là tư tưởng đạo lí hay hiện tượng đời sống

mà người viết có cách triển khai phù hợp:

+ Dạng đề về tư tưởng đạo lí: Phân tích, chứng minh, bình luận các khíacạnh của vấn đề ; bác bỏ, phê phán những sai lệch (nếu có)

+ Dạng đề về hiện tượng đời sống: Nêu các biểu hiện của hiện tượng, giảithích nguyên nhân vì sao lại có hiện tượng đó, đánh giá tác động của hiện tượngđối với cá nhân và cộng đồng xã hội: Đây là hiện tượng tích cực hay tiêu cực?Hiện tượng ấy có ý nghĩa như thế nào hay để lại hậu quả ra sao?

- Rút ra bài học nhận thức và hành động từ vấn đề gợi ra từ bức tranh/hình ảnh

* Kết bài: Khái quát lại vấn đề

Ví dụ minh họa:

Trình bày suy nghĩ về ý nghĩa anh/ chị cảm nhận được từ bức hình sau:

Trang 23

* Mở bài: Giới thiệu được vấn đề nghị luận được gợi ra từ bức hình: cáchnhìn và quan niệm của mỗi người trước những sự vật hiện tượng xung quanh.

* Thân bài

- Giải thích (Ý nghĩa từ bức hình): Thí sinh có thể tìm thấy nhiều nghĩa

khác nhau, ví dụ:

+ Thay đổi góc nhìn - thay đổi suy nghĩ

+ Không có đúng cũng không có sai mà chỉ là cách nhìn khác nhau củabạn về sự vật hiện tượng mà thôi

+ Hãy luôn đặt mình vào vị trí của người khác để có cái nhìn toàn diện.+ Cần giữ vững lập trường, quan điểm trước những ý kiến khác

=> Bức tranh gợi cho ta suy nghĩ về cách ứng xử trước những quan niệmkhác nhau đối với sự vật, hiện tượng xung quanh

- Chứng minh, bình luận.

+ Cuộc sống vốn đa chiều, nhận thức của con người có giới hạn nên dễdẫn đến cái nhìn phiến diện, chủ quan, thậm chí lệch lạc về các đối tượng hayvấn đề của cuộc sống

+ Mỗi người với năng lực, trạng thái, lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp,hoàn cảnh… khác nhau, bởi vậy, họ sẽ có những nhận thức khác nhau về cùngmột sự vật, hiện tượng Đừng đem nhận thức chủ quan của mình áp đặt cho

Trang 24

người khác Đặt mình vào vị trí người khác (thấu hiểu, đồng cảm) mới thấy rõhơn bản chất của vấn đề.

+ Tuy nhiên, mỗi người cũng cần phải có lập trường, bản lĩnh vững vàngtrước những quan điểm khác, nhất là quan điểm đối lập Thuyết phục đốiphương bằng năng lực, sự hiểu biết để bảo vệ quan điểm đúng đắn của mình,

tránh ba phải, gió chiều nào che chiều ấy.

+ Đôi khi trong cuộc sống cũng nên thay đổi góc nhìn, cách nhìn sẽ thấycuộc đời mới mẻ, bớt nhàm chán hơn

- Phê phán lối sống bảo thủ, ích kỉ…

* Kết bài: Khái quát lại vấn đề, liên hệ bản thân

(Đề và đáp án tham khảo của giáo viên Lê Thị Thu Huyền – trường THPT Chuyên Nguyễn Tất Thành, Yên Bái)

II.3 Rèn kĩ năng viết bài

a Kĩ năng xây dựng luận điểm

Trong làm văn nghị luận, việc xác định luận điểm là yếu tố then chốt đểtriển khai đoạn văn Để xác định luận điểm, có thể dựa vào những dữ liệu của

đề bài, bằng cách đặt câu hỏi, hoặc dựa vào cách thức nghị luận; xác định luậnđiểm từ những ý tưởng bất ngờ

Học sinh có thể thể hiện luận điểm một cách tường minh, hoặc ẩn đi, tuynhiên vẫn phải đảm bảo vừa đi thẳng vào vấn đề lại vừa có tính nghệ thuật, hợptình hợp lí Có thể tham khảo một số cách triển khai luận điểm sau:

- Từ dẫn dắt mà nêu ra luận điểm (cách nêu luận điểm này vừa tự nhiên,hợp lí, vừa gợi ra được nhiều suy nghĩ);

- Kể một câu chuyện rồi từ đó nêu luận điểm (làm cho luận điểm đượcnêu ra có lí do, ngọn nguồn, có phương hướng để chứng minh, trong đó, phầntrước là sự thực, phần sau là kết luận, theo lí mà thành chương bài, không hềkhiên cưỡng);

- Từ việc quy nạp hiện tượng mà nêu ra luận điểm (cách nêu luận điểmnhư vậy tỏ ra chắc chắn, mạnh mẽ, tự nhiên);

Trang 25

- Từ việc trình bày bối cảnh mà xác định luận điểm (vừa làm cho sự xuấthiện của luận điểm có bối cảnh của nó, lại vừa làm cho luận điểm này có được ýnghĩa hiện thực, nhờ đó mà luận điểm nêu ra được nhấn mạnh ở mức độ caohơn), …

b Kĩ năng lấy dẫn chứng

Tư liệu (dẫn chứng) là một phần không thể thiếu trong một bài văn nghịluận xã hội Cùng với việc bày tỏ ý kiến, học sinh cần có những minh họa phùhợp Đây tưởng như là công việc dễ dàng với học sinh giỏi nhưng để tạo ra dấu

ấn riêng lại đòi hỏi sự đầu tư, chuẩn bị kỹ lưỡng và được rèn luyện thườngxuyên

* Cấu trúc của dẫn chứng

Để làm tốt phần dẫn chứng, giáo viên hướng dẫn học sinh có kỹ năng đặt ra câu hỏi tương ứng với các yêu cầu của một dẫn chứng trong bài văn nghị luận xã hội của học sinh giỏi

Chủ thể Hoàn cảnh Hành động Kết quả Bình luận

nào?

Làm gì?

Bằng cách nào?

Kết quả ra sao?

3 Làm gì? Bằng cách nào?

- Tình yêu thương của gia đình và đặc biệt là nghị lực, khát vọng mãnh liệt của bản thân đã giúp anh vượt qua tất cả

Trang 26

4 Kết quả?

- Nick đã nỗ lực tập luyện, để làm được mọi việc bằng chính khả năng của mình Anh cũng học đá bóng, bơi lội, chơi golf, thậm chí cả nhảy dù Anh tốt nghiệp đại học năm 21 tuổi, với tấm bằng kép ngành kế toán và kế hoạch tài chính Hiện tại, Nick là Chủ tịch và là CEO của tổ chức quốc tế Life Without Limbs, là giám đốc công ty Attitude Is Altitude, đồng thời là một diễn giả có sức truyền cảm lớn nhất và đặc biệt nhất hành tinh.

* Kỹ năng khai thác dẫn chứng

Tư liệu về các dẫn chứng rất đa dạng với những nguồn tìm kiếm phong phú,

vì vậy, học sinh dễ dàng tìm được dẫn chứng đảm bảo các yêu cầu (đúng, đủ,tiêu biểu, chính xác, phù hợp ), có những bình luận sâu sắc, ý nghĩa Tuy nhiên,việc lấy dẫn chứng trong bài viết khó tránh khỏi việc trùng lặp với học sinhkhác Vậy làm sao để cùng một dẫn chứng nhưng người viết vẫn có thể tạo ra sựkhác biệt? Điều này đòi hỏi sự công phu trong chuẩn bị tư liệu về dẫn chứng củahọc sinh bắt đầu từ việc xác định mục đích rõ ràng khi tìm kiếm dẫn chứng đếnviệc phân tích, đánh giá dẫn chứng và xử lý phù hợp với từng vấn đề nghị luận

Bước 1: Xác định mục tiêu thu thập dẫn chứng: Chỉ tìm kiếm những dẫn

chứng tiêu biểu ở những trường hợp đối cực cho một đối tượng (bình thường –đặc biệt), một trường hợp (phổ biến – đặc biệt), một lĩnh vực cụ thể (văn hóa,văn học, kinh doanh, mỹ thuật, ) Điều này sẽ định hướng cho học sinh tìmthông tin tập trung, có tính phát hiện, tránh việc đọc dàn trải, không hiệu quả

Bước 2: Tìm kiếm dẫn chứng trên các nguồn khác nhau Việc này sẽ đảm

bảo tính chính xác và đầy đủ cho dẫn chứng vì cùng một đối tượng nhưng ở mỗinguồn sẽ có những cách trình bày thông tin riêng Tìm hiểu thấu đáo đối tượng

sẽ cung cấp thông tin đầy đủ và khắc sâu ấn tượng

Bước 3: Đọc và chọn lọc thông tin ghi chép Bước này liên quan chặt chẽ

đến bước thứ nhất Khi đã xác định được mục tiêu dẫn chứng, người viết sẽ tìmkiếm những thông tin phù hợp với mục đích xác định

Ngày đăng: 08/10/2019, 15:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w